Skip to content

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP


NHỊ CHỦNG NHẬP (Vào hai chủng loại)

Người vào đạo nhiều đường, quan trọng mà nói đến không ngoài hai loại: Một là vào Lý, hai là vào Hành (Hạnh).

  • Người vào lý: Gọi là nhờ truyền dậy (mà) tỏ ngộ nguồn gốc (chân tánh). Tin tưởng thâm sâu (tất cả) sự sống ẩn chứa cùng một chân tánh. Chỉ vì [đều vì] nơi khách trần vọng tưởng che lấp (chân tánh), không thể hiểu rõ. Nếu vậy xả bỏ sai bậy trở về (tánh) chân thật, ngưng trụ xem vách đá, không mình không ai khác. Thánh phàm một bậc, ngừng trụ bền vững không biến đổi, chẳng đổi theo [vì] văn tự tôn giáo. Thế tức là cùng với lý ngầm phù hợp, không có phân biệt, vô vi tĩnh lặng như thế, đấy gọi là vào lý.

Vô vi: Không sinh diệt, không có những hành động, hành vi làm ra, tạo ra, không sanh diệt, hủy hoại. không biến đổi, không luân hồi, nhân quả. Hữu vi: Những hành động, hành vi, làm ra, tạo ra, sanh diệt, hủy hoại, vô thường, luôn biến đổi, luân hồi, nhân quả. Pháp hữu vi Đạo Đức kinh: Vi vô vi nhi vô bất vi: Không làm điều gì mà không điều gì không làm. Vọng tưởng: nghĩ nhớ, hình dung, tưởng tượng ra những điều sai lầm, bậy bạ, không đúng đắn.

Phu nhập đạo đa đồ, yếu nhi ngôn chi, bất xuất nhị chủng. Nhất thị lí nhập, nhị thị hành nhập. Lý nhập giả, vị tạ giáo ngộ tông. Thâm tín hàm sinh đồng nhất chân tính, đãn (câu) vi khách trần vọng tưởng sở phú, bất năng hiển liễu. Nhược dã xả vọng quy chân, ngưng trụ bích quan, vô tự vô tha, Thánh phàm đẳng nhất, kiên trụ bất di. Canh bất tùy (vu) văn giáo. Thử tức dữ lí minh phù, vô hữu phân biệt, tịch nhiên vô vi, danh chi lí nhập.夫入道多途,要而言之,不出二種.一是理入,二是行入.理入者,謂藉教悟宗.深信含生同一真性,但(俱)為客塵妄想所覆,不能顯了.若也捨妄歸真,凝住壁觀,無自無他,凡聖等一,堅住不移.更不隨(於)文教.此即與理冥符,無有分別,寂然無為,名之理入.

  • Người vào Hành (Hạnh): Gọi là bốn đường, còn lại tất cả các đường sẽ vào trong này. Bốn loại nào: Hành báo oan. 2. Hành tùy duyên. 3. Hành không mong cầu. 4. Hành xứng pháp.
  1. Hành báo oan: Sao nói là hành báo oan. Gọi là người tu hành đạo, nếu lúc chịu khổ nên tự nghĩ nói: Ta từ trước đã qua trong kiếp sống không có (ai) chỉ bảo, bỏ gốc theo ngọn trôi nổi các thứ có, khởi lên nhiều oan oán làm tai hại không giới hạn. Nay tuy không mắc phải, đó đều là tai họa [ta] đã có từ trước, nghiệp ác quả chín, chẳng phải trời chẳng phải người làm cho thấy như thế. Bằng lòng nhẫn chịu đều không kêu oan. Kinh nói là: Gặp khổ chẳng buồn lo. Cớ vì sao, vì hiểu thông suốt (lý do), lúc sinh ra tâm này, cùng với lý tương ứng. Thể oan tiến vào đạo. Cho nên giảng nói là Hành báo oan.

Chư hữu: Các thứ có hình sắc, không hình sắc trên thế gian, tất cả các cảnh giới hiện có.

  1. Hành tùy duyên: Chúng sinh vô ngã, đều là nơi duyên nghiệp chuyển đổi, sướng khổ đều chịu đều theo duyên sanh. Nếu đắc thắng báo đáp các việc vinh dự, đó là quá khứ ta đủ nguyên nhân (cho nên) nhận thấy như thế, nay mới là được. Duyên hết trở về không, vui gì ở chỗ có. Được mất theo duyên, tâm không thêm bớt. Cảnh vui chẳng động, ngầm thuận với đạo. Cho nên nói giảng đó là Hành tùy theo duyên.

Nhị tùy duyên hành giả. Hành giả: Người tu hành, làm theo, đi theo duyên. Chúng sinh vô ngã. Kinh Tứ Thập Nhị Chương 20: Nên nghĩ trong thân tứ đại, có mỗi tên của mình, đều không có thân mình. Thân mình đã đều không có, nó (chỉ là) theo tai nghe (cho nên) không có thật. Đương niệm thân trung tứ đại, các hữu tự danh, đô vô ngã giả. Ngã kí đô vô, kì như huyễn nhĩ. 佛言:当念身中四大,各有自名,都无我者.我既都无,其如幻耳. Tứ đại: Đất, nước, gió, lửa tạo thành thân hình. Đất là phần hình chất như xương cốt, da thịt. Nước là máu, nước, chất dung dịch. Gió là hơi thở, khí chất. Lửa là năng lượng của cơ thể. Tứ đại hợp lại làm thân hình, tan rã ra không còn thân hình, chỉ còn tên gọi.

  1. Hành không cầu: Người đời mê lầm lâu dài, tham muốn bám lấy mọi nơi, đấy gọi là cầu. Người trí tuệ tỏ ngộ chân lý làm ngược lại thói đời. Tâm yên ổn vô vi, hình thể tùy theo vận chuyển. Muôn thứ có tách ra (thì) rỗng không, không cầu mong chỗ nào vui sướng. Công đức hắc ám thường đuổi theo nhau, ở lâu ba cõi như (trong) căn nhà lửa, có thân đều khổ, ai mà được yên. Hiểu suốt nơi này, cho nên xả bỏ mọi thứ có. Ngừng nghĩ tưởng không mong cầu. Kinh nói: Có cầu đều khổ, không cầu lại vui. Biết rõ ràng không cầu là chân đạo hạnh, cho nên nói Hạnh không mong cầu.

Tam vô sở cầu hành giả. Người tu hành, thực hành không cầu mong điều gì. An tâm vô vi hình tùy vận chuyển. Tâm yên ổn không làm gì, thân tùy hình dạng ra sao mà chuyển theo đó.

  1. Hành xứng pháp: Tánh tinh khiết đấy là lý, điều kiện (tinh khiết) đó là (Phật) Pháp. Tin hiểu lý ấy, các hình tướng tách ra (thì) rỗng không, không lây nhiễm không bám lấy, không bên này không bên kia. Kinh (Duy Ma Cật) nói: Pháp không có chúng sinh, vì lìa dơ bẩn của chúng sinh. Pháp không có ta, vì lìa dơ bẩn của thân ta. Người trí tuệ thuận theo đạt tới tin hiểu lý này, cần phải hợp với (Phật) Pháp mà làm. Pháp thể không keo kiệt thân mệnh tiền tài. (lấy thân mệnh tiền tài) Làm đàn cúng dường bố thí xả bỏ tâm không hối tiếc. Hiểu suốt Tam không chẳng ỷ dựa chẳng bám lấy (thân mệnh tiền tài), chỉ là trừ bỏ dơ bẩn, gọi là thay đổi (tánh) chúng sanh và chẳng giữ lấy hình tướng. Thế là tự làm (ích lợi), lại có thể ích lợi người khác, cũng là đạt tới ở chỗ đạo trang nghiêm Bồ đề. Cúng dường Bố thí (Ba la mật) đã vậy, còn lại năm (pháp Ba la mật: Giới, Nhẫn, Tinh tấn, Thiền, Tuệ) cũng thế. Vì trừ bỏ vọng tưởng, (cho nên) tu hành Lục độ. Thế mà không làm gì. Đó là Hạnh xứng pháp.

Tứ xứng pháp hành giả. Người tu hành, thực hành xứng đáng thích hợp Phật Pháp. Tính tịnh chi lí, mục chi vi pháp. Tánh tinh khiết thì đấy là đạo lý, có điều kiện tánh tinh khiết thì đó thì là Phật pháp. Kinh Duy Ma Cật: Bồ Tát nếu muốn được cõi tịnh nên tịnh tâm đó. Tùy tâm đó tịnh thì cõi Phật tịnh. Pháp thể: bản chất của Phật Pháp.

Tam không có thể là Tam giải thoát môn (Trìịi vimokwa-mukhàni). Không môn (Sùnyatà): Quán xét tất cả các pháp đều là không có tự tánh, do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, thông suốt lý ấy thì đối với các pháp đều được tự do tự tại. Vô tướng môn (Animitta) còn gọi là Vô tưởng môn: Đã biết tất cả pháp là Không, thì quán tưởng không phân biệt các pháp tướng nam nữ, đúng sai, thiện ác, thông suốt lý các pháp vô tướng thì lìa bỏ pháp tướng phân biệt mà được tự do tự tại. Vô tác môn (Apraịihita) còn gọi là Vô nguyện, Vô dục. Biết tất cả pháp vô tướng thì không mong cầu điều gì trong ba cõi, nếu không mong cầu thì không tạo nghiệp sinh tử, không tạo nghiệp sinh tử thì không phải chịu nghiệp quả khổ, do đó được tự do tự tại. Tam muội (Samadhi) là trạng thái cực tịnh của thân tâm người tu tập, khi trở về hợp nhất với sự rỗng không của tâm thức. Ba Tam muội này như là ba cửa vào giải thoát, cho nên còn gọi là Tam giải thoát môn. Ba cửa giải thoát nương vào Tam muội vô lậuKhông tam muội, Vô tướng tam muội, Vô nguyện tam muội. Tam muội chung cho cả Hữu lậu (có phiền não) và Vô lậu (không phiền não). Tam giải thoát môn chỉ dành cho Vô lậu. Tam giải thoát môn là Pháp thanh tịnh Vô lậu của thế gian và xuất thế gian, đó là cửa vào Niết bàn.

Sáu Ba la mật (Lục độ). 1. Bố thí Ba la mật đa (布施波羅蜜多. Dāna-pāramitā): Sự toàn hảo trong việc đem cho, ban phát, phân phối tất cả vật chất, năng lực, trí tuệ. 2. Giới Ba la mật đa (戒波羅蜜多. Sīla-pāramitā): Sự toàn hảo trong việc răn giới, ngăn cấm. Giới Ba la mật là răn giới, ngăn cấm tâm tham sân si tạo ra những hành động vô minh, trở thành những nghiệp quả luân hồi trong ba cõi. 3.Nhẫn Ba la mật đa (忍波羅蜜多. Kṣānti-pāramitā): Sự kiên trì toàn hảo, nhẫn chịu mọi khó khăn trở ngại để đạt đến giác ngộ. 4.Tinh tiến Ba la mật đa (精進波羅蜜多. Kṣānti-pāramitā): Sự toàn hảo tinh thông tiến bộ trong tu tập. 5.Thiền Ba la mật đa (禪波羅蜜多. Dhyāna-pāramitā): Sự toàn hảo tĩnh lặng trong suy tưởng.

Kinh Duy Ma Cật: Thưa Xá Lợi Phất. Không hẳn ngồi (thiền) là phải ngồi yên tĩnh. Người ngồi yên tĩnh (thiền) đó là thân ý không hiện ra từ ba cõi (tham sân si). Ngồi yên tĩnh đó là không khởi lên diệt định mà hiện ra các oai nghiêm. Ngồi yên tĩnh đó là không xả bỏ đạo pháp mà hiện ra những hoạt động của kẻ phàm. Ngồi yên tĩnh đó là tâm chẳng trụ trong cũng chẳng ở tại ngoài. Ngồi yên tĩnh đó là đối với những thấy biết chẳng động mà tu hành 37 đức tính. Ngồi yên tĩnh đó là chẳng cắt đứt phiền não mà vào Niết bàn. Ngồi yên tĩnh đó là nếu đạt tới ngồi như thế, Phật chấp thuận ấn chứng (phù hợp) như thế. 6.Tuệ Ba la mật đa (Bát nhã Ba la mật đa. 慧波羅蜜多. Prajñā-pāramitā): Trí tuệ toàn hảo. Nhẫn là đức tính quan trọng của người tu đạo, tỏ rõ sức mạnh của nội tâm. Phật giảng về chữ Nhẫn: Sanh nhẫn là gặp thuận cảnh tâm không sanh ra tham muốn, gặp nghịch cảnh tâm không sanh ra sân hận, nhập vào cảnh tâm không sanh ra si mê bám lấy cảnh, còn gọi là Hữu tình nhẫn. Pháp nhẫn là nhẫn chịu tất cả các pháp có và không ở thế gian, còn gọi là Phi tình nhẫn.

Kinh Tứ Thập Nhị Chương 15: Sa môn hỏi Phật: Người nào nhiều sức mạnh? Người nào rất sáng suốt. Phật nói: (người) Nhẫn nhiều sức mạnh, vì không ôm chứa trong lòng độc ác, đồng thời tăng thêm sức mạnh yên ổn. Người nhẫn không ác chắc chắn là người tôn kính. Tâm dơ bẩn mất hết, sạch sẽ không dơ bẩn nhơ nhớp nào, đó là rất sáng tỏ. Chưa có trời đất, đến ngày nay, tất cả  mười phương, (người nhẫn) không có gì chẳng thấy, không có gì chẳng biết, không có gì chẳng nghe, đạt được Nhất thiết trí (Phật trí, trí tuệ toàn hảo), đáng gọi là sáng suốt vậy. 沙门问佛:何者多力?何者最明?佛言:忍辱多力,不怀恶故,兼加安健.忍者无恶必为人尊.心垢灭尽,净无瑕秽,是为最明.未有天地,逮于今日,十方所有,无有不见,无有不知,无有不闻,得一切智,可谓明矣. Sa môn vấn Phật: Hà giả đa lực? hà giả tối minh? Phật ngôn: Nhẫn đa lực, bất hoài ác cố, kiêm gia an kiện. Nhẫn giả vô ác, tất vi nhân tôn. Tâm cấu diệt tẫn, tịnh vô hà uế, thị vi tối minh. Vị hữu thiên địa, đãi vu kim nhật, thập phương sở hữu, vô hữu bất kiến, vô hữu bất tri, vô hữu bất văn, đắc nhất thiết trí, khả vị minh hĩ. Nhẫn và Nhẫn nhục về ý nghĩa rất khác biệt, tuy chỉ là danh sắc tên gọi nhưng cần hiểu rõ nghĩa. Sáu Ba la mật nguyên văn chữ Phạn và Hoa chỉ có chữ Nhẫn không có chữ nhục. Có thể người sau thêm vào chữ nhục thành điệp ngữ như Bố thí, Tinh tấn. Thiền và Tuệ Ba la mật cũng thêm chữ Trí và Định vào để dễ nhớ. Chữ Nhẫn忍: nhịn, chịu đựng, không nỡ. Chịu nhịn không nỡ làm hại. Kiên nhẫn堅忍: vững bền chịu đựng. Dung nhẫn容忍: tha thứ chịu đựng, khoan dung chịu đựng. Nhục辱: bị nhục nhã, bị xấu hổ, bị làm cho nhơ nhuốc, bẩn thỉu, xấu hổ. Điếm nhục玷辱: hổ thẹn đau đớn. Ô nhục汙辱: hổ thẹn xấu xa bẩn thỉu. Nhẫn nhục忍辱: chịu đựng xấu hổ, nhơ nhuốc. Nhẫn là một đức tánh. Nhục là một thú tánh. Người đạo cao đức trọng đều có Nhẫn trong tâm tánh. Nhẫn là biểu hiện trí tuệ hiểu biết, bao dung độ lượng, kiên trì bền vững trui rèn tâm tánh đến mục đích lên cao. Nhục biểu hiện tánh ngã thấp hèn, dù mục đích nào cũng chỉ để cho bản thân thấp hèn đê tiện. Đức Phật giáo hóa chúng sinh phải biết hổ thẹn khi làm điều xấu ác. Người đã tu hành theo Phật đạo thì cần phải trui rèn đức tánh Nhẫn, kiên trì trong mọi hoàn cảnh để đạt đến cao thượng trong sạch. Chữ Nhục không dành cho người tu hành theo Phật đạo, Nhục chỉ dành cho loại chúng sinh thấp kém, tánh ngã hèn mọn, không có khả năng khuất phục tánh ngã tham sân si, bản năng còn nhiều thú tánh, chấp nhận chịu đựng nhục nhã, nhơ nhuốc, hổ thẹn để thân ngã được vô thường trong cõi vô thường. Nương ý Phật tu tâm đạt tánh. Y theo kinh sách dễ mê lầm. Phật đưa cành hoa. Cả bầy ngơ ngác. Ca Diếp mỉm cười. Phật trước Phật sau lấy tâm truyền tâm chẳng lập văn tự.

Thiền dịch từ chữ Phạn Dhyāna là trạng thái tĩnh lặng, an định, buông xả, minh triết và thanh tịnh. Triết học Ấn Độ định nghĩa Thiền là sự tư duy, tập trung suy nghĩ, tĩnh lặng lắng đọng suy tư. Đây là thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng, để chỉ dẫn những phương pháp tu tập khác nhau với một mục đích là đạt được Tỉnh giác, Giải thoát, Giác ngộ. Trong những trường phái tu tập mật giáo, mật có nghĩa là tu tập để tự đạt kinh nghiệm tỉnh giác, đó là những phương pháp bí truyền của tiền nhân, đã nghiên cứu và phát triển những cách tu tập khác nhau, thích hợp với cá tính căn cơ của từng người để đạt đến kinh nghiệm, nếu Tôn giáo là giải pháp cho những sự không hoàn hảo, không trọn vẹn, là bệnh tâm lý của con người, vậy Thiền là thuốc trị những bệnh tâm lý đó. Tu tập Thiền là để đạt được tâm trạng tập trung, lắng đọng, tâm trạng này có thể đạt được qua nhiều cách như tập luyện thân thể Haṭhayoga, tập trung nhìn vào Thangka (tấm tranh lụa thêu) hoặc lắng nghe âm thanh Mantra (thần chú), tập trung suy nghĩ về một công án. Ý chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn đến tâm trạng không phân hai, ở nơi những ý nghĩ về hai thành phần, hai thể trạng tương đối, đi đến một thể trạng tuyệt đối, những khái niệm về không gian và thời gian được chuyển biến thành hiện tại thường hằng. Chứng ngộ được sự đồng nhất thể thế giới hiện hữu (đa thể) với bản tánh (nhất thể). Nếu kinh nghiệm này được trau dồi thâm sâu, được  áp dụng vào những hành động trong cuộc sống thường ngày, thì đó chính là trạng thái mà tất cả những tôn giáo đều gọi chung là giải thoát, giác ngộ, tỉnh giác đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng, thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều giai đoạn, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Khi trừ bỏ năm chướng ngại (Ngũ uẩn) thì đạt được bốn cõi thiền của sắc giới, đạt đến lục thông và tri kiến vô thượng (thấy hiểu rõ được không thấy hiểu nào cao hơn). Tri kiến này giúp thấy rõ các đời sống trước, thấy diễn biến của sinh diệt, đạt đến giải thoát tất cả sự mê lầm đau khổ của con người. Thiền là một trạng thái của tâm thức không thể định nghĩa, phải do mỗi người tự trải qua và nhận biết.

Thiền có bốn giai đoạn. Giai đoạn 1: Tâm chuyên chú suy tưởng, đạt đến buông xả lòng tham dục và các pháp bất thiện, tâm trạng có cảm giác hỷ lạc (vui mừng, sung sướng, thích thú). Giai đoạn 2: Tâm suy tưởng được thay thế bằng tâm yên tĩnh, tâm thức sắc sảo tinh tường, chú ý quán sát. Tâm tư trạng thái thường hỷ lạc. Giai đoạn 3: Tâm hỷ lạc giảm dần, tâm xả bỏ hiện ra, sự thức tỉnh giác ngộ, cảm giác nhẹ nhàng thanh thoát. Giai đoạn 4: Bình yên an trú, xả bỏ và tỉnh giác. Tứ Thiền. Tứ thiền nghĩa là bốn cấp độ nhập Định được chia ra Sơ thiền: chuẩn bị tâm lý trước, quyết tâm tu tập, lìa bỏ ái dục, cần một môi trường yên tĩnh, cách ly thế gian, lìa bỏ các ham muốn thế gian, không còn thú vui vật chất bên ngoài, có niềm an vui nội tâm đầy đủ, tĩnh lặng thanh khiết, luôn trong trạng thái yên vui nhẹ nhàng. Nhị thiền: giảm bớt đi tự hào và ý niệm, không còn thích trình bày phô trương, tự thấy toàn thân như nước trong sạch tuôn trào bất tận, thành tựu trí tuệ rất sắc bén nhanh nhạy, kiến giải Phật pháp bất tận không trở ngại, sự việc gì thoáng qua là hiểu thông suốt biết rõ. Tam thiền: rất tự tại, xả niệm vào được Vô thức (theo khoa học, vô thức chiếm hơn 9 phần 10 trong cuộc sống, ý thức chỉ khoảng 1/10). Tâm yên tĩnh vượt khỏi cơ thể như hư không, hoàn toàn an trú vững chắc trong nội tâm, sáng suốt vi diệu thanh tịnh. Tứ thiền: mức thiền cuối cùng của các bậc thiền Sắc giới. Phật nói đó là trạng thái xả niệm, thanh tịnh, không vui mừng, không buồn khổ. Trong con người, vô thức điều khiển những cơ quan hệ thống bên trong cơ thể, những bộ phận không thể chủ động điều khiển được. Làm chủ được vô thức nghĩa là có thể dừng được hơi thở, dừng các sinh hoạt của sự sống, nhập định vài trăm năm rồi xuất định, sống lại bình thường, sống tiếp ngày trước khi nhập định. Còn ý thức thì liên quan tới các giác quan, làm chủ được ý thức sẽ khai mở những khả năng của giác quan như thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông. Công phu tu thiền có Tứ thiền, khi tu tập phải buông tâm không trú vào đâu, như thế tâm được buông xả mở rộng. Tu theo Thiền dễ thu hồi tâm hơn tu Định.

Có năm mức ĐịnhKhông vô biên xứ định, Thức vô biên xứ định, Vô sở hữu xứ định, Phi tưởng phi phi tưởng định, Diệt tận định (Diệt thọ tưởng định). Muốn nhập định thì cần loại bỏ dần suy nghĩ bất thiện, sau một thời gian luyện tập Thiền thì tâm không loạn động như trước, bớt suy nghĩ bất thiện, loại bỏ bớt vọng tưởng suy nghĩ lung tung khởi theo niệm. Bốn mức thiền đều có nhập và xuất, nghĩa là khi muốn an trú mức thiền nào, đều phải có thời gian dụng công. Khi muốn trở lại trạng thái trước cũng phải dụng công thoát ra, không phải thoát ngay được. Bình thường lúc không nhập thiền, một thiền giả an trú trong nội tâm tỉnh giác vắng lặng nhưng không phải trong bốn mức thiền. Bốn mức thiền chỉ được thực hiện trong tư thế bất động (Tiểu thừa). Tuy nhiên đạt đến mức độ cao thì vừa hành động vừa nhập thiền, lúc đó được xem là thần thông (Đại thừa). Thiền sư David Fontana nói về Thiền: Thiền không có nghĩa là ngủ gục, để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê, trốn tránh, xa lìa thế gian, vị kỷ, chỉ nghĩ tới mình, làm một việc gì không tự nhiên, để mình rơi vào vọng tưởng, quên mình ở đâu. Thiền là giữ tâm tỉnh táo, linh động, sự chú tâm, tập trung nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như đang là như thế, trau dồi tấm lòng nhân đạo biết mình là ai, là gì, ở đâu.

Kệ giảng nói:

Ta vốn đến đất này

Truyền pháp cứu mê tình

Một hoa nở năm lá

Kết quả tự nhiên thành

Bè sông chia sóng ngọc

Bó đuốc mở khóa vàng

Năm cửa cùng đi chung

Chín, mười không ta, người

Hành nhập giả. Vị tứ hành, kì dư chư hành tất nhập thử trung. Hà đẳng tứ da. Nhất báo oan hành, nhị tùy duyên hành, tam vô sở cầu hạnh, tứ xứng pháp hạnh. Vân hà báo oan hành. Vị tu đạo hành nhân nhược thụ khổ thì, đang tự niệm ngôn. Ngã tòng vãng tích vô giáo kiếp trung, khí bổn tòng mạt lưu lãng chư hữu, đa khởi oan tăng, vi hại vô hạn. Kim tuy vô phạm, thị giai túc ương, ác nghiệp quả thục, phi thiên phi nhân sở năng kiến dữ. Cam tâm nhẫn thụ, đô vô oan tố. Kinh vân: Phùng khổ bất ưu. Hà dĩ cố. Thức đạt cố. Thử tâm sinh thì, dữ lí tương ứng, thể oan tiến đạo, cố thuyết ngôn báo oan hành. Nhị tùy duyên hành giả. Chúng sinh vô ngã, tịnh duyên nghiệp sở chuyển. Khổ lạc tề thụ, giai tòng duyên sinh. Nhược đắc thắng báo vinh dự đẳng sự, thị ngã quá khứ túc nhân sở cảm, kim phương đắc chi. Duyên tận hoàn vô, hà hỉ chi hữu. Đắc thất tòng duyên, tâm vô tăng giảm. Hỉ phong bất động, minh thuận vu đạo. Thị cố thuyết ngôn tùy duyên hành dã. Tam vô sở cầu hành giả. Thế nhân trường mê, xứ xứ tham trước, danh chi vi cầu. Trí giả ngộ chân lí tương tục phản, an tâm vô vi hình tùy vận chuyển. Vạn hữu tư không, vô sở nguyện lạc. Công đức hắc ám, thường tương tùy trục, tam giới cửu cư do như hỏa trạch, hữu thân giai khổ, thùy đắc nhi an. Liễu đạt thử xử, cố xả chư hữu. Tức tưởng vô cầu. Kinh vân: Hữu cầu giai khổ. Vô cầu nãi lạc. Phán tri vô cầu chân vi đạo hành, cố ngôn vô sở cầu hành dã. Tứ xứng pháp hạnh giả. Tính tịnh chi lí, mục chi vi pháp. Tín giải thử lí, chúng tướng tư không, vô nhiễm vô trước, vô thử vô bỉ. Kinh vân: Pháp vô chúng sinh, li chúng sinh cấu cố. Pháp vô hữu ngã, li ngã cấu cố. Trí giả nhược năng tín giải thử lí, ứng đương xứng pháp nhi hành. Pháp thể vô khan thân mệnh tài. Hành đàn xá thí tâm vô lận tích. Đạt giải tam không, bất ỷ bất trước đãn vi khứ cấu. Xứng hóa chúng sinh, nhi bất thủ tướng. Thử vi tự hành, phục năng lợi tha, diệc năng trang nghiêm Bồ đề chi đạo. Đàn thí kí nhĩ, dư ngũ diệc nhiên. Vị trừ vọng tưởng. Tu hành lục độ. Nhi vô sở hành. Thị vi xứng pháp hành. Thuyết tụng viết: Ngô bổn lai tư thổ, truyền pháp cứu mê tình. Nhất hoa khai ngũ diệp, kết quả tự nhiên thành. Giang tra phân ngọc lãng, quản cự khai kim tỏa. Ngũ khẩu tương cộng hành, cửu thập vô bỉ ngã. 行入者.謂四行.其餘諸行悉入此中.何等四耶.一報冤行,二隨緣行,三無所求行,四稱法行.云何報冤行.謂修道行人若受苦時,當自念言,我從往昔無教劫中,棄本從末流浪諸有,多起冤憎,違害無限.今雖無犯,是皆(我)宿殃,惡業果熟,非天非人所能見與.甘心忍(甘)受.都無冤訴.經云:逢苦不憂.何以故.識達故.此心生時,與理相應,體冤進道,故說言報冤行.二隨緣行者.眾生無我,並緣業所轉.苦樂齊受,皆從緣生.若得勝報榮譽等事,是我過去宿因所感,今方得之.緣盡還無,何喜之有.得失從緣,心無增減.喜風不動,冥順於道,是故說言隨緣行也.三無所求行者.世人長迷,處處貪著,名之為求.智者悟真理將俗反,安心無為形隨運轉.萬有斯空,無所願樂,功德黑暗,常相隨逐.三界久居猶如火宅,有身皆苦,誰得而安.了達此處,故捨諸有.息想無求經云.有求皆苦.無求乃樂.判知無求真為道行,故言無所求行也.四稱法行者.性淨之理,目之為法.信解此理,眾相斯空,無染無著,無此無彼.經云:法無眾生,離眾生垢故.法無有我,離我垢故.智者若能信解此理,應當稱法而行.法體無慳身命財.行檀捨施心無吝惜,達解三空.不倚不著,但為去垢.稱化眾生,而不取相.此為自行,復能利他,亦能莊嚴菩提之道.檀施既爾,餘五亦然.為除妄想.修行六度.而無所行.是為稱法行.說偈言:吾本來茲土,傳法救迷情,一華開五葉,結果自然成.江槎分玉浪,管炬開金鎖,五口相共行,九十無彼我.

Bài kệ Nhị nhập chủng chuyển qua An tâm pháp môn. Bài tụng Huyết Mạch luận chuyển qua Nhị nhập chủng. Bài tụng này có ý là Bồ đề (Bodhi: Giác ngộ) Đạt Ma (Dharma: Pháp) từ phương Tây Ấn Độ truyền Phật pháp qua các xứ sở phương Đông. Từ sơ tổ Đạt Ma đến lục tổ Huệ Năng (Nhất hoa khai ngũ diệp. Một hoa nở năm cánh), kết quả Thiền tông phát triển khắp nơi. Giang tra phân ngọc lãng. Chiếc bè, sóng ngọc phân chia sông nước. Chiếc bè, sóng nước phân chia hai bờ mê ngộ. Quản cự khai Kim tỏa. Tâm là là bó đuốc, ngọn đèn soi sáng mở khóa vàng vào cửa giải thoát. Cửu thập vô bỉ ngã. Cửu Thập九十: muôn vàn, hoàn toàn, đầy đủ không có ta, có người này, người kia.

Kinh Kim Cang: Bồ Tát còn thấy có mình độ và chúng sinh được độ, tức là Bồ Tát còn chấp vào bốn tướng ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả thì đấy không phải là Bồ Tát.

Kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya): Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý (tạo tác ý) đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ (cảm nhận thấy), chứng và tâm định an trú vô tướng, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái. Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình ỷ tựa chính mình chớ ỷ dựa vào một thứ gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một thứ gì khác. Này Ananda, ở đời vị Tỷ kheo trú quán (dừng lại quan sát) trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục (thu phục lại) tham ưu (tham muốn ưu lo) ở đời. Trú quán thọ (dừng lại quán sát thụ nhận) trên các cảm thọ (cảm nhận lấy), trú quán tâm (dừng lại quán sát tâm) trên các tâm, trú quán pháp (dừng lại quan sát pháp) trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham (muốn) ưu (lo) ở đời. Như vậy này Ananda, Tỷ kheo tự mình là ngọn đèn (dipa) cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một thứ gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một thứ gì khác. Này Ananda, những ai, hiện nay hay sau khi Ta diệt độ (vào Niết bàn), tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một thứ gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một pháp nào khác. Dipa còn nghĩa là ngọn đèn và hòn đảo: Tự mình thắp đuốc lên mà đi. Tự mình xây dựng hòn đảo cho chính mình. Hãy tự mình là ngọn đèn, ngọn đuốc, hòn đảo cho chính mình. (H.T Thích Minh Châu dịch).

Bát Nhã Tâm kinh là then chốt của Phật đạo. Phật Thích Ca, Bồ đề Đạt Ma, Huệ Năng… là những người hiện thực, đã sống theo lịch sử nhân loại, có thân mệnh sinh lão bệnh tử. Những người đã tự tu, tự ngộ, tự chứng đắc chân lý. Đức Phật giảng Pháp để mở tuệ giác cho chúng sanh, để tự mình thoát khỏi sự vô minh u tối của tâm thức, thoát khỏi đau khổ phiền não của tâm trí. Trong kinh nói những danh hiệu Quán Tự Tại, Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteśvara.ava), nghĩa là người tu hạnh Bồ Tát quán tự tại thân tâm mình, quán các chủng loại âm thanh vô hình hữu hình ở khắp thế gian. Phật Nhiên Đăng (Dipankara) dịch nghĩa là đốt cháy cây đèn. Phật A Di Đà (Amitābha) dịch nghĩa là ánh sáng vô lượng, Di Lặc (Maitreya) dịch nghĩa là Người có lòng từ. Ý nghĩa của những danh hiệu chỉ là tự quán sát ngay tại thân tâm, quán sát âm thanh trong thân tâm, ở ngoài thế gian (Quán Tự Tại, Quán Thế Âm), tự đốt đèn soi sáng (Nhiên Đăng) trí tuệ Bát nhã, với ánh sáng trí tuệ Bát nhã vô lượng (A Di Đà) phá tan tâm vô minh, tâm vô minh tan biến mất thì có lòng từ vô lượng (Di Lặc). Các danh hiệu Phật và Bồ Tát khác đều có ý nghĩa giảng đạo, không có ý nghĩa về hình tướng.

Người đời dựa vào các danh danh sắc, vọng tưởng tạo ra hình tướng ảo tượng cho nên mê lầm sai lạc. Trí vọng tưởng vô tận cho nên hình tướng cũng vô tận. Người tu hành thiền ổn định tâm trí để đạt đến chánh niệm, xả bỏ trí vọng tưởng của chúng sinh, đạt đến Nhất thiết trí (Phật trí) sáng tỏ vô lượng. Người đời sinh ra số phận khác nhau, địa vị xã hội khác nhau, nhưng chung nhau một nỗi khổ đau phiền não Lão, Bệnh, Tử. Tâm thức đau khổ phiền não thì vẫn luôn luân hồi trong ba cõi khổ đau phiền não. Luân hồi ba cõi tự ở tại ngay hiện sinh, ngay trước mắt, trong tâm trí vọng tưởng.

Kinh Kim Cang: Như Lai nói tâm không phải thật có tâm, chỉ giả gọi là tâm, tại sao vậy, vì tâm quá khứ không thể có được, tâm hiện tại không thể có được, tâm vị lai cũng không thể có được.

Bồ đề Đạt Ma Quán Tâm Pháp (Thiếu Thất lục môn) dựa Tâm kinh Bát Nhã để giảng giải về tâm. Sách nguyên bản nhiều tên gọi, các chương mục ở trong bộ Đại Tạng kinh gồm 2372 bộ Kinh. Tham khảo các bản dịch của: HT. Thích Minh Thiền, Nguyễn Minh Tiến, Trúc Thiên: http://thuvienhoasen.org/p33/4/thien-to-su. Tra cứu từ điển: http://hvdic.thivien.net/. http://www.hanviet.org/. http://www.viethoc.com/nhu-lieu/tu-dhien-han-viet-thieu-chuu. Bản tạm dịch này sắp từ chương Nhị nhập chủng (vào đạo) đến Phá tướng, Ngộ tánh. Chương Kinh Bát Nhã có thể về sau thêm vào, cho nên đặt ở phần cuối để tham khảo. Người xưa giác ngộ Phật đạo lấy tâm truyền tâm chẳng lập văn tự, chỉ mượn văn giáo truyền tâm. Câu văn nào không rõ ý để nguyên văn, chú thích bên ngoài. Tâm sáng là ngọn đuốc soi thấy đường đến đạo. Kiến, văn, giác, tri để tự tu, tự ngộ, tự chứng, tự độ, tự giải thoát khổ.

Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikaya): Không phải chỉ (đạo sư) Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ Alara Kalama có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ Alara Kalama có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ Alara Kalama có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ Alara Kalama có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta phải cố gắng chứng cho được Pháp mà Alara Kalama đã tuyên bố sau khi tự tu, tự chứng, tự đạt. Rồi này các Tỷ kheo, không bao lâu, Ta tự tri, tự chứng, tự đạt Pháp ấy một cách mau chóng. Ta an trú. (H.T Thích Minh Châu dịch). Một Đạo sư nói: Khi chưa học đạo, Ta thấy sông là sông, núi là núi, nước là nước. Lúc học đạo, Ta thấy sông không phải là sông, núi không phải là núi, nước không phải là nước. Khi đắc đạo, Ta thấy sông vẫn là sông, núi vẫn là núi, nước vẫn là nước.

 AN TÂM PHÁP MÔN

Khi mê lầm người đuổi theo pháp, lúc giải thoát (mê lầm) pháp đuổi theo người. Giải thoát (mê lầm) thì biết thu lấy hình sắc (cảnh tượng), mê lầm thì hình sắc (cảnh tượng) thu lấy hiểu biết. Hễ có tâm phân biệt mưu tính ganh đua, ấy là do tâm hiện ra đo lường cân nhắc, tất cả đều là mộng ảo. Nếu biết tâm tịch diệt không một nơi nào động niệm, đó gọi là chánh giác.

Hỏi: Sao nói do tâm mình hiện ra đo lường cân nhắc.

Đạt Ma đáp: Thấy tất cả pháp có, có chẳng tự có, do tâm mưu tính tạo nên có. Thấy tất cả pháp không, không chẳng tự không, do tâm mưu tính tạo nên không. Rồi đến tất cả pháp cũng như thế, đều là do tâm mưu tính tạo nên có, do tâm mưu tính tạo nên không. Lại như người nào gây nên tất cả tội lỗi, tự thấy pháp vương của mình, tức thì được giải thoát.

Nếu người từ sự việc đi lên trên (sự việc) đạt được giải thoát, (là người) khí lực mạnh. Người thấy Pháp từ trong sự việc, thì ở mọi nơi không mất ý niệm. Người hiểu theo văn tự, (là người) khí lực yếu. (hiểu) Ngay sự việc chính là Pháp ấy là (người) thâm sâu. Nếu người nào đi theo mọi chủng loại xoay vần làm ra nhẩy múa loanh quanh nghiêng ngả, tất cả chẳng ra ngoài pháp giới, cũng chẳng vào trong pháp giới. Nếu lấy pháp giới vào pháp giới chính là người ngu. Nói chung có bày đặt làm ra [cuối cùng] đều chẳng ra ngoài Tâm pháp giới. Lý do vì sao, vì Tâm thể là pháp giới.

Mê thì nhân trục pháp, giải thời pháp trục nhân. Giải tắc thức nhiếp sắc, mê tắc sắc nhiếp thức. Đãn hữu tâm phân biệt kế giác (giáo), tự tâm hiện lượng giả, tất giai thị mộng. Nhược thức tâm tịch diệt vô nhất động niệm xứ, thị danh chánh giác. Vấn: Vân hà tự tâm hiện lượng. Đáp: Kiến nhất thiết pháp hữu, hữu tự bất hữu, tự tâm kế tác hữu. Kiến nhất thiết pháp vô, vô tự bất vô, tự tâm kế tác vô. Nãi chí nhất thiết pháp diệc như thị, tịnh thị tự tâm kế tác hữu, tự tâm kế tác vô. Hựu nhược nhân tạo nhất thiết tội, tự kiến kỉ chi pháp vương tức đắc giải thoát. Nhược tòng sự thượng đắc giải giả, khí lực tráng. Tòng sự trung kiến pháp giả, tức xứ xứ bất thất niệm. Tòng văn tự giải giả, khí lực nhược. Tức sự tức pháp giả thâm. Tòng nhữ chủng chủng vận vi khiêu lương điên quyết, tất bất xuất pháp giới, diệc bất nhập pháp giới. Nhược dĩ pháp giới nhập pháp giới, tức thị si nhân. Phàm hữu sở thi vi, giai (chung) bất xuất pháp giới tâm. Hà dĩ cố. Tâm thể thị pháp giới cố.迷時人逐法,解時法逐人.解則識攝色,迷則色攝識.但有心分別計較(校),自心現量者.悉皆是夢.若識心寂滅無一動念處,是名正覺.問:云何自心現量.答:見一切法有,有自不有,自心計作有.見一切法無,無自不無,自心計作無.乃至一切法亦如是,並是自心計作有,自心計作無.又若人造一切罪,自見己之法王,即得解脫.若從事上得解者,氣力壯.從事中見法者,即處處不失念.從文字解者,氣力弱.即事即法者深,從汝種種運為跳踉顛蹶,悉不出法界,亦不入法界.若以法界入法界,即是癡人.凡有所施為,皆(終)不出法界心.何以故.心體是法界故.

Pháp (Dharma): Nghĩa là nắm giữ, nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Thuật ngữ này nhiều nghĩa: 1. Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử… 2. Điều phải làm, nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ… 3. Trật tự xã hội, quy luật chế độ trong xã hội. 4. Điều lành, việc thiện, đức hạnh… 5. Sự thật, thật tại, chân lý, luật tắc…. 6. Nền tảng của thế gian và các cõi giới. 7. Tín ngưỡng tôn giáo. 8. Các tiêu chuẩn nhận thức về chân lý, luật tắc… 9. Giáo lý, giải thích, giảng dậy… 10. Bản thể, bản tính… 11. Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản… Pháp giới (Dharma-dhàtu. Dhamma-dhàtu): Nghĩa là tất cả đối tượng (Sắc, thanh, hương, xúc, vị, pháp) của ý thức. Trong 12 xứ thì Pháp giới được gọi là Pháp xứ. Theo nghĩa rộng thì Pháp giới là tất cả pháp hữu vi và vô vi. Pháp vương. Tâm là thể của pháp hữu vi và vô vi, sắc pháp và vô sắc pháp. Sắc pháp là các pháp có hình thể, tướng mạo, mầu sắc. Vô sắc pháp là các pháp không có hình sắc, những tư duy, tư tưởng, suy nghĩ… Pháp Phật là vô vi, pháp thế gian là hữu vi. Pháp hữu vi thì: Như mộng, huyễn, bào, ảnh. Như lộ diệc như điện. Tịch diệt (Vyupazama. Vùpasama): Gọi tắt là Diệt, vượt thoát sinh tử vào cảnh giới vắng lặng, vô vi. Cảnh giới này xa lìa cõi mê hoặc, được an vui, cho nên gọi là Tịch diệt vi lạc (Tịch diệt là vui). Một cách dịch nghĩa khác của danh từ Niết Bàn. Tịch diệt mô tả một tâm trạng tĩnh tịnh tuyệt đối, vượt khỏi sinh tử, thành, trụ, hoại, không, không gian và thời gian, vượt qua tất cả mọi lệ thuộc, mô tả trạng thái tâm thức của một bậc Giác ngộ, một vị Phật. Trạng thái này không thể trình bày được vì nằm ngoài tư duy, suy nghĩ và ngôn ngữ. Các pháp có hay không do Lục căn thu lấy từ Lục trần (khách trần), từ Lục căn thu lấy Lục trần tạo thành Lục thức (ý thức, ý niệm), từ Lục thức sanh ra vọng tưởng có – không. Lục căn động cho nên ý động, ý động cho nên tâm động, tâm động sanh ra có hay không, có – không đều vì tâm ý hiện ra đo lường mưu tính. Nếu biết tâm tịch diệt không một nơi nào động niệm, phải gọi là chánh giác. Từ sự việc đi lên trên sự việc, đạt được giải  thoát vì hiểu rõ sự việc chính là pháp, pháp chính sự việc . Lấy tâm ý mình vào tâm ý người, cho nên xoay vần nhẩy múa loanh quanh, cuối cùng không ra ngoài tâm pháp giới.

Kinh Kalama sutta: Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm (ý) ác đối với ai cả, và nếu ta không có (ý) làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ (cảm nhận, thụ nhận) khổ đau được, thì đây là sự yên ổn. Nếu việc ác không làm, như vậy cả hai phương diện, ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh, thì đây là sự yên ổn. Cả hai phương diện có làm ác hay không làm ác, đều không khởi lên ý có hay không, tức là tâm ý đều tĩnh tịnh tịch diệt, cho nên yên ổn. Kinh Hoa Nghiêm: Nếu ai muốn hiểu rõ được tất cả các vị Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai thì nên quán sát thật tánh của các pháp trên thế gian này, tất cả đều là do tâm tạo thành. Kinh Kim Cang: Nếu các ông thấy các pháp đều hư vọng không thật, tức là thấy được Như Lai.

Hỏi: Người đời học hỏi mọi chủng loại, tại sao không đắc đạo.

Đạt Ma đáp: Bởi vì thấy mình cho nên không đắc đạo, mình ấy là thân (vật chất) của mình vậy. Bậc chí nhân (Thánh) gặp khổ chẳng lo, gặp vui chẳng mừng, bởi vì chẳng thấy thân mình. Lý do chẳng biết khổ vui này là do quên mất thân (vật chất) của mình. Đạt được tận cùng hư vô (trống rỗng, hư không), thân mình còn quên mất, có vật nào hơn mà chẳng quên.

Hỏi: Các pháp rồi thì không, dựa vào ai tu đạo.

Đạt Ma đáp: Có dựa ai cần phải tu đạo. Nếu không dựa ai, thì chẳng cần phải tu đạo. Dựa ai ấy cũng là (dựa vào) thân mình vậy. Nếu không có thân mình (vô ngã) đó là gặp vật chẳng sinh ra đúng sai. Đúng ấy là ta (cho là) đúng, mà vật chẳng phải đúng vậy. Sai ấy là ta (cho là) sai, mà vật chẳng phải sai vậy. Ngay tâm không tâm, đúng là thông đạt Phật đạo. Ngay vật chẳng khởi lên thấy gọi là đạt đạo. Gặp vật hiểu rõ ngay nguồn gốc (vật) đó, người này mở mắt tuệ. Người có trí ấy là mặc kệ vật, không mặc kệ mình. Tức là không nắm giữ buông bỏ thuận nghịch. Kẻ ngu ấy là mặc kệ mình không mặc kệ vật. Tức là có nắm giữ buông bỏ thuận nghịch.

Không thấy một vật, thì gọi là thấy đạo. Không hành (làm ra, được) một vật, thì gọi là hành đạo. (A)Tức là tất cả nơi không xử, tức là nơi làm việc, không khởi lên pháp, chính là thấy Phật. (B)Tức là tất cả nơi trống rỗng. Nơi chính là pháp xứ (pháp giới), tức là nơi làm việc, không khởi lên xử, không tạo lên pháp, tức là thấy Phật. (C)Tức là tất cả nơi không xử, tức là nơi làm việc, không khởi lên xử, không tạo nên pháp, tức là thấy Phật(1).

Vấn: Thế gian nhân chủng chủng học vấn vân hà bất đắc đạo. Đáp: Do kiến kỉ cố bất đắc đạo. Kỉ giả ngã dã. Chí nhân phùng khổ bất ưu, ngộ lạc bất hỉ, do bất kiến kỉ cố. Sở dĩ bất tri khổ lạc giả, do vong kỉ cố. Đắc chí hư vô, kỉ tự thượng vong, canh hữu hà vật nhi bất vong dã. Vấn: (Thuyết) Chư pháp kí không, a thùy tu đạo. Đáp: Hữu a thùy, tu tu đạo. A thùy giả, diệc ngã dã. Nhược vô a thùy, tức bất tu tu đạo. Nhược vô ngã giả, phùng vật bất sinh thị phi. Thị giả ngã tự thị, nhi vật phi thị dã. Phi giả ngã tự phi, nhi vật phi phi dã. Tức tâm vô tâm, thị vi thông đạt Phật đạo. Tức vật bất khởi kiến, danh vi đạt đạo. Phùng vật trực đạt, tri kì bổn nguyên, thử nhân tuệ nhãn khai. Trí giả nhâm vật bất nhâm kỉ. Tức vô thủ xả vi thuận. Ngu giả nhâm kỉ bất nhâm vật. Tức hữu thủ xá vi thuận. Bất kiến nhất vật, danh vi kiến đạo. Bất hành nhất vật, danh vi hành đạo. (A)Tức nhất thiết xứ vô xử, tức tác xứ vô tác pháp, tức thị kiến Phật. (B)Tông cảnh lục: Tức nhất thiết x vô. Xứ tức thị pháp xứ. Tức tác xứ vô tác xử. Vô tác pháp. Tức kiến Phật. (C)Chánh pháp nhãn tạng: Tức nhất thiết xứ vô xử. Tức tác xứ vô tác xử. Vô tác pháp. Tức kiến Phật. 問:世間人種種學問云何不得道. 答:由見己故 不得道,己者我也.至人逢苦不憂,遇樂不喜,由不見己故.所以不知苦樂者,由亡己故.得至虛無,己自尚亡,更有何物而不亡也.問:(說)諸法既空,阿誰修道.答:有阿誰須修道.若無阿誰,即不須修道.阿誰者,亦我也.若無我者,逢物不生是非.是者我自是,而物非是也.非者我自非,而物非非也.即心無心,是為通達佛道.即物不起見,名為達道.逢物直達,知其本源,此人慧眼開.智者任物不任己,即無取捨違順.愚者任己不任物,即有取捨違順.不見一物,名為見道.不行一物,名為行道.(A)即一切處無處,即作處無作法,即是見佛.(B)即一切處無,處即是法處,即作處無作處,無作法,即見佛.(C)即一切處無處,即作處無作處, 無作法, 即見佛.

Hành đạo: Tu hành Phật đạo. Xứ (xử)處. Có hai nghĩa theo cách đọc. Xứ: nơi chốn, chỗ ở, vị trí, lúc. Vô xứ無處: Không nơi chốn, không xứ sở, không có chỗ nào. Xử: giao thiệp, đắn đo, lo liệu, giải quyết, xử trí, xử lý, xử sự. Vô xử無處: Không đắn đo, lo liệu, giải quyết, xử trí, xử lý… Bản Thiếu Thất lục môn (trong Đại Tạng kinh): (A)Tức nhất thiết xứ vô xử, tức tác xứ vô tác pháp, tức thị kiến Phật: Tức là tất cả nơi (xứ) không xử (vô xử). Tức là nơi làm việc (tác xứ) không khởi lên pháp (tác pháp), chính là thấy Phật (Người giác ngộ). Tác xứ: nơi làm việc. Tác xử: khởi lên xử trí, lo liệu. Tác pháp: bầy ra, tạo dựng cách thức làm việc. Đến nơi nào làm việc theo nơi đó, không tạo ra lo liệu, cách thức, phương pháp làm việc, vì lo liệu xử trí công việc mà ta cho là đúng sai, thì đúng sai với ta mà việc không đúng sai như lo liệu. Bản Tông cảnh lục (trong Đại Tạng kinh): (B)Tức nhất thiết xứ vô. Xứ tức thị pháp xứ. Tức tác xứ vô tác xử. Vô tác pháp. Tức kiến Phật: Tức là tất cả không có nơi nào (thật). Nơi chốn chính là pháp xứ (cõi pháp). Tức là nơi làm việc (tác xứ) không khởi lên xử (tác xử). Tức là thấy Phật. Bản Chánh Pháp Nhãn tạng (Đại Tạng kinh). (C)Tức nhất thiết xứ vô xử. Tức tác xứ vô tác xử. Vô tác pháp. Tức kiến Phật. Tức là tất cả nơi không xử (trí, đắn đo, lo liệu lý, sự). Tức là nơi làm việc (tác xứ) không khởi lên xử (tác xử). Không khởi lên pháp (tác pháp). Tức là thấy Phật (Người giác ngộ). Pháp xứ: Pháp giới (pháp tướng). Pháp xử: cách thức, phương pháp, giải quyết, đắn đo, lo liệu, xử trí, xử lý. Đình chùa có pháp giới của đình chùa, có cách thức, xử sự, làm việc riêng của đình chùa, ở chợ có pháp giới của kẻ chợ. Ở chốn nào thì có pháp giới của nơi đó. Tức là làm việc theo nơi đó (tác xứ), không đắn đo, lo liệu, xử trí, xử lý (tác xử), không khởi lên làm ra khuôn phép, phép tắc, lý lẽ, đúng sai, thuận nghịch (tác pháp). Đem khuôn phép, lý lẽ, phép tắc đúng sai, thuận nghịch của pháp giới này, áp dụng vào pháp giới kia, tức là nắm giữ, buông bỏ, thuận nghịch thì xoay vần nhẩy múa loanh quanh. Xứ là sắc pháp, Xử là tâm pháp. Kinh Kim Cang: Không sinh khởi pháp tướng, cũng không sinh khởi phi pháp tướng.

Kinh Bát Nhã: Hành giả không nên nhìn nhận bất cứ một pháp, một thật thể nào bên ngoài, vì hoàn toàn không có một pháp nào có thể được nhận thức cả.

Nếu lúc thấy hình tướng, thì thấy quỷ (quỷ quyệt, xảo trá, ma quỷ) ở mọi nơi. Giữ lấy hình tướng cho nên rơi xuống địa ngục, quan sát pháp cho nên được giải thoát. Nếu thấy [nhớ] nghĩ tưởng cùng phân biệt, tức là như việc nhận lấy vạc nước sôi lò than nóng, thấy ngay hình tướng sinh tử. Nếu thấy Pháp giới tánh tức là Niết bàn tánh. Không nghĩ nhớ tưởng phân biệt chính là Pháp giới tánh. Tâm [đó] không có hình sắc cho nên chẳng phải có. Dùng mà chẳng phế bỏ cho nên chẳng phải không. Dùng mà thường không cho nên chẳng phải có. Không mà thường dùng cho nên chẳng phải không.

Tụng viết:

Tâm, tâm, tâm khó tìm được

Rộng thời khắp pháp giới

Hẹp chẳng chứa cây kim

Cũng chỉ là thấy ác mà không sanh ghét

Cũng chỉ là xem thiện mà chẳng cần làm

Cũng chỉ là bỏ trí mà chẳng gần ngu

Cũng chỉ là vứt mê mà không gần ngộ.

Đạt đạo lớn à quá lượng

Thông Phật tâm à xuất độ

Chẳng chung vòng phàm Thánh

Siêu nhiên danh đấy là Tổ


Nhược kiến tướng thì, tức nhất thiết xứ kiến quỷ. Thủ tướng cố đọa địa ngục, quan pháp cố đắc giải thoát. Nhược kiến ức tương phân biệt, tức thụ hoạch thang lô thán đẳng sự, hiện kiến sinh tử tướng. Nhược kiến pháp giới tính tức Niết bàn tính. Vô ức tưởng phân biệt tức thị pháp giới tính. Tâm (thị) phi sắc cố phi hữu. Dụng nhi bất phế cố phi vô. Dụng nhi thường không cố phi hữu. Không nhi thường dụng cố phi vô. Thuyết tụng viết: Tâm tâm tâm nan khả tầm, khoan thì biến pháp giới. Trách dã bất dung châm. Diệc bất đổ ác nhi sinh hiềm, diệc bất quan thiện nhi cần thố, diệc bất xá trí nhi cận ngu, diệc bất phao mê nhi tựu ngộ. Đạt đại đạo hề quá lượng, thông Phật tâm hề xuất độ, bất dữ phàm thánh đồng triền, siêu nhiên danh chi viết tổ.若見相時,即一切處見鬼.取相故墮地獄,觀法故得 解脫.若見(憶)想相分別,即受鑊湯爐炭等事,現見生死相.若見法界性,即涅槃性.無憶想分別,即是法界性.心(是)非色故非有.用而不廢故非無.用而常空故非有,空而常用故非無.即說頌曰:.心心心,難可尋,寬時遍法界,窄也不容針.亦不睹惡而生嫌,亦不觀善而勤措,亦不捨智而近愚,亦不拋迷而就悟.達大道兮過量,通佛心兮出度,不與凡聖同躔,超然名之`祖.

Pháp giới tánh: Bản tánh, chân tánh của pháp giới. Một thuật ngữ diễn tả hợp nhất của hai khái niệm Pháp giới và Chân tánh. Tâm tâm tâm nan khả tầm. Tâm không có hình sắc, cho nên chẳng phải có, dùng mà chẳng phế bỏ cho nên chẳng phải không, rộng rãi thì khắp thế giới, hẹp hòi chẳng dung chứa được đầu cây kim, cũng chỉ là thấy ác sanh ra ghét, thấy thiện cần làm mà sanh ra tâm. Đạt đại đạo hề quá lượng. Đạt được đạo lớn thì vượt qua nhiều giới hạn. Thông Phật tâm hề xuất độ. Thông suốt được Phật tâm thì ra khỏi mọi sự đo lường, siêu nhiên như thế thì đấy là nguồn gốc của chân tánh (Tổ) . Kinh Niết Bàn (Nirvāṇa): Các phiền não tan mất gọi là Niết bàn, xa lìa các pháp hữu vi cũng gọi là Niết bàn. Kinh Đại Niết Bàn: (Niết bàn) Đây là sự bình yên. Đây là sự bình yên tối thượng. Kinh Pháp Cú: Tâm dẫn đầu tất cả, tâm là chủ, tâm tạo ra tất cả. Kinh Lăng Già: Tâm là chủ, cửa Không là cửa pháp.

LUẬN HUYẾT MẠCH

Ba cõi [hỗn tạp] vượng khởi lên cùng về một tâm, Phật trước Phật sau lấy tâm truyền tâm không tạo lập văn tự.

Hỏi: Nếu như không tạo lập văn tự, lấy gì là tâm.

Đạt Ma đáp: Ông hỏi tôi chính là tâm của ông. Tôi trả lời ông chính là tâm của tôi. Nếu tôi không có tâm, dựa đâu để giải đáp ông. Nếu ông không có tâm, dựa đâu để biết hỏi tôi. Hỏi tôi chính là tâm của ông. Từ không có bắt đầu (số kiếp) tới nay rộng lớn mênh mông số kiếp, ngay cả khi vận động bày ra làm, trong tất cả lúc tất cả nơi, đều là nguồn gốc tâm của ông, đều là nguồn gốc Phật của ông. Ngay tâm là Phật cũng lại như thế. Trừ ngoài tâm này, cuối cùng không Phật nào khác có thể được, lìa tâm này, tìm Bồ đề Niết bàn bên ngoài, thì không có ở nơi nào.

Tự tánh (tánh của mình) chân thật, chẳng phải nhân chẳng phải quả. Pháp chính là ý nghĩa của tâm, tâm của mình là Bồ đề, tâm của mình là Niết bàn. Nếu nói ngoài tâm có Phật và Bồ đề có thể được, thì không có ở nơi nào. Phật và Bồ đề đều ở nơi nào. Ví như có người lấy tay nắm lấy hư không, được không. Hư không chỉ có tên gọi, cũng không có hình tướng, nắm chẳng được, vất bỏ chẳng được, do đó nắm lấy hư không chẳng được. Trừ ngoài tâm này tìm Phật, cuối cùng chẳng được vậy. Phật là tâm mình tạo nên có được [thấy Phật], do đâu tách lìa tâm này tìm Phật bên ngoài. Phật trước Phật sau chỉ nói tâm đó. Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm. Ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật, Phật ở nơi nào. Ngoài tâm đã không có Phật, tại sao khởi lên thấy Phật, lần lượt mê lầm lừa dối lẫn nhau. Không thể hiểu rõ tâm mình, vô tình bị cảnh vật khác thu bắt, rõ ràng không có tự do. Nếu vẫn chẳng tin, tự lừa dối vô ích. Phật không lo lầm lỗi, chúng sanh điên đảo, chẳng hiểu chẳng biết tâm mình là Phật. Nếu biết tâm mình là Phật, không nên ngoài tâm tìm Phật.

Tam giới hưng (hỗn) khởi đồng quy nhất tâm, tiền Phật hậu Phật dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn tự. Vấn viết: Nhược bất lập văn tự, dĩ hà vi tâm. Đáp viết: Nhữ vấn ngô, tức thị nhữ tâm. Ngô đáp nhữ, tức thị ngô tâm. Ngô nhược vô tâm, nhân hà giải đáp nhữ. Nhữ nhược vô tâm, nhân hà giải vấn ngô. Vấn ngô tức thị nhữ tâm. Tòng vô thủy khoáng đại kiếp dĩ lai, nãi chí thi vi vận động, nhất thiết thời trung nhất thiết xử sở, giai thị nhữ bổn tâm, giai thị nhữ bổn Phật. Tức tâm thị Phật, diệc phục như thị. Trừ thử tâm ngoại, chung vô biệt Phật khả đắc. Li thử tâm ngoại, mịch Bồ đề Niết bàn, vô hữu thị xứ. Tự tính chân thật, phi nhân phi quả. Pháp tức thị tâm nghĩa, tự tâm thị Bồ đề, tự tâm thị Niết bàn. Nhược ngôn tâm ngoại hữu Phật cập Bồ đề khả đắc, vô hữu thị xứ. Phật cập Bồ đề giai tại hà xử. Thí như hữu nhân dĩ thủ tróc hư không, đắc phủ. Hư không đãn hữu danh, diệc vô tướng mạo, thủ bất đắc xá bất đắc, thị tróc không bất đắc. Trừ thử tâm ngoại mịch Phật, chung bất đắc dã. Phật thị tự tâm tác đắc, nhân hà li thử tâm ngoại mịch Phật. Tiền Phật hậu Phật chỉ ngôn kì tâm. Tâm tức thị Phật, Phật tức thị tâm. Tâm ngoại vô Phật, Phật ngoại vô tâm. Nhược ngôn tâm ngoại hữu Phật, Phật tại hà xử. Tâm ngoại kí vô Phật, hà khởi Phật kiến, bị tha vô tình vật nhiếp. Đệ tương cuống hoặc bất năng liễu bổn tâm. Nhược hựu bất tín, tự cuống vô ích. Phật vô quá hoạn, chúng sinh điên đảo, bất giác bất tri tự tâm thị Phật. Nhược tri tự tâm thị Phật, bất ứng tâm ngoại mịch Phật.三界興(混)起同歸一心,前佛 後佛以心傳心,不立文字.問曰:若不立文字,以何為心.答曰:汝問吾,即是 汝心,吾答汝,即是吾心.吾若無心,因何解答汝.汝若無心,因何解問吾.問吾即是汝心.從無始曠大劫以來,乃至施為運動,一切時中一切處所,皆是汝本心,皆是汝本佛.即心是佛,亦復如是.除此心外,終無別佛可得.離此心外,覓菩提涅槃,無有是處.自性真實,非因非果.法即是心義,自心是菩提,自心是涅槃.若言心外有佛及菩提可得,無有是處.佛及菩提皆在何處.譬如有人以手捉虛空,得否.虛空但有名,亦無相貌,取不得,捨不得,是捉空不得.除此心外覓佛,終不得也.佛是自心(見佛)作得,因何離此心外覓佛.前佛後佛只言其心.心即是佛,佛即是心.心外無佛,佛外無心.若言心外有佛,佛在何處.心外既無佛,何起佛見.遞相誑惑,不能了本心,被他無情物攝,無自由分.若又不信,自誑無益.佛無過患,眾生顛倒,不覺不知自心是佛.若知自心是佛,不應心外覓佛. Ba cõi (Tam giới, Tam hữu): Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Dục giới: Những tham muốn về sắc dục, vật dục. Nơi cõi dục tùy theo nghiệp quả tạo ra trong lúc sống, sẽ luân hồi trong sáu đường Thiên, Thần A tu la, Người, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Sắc giới: Thuộc cõi Thiên, không có tham muốn về sắc dục, vật dục, nhưng còn có những khoái lạc. Vô sắc giới: Cõi này thuần chất về tâm thức.

Phật chẳng độ (cứu độ, phù độ) Phật, đem tâm tìm Phật mà chẳng biết Phật. Nếu như người nào tìm Phật bên ngoài, tất cả đều chẳng biết tâm mình là Phật. Cũng không thể đem Phật lễ Phật, không thể đem tâm niệm Phật. Phật chẳng tụng kinh, Phật chẳng giữ giới, Phật chẳng phạm giới. Phật chẳng giữ gìn xâm phạm, cũng chẳng tạo ra gây nên thiện ác. Nếu muốn tìm Phật cần phải thấy tánh, thấy tánh chính là Phật. Nếu không thấy tánh tụng kinh, niệm Phật, ăn chay, giữ giới cũng chẳng có ích lợi chỗ nào. Niệm Phật được nhân quả, tụng kinh được thông minh, giữ giới được sanh cõi trời, bố thí được phước báo, tìm Phật cuối cùng chẳng được. Nếu tự mình chẳng sáng tỏ hiểu rõ, nên học hỏi (tham vấn) Thiện tri thức đang hiểu rõ nguồn gốc sinh tử. Nếu không thấy tánh thì chẳng gọi tên là Thiện tri thức. Nếu chẳng như thế tha hồ nói giảng được mười hai bộ kinh, cũng chẳng miễn khỏi luân hồi sinh tử, chịu khổ ba cõi, không có kỳ hẹn nào ra.

Tích xưa có Tỳ kheo (sư) Thiện Tinh tụng được mười hai bộ kinh, vẫn còn chính mình chẳng miễn khỏi luân hồi, do vì không thấy tánh. Thiện Tinh đã như thế, người thời nay giảng luận được năm ba bản kinh, lấy đó là Phật pháp, người ngu vậy. Nếu chẳng biết được tâm mình, tụng đọc được thông thạo văn thư, đều là chỗ vô dụng. Nếu muốn tìm Phật, nên thẳng tới thấy tánh. Tánh chính là Phật, Phật chính là người tự tại, người vô sự vô tạo tác (không gây nên, tạo ra, tác động gì). Nếu không thấy tánh, suốt ngày mù mịt hướng ra ngoài đuổi theo cầu tìm Phật, trước sau chẳng được. Tuy không một vật nào có thể được, nếu cầu hiểu biết, cũng nên học hỏi thiện tri thức, rất cần thiết khổ cầu, khiến cho tâm mở ra hiểu sinh tử là việc lớn. Không thể hư hão lầm lỗi, tự lừa dối vô ích.

Phật bất độ Phật. Tương tâm mịch Phật, nhi bất thức Phật. Đãn thị ngoại mịch Phật giả, tận thị bất thức tự tâm thị Phật. Diệc bất đắc tương Phật lễ Phật, bất đắc tương tâm niệm Phật. Phật bất tụng kinh. Phật bất trì giới. Phật bất phạm giới. Phật vô trì phạm, diệc bất tạo thiện ác. Nhược dục mịch Phật, tu thị kiến tánh, kiến tánh tức thị Phật. Nhược bất kiến tánh, niệm Phật tụng kinh trì trai trì giới diệc vô ích xứ. Niệm Phật đắc nhân quả, tụng kinh đắc thông minh, trì giới đắc sinh thiên, bố thí đắc phước báo, mịch Phật chung bất đắc dã. Nhược tự kỉ bất minh liễu, tu tham thiện tri thức liễu khước sinh tử căn bản. Nhược bất kiến tánh, tức bất danh thiện tri thức. Nhược bất như thử, túng thuyết đắc thập nhị bộ kinh, diệc bất miễn sinh tử luân hồi, tam giới thọ khổ, vô hữu xuất kỳ. Tích hữu Thiện Tinh bỉ khâu, tụng đắc thập nhị bộ kinh, do tự bất miễn luân hồi, duyên vị bất kiến tánh. Thiện Tinh ký như thử, kim thời nhân giảng đắc tam ngũ bản kinh luận dĩ vi Phật pháp giả. Ngu nhân dã. Nhược bất thức đắc tự tâm, tụng đắc nhàn văn thư đô vô dụng xử. Nhược yếu mịch Phật, trực tu kiến tính. Tính tức thị Phật, Phật tức thị tự tại nhân, vô sự vô tác nhân. Nhược bất kiến tính, chung nhật mang mang hướng ngoại trì cầu mịch Phật, nguyên lai bất đắc. Tuy vô nhất vật khả đắc, nhược cầu hội, diệc tu tham thiện tri thức, thiết tu khổ cầu,lệnh tâm hội giải, sinh tử sự đại. Bất đắc không quá, tự cuống vô ích.佛不度佛.將心覓佛,而不識佛.但是外覓佛者,盡是不識自心是佛.亦不得將佛禮佛,不得將心念佛.佛不誦經.佛不持戒.佛不犯戒.佛無持犯,亦不造善惡.若欲覓佛,須是見性,見性即是佛,若不見性,念佛,誦經,持齋,持戒,亦無益處.念佛得因果,誦經得聰明,持戒得生天,布施得福報,覓佛終不得也.若自己不明了,須參善知識了卻生死根本.若不見性,即不名善知識.若不如此,縱說得十二部經,亦不免生死輪迴,三界受苦,無有出期.昔有善星比丘,誦得十二部經,猶自不免輪迴,緣為不見性.善星既如此,今時人講得三五本經論以為佛法者.愚人也.若不識得自心,誦得閑文書,都無用處.若要覓佛,直須見性.性即是佛, 佛即是自在人,無事無作人.若不見性,終日茫茫,向外馳求覓佛,元來不得.雖無一物可得,若求會,亦須參善知識,切須苦求,令心會解生死事大.不得空過,自誑無益. Thiện tri thức (Thiện hữu, Đạo hữu): Danh từ chỉ một người bạn cùng chí hướng, cùng mục đích, cùng đạo lý. Danh từ này nói về một vị đầy đủ đạo hạnh, vững vàng lý thuyết Phật pháp và thiền định, có thể giúp đỡ những vị khác trên con đường tu học.

Kinh Pháp Hoa: Gặp thiện tri thức là nhân duyên lớn, nhờ sự dẫn dắt của thiện tri thức thấy được Phật. Đọc kinh, niệm Phật, ăn chay, giữ giới không thể thoát khỏi nghiệp báo luân hồi ba cõi. Kinh Kim Cang: Tu Bồ Ðề, về quá khứ Ta là vị Tiên tu hạnh nhẫn đến 500 đời, bị vua Ca Lợi cắt rời thân thể từng đoạn nhưng Ta không sân hận, trong lúc thân bị cắt rời ra, nếu Ta còn có tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thì Ta sẽ khởi sinh lòng sân hận. Duyên lành nghiệp ác luôn đuổi nhau theo. Một ý niệm tốt xấu khởi lên đã có luân hồi nghiệp báo. Có thân là có nghiệp, mỗi ý niệm thiện ác là một kiếp luân hồi nhân quả.

Kinh Niết Bàn (Nirvāṇa): Các phiền não tan mất hết gọi là Niết bàn. Tỳ kheo Thiện Tinh. Kinh Đại Niết Bàn. Ca Diếp hỏi Phật: Đức Thế Tôn (Người được thế gian tôn kính), Tỳ kheo Thiện Tinh là con trai của Phật lúc chưa xuất gia, sau khi làm Tỳ kheo, Thiện Tinh thọ trì đọc tụng thuyết giảng được 12 bộ kinh, phá kiết sử (phiền não kết lại) cõi dục chứng được tứ thiền. Tại sao đức Như Lai nói Thiện Tinh là hạng Nhứt xiển đề, là người hạ tiện, người không thể sửa trị được phải ở nơi địa ngục cả kiếp. Cớ gì đức Như Lai chẳng giảng nói chánh pháp cho Thiện Tinh để được làm Bồ Tát. Nếu đức Thế Tôn chẳng cứu được Thiện Tinh, thì đâu gọi là có đại từ bi, có đại phương tiện. Phật nói: Này Ca Diếp, ví dụ như cha mẹ có ba người con. Người con thứ nhất cung kính cha mẹ, có lòng tin thuận, thông minh trí tuệ, có thể làm được sự nghiệp trong đời, người con thứ hai không cung kính tin thuận cha mẹ, thông minh trí tuệ, có thể làm xong sự nghiệp trong đời, người con thứ ba không cung kính tin thuận cha mẹ, ngu si vô trí. Này Ca Diếp, nếu cha mẹ muốn dạy bảo điều gì, thì nên dạy đứa con nào trước, thương yêu đứa con nào trước, nên trước nhất bảo đứa nào làm sự nghiệp. Ca Diếp thưa: Bạch Thế Tôn, cha mẹ đó nên trước nhất dạy bảo đứa con có lòng cung kính tin thuận, thông minh trí tuệ, có thể làm được sự nghiệp trong đời, kế đến dạy bảo đứa thứ hai, rồi sau mới đến đứa con thứ ba. Hai đứa sau dù không có lòng cung kính tin thuận, nhưng vì xót thương nên cũng lần lượt dạy bảo. Phật nói: Này Ca Diếp, đức Như Lai cũng như vậy, đứa con thứ nhất ví dụ cho Bồ Tát, đứa thứ hai ví dụ cho hàng Thanh Văn, đứa thứ ba ví dụ cho hạng Nhứt xiển đề. Như trong kinh, những nghĩa lý vi tế ta giảng nói cho các vị Bồ Tát. Những nghĩa nông cạn thì giảng nói cho hàng Thanh Văn. Những nghĩa lý thế gian thì giảng nói cho hạng Nhứt xiển đề (chúng sinh), dù trong đời hiện tại họ không được lợi ích, nhưng cũng làm chủng tử lành cho đời sau. Kinh Niết Bàn: Người phạm tội xiển đề, đều là người dứt hết cả các căn bản lành, lòng không dính dấp với một pháp lành nào cả, cho đến không hề nảy sinh một tư tưởng lành. Nhất Xiển Đề là hạng người cùng hung cực ác, mất hết tất cả các căn lành, không thể nào giáo hóa khiến cho họ tu hành được. Có hai hạng Xiển Đề: 1. Đoạn thiện Xiển đề: Người dứt hết thiện căn, vốn không có nhân duyên giải thoát. 2. Đại bi xiển đề, Bồ tát xiển đề: Tức là Bồ tát vốn mang tâm nguyện đại bi cứu vớt hết thảy chúng sinh, nên cố ý không vào Niết bàn. Kinh Lăng Già: Này Mahamati, vị Bồ Tát nhất xiển đề biết rằng tất cả sự vật đều ở trong Niết Bàn từ lúc khởi thủy, cho nên vẫn giữ mãi không nhập Niết Bàn. Mười hai bộ kinh là 12 phần giáo lý căn bản, phương pháp giảng dậy của Phật.

Cho dù có trân châu bảo ngọc như núi, gia đình họ hàng như cát sông Hằng, mở mắt thấy ngay, nhắm mắt lại thấy gì. Cho nên biết pháp hữu vi thì giống như ảo mộng. Nếu không nhanh chóng tìm thầy, qua đi một đời hư hão. Dù đúng là Phật tánh tự có, nếu chẳng noi theo thầy, cuối cùng chẳng sáng tỏ hiểu rõ. Người không noi theo thầy (tự) giác ngộ, hiếm có trong vạn (người). Nếu tự mình do duyên hội hợp được ý Thánh nhân, thì chẳng cần học hỏi Thiện tri thức, thế chính là sinh ra mà đã biết hơn học vậy. Nếu chưa mở ra giác ngộ, nên chăm chỉ cố gắng nghiên cứu học hỏi, noi theo truyền lại mới được giác ngộ. Nếu tự sáng tỏ hiểu rõ, không học cũng được (giác ngộ), chẳng cùng chung với kẻ mê không thể phân biệt đen trắng, tuyên bố nói bậy là Phật răn dậy, (đó là) báng bổ Phật càn bậy pháp. Cùng giống như loại này, thuyết giảng pháp như mưa, tất cả là ma nói, tức chẳng phải Phật giảng nói. (bọn chúng) Thầy là ma vương, đệ tử là ma dân.

Người mê mặc cho kẻ khác chỉ huy, chẳng hiểu biết rơi xuống biển sinh tử. Nếu như kẻ không thấy tánh, xưng bậy là Phật, loại chúng sinh này là kẻ tội lớn, lừa dối tất cả chúng sinh khác, làm cho (họ) vào cõi ma. Nếu không thấy tánh, giảng nói được mười hai bộ kinh giáo, tất cả đều là ma nói, họ hàng nhà ma, chẳng phải đệ tử nhà Phật. Đã không phân biệt trắng đen, bằng cứ vào đâu miễn khỏi sinh tử. Nếu thấy tánh chính là Phật, không thấy tánh tức là chúng sinh. Nếu lìa tánh chúng sinh, có Phật tánh nào khác có thể được, vậy thì Phật bây giờ ở đâu. Tánh chúng sinh chính là tánh Phật. Ngoài tánh không có Phật, Phật chính là tánh. Trừ ngoài tánh này, không có Phật nào có thể được. Ngoài Phật không có tánh nào có thể được.

Túng hữu trân bảo như san, quyến thuộc như hằng hà sa, khai nhãn tức kiến, hợp nhãn hoàn kiến ma. Cố tri hữu vi chi pháp như mộng huyễn đẳng. Nhược bất cấp tầm sư, không quá nhất sinh. Nhiên tắc Phật tính tự hữu, nhược bất nhân sư, chung bất minh liễu. Nhược tự kỉ dĩ duyến hội hợp đắc thánh nhân ý, tức bất dụng tham thiện tri thức. Bất nhân sư ngộ giả, vạn trung hi hữu. Thử tức thị sinh nhi tri chi thắng học dã. Nhược vị ngộ giải, tu cần khổ tham học, nhân giáo phương đắc ngộ. Nhược tự minh liễu, bất học diệc đắc, bất đồng mê nhân bất năng phân biệt tạo bạch, vọng ngôn tuyên Phật sắc, báng Phật vọng pháp, như tư đẳng loại, thuyết pháp như vũ, tận thị ma thuyết, tức phi Phật thuyết. Sư thị ma vương, đệ tử thị ma dân. Mê nhân nhâm tha chỉ huy, bất giác đọa sinh tử hải. Đãn thị bất kiến tính nhân, vọng xưng thị Phật. Thử đẳng chúng sinh thị đại tội nhân, cuống tha nhất thiết chúng sinh, lệnh nhập ma giới. Nhược bất kiến tính, thuyết đắc thập nhị bộ kinh giáo, tận thị ma thuyết. Ma gia quyến chúc,bất thị Phật gia đệ tử. Kí bất biện tạo bạch, bằng hà miễn sinh tử. Nhược kiến tính tức thị Phật. Bất kiến tính tức thị chúng sinh. Nhược li chúng sinh tính, biệt hữu Phật tính khả đắc giả, Phật kim tại hà xử. Chúng sinh tính tức thị Phật tính dã. Tính ngoại vô Phật, Phật tức thị tính. Trừ thử tính ngoại, vô Phật khả đắc. Phật ngoại vô tính khả đắc.縱有珍寶如山,眷屬如恒河沙,開眼即見, 合眼還見麼.故知有為之法如夢幻等.若不急尋師,空過一生.然則佛性自有,若不因師,終不明了.不因師悟者,萬中希有.若自己以緣會合得聖人意,即不用參善知識.此即是生而知之勝學也.若未悟解,須勤苦參學,因教方得悟.若自明了,不學亦得,不同迷人不能分別皂白,妄言宣佛敕,謗佛妄法,如斯等類,說法如雨,盡是魔說,即非佛說.師是魔王,弟子是魔民.迷人任他指揮,不覺墮生死海.但是不見性人,妄稱是佛,此等眾生是大罪人,誑他一切眾生,令入魔界.若不見性,說得十二部經教,盡是魔說.魔家眷屬,不是佛家弟子.既不辨皂白,憑何免生死.若見性即是佛.不見性即是眾生.若離眾生性別有佛性可得者,佛今在何處.眾生性即是佛性也.性外無佛,佛即是性.除此性外,無佛可得.佛外無性可得. Hữu vi chi pháp như mộng huyễn đẳng. Kinh Kim Cang: Nhất thiết hữu vi pháp. Như mộng, huyễn, bào, ảnh. Như lộ diệc như điện. Ưng tắc như thị quán. Tất cả pháp hữu vi, như mộng ảo, hình bóng, bọt nước. Như sương móc như chớp điện. Nên quán là như thế.

Hỏi: Nếu không thấy tánh, tụng kinh, niệm Phật, bố thí, giữ giới, tinh tấn, mở rộng phát triển phúc lợi, thành tựu Phật (đạo) được không.

Đạt Ma đáp: Không được.

Lại hỏi: Nguyên nhân vì đâu không được.

Đạt Ma nói: Có chút ít pháp nào có thể được, đó là pháp hữu vi, đó là nhân quả, đó là chịu quả báo, đó là pháp luân hồi, chẳng miễn khỏi sinh tử thì làm sao thành Phật đạo được. Thành Phật cần phải thấy tánh, nếu không thấy tánh, nói nhân quả đều là pháp ngoại đạo. Nếu là Phật chẳng học tập pháp ngoại đạo. Phật là người không nghiệp, không nhân quả. Hễ có chút ít pháp có thể được, tất cả đều là chê cười Phật, căn cứ vào đâu thành (Phật) được. Hễ có một chút tâm biểu hiện bám víu, một chút có thể, một chút hiểu biết, một chút trông thấy, đều chẳng hứa hẹn (thành) Phật.

Phật chẳng giữ gìn xâm phạm. Tâm tánh vốn rỗng không, cũng chẳng phải sạch dơ [Các pháp cũng chẳng phải sạch dơ], các pháp không tu không chứng, không nhân không quả. Phật chẳng giữ giới, Phật không tu thiện, Phật chẳng tạo ác, Phật không tinh tấn, Phật chẳng lười biếng, Phật là người vô tác (không tạo ra, tác động gì). Hễ còn lại có một chút tâm bám víu trông thấy Phật, thì chẳng hứa hẹn (thành Phật). Phật chẳng phải là Phật, đừng khởi lên hiểu biết Phật. Nếu không thấy ý nghĩa này, trong tất cả thời gian, tất cả nơi chốn, đều chẳng hiểu rõ nguồn gốc tâm. Nếu không thấy tánh, trong tất cả thời gian, khởi lên ý nghĩ không tạo nên nghĩ tưởng, đó là kẻ tội lớn, đó là kẻ ngu si, rơi vào vô ký không, tối tăm mê muội như người say, không phân biệt tốt xấu. Nếu nghĩ định tu pháp vô tác, trước tu thấy tánh, rồi mới ngừng lo nghĩ về nhân duyên. Nếu không thấy tánh thành tựu được Phật đạo, thì không có ở chỗ nào. Có người bài bác không nhân quả, cho là đúng (nên) hăng hái làm nghiệp ác, nói bậy vốn rỗng không, làm ác không lỗi. Đối với người như thế, rơi xuống địa ngục vô gián đen tối, mãi mãi không có kỳ hẹn ra. Nếu là người trí, không nên tạo sự hiểu biết như thế.

Vấn viết: Nhược bất kiến tính, niệm Phật tụng kinh, bố thi trì giới tinh tiến, quảng hưng phúc lợi, đắc thành Phật phủ. Đáp viết: Bất đắc. Hựu vấn: Nhân hà bất đắc. Đáp viết: Hữu thiểu pháp khả đắc, thị hữu vi pháp, thị nhân quả, thị thụ báo, thị luân hồi pháp, bất miễn sinh tử, hà thì đắc thành Phật đạo. Thành Phật tu thị kiến tính. Nhược bất kiến tính, nhân quả đẳng ngữ thị ngoại đạo pháp. Nhược thị Phật, bất tập ngoại đạo pháp. Phật thị vô nghiệp nhân vô nhân quả. Đãn hữu thiểu pháp khả đắc, tận thị báng Phật, bằng hà đắc thành. Đãn hữu trụ trứ nhất tâm, nhất năng, nhất giải, nhất kiến, Phật đô bất hứa. Phật vô trì phạm. Tâm tính bổn không, diệc phi cấu tịnh (Đại Tạng kinh: Diệc phi cấu tịnh chư pháp). Chư pháp vô tu vô chứng, vô nhân vô quả. Phật bất trì giới. Phật bất tu thiện. Phật bất tạo ác. Phật bất tinh tiến. Phật bất giải đãi. Phật thị vô tác nhân. Đãn hữu trụ trứ tâm kiến Phật, tức bất hứa dã. Phật bất thị Phật. Mạc tác Phật giải. Nhược bất kiến thử nghĩa, nhất thiết thì trung, nhất thiết xử xử, giai thị bất liễu bổn tâm. Nhược bất kiến tính, nhất thiết thì trung, nghĩ tác vô tác tưởng, thị đại tội nhân, thị si nhân. Lạc vô kí không trung, hôn hôn như túy nhân, bất biện hảo ác. Nhược nghĩ tu vô tác pháp, tiên tu kiến tính, nhiên hậu tức duyến lự. Nhược bất kiến tính, đắc thành Phật đạo, vô hữu thị xử. Hữu nhân bát vô nhân quả, sí nhiên tác ác nghiệp. vọng ngôn bổn không, tác ác vô quá. Như thử chi nhân, đọa vô gian hắc ám địa ngục, vĩnh vô xuất kì. Nhược thị trí nhân, bất ứng tác như thị kiến giải.問曰:若不見性,念佛誦經,布施,持戒,精進,廣興福利,得成佛否.答曰:不得.又問:因何不得.答曰:有少法可得,是有為法.是因果,是受報,是輪迴法,不免生死,何時得成佛道成佛須是見性.若不見性,因果等語是外道法若是佛,不習外道法.佛是無業人,無因果.但有少法可得,盡是謗佛,憑何得成.但有住著一心,一能,一解,一見,佛都不許.佛無持犯.心性本空,亦非垢淨.諸法無修無證,無因無果.佛不持戒.佛不修善.佛不造惡.佛不精進.佛不懈怠.佛是無作人.但有住著心見佛,即不許也.佛不是佛.莫作佛解.若不見此義,一切時中,一切處處,皆是不了本心.若不見性,一切時中,擬作無作想,是大罪人,是癡人.落無記空中,昏昏如醉人,不辨好惡.若擬修無作法,先須見性,然後息緣慮.若不見性得成佛道,無有是處.有人撥無因果,熾然作惡業,妄言本空,作惡無過.如此之人,墮無間黑暗地獄,永無出期.若是智人,不應作如是見解. Kinh Duy Ma Cật: Thân, khẩu, ý thường hay là hai (thiện ác, đúng sai, trái phải…), ba nghiệp đó bản chất đều là vô tác, thân vô tác tức là bản chất miệng vô tác, miệng bản chất vô tác tức là bản chất ý vô tác. Ba nghiệp đó bản chất vô tác, thì tất cả pháp bản chất vô tác. Đạt tới như thế tùy theo tuệ vô tác. Đó là vào Pháp môn bất nhị. Ba nghiệp thân, khẩu, ý thường chia làm hai, bản chất của thân, khẩu, ý vô thường, vô ngã cho nên bản chất ba nghiệp là vô tác. Bản chất ba nghiệp vô tác thì bản chất các pháp cũng vô tác. Kinh Pháp Bảo Đàn: Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc. Vô niệm là đối với niệm mà không niệm. Sao gọi là vô niệm? Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm ấy là vô niệm. Vô ký không: Không hiểu được ở đâu, không biết phải làm gì. Tham thiền không để cho dứt niệm, niệm trước niệm sau đều phải chánh định, tức là phải có vấn đáp, luôn luôn tiếp tục không bị gián đoạn chánh niệm. Nếu không có hoài nghi vấn đáp thì rơi vào Vô ký không, đó là thiền bịnh gọi là ngâm nước chết (tù đọng), có thể cảm thấy yên tĩnh thanh tịnh, nhưng thật ra là tối tăm mê muội như người mất trí.

Hỏi: Nếu đã vận động bày ra làm, trong mọi lúc đều là tâm mình, sắc thân đó thì vô thường, như thế tại sao chẳng thấy tâm mình.

Đạt Ma đáp: Tâm vốn thường hiện ra trước, tự ông chẳng thấy.

Hỏi: Tâm đã đang thấy, cớ sao chẳng thấy.

Đạt Ma hỏi: Ông từng nằm mộng chăng.

Đáp: Từng nằm mộng.

Đạt Ma lại hỏi: Lúc ông nằm mộng, đó là thân của ông chăng.

Đáp: Đó là thân của tôi.

Đạt Ma lại hỏi: Ông nói năng vận động bày ra làm, khác ông hay là chẳng khác.

Đáp: Chẳng khác.

Đạt Ma nói: Nếu đã chẳng khác, thì thân ấy vốn là Pháp thân (thể tánh) của ông, ngay Pháp thân đó vốn là tâm của ông.

Tâm đó từ không bắt đầu (số kiếp) tới nay rộng lớn mênh mông số kiếp, đều như hiện nay chẳng khác, chưa từng có sống chết, không sanh không diệt, chẳng thêm chẳng bớt, không sạch không dơ, chẳng thiện chẳng ác, không  đi không đến. Cũng chẳng đúng sai, cũng không hình tướng nam nữ, cũng không tăng tục già trẻ, không Thánh không phàm. Cũng chẳng có Phật, cũng chẳng có chúng sinh, cũng không tu chứng, cũng không nhân quả, cũng không gân cốt sức lực, cũng không có hình dáng thân thể, giống như hư không, nắm giữ chẳng được, buông bỏ chẳng được, núi sông vách đá không thể làm trở ngại, qua lại hiện ra biến mất, tự tại thần thông, xuyên qua núi năm uẩn, vượt qua sông sanh tử, tất cả nghiệp bắt giữ Pháp thân này chẳng được. Tâm này vi diệu (tinh vi mầu nhiệm) khó thấy, tâm này chẳng giống sắc tâm, tâm này là tất cả con người muốn được thấy. Ở tại đó trong sáng tỏ, xoay tay động chân như là cát sông Hằng, thừa dịp nêu lên hỏi đến, nói hết tất cả đều chẳng được, tương tự giống như người gỗ, tất cả đều là tự mình dùng sử dụng, nhưng sao chẳng biết. Phật nói: Hết cả chúng sinh đều là người mê, nguyên do này tạo ra nghiệp, rơi xuống sông sinh tử, muốn vượt ra lại chìm đắm, chỉ vì không thấy tánh. Chúng sinh nếu không mê, do đâu nêu lên hỏi (tâm) đó trong sự việc, không có một người nào hiểu được vậy. Ở tại mình xoay tay động chân, do đâu chẳng hiểu biết.

Vấn viết: Kí nhược thi vi vận động, nhất thiết thì trung, giai thị bổn tâm, sắc thân vô thường chi thời, vân hà bất kiến bổn tâm. Đáp viết: Bổn tâm thường hiện tiền, nhữ tự bất kiến. Vấn viết: Tâm kí kiến tại, hà cố bất kiến. Sư vân: Nhữ tằng tác mộng phủ. Đáp: Tằng tác mộng. Vấn viết: Nhữ tác mộng chi thì, thị nhữ bổn thân phủ. Đáp: Thị bổn thân. Hựu vấn: Nhữ ngôn ngữ thi vi vận động, dữ nhữ biệt bất biệt. Đáp: Bất biệt. Sư vân: Kí nhược bất biệt, tức thử thân thị nhữ bổn pháp thân. Tức thử pháp thân thị nhữ bổn tâm. Thử tâm tòng vô thủy khoáng đại kiếp lai, dữ như kim bất biệt,vị tằng hữu sinh tử, bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh, bất hảo bất ác, bất lai bất khứ. Diệc vô thị phi, diệc vô nam nữ tương, diệc vô tăng tục lão thiểu, vô thánh vô phàm. Diệc vô Phật diệc vô chúng sinh, diệc vô tu chứng, diệc vô nhân quả, diệc vô cân lực. Diệc vô tương mạo, do như hư không, thủ bất đắc xá bất đắc, san hà thạch bích bất năng vi ngại, xuất một vãng lai tự tại thần thông, thấu ngũ uẩn san, độ sinh tử hà, nhất thiết nghiệp câu thử pháp thân bất đắc. Thử tâm vi diệu nan kiến. Thử tâm bất đồng sắc tâm. Thử tâm thị nhân giai dục đắc kiến, vu thử quang minh trung, vận thủ động túc giả, như hằng hà sa, cập vu vấn trứ, tổng đạo bất đắc. Do như mộc nhân tương tự, tổng thị tự kỉ thụ dụng, nhân hà bất thức. Phật ngôn: Nhất thiết chúng sinh tận thị mê nhân, nhân thử tác nghiệp, đọa sinh tử hà, dục xuất hoàn một, chỉ vi bất kiến tính. Chúng sinh nhược bất mê, nhân hà vấn trứ kì trung sự, vô hữu nhất nhân đắc hội giả. Tự gia vận thủ động túc, nhân hà bất thức. 問曰:既若施為運動,一切時中,皆是本心,色身無常之時,云何不見本心.答曰:本心常現前, 汝自不見.問曰:心既見在,何故不見.師云:汝曾作夢否.答:曾作夢.問曰:汝作夢之時,是汝本身否.答:是本身.又問:汝言語施為運動,與汝別,不別.答:不別.師云:既若不別,即此身是汝本法身.即此法身是汝本心.此心從無始曠大劫來,與如今不別,未曾有生死,不生不滅,不增不減,不垢不淨,不好不惡,不來不去.亦無是非,亦無男女相,亦無僧俗老少,無聖無凡.亦無佛,亦無眾生,亦無修證,亦無因果,亦無筋力.亦無相貌,猶如虛空,取不得,捨不得,山河石壁不能為礙,出沒往來自在神通,透五蘊山,渡生死河,一切業拘此法身不得.此心微妙難見.此心不同色心.此心是人皆欲得見,於此光明中,運手動足者,如恒河沙,及于問著,總道不得.猶如木人相似,總是自己受用,因何不識.佛言:一切眾生盡是迷人,因此作業,墮生死河,欲出還沒,只為不見性.眾生若不迷,因何問著其中事,無有一人得會者.自家運手動足, 因何不識. Vô thường: Không luôn luôn, không mãi mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn thay đổi hình dạng. Đi từ trạng thái hình thành, thấp cao, to nhỏ, hình thành rồi tan rã, đạo Phật gọi đây là những giai đoạn thay đổi đó là thành trụ hoại không. Tất cả sự vật hữu hình vô hình trong vũ trụ đều là vô thường. Tam thân: Pháp thân, Báo thân (Thụ dụng thân), Ứng thân (Hóa thân). Tam thân là ba thân Phật (Người giác ngộ) trong một thể tánh Chân Như. Pháp thân. Thể tánh chân thật, chân như của Phật và chúng sinh đều có chung. Pháp thân cũng là chân Pháp, Phật pháp, quy luật vận hành trong vũ trụ. Pháp thân không có hình tướng, một thể tánh luôn luôn mãi mãi nguyên vẹn không biến đổi. Pháp thân cũng là Phật, Phật tánh, Pháp giới, Pháp tánh, Tánh không, Thể tánh Chân như, Như Lai. Báo thân (Thụ Dụng thân). Thân hiện ra được thụ dụng, báo đáp, ứng trả do nghiệp. Ứng thân (Hóa thân). Thân đang sử dụng của những Người giác ngộ (Phật, Bồ Tát). Ngũ uẩn sơn: Núi năm uẩn. Sắc, Thanh, Hương, Xúc, Vị che lấp chất cao nặng nề như núi.

Cho nên biết Thánh nhân nói chẳng lầm, người mê tự chẳng gặp lúc hiểu rõ. Cho nên biết khó sáng tỏ như thế, chỉ có Phật một người đạt tới hiểu rõ Pháp này, còn lại trời người và tất cả chúng sinh cùng như nhau chẳng sáng tỏ hiểu rõ. Nếu trí tuệ sáng suốt hiểu rõ tâm này, phương danh Pháp tánh (nơi tên gọi Pháp tánh), cũng gọi tên là giải thoát, chẳng gò bó sinh tử, tất cả pháp khác bắt giữ chẳng được [Tâm này danh hiệu là Pháp tánh, cũng gọi là giải thoát sinh tử, chẳng cố chấp tất cả pháp, bắt giữ nó chẳng được]. Đó gọi tên là Như Lai đại tự tại vương, cũng gọi tên là chẳng nghĩ bàn, cũng gọi tên là Thánh thể, cũng gọi tên là sống mãi không chết, cũng gọi tên là Đại tiên. Tên gọi tuy không giống nhau, thể chính là một. Thánh nhân phân biệt mọi chủng loại, đều chẳng lìa tâm mình. Tâm lượng rộng lớn, ứng dụng vô cùng, ứng mắt thấy sắc, ứng tai nghe tiếng, ứng mũi ngửi mùi, ứng lưỡi biết vị, cho đến vận động bày ra làm đều là tâm mình. Trong tất cả thời gian, hễ có lời nói là cắt đứt đạo, đó tức là tâm mình. Cho nên nói hình sắc Như Lai vô tận, trí tuệ cũng lại như thế. Hình sắc vô tận là tâm mình, tâm thức tài giỏi phân biệt tất cả, cho đến vận dụng bày ra làm đều là trí tuệ. Tâm không hình tướng, trí tuệ cũng vô tận. Cho nên nói hình sắc Như Lai vô tận, trí tuệ cũng lại như thế. Sắc thân tứ đại chính là phiền não. Sắc thân thì có sinh diệt. Pháp thân thường trụ mà không trụ nơi nào. Pháp thân Như Lai mãi chẳng đổi khác. Cho nên Kinh rằng: Chúng sinh ứng theo biết, Phật tánh vốn tự có đấy.

Chỉ có ông Ca Diếp là giác ngộ được bản tánh. Bản tánh chính là tâm, tâm chính là tánh, tánh này thì cùng một tâm các vị Phật. Phật trước Phật sau chỉ truyền tâm này. Trừ ngoài tâm này, không Phật nào có thể được. Chúng sinh điên đảo, chẳng biết tâm mình là Phật, hướng ra ngoài rong ruổi cầu tìm, suốt ngày bận rộn vội vàng niệm Phật lễ Phật, Phật ở tại nơi nào. Chẳng nên làm cùng là thấy như thế. Nếu hiểu biết tâm mình, ngoài tâm càng không có Phật nào khác. Kinh (Kim Cang) nói: Nói chung tất cả hình tướng đều là hư vọng. Lại nói: Nơi đang ở đó chính là có Phật.

Tâm mình là Phật, chẳng nên đem Phật lễ Phật. Nếu có tướng mạo Phật và Bồ Tát, bất chợt hiện ra phía trước, chẳng cần dùng lễ kính trọng. Tâm mình rỗng không tịch lặng, vốn không có tướng mạo như thế. Nếu chọn lấy hình tướng đó tức là ma, tất cả đều rơi vào tà đạo. Nếu là huyễn ảo theo tâm khởi lên thì chẳng dùng lễ, người lễ không biết, người biết chẳng lễ, lễ bị ma thu bắt. Lo ngại người học chẳng hiểu biết, cho nên coi là phân tích.

Trên bản thể tánh các vị Phật Như Lai, đều không có tướng mạo như thế. Rất cần tại ý, hễ có cảnh giới khác lạ, quyết chẳng cần tìm tòi chọn nhặt, cũng đừng sanh ra sợ hãi, chẳng cần nghi ngờ mê loạn. Tâm mình xưa nay thanh tịnh, nơi nào hứa có tướng mạo như thế. Ngay cả khi các hình tướng Thiên long, Dạ xoa, Quỉ thần, Đế thích, Phạm vương, cũng chẳng cần sanh tâm kính trọng, cũng đừng sợ hãi. Tâm mình xưa nay rỗng không tịch lặng, tất cả tướng mạo đều là hình tướng viễn vông. Chỉ đừng giữ lấy hình tướng. Nếu khởi lên thấy Phật thấy pháp, cùng những tướng mạo Phật, Bồ Tát mà sanh ra kính trọng, đang tự bị rơi xuống vị trí chúng sinh. Nếu muốn hiểu ngay, chỉ đừng giữ lấy tất cả hình tướng thì được. Không thêm lời nói khác, đều không chắc chắn là thật. Tướng huyễn ảo không chắc chắn, đó là pháp vô thường, chỉ không giữ lấy hình tướng, hợp ý Thánh nhân khác. Cho nên kinh nói: Lìa tất cả hình tướng, tức là danh hiệu các vị Phật.

Cố tri thánh nhân ngữ bất thác, mê nhân tự bất hội hiểu. Cố tri thử nan minh, duy Phật nhất nhân năng hội thử pháp. Dư nhân thiên cập chúng sinh đẳng tận bất minh liễu. Nhược trí tuệ minh liễu thử tâm, phương danh pháp tính, diệc danh giải thoát, sinh tử bất câu. Nhất thiết pháp câu tha bất đắc. (Đại Tạng kinh: Thử tâm hào danh pháp tính, diệc danh giải thoát sinh tử, bất câu nhất thiết pháp, câu tha bất đắc), thị danh đại tự tại vương Như Lai, diệc danh bất tư nghị, diệc danh thánh thể, diệc danh trường sinh bất tử, diệc danh đại tiên. Danh tuy bất đồng, thể tức thị nhất. Thánh nhân chủng chủng phân biệt, giai bất li tự tâm. Tâm lượng quảng đại, ứng dụng vô cùng. Ứng nhãn kiến sắc, ứng nhĩ văn thanh, ứng tị khứu hương, ứng thiệt tri vị, nãi chí thi vi vận động, giai thị tự tâm. Nhất thiết thì trung. Đãn hữu ngữ ngôn đoạn đạo, tức thị tự tâm. Cố vân: Như Lai sắc vô tận, trí tuệ diệc phục nhiên. Sắc vô tận thị tự tâm. Tâm thức thiện năng phân biệt nhất thiết, nãi chí thi vi vận dụng, giai thị trí tuệ. Tâm vô hình tương, trí tuệ diệc vô tận. Cố vân: Như Lai sắc vô tận, trí tuệ diệc phục nhiên. Tứ đại sắc thân tức thị phiền não. Sắc thân tức hữu sinh diệt, pháp thân thường trụ, nhi vô sở trụ. Như Lai pháp thân thường bất biến dị. Cố kinh vân: Chúng sinh ứng tri, Phật tính bổn tự hữu chi. Già diệp chỉ thị ngộ đắc bổn tính. Bổn tính tức thị tâm, tâm tức thị tính, tính tức thử đồng chư Phật tâm. Tiền Phật hậu Phật chỉ truyện thử tâm. Trừ thử tâm ngoại, vô Phật khả đắc. Điên đảo chúng sinh, bất tri tự tâm thị Phật, hướng ngoại trì cầu, chung nhật mang mang, niệm Phật lễ Phật, Phật tại hà xử. Bất ứng tác như thị đẳng kiến. Đãn thức tự tâm, tâm ngoại canh vô biệt Phật. Kinh vân: phàm sở hữu tương giai thị hư vọng. Hựu vân: sở tại chi xử tức vi hữu Phật. Tự tâm thị Phật, bất ứng tương Phật lễ Phật. Đãn thị hữu Phật cập Bồ Tát tương mạo, hốt nhĩ hiện tiền, thiết bất dụng lễ kính. Ngã tâm không tịch, bổn vô như thị tương mạo. Nhược thủ tương tức thị ma, tận lạc tà đạo. Nhược thị huyễn tòng tâm khởi, tức bất dụng lễ. Lễ giả bất tri, tri giả bất lễ, lễ bị ma nhiếp. Khủng học nhân bất tri, cố tác thị biện. Chư Phật Như Lai bổn tính thể thượng, đô vô như thị tương mạo. Thiết tu tại ý, đãn hữu dị cảnh giới, thiết bất dụng thải quát, diệc mạc sinh phạ phố, bất yếu nghi hoặc. Ngã tâm bổn lai thanh tịnh, hà xử hữu như hứa tương mạo. Nãi chí thiên long, dạ xoa, quỷ thần, đế thích, phạm vương đẳng tương, diệc bất dụng tâm sinh kính trọng, diệc mạc phạ cụ. Ngã tâm bổn lai không tịch, nhất thiết tương mạo giai thị vọng tương. Đãn mạc thủ tương. Nhược khởi Phật kiến pháp kiến, cập Phật Bồ Tát đẳng tương mạo nhi sinh kính trọng, tự đọa chúng sinh vị trung. Nhược dục trực hội, đãn mạc thủ nhất thiết tương tức đắc, canh vô biệt ngữ, đô vô định thật. Huyễn vô định tương, thị vô thường pháp. Đãn bất thủ tương, hợp tha thánh ý. Cố kinh vân: li nhất thiết tương, tức danh chư Phật.故知聖人語不錯,迷人自不會曉.故知此難明,唯佛一人能會此法.餘人天及眾生等盡不明了.若智慧明了此心,方名法性,亦名解脫,生死不拘.一切法拘他不得. (Đại Tạng kinh: 此心號名法性.亦名解脫生 死.不拘一切法.拘它不得).是名大自在王如來,亦名不思議,亦名聖體,亦名長生不死,亦名大仙.名雖不同,體即是一.聖人種種分別,皆不離自心.心量廣大,應用無窮.應眼見色,應耳聞聲,應鼻嗅香,應舌知味,乃至施為運動,皆是自心.一切時中.但有語言道斷.即是自心.故云:如來色無盡,智慧亦復然.色無盡是自心.心識善能分別一切,乃至施為運用,皆是智慧.心無形相,智慧亦無盡.故云:如來色無盡,智慧亦復然.四大色身即是煩惱.色身即有生滅,法身常住,而無所住.如來法身常不變異.故經云:眾生應知,佛性本自有之.迦葉只是悟得本性.本性即是心,心即是性,性即此同諸佛心.前佛後佛只傳此心.除此心外,無佛可得.顛倒眾生,不知自心是佛,向外馳求,終日忙忙,念佛禮佛,佛在何處.不應作如是等見.但識自心,心外更無別佛.經云:凡所有相皆是虛妄.又云:所在之處即為有佛.自心是佛,不應將佛禮佛.但是有佛及菩薩相貌,忽爾現前,切不用禮敬.我心空寂,本無如是相貌.若取相即是魔,盡落邪道.若是幻從心起,即不用禮.禮者不知,知者不禮.恐學人不知,故作是辨.諸佛如來本性體上,都無如是相貌.切須在意,但有異境界,切不用採括,亦莫生怕怖,不要疑惑.我心本來清淨,何處有如許相貌.乃至天龍,夜叉,鬼神,帝釋,梵王等相,亦不用心生敬重,亦莫怕懼.我心本來空寂,一切相貌皆是妄相.但莫取相.若起佛見法見,及佛菩薩等相貌而生敬重,自墮眾生位中.若欲直會,但莫取一切相即得,更無別語,都無定實.幻無定相,是無常法.但不取相,合他聖意.故經云:離一切相即名諸佛. Kinh Tứ Thập Nhị Chương 20: Nên nghĩ nhớ trong thân tứ đại, đều là do có tên, đều không có ta. Ta đã không có, đó là theo tai nghe không có thật (Đương niệm thân trung tứ đại,các hữu tự danh,đô vô ngã giả.Ngã kí đô vô,kì như huyễn nhĩ 当念身中四大,各有自名,都无我者.我既都无,其如幻耳). Kim Cang: Bồ tát nên như thế mà sanh tâm thanh tịnh, không nên trụ nơi sắc sanh tâm, không nên trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không trụ chỗ nào mà sanh tâm (thanh tịnh) đó. (Bồ tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm).

Hỏi: Nguyên nhân nào không được kính lễ Phật cùng Bồ Tát.

Đạt Ma đáp: Thiên ma Ba Tuần, (thần) A Tu La hiện cho thấy thần thông, đều làm được tướng mạo Bồ tát. Mọi chủng loại biến hóa đều là ngoại đạo, tất cả đều chẳng phải là Phật. Phật là tâm mình, đừng lầm lẫn lễ bái. Phật là chữ Tây quốc (Ấn Độ), lãnh vực này nói là giác tánh, giác ấy là linh giác (cảm nhận linh hoạt), khéo léo ứng theo liền sự vật, nhướng mi nháy mắt, xoay tay động chân, đều là tánh linh giác của mình. Tánh chính là tâm, tâm chính là Phật, Phật chính là đạo, đạo chính là Thiền. Đối với một chữ Thiền, chẳng phải nơi Thánh phàm đo lường. Thấy ngay bản tánh, thì gọi là Thiền. Nếu không thấy bản tánh, thì chẳng phải Thiền. Cho dù nói được ngàn kinh vạn luận bàn, nếu không thấy bản tánh, chỉ là kẻ tầm thường, chẳng phải là Phật pháp.

Đạo rất thâm sâu, nói còn không thể hiểu, kinh điển truyền lại nhờ cậy đâu đạt tới. Nếu thấy bản tánh, một chữ không biết cũng đắc (đạo). Thấy tánh chính là Phật. Thánh thể xưa nay trong sạch, không dơ bẩn lẫn lộn. Thánh nhân nói giảng tất cả đều theo tâm đem ra sử dụng. Thể dụng xưa nay rỗng không, lời nói nổi tiếng còn thiếu sót, 12 bộ kinh nhờ cậy đâu đạt tới. Đạo vốn trọn vẹn đầy đủ, chẳng cần tu chứng. Đạo chẳng phải mầu sắc âm thanh, vi diệu khó thấy. Như người uống nước, ấm lạnh tự biết, không thể hướng về người nói. Chỉ có Như Lai đạt tới hiểu biết, còn lại trời, người, các loại (chúng sinh), đều chẳng giác ngộ hiểu biết. Kẻ phàm trí không đầy đủ, cho nên có chấp tướng, chẳng hiểu rõ tâm mình xưa nay rỗng không tịch lặng, sai bậy chấp tướng đến tất cả pháp, liền rơi vào ngoại đạo. Nếu biết các pháp theo tâm sanh ra, không nên có chấp, chấp tức là không biết. Nếu thấy bản tánh, 12 bộ kinh lúc nào cũng là văn tự phàm phiếm. Ngàn kinh vạn luận chỉ để sáng tỏ tâm, bên trong lời nói đạt tới hiểu, cần gì giữ lấy giáo (lễ nghi, dậy bảo). Đạt đến lý dứt hết lời nói. Lễ nghi dậy bảo là câu văn lời nói, chẳng thật là đạo. Đạo vốn không lời, lời nói thuyết giảng là viễn vông.

Vấn viết: Nhân hà bất đắc lễ Phật Bồ Tát đẳng. Đáp viết: Thiên ma Ba Tuần A Tu La thị hiện thần thông, giai tác đắc Bồ Tát tương mạo, chủng chủng biến hóa, giai thị ngoại đạo, tổng bất thị Phật. Phật thị tự tâm, mạc thác lễ bái. Phật thị tây quốc ngữ, thử thổ vân giác tính. Giác giả linh giác ứng ki tiếp vật, dương mi thuấn mục, vận thủ động túc, giai thị tự kỉ linh giác chi tính. Tính tức thị tâm, tâm tức thị Phật. Phật tức thị đạo, đạo tức thị thiện. Thiện chi nhất tự, phi phàm thánh sở trắc. Trực kiến bổn tính, danh chi vi thiện. Nhược bất kiến bổn tính. Tức phi thiện dã. Giả sử thuyết đắc thiên kinh vạn luận, nhược bất kiến bổn tính, chỉ thị phàm phu, phi thị Phật pháp. Chí đạo u thâm, bất khả thoại hội. Điển giáo bằng hà sở cập, đãn kiến bổn tính, nhất tự bất thức diệc đắc. Kiến tính tức thị Phật. Thánh thể bổn lai thanh tịnh, vô hữu tạp uế, sở hữu ngôn thuyết giai thị thánh nhân, tòng tâm khởi dụng. Dụng thể bổn lai không, danh ngôn thượng bất cập, thập nhị bộ kinh bằng hà đắc cập. Đạo bổn viên thành, bất dụng tu chứng. Đạo phi thanh sắc, vi diệu nan kiến. Như nhân ẩm thủy lãnh noãn tự tri, bất khả hướng nhân thuyết dã. Duy hữu Như Lai năng tri, dư nhân thiên đẳng loại, đô bất giác tri. Phàm phu trí bất cập, sở dĩ hữu chấp tương, bất liễu tự tâm bổn lai không tịch, vọng chấp tương cập nhất thiết pháp, tức đọa ngoại đạo. Nhược tri chư pháp tòng tâm sinh, bất ứng hữu chấp, chấp tức bất tri. Nhược kiến bổn tính, thập nhị bộ kinh tổng thị nhàn văn tự. Thiên kinh vạn luận chỉ thị minh tâm, ngôn hạ khế hội giáo tương hà dụng. Chí lí tuyệt ngôn. Giáo thị ngôn từ, thật bất thị đạo. Đạo bổn vô ngôn, ngôn thuyết thị vọng 問曰:因何不得禮佛菩薩等. 答曰: 天魔波旬,阿修羅示見神通,皆作得菩薩相貌,種種變化皆是外道,總不是佛.佛是自心,莫錯禮拜.佛是西國語,此土云覺性.覺者靈覺,應機接物,揚眉瞬目,運手動足,皆是自己靈覺之性.性即是心,心即是佛.佛即是道,道即是禪.禪之一字,非凡聖所測.直見本性,名之為禪.若不見本性.即非禪也.假使說得千經萬論,若不見本性,只是凡夫,非是佛法.至道幽深,不可話會.典教憑何所及,但見本性,一字不識亦得.見性即是佛.聖體本來清淨,無有雜穢,所有言說皆是聖人,從心起用.用體本來空,名言尚不及,十二部經憑何得及.道本圓成,不用修證.道非聲色,微妙難見.如人飲水冷暖自知,不可向人說也.唯有如來能知,餘人天等類,都不覺知.凡夫智不及,所以有執相,不了自心本來空寂,妄執相及一切法,即墮外道.若知諸法從心生,不應有執,執即不知,若見本性.十二部經總是閑文字,千經萬論只是明心,言下契會.教將何用.至理絕言.教是語詞,實不是道.道本無言,言說是妄. Như Lai (Tathāgata): Người đã đến như thế, Người đã đến từ cõi chân như. Tiếng Phạn Tathàgata chia làm hai. 1. Tathà-gata (Như khứ): Nghĩa là noi theo đạo Chân như mà đến quả Phật Niết bàn, cho nên gọi là Như khứ. 2. Tathà-àgata (Như lai): Nghĩa là từ chân lý mà đến, như thật mà đến và thành Chánh giác, cho nên gọi là Như lai.

Nếu đêm mộng thấy nhà lầu, gác lửng, cung điện đến lũ loài voi ngựa, cùng rừng rậm, cây cối, ao hồ, đình đền, các loại hình tướng như thế, không được khởi lên một ý niệm ham thích bám lấy (cảnh vật), tất cả đều là (sau khi chết) sinh gởi vào nơi đấy, rất cần tại ý. Đến lúc sắp chết không được giữ lấy hình tướng, thì trừ bỏ được (ma) chướng. Tâm nghi ngờ thoáng khởi lên thì bị ma thu bắt. Pháp thân xưa nay thanh tịnh không chịu nhận, chỉ vì mê lầm, không thức tỉnh chẳng hiểu biết, nguyên nhân đó cho nên sai bậy nhận lấy (nghiệp) báo trả, cho nên có ham thích bám lấy (hình tướng) chẳng được tự do. Chỉ như bây giờ nếu ngộ được nguồn gốc thân tâm, thì chẳng lây nhiễm thói quen. Giống như từ Thánh vào phàm, thần kỳ hiện ra mọi chủng loài tạp loại, tự làm chúng sinh. Cho nên Thánh nhân thuận nghịch đều được tự tại, tất cả nghiệp nó bắt giữ chẳng được. Trở thành Thánh có đại uy đức lâu dài, tất cả thứ loại nghiệp, bị Thánh nhân chuyển khác, thiên đường địa ngục không làm gì khác được. Kẻ phàm thần thức tối tăm mê muội, chẳng giống Thánh nhân trong ngoài sáng suốt. Nếu có quái lạ thì chẳng tạo nên (hình tướng), tạo nên thì trôi dạt sóng sinh tử, sau hối hận không nơi nào cứu giúp.

Bần cùng khốn khổ đều theo vọng tưởng sinh ra. Nếu hiểu rõ đó là tâm, cố gắng lần lượt khuyên bảo lẫn nhau, chỉ không làm mà làm, tức là vào thấy biết của Như Lai. Người mới phát tâm (tu hành), tất cả thần thức đều không ổn định. Nếu trong mộng luôn thấy cảnh lạ, thì chẳng lấy làm lạ, đều do tâm mình khởi lên, chẳng từ ngoài đến. Mộng nếu thấy xuất hiện sáng tỏa vượt hơn vầng mặt trời, tức là thói quen còn lại đều ngừng hết, thấy Pháp giới tánh. Nếu có việc này, tức là do thành đến đạo, chỉ được tự biết, không thể hướng về người nói. Hoặc trong vườn cây yên tĩnh, đi đứng nằm ngồi, mắt trông thấy sáng tỏ, hoặc nhiều hoặc ít, đừng nói với người, cũng không được giữ lấy, đó là do tánh đã sáng tỏ. Hoặc trong yên tĩnh tối tăm, đi đứng nằm ngồi, mắt nhìn thấy sáng tỏ, so với ban ngày không khác, chẳng được quái lạ, đều là do tâm muốn sáng tỏ. Hoặc đêm trong mộng, thấy trăng sao rõ ràng, cũng là do tâm muốn ngừng lại các duyên, cũng không được hướng về người nói. Nếu mộng tối tăm mù mịt, giống như đi trong tối tăm mờ ám, cũng là do tâm phiền não che lấp nặng nề, chỉ có thể tự biết.

Nhược dạ mộng kiến lâu các, cung điện, tượng mã chi chúc, cập thụ mộc, tùng lâm trì đình, như thị đẳng tương, bất đắc khởi nhất niệm nhạc trứ. Tận thị thác sinh chi xử, thiết tu tại ý. Lâm chung chi thì, bất đắc thủ tương, tức đắc trừ chướng. Nghi tâm miết khởi, tức bị ma nhiếp. Pháp thân bổn lai thanh tịnh vô thụ, chỉ duyến mê cố, bất giác bất tri. Nhân tư cố vọng thụ báo. Sở dĩ hữu lạc trước bất đắc tự tại. Chỉ kim nhược ngộ đắc, bổn lai thân tâm, tức bất nhiễm tập. Nhược tòng thánh nhập phàm, kì hiện chủng chủng tạp loại đẳng, tự vi chúng sinh. Cố thánh nhân nghịch thuận giai đắc tự tại, nhất thiết nghiệp câu tha bất đắc, thánh thành cửu (hĩ) hữu đại uy đức. Nhất thiết phẩm loại nghiệp. Bị tha thánh nhân chuyển. Thiên đường địa ngục vô nại tha hà. Phàm phu thần thức hôn muội, bất đồng thánh nhân nội ngoại minh triệt. Nhược hữu nghi tức bất tác, tác tức lưu lãng sinh tử, hậu hối vô tương cứu xử. Bần cùng khốn khổ giai tòng vọng tưởng sinh. Nhược liễu thị tâm, đệ tương khuyến miễn, đãn vô tác nhi tác, tức nhập Như Lai tri kiến. Sơ phát tâm nhân thần thức tổng bất định. Nhược mộng trung tần kiến dị cảnh, triếp bất dụng nghi. Giai thị tự tâm khởi cố, bất tòng ngoại lai. Mộng nhược kiến quang minh xuất hiện quá vu nhật luân tức dư tập đốn tận, pháp giới tính kiến. Nhược hữu thử sự, tức thị thành đạo chi nhân. Duy khả tự tri, bất khả hướng nhân thuyết. Hoặc tĩnh viên lâm trung, hành trụ tọa ngọa, nhãn kiến quang minh, hoặc đại hoặc tiểu, mạc dữ nhân thuyết, diệc bất đắc thủ, diệc thị tự tính quang minh. Hoặc tĩnh ám trung, hành trụ tọa ngọa, nhãn kiến quang minh, dữ trú vô dị, bất đắc quái tịnh thị tự tâm dục minh hiển. Hoặc dạ mộng trung, kiến tinh nguyệt phân minh, diệc tự tâm chư duyến dục tức diệc bất đắc hướng nhân thuyết. Mộng nhược hôn hôn, do như âm ám trung hành, diệc thị tự tâm phiền não chướng trọng, diệc khả tự tri.若夜夢見樓閣,宮殿,象馬之屬,及樹木,叢林,池亭,如是等相,不得起一念樂著.盡是託生之處,切須在意.臨終之時,不得取相,即得除障.疑心瞥起,即被魔攝.法身本來清淨無受,只緣迷故,不覺不知.因茲故妄受報.所以有樂著不得自在.只今若悟得本來身心,即不染習.若從聖入凡,示現種種雜類等,自為眾生.故聖人逆順皆得自在,一切業拘他不得,聖成久(矣)有大威德.一切品類業.被他聖人轉.天堂地獄.無奈他何.凡夫神識昏昧,不同聖人內外明徹.若有疑即不作,作即流浪生死,後悔無相救處.貧窮困苦皆從妄想生.若了是心,遞相勸勉,但無作而作,即入如來知見.初發心人,神識總不定.若夢中頻見異境,輒不用疑.皆是自心起故,不從外來.夢若見光明出現過於日輪,即餘習頓盡,法界性見.若有此事,即是成道之因.唯可自知,不可向人說.或靜園林中,行住坐臥,眼見光明,或大或小,莫與人說,亦不得取,亦是自性光明.或靜暗中,行住坐臥,眼見光明,與晝無異,不得怪,並是自心欲明顯.或夜夢中,見星月分明,亦自心諸緣欲息,亦不得向人說.夢若昏昏,猶如陰暗中行,亦是自心煩惱障重,亦可自知. Vô tác nhi tác. Không làm mà làm đó là: An tâm vô vi, hình tùy vận chuyển. Tập khí (Vàsana): còn gọi là phiền não tập, dư tập, tàn khí, chủng tử. Nghĩa là những kinh nghiệm, thói quen, phiền não trong đời sống còn sót lại, cố kết vào trong A lại da thức (tiềm thức) để trở thành những hạt giống (chủng tử) thiện ác, ví như thỏi hương đã mất, mùi hương thơm vẫn còn sót lại.

Nếu thấy bản tánh, chẳng cần đọc kinh niệm Phật, học rộng biết nhiều vô ích, thần thức chuyển đổi tối tăm mê muội. Thiết lập giáo (truyền giáo, dậy học) chỉ để nêu lên tâm, nếu hiểu tâm cần gì giữ gìn giáo. Nếu từ phàm vào Thánh, thì nên ngừng nghiệp dưỡng thần, tùy phận qua ngày. Nếu nhiều oán giận, ra lệnh tánh chuyển đổi, cùng đạo xem coi lầm lỗi, tự lừa dối vô ích. Thánh nhân ở giữa sinh tử, tự do sinh ra mất đi ẩn hiện vô định, tất cả nghiệp nó bắt giữ chẳng được. Thánh nhân phá tà ma, tất cả chúng sinh hễ thấy bản tánh, thói quen còn lại ngừng hết, thần thức không còn mê muội. Cần phải thẳng vào trong hiểu ngay ý. Chỉ còn như bây giờ, muốn thật hiểu đạo, đừng chấp tất cả pháp, ngừng nghiệp dưỡng thần, thói quen còn lại cũng hết, tự nhiên sáng tỏ rõ ràng, chẳng giả dối dùng sức.

Ngoại đạo chẳng hiểu ý Phật, gắng sức tối đa, trái ngược ý Thánh, suốt ngày khổ nhọc đổi kinh niệm Phật, thần tánh ở tại tối tăm mê muội, chẳng miễn khỏi luân hồi. Phật là người an nhàn, cần gì nhọc nhằn rộng cầu danh lợi, cần gì thời sau. Những người không thấy tánh, đọc kinh niệm Phật, cố gắng học mãi tiến lên, sáu giờ hành đạo, ngồi lâu chẳng nằm, học rộng biết nhiều, lấy đó là Phật pháp. Loại chúng sinh này, tất cả đều là người bêu rếu Phật pháp. Phật trước Phật sau chỉ nói thấy tánh, các việc làm vô thường. Nếu không thấy tánh, nói bậy ta đắc Vô thượng Bồ đề, đó là người tội lớn. Trong mười đại đệ tử, (ông) A Nan nghe nhiều hạng nhất, đối với Phật không hiểu, chỉ học nghe nhiều. Nhị thừa ngoại đạo đều không hiểu Phật, biết vài tu chứng, còn rơi vào nhân quả, đó là quả báo chúng sanh, chẳng miễn khỏi sinh tử. Trái ngược ý Phật, tức là chúng sinh chê Phật, đang làm bại hoại (Phật pháp) không qua khỏi tội lỗi. Kinh rằng: Người nhất xiển đề chẳng sanh tâm tin theo, đang làm bại hoại (Phật pháp), không qua khỏi tội lỗi. Nếu có tâm tin theo, người này là Phật ở vị trí người. Nếu không thấy tánh, thì chẳng vì kém cỏi bêu rếu việc làm tốt lành khác. Tự lừa dối vô ích.

Thiện ác trải qua như thế, nhân quả rõ ràng, thiên đường địa ngục chỉ ở trước mắt. Người ngu chẳng tin, hiện nay rơi trong địa ngục đen tối, cũng không nhận ra chẳng hiểu biết, chỉ vì duyên cớ nghiệp nặng, cho nên chẳng tin. Ví như người không mắt chẳng tin nói có ánh sáng, tha hồ hướng vào hắn nói cũng chẳng tin. Chỉ duyến cớ mù lòa, dựa đâu phân biệt được ánh sáng mặt trời. Người ngu cũng lại như thế, hiện nay sa đọa súc sinh tạp loại, sanh ra ở thấp hèn nghèo khổ, cầu sống không được, cầu chết chẳng được. Tuy phải chịu khổ, nêu lên hỏi thẳng lại nói: Tôi nay vui sướng, chẳng khác thiên đường. Cho nên biết tất cả chúng sinh, lúc còn sống là vui sướng, cũng không nhận ra chẳng hiểu biết. Như kẻ ác đó, chỉ duyên cớ nghiệp chướng nặng, cho nên không thể mở ra tâm tin theo, nó chẳng tự do mình vậy. Nếu thấy tâm mình là Phật, chẳng ở chỗ cắt bỏ râu tóc (làm sư, ni), áo trắng (cư sĩ) cũng là Phật. Nếu không thấy tánh, cắt bỏ râu tóc cũng là ngoại đạo.

Nhược kiến bổn tính, bất dụng độc kinh niệm Phật, quảng học đa tri vô ích, thần thức chuyển hôn. Thiết giáo chỉ vi tiêu tâm, nhược thức tâm, hà dụng khán giáo. Nhược tòng phàm nhập thánh, tức tu tức nghiệp dưỡng thần, tùy phận quá nhật. Nhược đa sân khuể, lệnh tính chuyển dữ đạo tương vi, tự trám vô ích. Thánh nhân vu sinh tử trung, tự tại xuất một ẩn hiển bất định, nhất thiết nghiệp câu tha bất đắc. Thánh nhân phá tà ma. Nhất thiết chúng sinh đãn kiến bổn tính, dư tập đốn diệt, thần thức bất muội, tu thị trực hạ tiện hội. Chỉ tại như kim dục chân hội đạo, mạc chấp nhất thiết pháp, tức nghiệp dưỡng thần, dư tập diệc tận, tự nhiên minh bạch, bất giả dụng công. Ngoại đạo bất hội Phật ý, dụng công tối đa, vi bối thánh ý. Chung nhật khu khu niệm Phật chuyển kinh, hôn vu thần tính, bất miễn luân hồi. Phật thị nhàn nhân, hà dụng khu khu quảng cầu danh lợi, hậu thì hà dụng. Đãn bất kiến tính nhân, độc kinh niệm Phật, trường học tinh tiến, lục thì hành đạo, trường tọa bất ngọa, quảng học đa văn, dĩ vi Phật pháp. Thử đẳng chúng sinh, tận thị báng Phật pháp nhân. Tiền Phật hậu Phật chỉ ngôn kiến tính. Chư hành vô thường, nhược bất kiến tính, vọng ngôn ngã đắc A nậu Bồ đề, thử thị đại tội nhân. Thập đại đệ tử trung, A Nan đa văn đệ nhất, vu phật vô thức, chỉ học đa văn. Nhị thừa ngoại đạo giai vô thức Phật. thức sổ tu chứng, đọa tại nhân quả. Thị chúng sinh báo, bất miễn sinh tử, vi bối Phật ý, tức thị báng phật chúng sinh, sát khước vô tội quá. Kinh vân: Xiển đề nhân bất sinh tín tâm, sát khước vô tội quá. Nhược hữu tín tâm, thử nhân thị Phật vị nhân. Nhược bất kiến tính, tức bất dụng thủ thứ báng tha lương thiện, tự trám vô ích. Thiện ác lịch nhiên, nhân quả phân minh. Thiên đường địa ngục chỉ tại nhãn tiền. Ngu nhân bất tín, hiện đọa hắc ám địa ngục trung, diệc bất giác bất tri. Chỉ duyến nghiệp trọng cố, sở dĩ bất tín. Thí như vô mục nhân bất tín đáo hữu quang minh, túng hướng y thuyết diệc bất tín. Chỉ duyến manh cố, bằng hà biện đắc nhật quang. Ngu nhân diệc phục như thị, hiện kim đọa súc sinh tạp loại, đản tại bần cùng hạ tiện, cầu sinh bất đắc, cầu tử bất đắc. Tuy thụ thị khổ, trực vấn trứ diệc ngôn. Ngã kim khoái nhạc, bất dị thiên đường. Cố tri nhất thiết chúng sinh, sinh xử vi nhạc, diệc bất giác bất tri. Như tư ác nhân, chỉ duyến nghiệp chướng trọng cố, sở dĩ bất năng phát tín tâm giả, bất tự do tha dã. Nhược kiến tự tâm thị Phật, bất tại thế trừ tấn phát, bạch y diệc thị Phật. Nhược bất kiến tính, thế trừ tu phát diệc thị ngoại đạo. 若見本性,不用讀經念佛,廣學多知無益,神識轉昏.設教只為標心,若識心,何用看教. 若從凡入聖,即須息業養神,隨分過日.若多嗔恚,令性轉.與道相違,自賺無益.聖人於生死中,自在出沒隱顯不定,一切業拘他不得.聖人破邪魔.一切眾生但見本性,餘習頓滅,神識不昧,須是直下便會.只在如今,欲真會道,莫執一切法,息業養神,餘習亦盡,自然明白,不假用功.外道不會佛意,用功最多,違背聖意.終日區區念佛轉經,昏於神性,不免輪迴.佛是閑人,何用區區廣求名利,後時何用.但不見性人,讀經念佛,長學精進,六時行道,長坐不臥,廣學多聞,以為佛法.此等眾生,盡是謗佛法人.前佛後佛只言見性.諸行無常,若不見性,妄言我得阿耨菩提,此是大罪人.十大弟子中,阿難多聞第一,於佛無識,只學多聞.二乘外道皆無識佛,識數修證,墮在因果.是眾生報, 不免生死, 違背佛意,即是謗佛眾生, 殺卻無罪過.經云: 闡提人不生信心, 殺卻無罪過. 若有信心, 此人是佛位人.若不見性, 即不用取次謗他良善,自賺無益.善惡歷然,因果分明.天堂地獄只在眼前.愚人不信,現墮黑暗地獄中,亦不覺不知.只緣業重故,所以不信.譬如無目人不信道有光明,縱向伊說亦不信.只緣盲故,憑何辨得日光.愚人亦復如是,現今墮畜生雜類,誕在貧窮下賤,求生不得,求死不得.雖受是苦,直問著亦言.我今快樂,不異天堂.故知一切眾生,生處為樂,亦不覺不知.如斯惡人,只緣業障重故,所以不能發信心者,不自由他也.若見自心是佛,不在剃除鬢髮,白衣亦是佛.若不見性,剃除鬚髮亦是外道. A nậu Bồ đề tức là A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề (Anuttara Samyak Sambodhi): Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác: Giác ngộ chân chánh bình đẳng không gì cao hơn.

Hỏi: Cư sĩ có vợ con, chẳng bỏ dâm dục, dựa đâu được thành Phật.

Đạt Ma đáp: Chỉ nói thấy tánh, chẳng nói dâm dục. Chỉ là không thấy tánh. Hễ thấy được tánh, dâm dục xưa nay rỗng không tịch lặng, chẳng giả dối đoạn trừ, cũng chẳng ham thích.

Lý do vì sao, vì tánh vốn thanh tịnh, tuy còn ở trong sắc thân ngũ uẩn, tánh đó xưa nay thanh tịnh, chẳng lây nhiễm dơ bẩn được. Pháp thân xưa nay không chịu nhận, không đói không khát, không nóng không lạnh, không bịnh tật, không vì yêu thương, không gia đình họ hàng, không sướng khổ, không tốt xấu, không ngắn dài, không yếu mạnh. Xưa nay không có một vật nào có thể được, chỉ bởi vì chấp có sắc thân này, thì có đói khát nóng lạnh cùng với khí độc bệnh tật. Nếu chẳng chấp thì mặc kệ một việc gì gây nên làm ra, ở giữa sinh tử rất được tự do. Chuyển tất cả pháp, Thánh nhân với thần thông ở tại mình không hạn chế, không nơi chốn nào mà không được yên ổn. Nếu tâm có nghi ngờ, quyết định suốt tất cả cảnh giới chẳng vượt qua, chẳng coi là tốt nhất tạo nên hiểu rõ, chẳng miễn khỏi luân hồi sinh tử. Nếu thấy tánh, sát sinh đồ tể cũng được thành Phật.

Hỏi: Đồ tể tạo ra nghiệp sát sinh, làm sao thành Phật được.

Đạt Ma đáp: Chỉ nói thấy tánh, chẳng nói tạo nghiệp. Tha hồ tạo nên nghiệp không giống nhau, tất cả nghiệp nó bắt giữ chẳng được. Từ không có bắt đầu tới nay rộng lớn mênh mông số kiếp, chỉ vì không thấy tánh, (cho nên) sa đọa trong địa ngục, cho nên tạo ra nghiệp luân hồi sinh tử. Do tỉnh ngộ được bản tánh, chấm dứt không tạo ra nghiệp. Nếu không thấy tánh, niệm Phật chẳng thoát khỏi quả báo được, (thành Phật) chẳng phải dựa theo (bàn luận về) giết hại mạng sống. Nếu thấy tánh trừ bỏ ngay tâm nghi ngờ, giết hại mạng sống cũng chẳng có thể làm sao khác.

Hai mươi bẩy vị Tổ ở Tây Thiên (Ấn Độ) chỉ là thay nhau truyền tâm ấn (dấu vết tâm). Nay Ta đến đất này, chỉ truyền một tâm [Chỉ có truyền đốn giáo đại thừa, ngay tâm là Phật]. Chẳng nói giữ giới, bố thí, tinh tiến, khổ hạnh, cho đến vào nước lửa trèo vòng đao kiếm, ăn chay (ngày) một lần giờ Mão, ngồi mãi chẳng nằm, tất cả đều là pháp hữu vi ngoại đạo. Nếu biết được, vận động làm là của tánh linh giác tức là tâm các vị Phật. Phật trước Phật sau chỉ nói truyền tâm, hoàn toàn không có pháp khác. Nếu biết pháp này, kẻ phàm một chữ không biết cũng là Phật. Nếu không biết tánh linh giác của chính mình, cho dù phá nát thân như bụi nhỏ tìm Phật, cuối cùng chẳng có thể được.

Vấn viết: Bạch y hữu thê tử, dâm dục bất trừ, bằng hà đắc thành Phật. Đáp viết: Chỉ ngôn kiến tính, bất ngôn dâm dục. Chỉ vị bất kiến tính. Đãn đắc kiến tính, dâm dục bổn lai không, tịch bất giả đoạn trừ, diệc bất lạc trước. Hà dĩ cố. Tính bổn thanh tịnh cố. Tuy xử tại ngũ uẩn sắc thân trung, kì tính bổn lai thanh tịnh, nhiễm ô bất đắc. Pháp thân bổn lai vô thụ, vô cơ vô khát, vô hàn vô nhiệt vô bệnh, vô nhân ái, vô quyến chúc, vô khổ lạc, vô hảo ác, vô đoản trường, vô cường nhược. Bổn lai vô hữu nhất vật khả đắc, chỉ duyến chấp hữu thử sắc thân nhân, tức hữu cơ khát, hàn nhiệt, chướng bệnh đẳng tương. Nhược bất chấp tức nhất nhâm tác vi, vu sinh tử trung đắc đại tự tại. Chuyển nhất thiết pháp, dữ thánh nhân thần thông tự tại vô ngại, vô xử bất an. Nhược tâm hữu nghi, quyết định thấu nhất thiết cảnh giới bất quá, bất tác tối hảo tác liễu, bất miễn luân hồi sinh tử. Nhược kiến tính, chiên đà la diệc đắc thành Phật. Vấn viết: Chiên đà la sát sinh tác nghiệp, như hà đắc thành Phật. Đáp viết: chỉ ngôn kiến tính, bất ngôn tác nghiệp. Túng tác nghiệp bất đồng, nhất thiết nghiệp câu tha bất đắc. Tòng vô thủy khoáng đại kiếp lai, chỉ vi bất kiến tính, đọa địa ngục trung, sở dĩ tác nghiệp luân hồi sinh tử. Tòng ngộ đắc bổn tính, chung bất tác nghiệp. Nhược bất kiến tính, niệm Phật miễn báo bất đắc, phi luận sát sinh mệnh. Nhược kiến tính nghi tâm đốn trừ, sát sinh mệnh diệc bất nại tha hà. Tây thiên nhị thập thất tổ, chỉ thị đệ truyền tâm ấn. Ngô kim lai thử thổ, duy truyền nhất tâm (Đại Tạng kinh: Duy truyền đốn giáo đại thừa,tức tâm thị Phật). Bất ngôn giới thi, tinh tiến khổ hành, nãi chí nhập thủy hỏa đăng kiếm luân, nhất thực mão trai trường tọa bất ngọa, tận thị ngoại đạo hữu vi pháp. Nhược thức đắc thi vi vận động linh giác chi tính, tức chư Phật tâm. Tiền Phật hậu Phật chỉ ngôn truyện tâm, canh vô biệt pháp. Nhược thức thử pháp, phàm phu nhất tự bất thức diệc thị Phật. Nhược bất thức tự kỉ linh giác chi tính, giả sử thân phá như vi trần mịch Phật, chung bất đắc dã. 問曰:白衣有 妻子,婬慾不除,憑何得成佛.答曰:只言見性,不言婬慾.只為不見性.但得見性,婬慾本來空寂,不假斷除,亦不樂著.何以故.性本清淨故.雖處在五蘊色身中,其性本來清淨,染污不得.法身本來無受,無飢無渴,無寒無熱無病,無因愛,(無恩愛)無眷屬,無苦樂,無好惡,無短長,無強弱.本來無有一物可得,只緣執有此色身因,即有飢渴,寒熱,瘴病等相.若不執即一任作為,於生死中得大自在.轉一切法,與聖人神通自在無礙,無處不安.若心有疑,決定透一切境界不過,不作最好作了,不免輪迴生死.若見性,旃陀羅亦得成佛.問曰:旃陀羅殺生作業,如何得成佛.答曰:只言見性,不言作業.縱作業不同,一切業拘他不得.從無始曠大劫來,只為不見性,墮地獄中,所以作業輪迴生死.從悟得本性,終不作業.若不見性,念佛免報不得,非論殺生命.若見性疑心頓除,殺生命亦不奈他何.西天二十七祖,只是遞傳心印.吾今來此土,唯傳一心(唯傳頓教大乘,即心是佛).不言戒施,精進,苦行,乃至入水火登劍輪,一食卯齋,長坐不臥,盡是外道有為法.若識得,施為運動靈覺之性即諸佛心.前佛後佛只言傳心,更無別法.若識此法,凡夫一字不識亦是佛.若不識自己靈覺之性,假使身破如微塵覓佛,終不得也. Chiên đà la: những người giai cấp thấp nhất, hạ tiện, làm những việc nghèo hèn trong xã hội như nô lệ, đồ tể, đánh cá, nô bộc… Linh giác: Giác tánh Phật, tánh Phật, tánh giác ngộ vốn có trong tất cả chúng sinh, cũng là Phật trí thông tuệ linh diệu.

Phật cũng là danh hiệu Pháp thân, cũng gọi là bản tâm (nguồn gốc tâm). Tâm này không có hình tướng, không nhân quả, không gân xương, giống như hư không, nắm lấy chẳng được, chẳng giống chất trở ngại, không giống như ngoại đạo. Tâm này trừ Như Lai là người đạt tới hiểu, còn lại chúng sinh người đó mê muội chẳng sáng suốt hiểu rõ. Tâm này chẳng tách rời trong sắc thân tứ đại. Nếu rời xa tâm này thì không làm nổi vận động, đó là thân không biết gì, như cây gỗ gạch đá. Thân đó vô tình, dựa đâu vận động. Như thế do tâm động, rồi thì đến nói năng vận động bày ra làm nghe, thấy, cảm nhận, hiểu biết đều là tâm động [Đều là tâm động dụng động]. Tâm động (thì) dụng động, động đó tức là dụng [Động là tâm động]. Ngoài động không có tâm, ngoài tâm không có động [Ngoài động dụng không có tâm]. Động chẳng là tâm, tâm chẳng là động. Động vốn không có tâm, tâm vốn không có động. Động chẳng rời tâm, tâm chẳng rời động. Động chẳng bám dính tâm, tâm chẳng bám dính động. Động là dụng (của) tâm, dụng là (do) tâm động. Thì động tức là dụng, không động (thì) không có dụng. Thể dụng vốn rỗng không, rỗng không vốn không động. Động dụng cùng một tâm, tâm vốn không động.

Cho nên Kinh rằng: Động mà không chỗ nào động. Đó cho nên suốt cả ngày thấy mà chưa từng thấy. Suốt ngày nghe mà chưa từng nghe. Suốt ngày cảm nhận mà chưa từng cảm nhận. Suốt ngày biết mà chưa từng biết. Suốt ngày đi, ngồi mà chưa từng đi, ngồi. Suốt ngày mừng giận mà chưa từng mừng giận. Cho nên Kinh rằng: Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xử diệt (Lời nói cắt đứt đạo, dập tắt tâm hành xử). (thì) Thấy, nghe, cảm nhận, hiểu biết dựa theo tự viên tịch (tự tròn đầy yên lặng). Rồi thì đến mừng, giận, ốm, đau khác gì người gỗ, chỉ suy tìm lý do ốm đau (thì) không thể (hiểu) được. Cho nên Kinh nói rằng: Nghiệp ác thì được báo khổ, nghiệp thiện thì có báo đáp thiện lành. Không chỉ có giận dữ (thì) đọa địa ngục, mừng vui (được) sống trên trời. Nếu biết mừng giận tánh không, hễ không chấp giữ thì thoát khỏi các nghiệp. Nếu không thấy tánh tụng kinh (để thoát khỏi nghiệp), quyết không có bằng cứ. Thuyết giảng (bao nhiêu) cũng không hết (được ý), nói chung nêu lên chánh tà như thế, một hai (lời nói thuyết giảng) không đủ (ý). Kệ nói rằng:

Ngoài ngừng các duyên,

Trong tâm không mầm mối

Tâm như tường vách,

Có thể vào đạo.

Tâm tông Phật sáng

Đều không sai lầm.

Hiểu tương ứng làm,

Đấy gọi là Tổ (noi theo).

Phật giả diệc danh pháp thân, diệc danh bổn tâm. Thử tâm vô hình tương, vô nhân quả, vô cân cốt, do như hư không, thủ bất đắc, bất đồng chất ngại, bất đồng ngoại đạo. Thử tâm trừ Như Lai nhất nhân năng hội, kì dư chúng sinh mê nhân bất minh liễu. Thử tâm bất li tứ đại sắc thân trung. Nhược li thử tâm, tức vô năng vận động. Thị thân vô tri, như thảo mộc ngõa lịch. Thân thị vô tình, nhân hà vận động. Nhược tự tâm động, nãi chí ngữ ngôn thi vi vận động, kiến văn giác tri, giai thị tâm động (giai thị động tâm động dụng). Tâm động dụng động (Động thị tâm động). Động tức kì dụng. Động ngoại vô tâm, tâm ngoại vô động (Động dụng ngoại vô tâm). Động bất thị tâm, tâm bất thị động. Động bổn vô tâm, tâm bổn vô động. Động bất li tâm, tâm bất li động. Động vô tâm li, tâm vô động li. Động thị tâm dụng, dụng thị tâm động. Tức động tức dụng (Động tức tâm dụng. Dụng tức tâm động), bất động bất dụng. Dụng thể bổn không, không bổn vô động. Động dụng đồng tâm, tâm bổn vô động. Cố kinh vân: Thị cố chung nhật kiến nhi vị tằng kiến (Chung nhật khứ lai nhi vị tằng khứ). Chung nhật văn nhi vị tằng văn (Chung nhật tiếu nhi vị tằng tiếu). Chung nhật giác nhi vị tằng giác. Chung nhật tri nhi vị tằng tri. Chung nhật hành tọa nhi vị tằng hành tọa. Chung nhật sân hỉ nhi vị tằng sân hỉ. Cố kinh vân: Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xử diệt. Kiến văn giác tri, bổn tự viên tịch. Nãi chí sân hỉ thống dương hà dị mộc nhân, chỉ duyên suy tầm thống dương bất khả đắc. Cố kinh vân: Ác nghiệp tức đắc khổ báo, thiện nghiệp tức hữu thiện báo. Bất đãn sân đọa địa ngục, hỉ tức sinh thiên. Nhược tri sân hỉ tính không, đãn bất chấp tức chư nghiệp thoát. Nhược bất kiến tính tụng kinh, quyết vô bằng. Thuyết diệc vô tận, lược tiêu tà chánh như thị, bất cập nhất nhị dã. Thuyết kệ ngôn: Ngoại tức chư duyến, nội tâm vô đoan. Tâm như tường bích, khả dĩ nhập đạo. Minh Phật tâm tông, đẳng vô soa ngộ. Hành giải tương ứng, danh chi viết tổ.佛者,亦名法身,亦名本心.此心無形相,無因果,無筋骨,猶如虛空,取不得,不同質礙,不同外道.此心除如來一人能會,其餘眾生迷人不明了.此心不離四大色身中.若離此心,即無能運動.是身無知,如草木瓦礫.身是無情,因何運動.若自心動,乃至語言施為運動,見聞覺知,皆是心動[皆是動心動用].心動[]用動.動即其用.動外無心,心外無動.動不是心,心不是動.動本無心,心本無動.動不離心,心不離動.動無心離,心無動離.動是心用,用是心動[動即心用.用即心動].即動即用,不動不用.用體本空,空本無動.動用同心,心本無動.故經云:動而無所動.是故終日見而未曾見.終日聞而未曾聞.終日覺而未曾覺.終日知而未曾知.終日行坐而未曾行坐.終日嗔喜而未曾嗔喜.故經云:言語道斷,心行處滅.見聞覺知,本自圓寂.乃至嗔喜痛痒何異木人,只緣推尋痛痒不可得.故經云:惡業即得苦報,善業即有善報.不但嗔墮地獄,喜即生天.若知嗔喜性空,但不執即諸業脫.若不見性誦經,決無憑.說亦無盡,略標邪正如是,不及一二也.說偈言:外息諸緣,內心無端.心如牆壁,可以入道.明佛心宗,等無差誤.行解相應,名之曰祖. Kiến văn giác tri: Những tác dụng của tâm thức khi tiếp xúc với các đối tượng bên ngoài. Kinh Duy Ma Cật: (Phật) Pháp không thể thấy, nghe, cảm nhận, hiểu biết. Nếu hành động kiến văn giác tri, thì đó là kiến văn giác tri chẳng phải là cầu (Phật) pháp. (Phật) Pháp gọi là vô vi. Nếu hành động có làm thì đó là hành động hữu vi chẳng phải là cầu (Phật) pháp. Đối pháp luận: Được tiếp nhận bởi mắt là thấy (kiến), bởi tai là nghe (văn), bởi hiểu tự nhiên mà biết như vậy là cảm nhận (giác), nhận thức nội tại là nhận biết (tri). Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xử diệt: Lời nói cắt đứt đạo, dập tắt tâm hành xử, ứng xử, cư xử thì kiến văn giác tri tự tròn đầy yên lặng. Viên tịch (Parinirvāṇa. Niết bàn, Diệt độ): Tròn đầy yên lặng. Mất hết các cảnh mê lầm tạp nhiễm của hữu lậu (phiền não) hữu vi, nhập vào cảnh giới Niết bàn tròn đầy tịch lặng vô lậu vô vi. Dịch Ngôn ngữ đạo đoạn theo ý các câu: Nhất thiết thì trung. Đãn hữu ngữ ngôn đoạn đạo, tức thị tự tâm (Trong tất cả thời gian, hễ có lời nói là cắt đứt đạo, chính là tâm mình). Chí lý tuyệt ngôn, giáo thị ngôn từ thật bất thị đạo (Đạt đến lý dứt lời nói, lời nói chẳng thật là đạo). Đạo bổn vô ngôn, ngôn thuyết thị vọng (Đạo vốn không lời, lời nói thuyết giảng đều là hư vọng). Tâm động nên có lời nói, lời nói là dụng của tâm. Vì kiến văn giác tri tiếp nhận cảnh động từ bên ngoài cho nên tâm ứng dụng theo cảnh động. Tâm động cho nên kiến văn giác tri hành động tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố đáp ứng ra lời nói, thấy, nghe, nhận biết. Minh Phật tâm tông: Phật tâm tông còn gọi là Thiền tông, Phật tâm, Tâm tông, Tâm ấn, Tâm chủ. Kinh Tứ Thập Nhị Chương 18: Pháp Ta niệm (nghĩ, nhớ, tưởng), niệm (mà) không niệm, hành (làm, thực hành), hành (mà) không hành, nói, nói (mà) không nói, tu (học tập, tu hành, sửa chữa), tu (mà) không tu. Người hiểu (thì) đến gần, người mê lầm (thì) xa lánh vậy. Lời nói cắt đứt đạo, chẳng phải (do) nơi vật ràng buộc. Đã sai một ly mất đi giây lát. (Ngô pháp niệm vô niệm niệm, hành vô hành hành, ngôn vô ngôn ngôn, tu vô tu tu. Hội giả cận nhĩ, mê giả viễn hồ. Ngôn ngữ đạo đoạn, phi vật sở câu. Soa chi hào li, thất chi tu du.吾法念無念念,行無行行,言無言言,修無修修.會者近爾,迷者遠乎.言語道斷,非物所拘.差之毫釐,失之須臾).

 PHÁ TƯỚNG LUẬN

Hỏi: Nếu có người lập lại chí hướng cầu tìm Phật đạo, nên tu pháp nào hơn hết cả để cho cuối cùng tỉnh ngộ.

Đạt Ma đáp: Chỉ một pháp quán tâm, thu lấy toàn bộ các pháp, hơn hết cả để cho cuối cùng tỉnh ngộ.

Hỏi: Một pháp (quán tâm) sao có thể thu lấy các pháp.

Đạt Ma đáp: Tâm ấy là nguồn gốc của muôn pháp. Tất cả các pháp chỉ ở tâm (tâm sở) sinh ra. Nếu đạt tới hiểu rõ tâm, thì muôn pháp đều đủ. Giống như cây lớn hết thảy cành nhánh đến những hoa quả, tất cả đều dựa vào gốc rồi mới sinh ra, đến chặt cây trừ bỏ rễ thì chắc chắn chết. Nếu hiểu rõ tâm tu đạo, thì không cần sức mà dễ thành. Không hiểu rõ tâm mà tu đạo thì phí công mà vô ích. Cho nên biết tất cả thiện ác đều do tâm mình. Ngoài tâm cầu (pháp) khác, cuối cùng không có ở chỗ đó.

Hỏi: Tại sao nói quán tâm gọi là hiểu rõ.

Đạt Ma đáp: Đại Bồ Tát thường (thực) hành thâm sâu trí tuệ Bát nhã Ba la mật, hiểu rõ bốn đại năm uẩn vốn rỗng không, vô ngã, thấy rõ do tâm khởi lên sử dụng, có hai loại (tâm) khác biệt. Sao nói là hai. Một ấy là tâm tịnh (yên lặng trong sạch). Hai ấy là tâm lây nhiễm. Hai loại tâm này là pháp giới tự nhiên xưa nay đều có. Tuy duyên giả tách lìa, hợp lại đối đãi lẫn nhau [Tuy duyên giả hợp lại đối đãi nương dựa lẫn nhau]. Tâm tịnh thường vui theo thiện, thể nhiễm thường nghĩ đến nghiệp ác. Nếu chẳng chịu nơi lây nhiễm, thì xứng đáng đấy là Thánh, rồi thì đạt đến xa lìa mọi khổ, vui chứng Niết bàn. Nếu theo tâm nhiễm tạo nghiệp, sẽ chịu che trùm bó buộc, thì đấy gọi là phàm, chìm đắm ba cõi, chịu mọi chủng loại khổ. Lý do vì sao, vì tâm nhiễm kia che chướng thể chân như.

Kinh Thập địa nói: Trong thân chúng sinh có Phật tánh kim cương, giống như vầng mặt trời thể sáng tròn đầy rộng lớn vô biên. Chỉ vì mây năm uẩn (tai, mắt, mũi, miệng lưỡi, thân thể) nặng nề che lấp, như đèn trong bình ánh sáng không thể hiện lộ ra ngoài. Kinh Niết bàn lại nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, bởi vì vô minh che lấp, chẳng được giải thoát. Phật tánh ấy tức là giác tánh. Chỉ tự giác (mình giác ngộ) giác tha (giác ngộ cho người khác). Trí giác sáng rõ thì gọi là giải thoát. Cho nên biết tất cả các thiện lành lấy giác làm gốc, do nền tảng giác ngộ đó, rồi thì đạt tới hiện lộ ra các cây công đức, đi tới quả Niết bàn, noi theo như thế mà thành (Phật, Người giác ngộ). Quán tâm như thế, khá gọi là hiểu rõ.

Vấn: Nhược phục hữu nhân, chí cầu Phật đạo giả, đương tu hà pháp, tối vi tỉnh yếu. Đáp: Duy quan tâm nhất pháp, tổng nhiếp chư pháp, tối vi tỉnh yếu. Vấn: Hà nhất pháp năng nhiếp chư pháp. Đáp: Tâm giả vạn pháp chi căn bổn. Nhất thiết chư pháp duy tâm sở sinh. Nhược năng liễu tâm, tắc vạn pháp câu bị, do như đại thụ sở hữu chi điều cập chư hoa quả, giai tất y căn, tài thụ giả tồn căn nhi thủy sinh tử, phạt thụ giả khứ căn nhi tất tử. Nhược liễu tâm tu đạo, tắc thiểu lực nhi dịch thành. Bất liễu tâm nhi tu, phí công nhi vô ích. Cố tri nhất thiết thiện ác giai do tự tâm. Tâm ngoại biệt cầu, chung vô thị xử. Vấn: Vân hà quan tâm xưng chi vi liễu. Đáp: Bồ tát ma ha tát, hành thâm bàn nhược ba la mật đa thì, liễu tứ đại ngũ âm bổn không vô ngã, liễu kiến tự tâm khởi dụng, hữu nhị chủng soa biệt. Vân hà vi nhị. Nhất giả tịnh tâm. Nhị giả nhiễm tâm. Thử nhị chủng tâm pháp giới tự nhiên, bổn lai câu hữu, tuy li giả duyến, hợp hỗ tương đãi (Đại Tạng kinh: Tuy giả duyến hợp, hỗ tương nhân đãi). Tịnh tâm hằng nhạc thiện nhân. Nhiễm thể thường tư ác nghiệp. Nhược bất thụ sở nhiễm, tắc xưng chi vi thánh, toại năng viễn li chư khổ, chứng Niết bàn nhạc. Nhược tùy nhiễm tâm tạo nghiệp, thụ kì triền phú, tắc danh chi vi phàm, trầm luân tam giới, thụ chủng chủng khổ. Hà dĩ cố. Do bỉ nhiễm tâm chướng chân như thể cố. Thập Địa kinh vân: Chúng sinh thân trung. Hữu kim cương Phật tính. Do như nhật luân thể minh viên mãn quảng đại vô biên. Chỉ vi ngũ âm trọng vân phúc. Như bình nội đăng quang bất năng hiển hiện. Hựu Niết bàn kinh vân: Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tính. Vô minh phúc cố. Bất đắc giải thoát. Phật tính giả tức giác tính dã. Đãn tự giác giác tha. Giác tri minh liễu, tắc danh giải thoát. Cố tri nhất thiết chư thiện dĩ giác vi căn, nhân kì giác căn, toại năng hiển hiện chư công đức thụ Niết bàn chi quả đức, nhân thử nhi thành. Như thị quan tâm, khả danh vi liễu. 問曰:若 復有人志求佛道,當修何法最為省要.答曰:唯觀心一法,總攝諸法,最為省要.問曰:何一法能攝諸法.答:心者萬法之根本.一切諸法唯心所生.若能了心,則萬法俱備:猶如大樹所有枝條及諸花果,皆悉依根而始生,及伐樹去根而必死.若了心修道,則省力而易成.不了心而修道,則費功而無益.故知一切善惡皆由自心.心外別求,終無是處.問:云何觀心稱之為了.答:菩薩摩訶薩,行深般若波羅蜜多時,了四大,五陰本空,無我,了見自心起用,有二種差別.云何為二.一者淨心.二者染心.此二種心法界自然,本來俱有,雖離假緣,合互相待(雖假緣合互相因待).淨心恒樂善因.染體常思惡業.若不受所染,則稱之為聖,遂能遠離諸苦,證涅槃樂.若隨染心造業,受其纏覆,則名之為凡,沈淪三界,受種種苦.何以故.由彼染心障真如體故.十地經云:眾生身中.有金剛佛性.猶如日輪體明圓滿廣大無邊.只為五陰重雲覆.如瓶內燈光不能顯現.又涅槃經云:一切眾生悉有佛性.無明覆故.不得解脫.佛性者即覺性也.但自覺覺他.覺智明了,則名解脫.故知一切諸善以覺為根,因其覺根,遂能顯現諸功德樹,涅槃之果,因此而成.如是觀心,可名為了. Kinh Tứ niệm xứ: Tỳ kheo tâm có tham, biết rằng tâm có tham. Tỳ kheo tâm không tham, biết rằng tâm không tham. Tỳ kheo tâm có sân, biết rằng tâm có sân. Tỳ kheo tâm không sân, biết rằng tâm không sân. Tỳ kheo tâm có si, biết rằng tâm có si. Tỳ kheo tâm không si, biết rằng tâm không si. Tỳ kheo tâm thâu nhiếp (thu lấy về), biết rằng tâm thâu nhiếp. Tỳ kheo tâm tán loạn, biết rằng tâm tán loạn. Tỳ kheo tâm quảng đại, biết rằng tâm quảng đại. Tỳ kheo tâm hữu hạn, biết rằng tâm hữu hạn. Tỳ kheo tâm vô thượng (không gì cao hơn), biết rằng tâm vô thượng. Tỳ kheo tâm có định, biết rằng tâm có định. Tỳ kheo tâm không định, biết rằng tâm không định. Tỳ kheo tâm giải thoát, biết rằng tâm giải thoát. Tỳ kheo tâm không giải thoát, biết rằng tâm không giải thoát. Như vậy Tỳ kheo sống quán tâm trên nội tâm, sống quán tâm trên ngoại tâm, sống quán tâm trên nội ngoại tâm. Sống quán tánh sanh khởi trên tâm, sống quán tánh diệt tận trên tâm, sống quán tánh sanh diệt trên tâm. Y cứ hiện tiền tâm, Tỳ kheo sống an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Tỳ kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời. Tâm sở, Tâm sở hữu pháp (心所, cetasika, caittadharma) là những yếu tố phụ thuộc vào Tâm (vijñāna), gắn liền với một nhận thức, nhận thức cũng được gọi là Tâm vương (cittarāja) là hoạt động chủ yếu của tâm thức đang sinh ra và khởi lên cùng với nhận thức. Tất cả những khía cạnh tâm trạng, ai cũng có thể tự khám phá, tìm được nơi chính mình, có thể gọi là bản đồ tâm lý của con người. Ba khía cạnh triết lý, phân tích tâm lý những gì về hiện hữu: Tâm (citta), Tâm sở và Sắc (rūpa). Tâm sở bao gồm Thụ (vedanā), Tưởng (saṃjñā) và 50 Hành (saṃskāra). Tổng cộng có 52 tâm sở. Trong số này 25 có tính chất cao cả thiện và trung tính (tính trung bình) về phương diện nghiệp, 14 là bất thiện (akuśala), 13 bất định nghĩa là có thể thiện hay ác hay trung tính, tuỳ thuộc vào tâm thức tương ứng. Kinh Hoa Nghiêm: Tất cả ba cõi chỉ duy nhất tâm. Kinh Hoa Nghiêm: Nếu ai muốn hiểu rõ được về hết thảy các đức Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai, thì nên quán xét tánh thật của các pháp trên thế gian này tất cả đều là do tâm tạo thành.

Hỏi: Bậc trên nói Phật tánh chân như, tất cả công đức tùy theo giác (ngộ) làm gốc, chưa xét kỹ đến tâm vô minh lấy đâu làm gốc.

Đạt Ma đáp: Tâm vô minh đấy, tuy có tám mươi bốn ngàn phiền não tình dục (lòng ham muốn), cùng với nhiều vô số ác, đều dựa theo lấy tam độc là nguồn gốc. Tam độc đó, tức là Tham Sân Si vậy.

Tâm tam độc này, tự làm nổi đầy đủ tất cả các xấu ác. Giống như cây lớn gốc tuy là một, nơi đó sanh ra cành lá đếm không giới hạn. Gốc tam độc kia, hết thảy bên trong gốc sinh ra các nghiệp ác, trăm ngàn vạn ức, vượt quá nhiều lần đối với trước, không thể ví dụ. Như thế tâm tam độc, ở trong bản thể ứng hiện ra sáu căn, cũng gọi là sáu giặc tức là sáu thức. Do sáu thức này ra vào các căn, tham muốn bám lấy muôn cảnh, làm thành ác nghiệp che chướng thể chân như, cho nên gọi là sáu giặc. Chúng sinh do tam độc lục tặc này, mê hoặc rối loạn thân tâm, chìm đắm sinh tử, luân hồi lục thú, chịu mọi khổ não. Giống như sông ngòi, dựa nguồn suối nhỏ, dòng nước nhỏ chảy không dứt, bởi vậy làm nước tràn đầy, sóng lớn vạn dặm. Nếu có người lại cắt đứt nguồn nước đó, thì các dòng nước đều ngừng. Cầu giải thoát ấy là đạt tới chuyển ba độc trở thành ba Tụ tịnh giới, chuyển sáu giặc là sáu Ba la mật, tự nhiên mãi mãi xa lìa tất cả biển khổ.

Hỏi: Ba cõi sáu thú rộng lớn không giới hạn. Nếu chỉ quán tâm, do đâu thoát khỏi ở chỗ vô cùng khổ.

Đạt Ma đáp: Nghiệp báo ba cõi chỉ nơi tâm sanh ra. Nếu bây giờ tâm không có hướng về trong ba cõi, tức là ra khỏi ba cõi. Ba cõi đó tức là ba độc (tham sân si). Tham là dục giới, Sân là sắc giới, Si là vô sắc giới, cho nên gọi là ba cõi. Do ba cõi này tạo ra nghiệp nặng nhẹ, nhận báo trả không giống nhau, phân chia về sáu nơi (lục đạo) cho nên gọi là sáu thú.

Hỏi: Tại sao nói nặng nhẹ phân chia đến làm sáu.

Đạt Ma đáp: Chúng sinh chẳng rõ nguyên nhân chánh, tâm mê tu thiện, chưa thoát khỏi ba cõi, sanh ra ba thú (vui thích) nhẹ. Sao nói ba thú nhẹ. Đó gọi là mê tu mười thiện, vọng (sai bậy) cầu vui sướng, chưa thoát cõi Tham, sanh ra thú hướng về trời. Mê giữ năm giới, vọng khởi thương ghét, chưa thoát cõi Sân, sanh ra thú hướng về người. Mê chấp hữu vi, tin tà cầu phước, chưa thoát cõi Si, sanh ra thú hướng về A Tu La. Ba loại như thế gọi là ba cõi thú nhẹ. Sao nói là ba thú nặng. Đó gọi là buông thả tâm ba độc, chỉ tạo nghiệp ác, rơi xuống ba thú nặng. Nếu nghiệp Tham nặng rơi xuống thú (đi nhanh tới) ngạ quỷ. Nghiệp Sân nặng rơi xuống thú địa ngục. Nghiệp Si nặng xuống vào thú súc sinh. Như thế ba (thú) nặng, thông qua trước ba (thú) nhẹ thành sáu thú. Cho nên biết tất cả nghiệp khổ do tâm mình sanh ra. Chỉ có thể thu lấy tâm, xa lìa các tà ác, luân hồi ba cõi lục thú thuộc về khổ tự nhiên tiêu diệt, tức là được giải thoát.

Vấn: Thượng thuyết chân như Phật tính nhất thiết công đức nhân giác vi căn. Vị thẩm vô minh chi tâm dĩ hà vi căn. Đáp: Vô minh chi tâm, tuy hữu bát vạn tứ thiên phiền não tình dục cập hằng hà sa chúng ác, giai nhân tam độc dĩ vi căn bổn. Kì tam độc giả, tức tham sân si thị dã. Thử tam độc tâm, tự năng cụ túc nhất thiết chư ác. Do như đại thụ, căn tuy thị nhất, sở sinh chi diệp kì sổ vô biên. Bỉ tam độc căn, nhất nhất căn trung, sinh chư ác nghiệp, bách thiên vạn ức, bội quá vu tiền, bất khả vi dụ. Như thị tam độc tâm, vu bổn thể trung ứng hiện lục căn, diệc danh lục tặc, tức lục thức dã . Do thử lục thức xuất nhập chư căn. Tham trứ vạn cảnh. Năng thành ác nghiệp. Chướng chân như thể. Cố danh lục tặc. Chúng sinh do thử tam độc lục tặc. Hoặc loạn thân tâm. Trầm một sinh tử. Luân hồi lục thú. Thụ chư khổ não. Do như giang hà. Nhân thiểu tuyền nguyên. Quyên lưu bất tuyệt. Nãi năng di mạn. Ba đào vạn lí. Nhược phục hữu nhân đoạn kì bổn nguyên. Tức chúng lưu giai tức. Cầu giải thoát giả. Năng chuyển tam độc vi tam tụ tịnh giới. Chuyển lục tặc vi lục ba la mật. Tự nhiên vĩnh li nhất thiết khổ hải. Vấn: Lục thú tam giới quảng đại vô biên. Nhược duy quan tâm. Hà do miễn vô cùng chi khổ. Đáp: Tam giới nghiệp báo duy tâm sở sinh. Bổn nhược vô tâm vu tam giới trung, tức xuất tam giới. Kì tam giới giả, tức tam độc dã. Tham vi dục giới, sân vi sắc giới, si vi vô sắc giới. Cố danh tam giới. Do thử tam độc, tạo nghiệp khinh trọng, thụ báo bất đồng, phân quy lục xử, cố danh lục thú. Vấn: Vân hà khinh trọng phân chi vi lục. Đáp: Chúng sinh bất liễu chánh nhân. Mê tâm tu thiện. Vị miễn tam giới. Sinh tam khinh thú. Vân hà tam khinh thú. Sở vị mê tu thập thiện, vọng cầu khoái nhạc, vị miễn tham giới, sinh vu thiên thú. Mê trì ngũ giới, vọng khởi ái tăng, vị miễn sân giới, sinh vu nhân thú. Mê chấp hữu vi, tín tà cầu phúc, vị miễn si giới, sinh A tu la thú . Như thị tam loại, danh tam khinh thú. Vân hà tam trọng thú. Sở vị túng tam độc tâm, duy tạo ác nghiệp, đọa tam trọng thú. Nhược tham nghiệp trọng giả, đọa ngạ quỷ thú. Sân nghiệp trọng giả, đọa địa ngục thú. Si nghiệp trọng giả, đọa súc sinh thú. Như thị tam trọng, thông tiền tam khinh, toại thành lục thú. Cố tri nhất thiết khổ nghiệp do tự tâm sinh. Đãn năng nhiếp tâm. Li chư tà ác. Tam giới lục thú luân hồi chi khổ. Tự nhiên tiêu diệt. Tức đắc giải thoát.問:上說真如佛性一切功德因覺為根. 未審無明之心以何 為根.答:無明之心,雖有八萬四千煩惱情欲及恒河沙眾惡,皆因三毒以為根本.其三毒者,即貪嗔癡是也.此三毒心,自能具足一切諸惡.猶如大樹,根雖是一,所生枝葉其數無邊.彼三毒根,一一根中,生諸惡業,百千萬億,倍過於前,不可為喻.如是三毒心,於本體中應現六根,亦名六賊,即六識也.由此六識出入諸根.貪著萬境.能成惡業.障真如體.故名六賊.眾生由此三毒六賊.惑亂身心.沈沒生死.輪迴六趣. 受諸苦惱.猶如江河. 因少泉源. 涓流不絕. 乃能彌漫.波濤萬里.若復有人斷其本源.即眾流皆息.求解脫者.能轉三毒為三聚淨戒.轉六賊為六波羅蜜.自然永離一切苦海.問:六趣三界廣大無邊.若唯觀心.何由免無窮之苦.答:三界業報唯心所生.本若無心於三界中,即出三界.其三界者,即三毒也.貪為欲界,嗔為色界,癡為無色界.故名三界.由此三毒,造業輕重,受報不同,分歸六處,故名六趣.問:云何輕重分之為六.答:眾生不了正因.迷心修善.未免三界.生三輕趣.云何三輕趣.所謂迷修十善,妄求快樂,未免貪界,生於天趣.迷持五戒,妄起愛憎,未免嗔界,生於人趣.迷執有為,信邪求福,未免癡界,生阿修羅趣.如是三類,名三輕趣.云何三重趣.所謂縱三毒心,唯造惡業,墮三重趣.若貪業重者,墮餓鬼趣.嗔業重者,墮地獄趣.癡業重者,墮畜生趣.如是三重,通前三輕,遂成六趣.故知一切苦業由自心生.但能攝心.離諸邪惡.三界六趣輪迴之苦.自然消滅.即得解脫. Hằng hà sa: Cát sông Hằng, nhiều vô số như cát sông Hằng ở Ấn Độ. Lục thú (lục đạo): Vui thú luân hồi trong sáu đường Thiên, A tu la, Nhân, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục. A tu la (Asurà) dịch là Phi thiên, hung thần, không phải chư Thiên thiện thần, có thần lực, cung điện, hình thể hung ác. Cõi thần này là các hành động dựa trên thân ngã từ đời trước, biểu hiện ra ghen tị, giả dối, cạnh tranh, giận dữ, hiếu chiến, có thể đã từng là người làm điều tốt, nhưng rất ương bướng, nóng nảy, hung dữ. Ngạ quỷ (quỷ đói) là những con ma đói, cực kỳ đói khát nhưng không thể ăn uống được. Tam tụ tịnh giới: 1. Nhiếp luật nghi giới hoặc Tự tánh giới: Giới luật giúp người tu thu phục được thân tâm. Có thân nên có sáu căn, có sáu căn nên có tâm lây nhiễm theo sáu trần. Thu nhiếp tâm về cõi tự tánh thanh tịnh thì tu hành các nghi luật, giới hạn tâm, không để tâm lây nhiễm theo sáu trần. 2. Nhiếp thiện pháp giới hoặc Nhiếp thiện phụng hành: Giới luật tu tập thực hành các điều thiện. Thu nhiếp tâm về pháp giới thiện, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tánh vốn thanh tịnh, thanh tịnh vốn thiện. 3. Nhiếp chúng sinh giới hoặc Nhiêu ích hữu tình giới: Thu nhiếp chúng sanh, lấy tâm từ, bi, hỉ, xả đem lại lợi ích cho chúng sinh. Giới là giới hạn, giới luật. Tụ lại ba cõi thanh tịnh để đối trị ba cõi (tam độc, tham, sân, si), tu hành sáu Ba la mật để đối trị sáu căn, lục tặc (lục thú), thoát khỏi sáu đường. Thập thiện: 1. Không sát sinh. 2. Không trộm cắp. 3. Không tà dâm. 4. Không nói dối. 5. Không nói ác. 6. Không nói lời chia rẽ, hai lời. 7. Không nói lời vô nghĩa. 8. Không tham. 9. Không sân . 10. Không si. Ngũ giới: 1. Không sát sinh. 2. Không trộm cắp. 3. Không tà dâm. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu.

Hỏi: Như nơi Phật nói. Ta vì (tu hành) ba đại a tăng kì kiếp, siêng năng khổ sở không thể đếm được, mới thành Phật đạo. Nay sao giảng nói duy chỉ quán tâm cho nên chế ngự ba độc, thì gọi là giải thoát.

Đạt Ma đáp: Phật giảng nói như thế không hư vọng (hư hão viễn vông). A tăng kì kiếp ấy tức là tâm ba độc. Phạn nói a tăng kì (Asaṃkhya), Hoa gọi là không thể tính đếm. Tâm ba độc này, có ở trong vô số ác niệm. Ở trong tất cả nghĩ nhớ đều là một kiếp, (nhiều) như là cát sông Hằng không thể tính đếm, cho nên nói ba đại a tăng kì.

Chân như của tánh đã bị nơi ba độc đó che đậy trùm lấp. Nếu không vượt qua tam đại (ba độc) kia (nhiều) vô số độc ác của tâm, thì nói thế nào gọi là giải thoát. Nếu bây giờ đạt tới chuyển tham sân si, loại tâm ba độc trở thành ba giải thoát, thì đúng gọi tên là qua được ba đại a tăng kì kiếp. Chúng sinh thời suy bại, nền gốc ngu si đần độn, không hiểu Như Lai nói bí mật của ba đại a tăng kì kiếp, thỏa thích nói thành Phật kiếp trần thế, thì sao người tu hành chẳng khởi lên nghi ngờ lầm lẫn, thoái lui đạo Bồ đề.

Hỏi: Đại Bồ Tát do giữ gìn ba tụ tịnh giới, (thực) hành sáu pháp Ba la mật rồi mới thành Phật đạo. Nay bảo người học duy chỉ quán tâm, chẳng tu giới hạnh như thế sao mà thành Phật.

Đạt Ma đáp: Ba tụ tịnh giới này tức là chế ngự tâm ba độc. Chế ngự tâm ba độc thành vô lượng thiện tụ lại. Tụ ấy là hợp lại. Vô lượng thiện pháp rộng khắp (nơi) tụ hợp lại ở tại tâm, cho nên gọi là ba Tụ tịnh giới. Sáu Ba la mật ấy tức là sáu căn sạch sẽ. Phạn gọi là Ba la mật, Hoa gọi là đến bờ bên kia. Lấy sáu căn thanh tịnh không nhiễm sáu trần, chính là qua sông phiền não đến bờ Bồ đề (giác ngộ), cho nên nói là sáu Ba la mật.

Hỏi: Theo nơi kinh giảng ba tụ tịnh giới như là. Thề cắt đứt tất cả độc ác. Thề tu tất cả thiện lành. Thề độ tất cả chúng sinh. Nay bây giờ Người chỉ nói chế ngự tâm tam độc, ý nghĩa văn tự sao chẳng thêm trái ngược.

Đạt Ma đáp: Phật giảng kinh như thế đó là lời nói chân thật. Đại Bồ Tát ở quá khứ nhân trong lúc tu hành, đối trị ba độc phát ra ba thề nguyện. Thề cắt đứt tất cả ác, cho nên thường giữ Giới đối với Tham độc. Thề tu tất cả thiện, cho nên thường luyện tập Định đối với Sân độc. Thề vượt qua tất cả chúng sinh, cho nên thường tu Tuệ đối với Si độc.

Như thế do giữ Giới Định Tuệ như gốc ba loại pháp tịnh (sạch sẽ), đạt tới vượt qua ba độc kia, thành tựu Phật đạo. Tiêu diệt những xấu ác, gọi đấy là dứt bỏ (xấu ác). Các thiện lành đầy đủ, gọi đấy là tu. Dùng tài năng dứt bỏ xấu ác, tu thiện lành thì vạn (đức) hạnh thành tựu. Mình người khác đều ích lợi, cứu giúp khắp bầy sanh linh, gọi đấy là độ. Cho nên biết nơi tu giới hạnh chẳng lìa ở tại tâm. Nếu tâm mình sạch thì tất cả cõi Phật đều sạch. Cho nên kinh (Duy Ma Cật) nói: Tâm dơ bẩn thì chúng sinh dơ bẩn, tâm sạch sẽ thì chúng sinh sạch sẽ. Muốn được cõi tịnh (cõi Phật) nên tịnh tâm đó. Tùy theo tâm đó tịnh thì cõi Phật tịnh. Ba tụ tịnh giới tự nhiên thành tựu.

Vấn: Như Phật sở thuyết: Ngã vu tam đại a tăng kì kiếp, vô lượng cần khổ, phương thành Phật đạo. Vân hà kim thuyết duy chích quan tâm nhi chế tam độc tức danh giải thoát. Đáp: Phật sở thuyết ngôn. Vô hư vọng dã. A tăng kì kiếp giả. Tức tam độc tâm dã. Hồ ngôn a tăng kì, Hán danh bất khả sổ. Thử tam độc tâm, vu trung hữu hằng sa ác niệm. Vu nhất nhất niệm trung giai vi nhất kiếp. Như thị hằng sa bất khả sổ dã. Cố ngôn tam đại a tăng kì. Chân như chi tính. Kí bị tam độc chi sở phúc cái. Nhược bất siêu bỉ tam đại hằng sa độc ác chi tâm, vân hà danh vi giải thoát. Kim nhược năng chuyển tham sân si đẳng tam độc tâm vi tam giải thoát, thị tắc danh vi đắc độ tam đại a tăng kì kiếp. Mạt thế chúng sinh, ngu si độn căn, bất giải như lai tam đại a tăng kì bí mật chi thuyết, toại ngôn thành phật trần kiếp. Tư khởi bất nghi ngộ hành nhân, thối Bồ đề đạo. Vấn: Bồ tát ma ha tát, do trì tam tụ tịnh giới, hành lục ba la mật, phương thành phật đạo. Kim lệnh học giả duy chích quan tâm, bất tu giới hành, vân hà thành phật. Đáp: Tam tụ tịnh giới giả. Tức chế tam độc tâm dã. Chế tam độc tâm thành vô lượng thiện tụ. Tụ giả hội dã. Vô lượng thiện pháp phổ hội vu tâm. Cố danh tam tụ tịnh giới. Lục ba la mật giả. Tức tịnh lục căn dã. Hồ danh ba la mật. Hán danh đạt bỉ ngạn. Dĩ lục căn thanh tịnh bất nhiễm lục trần. Tức thị độ phiền não hà, chí Bồ đề ngạn, cố vân lục ba la mật. Vấn: Như kinh sở thuyết. Tam tụ tịnh giới giả. Thệ đoạn nhất thiết ác. Thệ tu nhất thiết thiện. Thệ độ nhất thiết chúng sinh. Kim giả duy ngôn chế tam độc tâm. Khởi bất văn nghĩa hữu quai. Đáp: Phật sở thuyết kinh thị chân thật ngữ. Bồ tát ma ha tát vu quá khứ nhân trung tu hành thì, vi đối tam độc, phát tam thệ nguyện. Thệ đoạn nhất thiết ác, cố thường trì giới, đối vu tham độc. Thệ tu nhất thiết thiện, cố thường tập định, đối vu sân độc. Thệ độ nhất thiết chúng sinh, cố thường tu tuệ, đối vu si độc. Do trì như thị giới định tuệ đẳng tam chủng tịnh pháp cố, năng siêu bỉ tam độc thành phật đạo dã. Chư ác tiêu diệt, danh chi vi đoạn. Chư thiện cụ túc, danh chi vi tu. Dĩ năng đoạn ác tu thiện tắc vạn hành thành tựu. Tự tha câu lợi, phổ tể quần sinh, danh chi vi độ. Cố tri sở tu giới hành bất li vu tâm. Nhược tự tâm thanh tịnh. Tắc nhất thiết Phật thổ giai tất thanh tịnh. Cố kinh vân: Tâm cấu tắc chúng sinh cấu.Tâm tịnh tắc chúng sinh tịnh. Dục đắc tịnh thổ. Đương tịnh kì tâm. Tùy kì tâm tịnh tắc Phật thổ tịnh. Tam tụ tịnh giới tự nhiên thành tựu.問:如佛所說.我於三大 阿僧祇劫, 無量勤苦,方成佛道.云何今說唯只觀心而制三毒即名解脫.答:佛所說言.無虛妄也.阿僧祇劫者.即三毒心也.胡言阿僧祇,漢名不可數.此三毒心,於中有恒沙惡念.於一一念中皆為一劫.如是恒沙不可數也.故言三大阿僧祇.真如之性.既被三毒之所覆蓋.若不超彼三大恒沙毒惡之心,云何名為解脫.今若能轉貪嗔癡等三毒心為三解脫,是則名為得度三大阿僧祇劫.末世眾生,愚癡鈍根,不解如來三大阿僧祇祕密之說,遂言成佛塵劫.斯豈不疑誤行人,退菩提道.問:菩薩摩訶薩,由持三聚淨戒,行六波羅蜜,方成佛道.今令學者唯只觀心,不修戒行,云何成佛.答:三聚淨戒者.即制三毒心也.制三毒心成無量善聚.聚者會也.無量善法普會於心.故名三聚淨戒.六波羅蜜者.即淨六根也.胡名波羅蜜.漢名達彼岸.以六根清淨不染六塵.即是渡煩惱河,至菩提岸,故云六波羅蜜.問:如經所說.三聚淨戒者.誓斷一切惡.誓修一切善.誓度一切眾生.今者唯言制三毒心.豈不文義有乖.答:佛所說經是真實語.菩薩摩訶薩於過去因中修行時.為對三毒,發三誓願.誓斷一切惡,故常持戒,對於貪毒.誓修一切善,故常習定,對於瞋毒.誓度一切眾生,故常修慧,對於癡毒.由持如是戒定慧等三種淨法故,能超彼三毒成佛道也.諸惡消滅,名之為斷.諸善具足,名之為修.以能斷惡修善則萬行成就.自他俱利,普濟群生,名之為度.故知所修戒行不離於心.若自心清淨.則一切佛土皆悉清淨.故經云:心垢則眾生垢.心淨則眾生淨.欲得淨土.當淨其心.隨其心淨則佛土淨.三聚淨戒自然成就. Trưởng Lão Tăng kệ: Ta đã buông xả tất cả những tham dục, đã tiêu diệt tất cả sân hận, ta đã lìa xa tất cả si mê. Ta đã đạt sự tĩnh lặng chứng Niết bàn. Giới, Định, Tuệ: là ba cánh cửa giải thoát. Tam giải thoát là ba phép quán, giúp người tu đạt đến sự giải thoát là quán Không, Vô tướng và Vô nguyện. Kinh Duy Ma Cật: Tùy theo trí tuệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh, tùy theo tâm thanh tịnh mà tất cả công đức đều được thanh tịnh.

Hỏi: Như nơi kinh thuyết giảng, sáu Ba la mật ấy cũng gọi là sáu độ. Đó gọi là Bố thí, Giới, Nhẫn, Tinh tấn, Thiền và Tuệ. Bây giờ nói thanh tịnh sáu căn gọi là Ba la mật, như thế là suốt hiểu sâu rộng. Lại còn sáu độ, ý nghĩa đó như thế nào.

Đạt Ma đáp: Muốn tu sáu độ làm sạch sẽ sáu căn, trước khuất phục sáu giặc. Nên xả bỏ giặc mắt, lìa các cảnh sắc gọi là Bố thí. Nên cấm giặc tai, đối với âm thanh trần tục kia, khiến cho không buông thả lỗi lầm, gọi là Giới. Nên khuất phục giặc mũi, đủ các loại mùi hương, tự mình điều hòa nhu thuận, gọi là Nhẫn. Nên ngăn cấm giặc miệng, không ham thích các mùi vị khen ngợi, ca hát ngâm đọc giảng nói, gọi là Tinh tấn. Nên khuất phục giặc thân, đối với các ham muốn tiếp xúc đụng chạm, sâu lắng trong sạch (trạm nhiên) chẳng động, gọi là Thiền. Nên điều hòa giặc ý, chẳng xuôi theo vô minh, thường tu giác tuệ, gọi là Tuệ. Sáu độ xoay vần như vậy. Sáu Ba la mật ví như thuyền bè, công dụng vận chuyển chúng sinh, đạt đến ở tại bờ bên kia, cho nên gọi là sáu độ.

Hỏi: Kinh nói Phật Thích Ca Như Lai đang thời là Bồ tát, từng uống ba đấu (vại) sáu thang (lít) cháo sữa, mới thành Phật đạo. Trước nhờ uống sữa, sau chứng quả Phật, tại sao chỉ quán tâm cũng được giải thoát.

Đạt Ma đáp: Thành Phật như thế, nói cũng không hư hão lung tung. Tất yếu do thức ăn sữa như thế mới [khiến cho] thành Phật. Nói thức ăn sữa ấy có hai loại, Phật ăn đó chẳng phải là sữa của thế gian không sạch. Đây là pháp sữa thanh tịnh. Ba đấu ấy tức là ba Tụ tịnh giới, sáu thăng ấy tức là sáu pháp Ba la mật. Lúc thành Phật đạo, do thức ăn pháp sữa thanh tịnh như thế mới chứng Phật quả. Nếu nói Như Lai nhờ ăn sữa bò thế gian tanh hôi hỗn hợp chẳng sạch, sao chẳng là báng bổ và rất lầm lẫn.

Chân như tự là kim cang chẳng hủy hoại, Pháp thân vô lậu (không phiền não), xa lìa tất cả các đau khổ thế gian, như thế sao cần đến sữa chẳng sạch, dùng lấp đầy đói khát. Nơi kinh giảng: Con bò đó chẳng ở cao nguyên, chẳng ở dưới thấp, chẳng ăn lúa thóc cám trấu, chẳng cùng chung bầy bò đực. Con bò đó thân tạo ra sắc tím mất đi sắc vàng. Nói con bò đó cũng là Phật Đại Nhật Như Lai, bởi vì đại từ bi thương xót tất cả, cho nên ở trong pháp thể thanh tịnh, sinh ra ba Tụ tịnh giới sáu Ba la mật, pháp sữa vi diệu như thế, nuôi dưỡng tất cả (chúng sinh) cầu giải thoát. Con bò đấy thật sạch như thế, sữa đấy thanh tịnh, chẳng phải chỉ Như Lai uống mà thành đạo, nếu tất cả chúng sinh uống nổi, đều đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Vấn: Như kinh sở thuyết. Lục ba la mật giả, diệc danh lục độ. Sở vị: Bố thi, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiện định, trí tuệ. Kim ngôn lục căn thanh tịnh danh ba la mật giả, hà vi thông hội.Hựu lục độ giả, kì nghĩa như hà. Đáp: Dục tu lục độ. Đương tịnh lục căn, hàng lục tặc. Năng xá nhãn tặc, li chư sắc cảnh, danh vi bố thi.Năng cấm nhĩ tặc. Vu bỉ thanh trần. bất lệnh phóng dật. Danh vi trì giới. Năng phục tị tặc. Đẳng chư hương xú. Tự tại điều nhu. Danh vi nhẫn nhục. Năng chế thiệt tặc. Bất tham chư vị. Tán vịnh giảng thuyết. Danh vi tinh tiến. Năng hàng thân tặc. Vu chư xúc dục. Trạm nhiên bất động. Danh vi thiện định. Năng điều ý tặc. Bất thuận vô minh. Thường tu giác tuệ. Danh vi trí tuệ. Lục độ giả, Vận dã, lục ba la mật nhược thuyền phiệt, năng vận chúng sinh đạt vu bỉ ngạn, cố danh lục độ. Vấn: Kinh vân: Thích già Như Lai vi bồ tát thì, tằng ẩm tam đấu lục thăng nhũ mi, phương thành Phật đạo. Tiên nhân ẩm nhũ, hậu chứng Phật quả, khởi duy quan tâm đắc giải thoát hồ. Đáp: Thành tri sở ngôn vô hư vọng dã. Tất nhân thực nhũ, nhiên thủy (sử) thành Phật. Ngôn thực nhũ giả, hữu nhị chủng. Phật sở thực giả, Bất thị thế gian bất tịnh chi nhũ, nãi thị chân như thanh tịnh pháp nhũ dã. Tam đấu giả, tức tam tụ tịnh giới.Lục thăng giả, tức lục ba la mật. Thành Phật đạo thì, do thực như thị thanh tịnh pháp nhũ, phương chứng Phật quả. Nhược ngôn như lai thực vu thế gian hòa hợp bất tịnh chi ngưu thiên tinh nhũ giả, khởi bất báng ngộ chi thậm hồ. Chân như giả, tự thị kim cương bất hoại. Vô lậu pháp thân, vĩnh li thế gian nhất thiết chư khổ. Khởi tu như thị bất tịnh chi nhũ, dĩ sung cơ khát. Như kinh sở thuyết: Kì ngưu bất tại cao nguyên. Bất tại hạ thấp. Bất thực cốc mạch khang phu. Bất dữ đặc ngưu đồng quần. Kì ngưu thân tác tử ma kim sắc. Ngôn thử ngưu giả, Bì Lô Xá Na Phật dã. Dĩ đại từ bi, liên mẫn nhất thiết, cố vu thanh tịnh pháp thể trung. Xuất như thị tam tụ tịnh giới lục ba la mật vi diệu pháp nhũ, dục nhất thiết cầu giải thoát giả. Như thị chân tịnh chi ngưu. Thanh tịnh chi nhũ. Phi đãn Như Lai ẩm chi thành đạo. Nhất thiết chúng sinh nhược năng ẩm giả. Giai đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ đề.問:如經所說.六波羅蜜者.亦名六度.所謂布施持戒忍辱精進禪定智慧.今言六根 清淨.名波羅蜜者.若為通會.又六度者.其義如何.答:欲修六度.當淨六根.先降六賊.能捨眼賊.離諸色境.名為布施.能禁耳賊.於彼聲塵.不令縱逸.名為持戒.能伏鼻賊.等諸香具.自在調柔.名為忍辱.能制口賊.不貪諸味.讚詠講說.名為精進.能降身賊.於諸觸慾.湛然不動.名為禪定.能調意賊.不順無明.常修覺慧.名為智慧.六度者運也.六波羅蜜.喻若船筏.能運眾生.達於彼岸.故名六度.問:經云.釋迦如來.為菩薩時.曾飲三斗六升乳糜.方成佛道.先因飲乳.後證佛果.豈唯觀心得解脫也.答:成佛如此.言無虛妄也.必因食乳.然始(使)成佛.言食乳者.有二種.佛所食者.非是世間不淨之乳.乃是清淨法乳.三斗者.三聚淨戒.六升者.六波羅蜜.成佛道時.由食如是清淨法乳.方證佛果.若言如來食於世間和合不淨牛羶腥乳.豈不謗誤之甚.真如者.自是金剛不壞.無漏法身.永離世間一切諸苦.豈須如是不淨之乳.以充飢渴.經所說.其牛不在高原.不在下濕.不食穀麥糠麩.不與特牛同群.其牛身作紫磨金色.言牛者.毗盧舍那佛也.以大慈悲.憐愍一切.故於清淨法體中.出如是三聚淨戒六波羅蜜微妙法乳.養育一切求解脫者.如是真淨之牛.清淨之乳.非但如來飲之成道.一切眾生若能飲者.皆得阿耨多羅三藐三菩提. Hữu lậu: có phiền não, nhỏ dọt, rò rỉ ra các phiền não. Vô lậu: không có phiền não, phiền não đã tan mất hết. Giác Tuệ là trí thông minh sáng láng thức tỉnh không mê lầm. Phật Đại Nhật Như Lai (Vairocana, Mahavairocana), hay Tỳ Lô Giá Na Phật (Vairocana) chính là Pháp thân của Phật Thích Ca Như Lai. Kinh Mật giáo: Do nghĩa nào mà gọi là A nậu đa la tam miểu tam Bồ đề (Vô thượng chánh đẳng chánh giác). Ở bên trên, trọn vẹn không có gì hơn để có thể cầu. Chính vì thế cho nên gọi là A nậu đa la tam miểu tam Bồ đề.

Hỏi: Nơi trong kinh giảng nói. Phật khiến bảo chúng sinh xây dựng đền chùa, đúc tạc hình tượng, đốt hương rải hoa, thắp đèn sáng mãi, ngày đêm sáu giờ hành đạo quanh tháp, lễ bái, ăn chay, giữ giới, các loại công đức đều thành tựu Phật đạo. Nếu chỉ có quán tâm thu hết cả các việc làm. Nói giảng việc làm như thế, có lẽ là viễn vông hư hão.

Đạt Ma đáp: Phật giảng kinh như thế có vô số phương tiện. Vì tất cả chúng sinh nền gốc ngu dốt hẹp hòi kém cỏi, chẳng tỏ ngộ ý nghĩa rất sâu xa đó, cho nên mượn hữu vi ví dụ vô vi. Nếu lại chẳng tu bên trong, duy chỉ có tìm bề ngoài hi vọng được phúc, không có đúng chỗ nào.

Nói Già lam đó là chữ phương Tây (Ấn Độ), lãnh vực này dịch là vùng đất trong sạch. Nếu mãi mãi trừ bỏ tam độc, thường sạch sẽ sáu căn, thân tâm lắng trong sâu xa như thế, trong ngoài trong sạch thì gọi là tu tạo ngôi chùa. Đúc tạc hình tượng ấy chính là tất cả chúng sinh cầu Phật đạo. Đó gọi là tu các giác hành (phương thức tu hành để đạt tới giác ngộ cho mình và cho người), phảng phất hình tượng dáng dấp thật Như Lai diệu tướng, sao phải đúc tạc vàng đồng mà làm như vậy. Cho nên là người cầu giải thoát, lấy thân làm bếp lò, lấy pháp làm lửa, lấy trí tuệ làm thợ khéo, lấy ba Tụ tịnh giới, sáu Ba la mật dùng làm khuôn mẫu đạo lý, nung đúc Phật tánh chân như trong thân, tất cả đều vào trong giới luật khuôn mẫu, như dậy bảo tôn kính làm, không một sơ sài thiếu sót, tự nhiên thành tựu hình dáng của thật tướng. Đó gọi là kết quả thường trụ nơi sắc thân vi diệu, chẳng phải là (đúc tạc tượng) của pháp hữu vi hư nát. Nếu người cầu tìm đạo, không hiểu rõ đúc tạc hình dáng thật như thế, dựa đâu thường nói là công đức.

Lại còn thực hiện đốt hương, cũng chẳng phải hương của thế gian có hình tướng, đây phải là hương của chánh pháp vô vi, xông các hôi thối ác nghiệp vô minh, khiến cho tan biến mất hết. Hương chánh pháp đó có năm loại: Một ấy là hương Giới, nói đó là làm nổi cắt đứt các xấu ác, chỉ tu các thiện lành. Hai đó là hương Định, nói đó là tin tưởng thâm sâu đại thừa, tâm không thoái lui chuyển đổi. Ba đó là hương Tuệ, nói đó là thường ở tại thân tâm, tự quan sát bên trong. Bốn đó là hương Giải thoát, nói đó là đạt tới cắt đứt tất cả vô minh cố kết trói buộc. Năm đó là hương thấy biết Giải thoát, nói đó là thường xem xét soi chiếu sáng tỏ, thông suốt không trở ngại. Năm loại hương như thế, đấy gọi là hương tối thượng, thế gian không thể so bì. Ngày Phật tại thế khiến bảo các đệ tử lấy lửa trí tuệ, thiêu đốt hương quý báu vô giá như thế, dâng hiến thờ phụng các vị Phật mười phương. Chúng sinh thời nay không hiểu biết ý nghĩa chân thật của Như Lai, chỉ có đem lửa bên ngoài thiêu đốt (cây gỗ) trầm đàn ở thế gian, xông sáu chất hương (lục căn) trở ngại đấy, hi vọng phúc báo, sao có thể nói được như vậy.

Vấn: Kinh trung sở thuyết. Phật lệnh chúng sinh tu tạo già lam, chú tả hình tượng, thiêu hương tán hoa. Nhiên trường minh đăng. Trú dạ lục thì. Nhiễu tháp hành đạo. Trì trai lễ bái. Chủng chủng công đức. Giai thành Phật đạo. Nhược duy quan tâm. Tổng nhiếp chư hành. Thuyết như thị sự, ứng hư vọng dã. Đáp: Phật sở thuyết kinh. Hữu vô lượng phương tiện. Dĩ nhất thiết chúng sinh độn căn hiệp liệt. Bất ngộ thậm thâm chi nghĩa. Sở dĩ giả hữu vi dụ vô vi. Nhược phục bất tu nội hành. Duy chích ngoại cầu. Hi vọng hoạch phúc. Vô hữu thị xử. Ngôn già lam giả, Tây quốc ngữ, thử thổ phiên vi thanh tịnh địa dã. Nhược vĩnh trừ tam độc, thường tịnh lục căn, thân tâm trạm nhiên, nội ngoại thanh tịnh, thị danh tu tạo già lam. Chú tả hình tượng giả, tức thị nhất thiết chúng sinh cầu Phật đạo dã. Sở vị tu chư giác hành, bàng (phảng) tượng Như Lai chân dung diệu tương. Khởi thị chú tả kim đồng chi sở tác hồ. Thị cố cầu giải thoát giả, dĩ thân vi lô, dĩ pháp vi hỏa, dĩ trí tuệ vi xảo tượng, dĩ tam tụ tịnh giới, lục ba la mật dĩ vi mô quỹ (họa dạng). Dong luyện thân trung chân như Phật tính, biến nhập nhất thiết giới luật mô trung. Như giáo phụng hành, nhất vô lậu khuyết, tự nhiên thành tựu chân dung chi tượng. Sở vị cứu cánh thường trụ vi diệu sắc thân, bất thị hữu vi bại hoại chi pháp. Nhược nhân cầu đạo, bất giải như thị chú tả chân dung, bằng hà triếp ngôn công đức. Hựu thiêu hương giả. Diệc phi thế gian hữu tương chi hương. Nãi thị vô vi chánh pháp chi hương dã. Huân chư xú uế vô minh ác nghiệp. Tất lệnh tiêu diệt. Chánh pháp hương giả, kì hữu ngũ chủng. Nhất giả giới hương. Sở vị năng đoạn chư ác, năng tu chư thiện. Nhị giả định hương. Sở vị thâm tín đại thừa, tâm vô thối chuyển. Tam giả tuệ hương. Sở vị thường vu thân tâm, nội tự quan sát. Tứ giả giải thoát hương. Sở vị năng đoạn nhất thiết vô minh kết phược. Ngũ giả giải thoát tri kiến hương. Sở vị quan chiếu thường minh, thông đạt vô ngại. Như thị ngũ chủng hương, danh vi tối thượng chi hương.Thế gian vô bỉ. Phật tại thế nhật, lệnh chư đệ tử dĩ trí tuệ hỏa thiêu như thị vô giá bảo hương, cung dưỡng thập phương chư Phật. Kim thì chúng sinh bất giải Như Lai chân thật chi nghĩa, duy tương ngoại hỏa thiêu vu thế gian trầm đàn, huân lục chất ngại chi hương, hi vọng phúc báo, vân hà khả đắc hồ. 問:經中所說.佛令 眾生修造伽藍,鑄寫形像,燒香散花.燃長明燈.晝夜六時.遶塔行道.持齋禮拜.種種功德.皆成佛道.若唯觀心.總攝諸行.說如是事.應虛妄也.答:佛所說經:有無量方便.以一切眾生鈍根狹劣.不悟甚深之義.所以假有為喻無為.若復不修內行.唯只外求.希望獲福.無有是處.言伽藍者,西國語,此土翻為清淨地也.若永除三毒,常淨六根,身心湛然,內外清淨,是名修造伽藍.鑄寫形像者,即是一切眾生求佛道也.所謂修諸覺行,彷像如來真容妙相.豈是鑄寫金銅之所作乎.是故求解脫者,以身為爐,以法為火,以智慧為巧匠,以三聚淨戒,六波羅蜜以為模揆(畫樣).鎔鍊身中真如佛性,遍入一切戒律模中.如教奉行,一無漏缺,自然成就真容之像.所謂究竟常住微妙色身,不是有為敗壞之法.若人求道,不解如是鑄寫真容,憑何輒言功德.執又燒香者.亦非世間有相之香.乃是無為正法之香也.薰諸臭穢無明惡業.悉令消滅.正法香者,其有五種.一者戒香.所謂能斷諸惡,能修諸善.二者定香.所謂深信大乘,心無退轉.三者慧香.所謂常於身心,內自觀察.四者解脫香.所謂能斷一切無明結縛.五者解脫知見香.所謂觀照常明,通達無礙.如是五種香,名為最上之香.世間無比.佛在世日,令諸弟子以智慧火燒如是無價寶香,供養十方諸佛.今時眾生不解如來真實之義,唯將外火燒於世間沈檀,薰陸質礙之香,希望福報,云何可得乎. Giải thoát tri kiến. Thấy biết được đường đi đến giải thoát. Các pháp hữu vi là các việc làm vô thường của người đời, tâm người thì biến chuyển liên tục, nay theo làm mai đổi khác, bám dựa vào hình thức bên ngoài cho nên là không thật.

Lại còn rải hoa ý nghĩa ấy cũng như thế. Nói đó là diễn giảng chánh pháp, các hoa công đức, có tình nhiều lợi ích, thấm tan tất cả vào chân như tánh, trang nghiêm bố thí khắp nơi, loài hoa công đức này, Phật khen ngợi tán thưởng, đó là kết quả thường trụ, không bao giờ héo rụng. Nếu có người lại rải hoa như thế, được vô số phước. Nếu nói Như Lai sai khiến chúng sinh cắt đứt tơ lụa buộc nhiều mầu, làm tổn hại cây cỏ dùng để rải hoa, không đúng chỗ nào. Đó bởi vì sao, người giữ giới tịnh, đối với trời đất bao la muôn hình dạng, (Phật) chẳng khiến bảo xâm phạm. Nếu lầm lẫn phạm ấy còn gặp phải tội lớn, huống chi nay lại cố hủy hoại tịnh giới, tổn thương muôn vật, cầu cho phước báo. Muốn ích lợi ngược lại tổn hại, có đâu là như vậy.

Đốt đèn sáng mãi ấy tức là tâm chánh giác. Giác chính là sáng tỏ hết, nói đấy ví dụ là cây đèn [Đại Tạng kinh: Lấy trí tuệ sáng tỏ hết, nói ví dụ đấy là cây đèn]. Cho nên phải là cầu tất cả giải thoát, [thường lấy] thân làm cây đèn, tâm làm bấc đèn [Tâm làm ngọn đèn. Tin theo là bấc đèn], thêm các giới hành (hạnh) dùng làm dầu thắp. Trí tuệ sáng suốt, ví dụ lửa đèn thường đốt, đèn chân chánh giác như thế, soi chiếu [phá tan] tất cả vô minh ngu tối. Có thể lấy pháp luân này, lần lượt thứ tự mở ra tỏ rõ [Có thể lấy pháp này xoay chuyển lần lượt mở ra tỏ ngộ]. Chính là một ngọn đèn đốt trăm ngàn ngọn đèn, vô tận ngọn đèn, cho nên kêu là sáng mãi [Lấy cây đèn tiếp nối vô tận (cây đèn) soi sáng sáng hết. Vì vô tận cho nên kêu rằng sáng mãi]. Quá khứ có vị Phật danh hiệu là Nhiên Đăng, ý nghĩa cũng như thế. Chúng sinh ngu si chẳng hiểu phương tiện Như Lai nói đến, chuyên làm càn bậy hư hão, ham thích có làm, thỏa thích đốt đèn dầu của thế gian, dùng chiếu sáng căn nhà rỗng, rồi kêu là y theo dậy bảo, sao chẳng sai lầm. Đó bởi vì sao, Phật buông hé mi một chút với ánh sáng, soi sáng tám ngàn vạn thế giới [Như ánh sáng thân (Phật) chiếu rộng khắp mười phương], sao mượn đến đèn dầu [thế tục] để làm lợi ích. Xét rõ lý đó, chẳng nên như vậy.

Hựu tán hoa giả nghĩa diệc như thị. Sở vị diễn thuyết chánh pháp, chư công đức hoa, nhiêu ích hữu tình, tán triêm nhất thiết, vu chân như tính, phổ thi trang nghiêm, thử công đức hoa, Phật sở xưng tán, cứu cánh thường trụ, vô điêu lạc kì. Nhược phục hữu nhân. Tán như thị hoa. Hoạch phúc vô lượng. Nhược ngôn Như Lai lệnh chúng sinh tiễn tiệt tăng thải, thương tổn thảo mộc, dĩ vi tán hoa, vô hữu thị xử. Sở dĩ giả hà. Trì tịnh giới giả, vu chư thiên địa sâm la vạn tượng, bất lệnh xúc phạm. Nhược ngộ phạm giả do hoạch đại tội, huống phục kim giả cố hủy tịnh giới, thương tổn vạn vật, cầu vu phúc báo. Dục ích phản tổn, khởi hữu thị hồ. Trường minh đăng giả, tức chánh giác tâm dã. Giác chi minh liễu, dụ chi vi đăng (Đại Tạng kinh: dĩ trí tuệ minh liễu dụ chi vi đăng). Thị cố nhất thiết cầu giải thoát giả, (thường dĩ) thân vi đăng thai, tâm vi đăng chú (Đại Tạng kinh: Tâm vi đăng trản. Tín vi đăng chú), tăng chư giới hành, dĩ vi thiêm du. Trí tuệ minh đạt, dụ như đăng hỏa thường nhiên. Như thị chân chánh giác đăng, nhi chiếu (phá) nhất thiết vô minh si ám. Năng dĩ thử pháp luân, thứ đệ tương khai kì (Đại Tạng kinh: Năng dĩ thử pháp chuyển tương khai ngộ). Tức thị nhất đăng nhiên bách thiên đăng, đăng đăng vô tận, cố hào trường minh (dĩ đăng tục minh minh chung bất tận.Dĩ vô tận cố hào viết trường minh). Quá khứ hữu Phật danh viết nhiên đăng, nghĩa diệc như thị. Ngu si chúng sinh bất hội Như Lai phương tiện chi thuyết, chuyên hành hư vọng. Chấp trứ hữu vi, toại nhiên thế gian tô du chi đăng, dĩ chiếu không (nhất) thất, nãi xưng y giáo, khởi bất mậu hồ. Sở dĩ giả hà. Phật phóng mi gian nhất hào tương quang, năng (thượng) chiếu vạn bát thiên thế giới. (Đại Tạng kinh: Nhược thân quang tận chiếu phổ biến thập phương) Khởi giả như thị tô du (thế tục) chi đăng. Dĩ vi lợi ích. Thẩm (tường) sát tư lí. Ứng bất nhiên hồ.又散花者義亦如是.所謂演說正法,諸功德花,饒益有情,散沾一切,於真如性,普施莊嚴,此功德花,佛所稱讚,究竟常住,無凋落期.若復有人.散如是花.獲福無量.若言如來令眾生剪截繒綵,傷損草木,以為散花,無有是處.所以者何.持淨戒者,於諸天地森羅萬像,不令觸犯.若誤犯者猶獲大罪,況復今者故毀淨戒,傷損萬物,求於福報.欲益反損,豈有是乎.長明燈者,即正覺心也.覺之明了,喻之為燈.是故一切求解脫者,(常以)身為燈臺,心為燈炷(心為燈盞.信為燈炷),增諸戒行,以為添油.智慧明達,喻如燈火常燃.如是真正覺燈,而照(破)一切無明癡暗.能以此法輪,次第相開示(能以此法轉相開悟).即是一燈燃百千燈,燈燈無盡,故號長明(以燈續明明終不盡.以無盡故號曰長明).過去有佛名曰燃燈,義亦如是.愚癡眾生不會如來方便之說,專行虛妄.著有為,遂燃世間蘇油之燈,以照空室,乃稱依教,豈不謬乎.所以者何.佛放眉間一毫相光,能照萬八千世界(若身光盡照普遍十方).豈假如是蘇油之燈.以(詳)為利益.審察斯理.應不然乎Chân như ((Tathatā)): Chân nghĩa là chân thật. Như là luôn thường mãi không thay đổi. Còn có tên gọi khác là Tự tánh thanh tịnh tâm, Phật tánh, Pháp thân, Như Lai tạng, Thật tướng, Pháp giới tánh, Viên thành thật tánh. Duy thức luận: Chân là chân thật, rõ ràng, không hư vọng, Như là thường như vậy, vĩnh định không thay đổi. Kinh Bát Nhã: Thiên Vương nên biết, Chân như sâu xa, chỉ dùng trí biết, không dùng ngôn ngữ. Tại vì sao vậy? Chân như các pháp, siêu vượt văn tự, lìa sự nói năng, tất cả ngôn ngữ lời nói không thể đến. Nó tách lìa hí luận (luận bàn đùa bỡn, giễu cợt), dứt sự phân biệt, không thử không bỉ (bên này bên kia, phân biệt), lìa tướng có, không, lìa sự tầm tư (suy nghĩ tìm tòi), vượt cảnh tìm kiếm, không tưởng không tướng, vượt qua tưởng, tướng, lìa xa kẻ ngu, vượt bỏ kẻ ngu, diệt các ma sự, lìa khỏi chướng ngại, dùng thức không biết, trụ nơi vô trụ, thánh trí tịch tĩnh, là vô phân biệt, là trí hậu đắc, không ngã, ngã sở, cầu không thể được, không thủ không xả, không nhiễm không chấp, thanh tịnh không cấu, tối thắng bậc nhất, tánh thường bất biến. Nếu Phật xuất thế hay không xuất thế, nó vẫn thường trụ. Phật Nhiên Đăng (Nhiên Đăng, Đính Quang). Nhiên là đốt cháy, Đăng là cây đèn, Đính là chân đèn. Phật Nhiên Đăng, Thích Ca và Di Lặc là biểu tượng các vị Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Cũng là tâm giác ngộ quá khứ, hiện tại, vị lai.

Lại còn sáu giờ hành (làm việc) đạo. Nói như thế là đối với bên trong sáu căn, tất cả thời gian thường (thi) hành Phật đạo, tu các giác hành (thi hành tri giác), điều hòa khuất phục sáu căn, thường xuyên lâu mãi không buông bỏ, gọi là sáu giờ hành đạo. Đi quanh tháp hành đạo. Tháp ấy là thân. Đang tu giác hành vòng quanh qua lại xem xét thân tâm, niệm niệm không ngừng gọi là vòng quanh tháp. Các vị Thánh quá khứ, đều (thi) hành đạo này đạt đến thời Niết bàn [Được đến Niết bàn]. Thời nay người đời chẳng hiểu lý này, đã chẳng (thực) hành bên trong, chỉ có kén chọn cầu bề ngoài, đem thân chất trở ngại vòng quanh tháp thế gian, ngày đêm chạy vội, tự mệt nhọc uổng phí công sức, mà ở tại chân tánh không có một chút lợi ích gì.

Lại còn trì trai (giữ gìn ăn chay) ấy là đang tu hội ý, chẳng thông suốt lý đó, như vậy chỉ có hư hão công sức. Trai ấy là tề vậy. Nói đó là thân tâm ngay thẳng ngang bằng nhau [Đại Tạng kinh: Thân tâm ngay thẳng giữ gìn trong sạch], làm cho không tán loạn. Trì (giữ gìn) ấy là hộ (che chở). Nói đó là đối với các giới hành, giữ gìn bảo vệ như pháp. Cần phải ngăn cấm sáu tình (lục trần) bên ngoài, bên trong ngăn chận ba độc (tham sân si), chu đáo xem xét thức tỉnh thân tâm trong sạch, hiểu rõ ý nghĩa như thế gọi là trì trai.

Có năm loại thức ăn. Một là thức ăn vui pháp, nói đó là giữ gìn y theo chánh pháp, vui vẻ vâng theo lời mà làm. Hai là thức ăn vui thích thiền, cử chỉ trong ngoài trong lắng yên tĩnh, thân tâm vui vẻ. Ba là thức ăn niệm (nghĩ, nhớ), nói đó là thường niệm các vị Phật, tâm miệng tương ứng (hòa theo nhau). Bốn là thức ăn nguyện (mong muốn), nói đó là đi, đứng, nằm, ngồi thường cầu nguyện thiện lành. Năm là thức ăn giải thoát, nói đó là tâm thường thanh tịnh, chẳng nhiễm thói quen cõi đời. Năm loại thức ăn này gọi là trì trai. Nếu có người lại chẳng ăn năm loại thức ăn sạch như thế, tự nói trì trai, không có đúng chỗ nào. Chỉ cắt đứt đối với thức ăn của vô minh, thường khởi lên hiểu biết ấy gọi là phá trai. Nếu đã có phá, sao nói được phước. Đời có người mê, chẳng tỏ ngộ lý đó, thân tâm buông thả, toàn làm những điều xấu ác, tham muốn buông thả tình ái, chẳng sanh ra hổ thẹn. Chỉ có kiêng bỏ thức ăn bên ngoài, tự làm ra trì trai, ắt hẳn không đúng chỗ nào.

Lại còn lễ bái ấy là đang [đúng] như pháp, thể lý cần phải bên trong sáng tỏ, tùy sự việc mà thích ứng biến đổi theo [Đại Tạng kinh: lý có ẩn chứa việc làm], hiểu ý nghĩa như thế, rồi mới gọi là y theo pháp. Nói chung lễ ấy là kính cẩn, bái ấy là phục xuống. Nói đó là cung kính chân tánh, khuất phục vô minh, gọi là lễ bái. Nếu có thể dập tắt mãi ác tình, còn mãi ý niệm thiện, tuy chẳng cùng với lý [hiện hình tướng], gọi là lễ bái. Tướng [đó] tức là pháp tướng. Thế Tôn muốn thói đời tốt lành, tỏ rõ bên trong tâm khiêm tốn, cũng là lễ bái. Cho nên cần khuất phục thân bên ngoài, bên trong tỏ rõ sự cung kính. Bên ngoài thức tỉnh, sáng tỏ bên trong, tánh tướng tương ứng. Nếu lại chẳng thực hành pháp lý, chỉ kén chọn cầu bề ngoài, trong thì buông thả tham [sân] si, thường làm nghiệp ác, ngoài thì hư hão thân tướng mệt nhọc, dối trá bày tỏ uy nghi, không hổ thẹn với Thánh, chỉ lừa dối với kẻ phàm, chẳng miễn khỏi luân hồi, sao thành công đức.

Hựu lục thì hành đạo giả, sở vị lục căn chi trung vu nhất thiết thì thường hành Phật đạo, tu chư giác hành, điều phục lục căn, trường thì bất xá, danh vi lục thì hành đạo. Nhiễu tháp hành đạo giả, tháp giả thị thân dã. Đương tu giác hành tuần nhiễu thân tâm. Niệm niệm bất đình. Danh vi nhiễu tháp. Quá khứ chư Thánh giai hành thử đạo, chí Niết bàn thì đắc chí Niết bàn). Kim thì thế nhân bất hội thử lí, tằng bất nội hành, duy chấp ngoại cầu, tương chất ngại thân nhiễu thế gian tháp. Nhật dạ tẩu sậu. Đồ tự bì lao. Nhi vu chân tính. Nhất vô lợi ích. Hựu trì trai giả, đương tu hội ý. Bất đạt tư lí, Đồ nhĩ hư công. Sở vị tề (trai) chánh thân tâm. Bất lệnh tán loạn. Trì giả hộ dã. Sở vị vu chư giới hành. Như pháp hộ trì. Tất tu ngoại cấm lục tình. Nội chế tam độc. Ân cần giác sát thanh tịnh thân tâm. Liễu như thị nghĩa. Danh vi trì trai. Thực hữu ngũ chủng.Nhất giả pháp hỉ thực.Sở vị y trì chánh pháp. Nhị giả thiện duyệt thực. Sở vi nội ngoại trừng tịch. Thân tâm duyệt nhạc. Tam giả niệm thực. Sở vị thường niệm chư Phật, tâm khẩu tương ứng. Tứ giả nguyện thực. Sở vị hành trụ tọa ngọa thường cầu thiện nguyện. Ngũ giả giải thoát thực. Nhược phục hữu nhân. Bất thực như thị ngũ chủng tịnh thực, tự ngôn trì trai, vô hữu thị xứ. Duy đoạn vu vô minh chi thực, triếp tác giải giả, danh vi phá trai. Nhược diệc hữu phá, vân hà hoạch phúc. Thế hữu mê nhân, bất ngộ tư lí, thân tâm phóng dật, giai vi chư ác, tham dục tứ tình, bất sinh tàm quý. Duy đoạn ngoại thực, tự vi trì trai, tất vô thị xử. Hựu lễ bái giả, đương như (thị) pháp dã. Tất tu lí thể nội minh. Sự tùy quyền biến. (Lí hữu hành tàng). Hội như thị nghĩa. Nãi danh y pháp. Phu lễ giả, kính dã. Bái giả, phục dã. Sở vị cung kính chân tính. Khuất phục vô minh. Danh vi lễ bái. Nhược năng ác tình vĩnh diệt, thiện niệm hằng tồn. Tuy bất lí tương (hiện tướng). Danh vi lễ bái. (Kỳ) Tương tức pháp tương dã. Thế tôn dục lệnh thế tục biểu khiêm hạ tâm. Diệc vi lễ bái. Cố tu khuất phục ngoại thân. Kì nội cung kính, giác ngoại minh nội, tính tương tương ứng. Nhược phục bất hành lí pháp. Duy chấp ngoại cầu, nội tắc phóng túng tham (sân) si, thường vi ác nghiệp, ngoại tức không lao thân tương, trá hiện uy nghi. Vô tàm vu Thánh. Đồ cuống vu phàm, bất miễn luân hồi, khởi thành công đức.其又六時行道 者,所謂六根之中於一切時常行佛道,修諸覺行,調伏六根,長時不捨,名為六時行道.遶塔行道者,塔者是身也.當修覺行巡遶身心.念念不停.名遶塔.過去諸聖皆行此道,至涅槃時(得至涅槃).今時世人不會此理,曾不內行,唯執外求,將質礙身遶世間塔.日夜走驟.徒自疲勞.而於真性.一無利益.又持齋者,當須會意.不達斯理,徒爾虛功.齋者齊也.所謂齊(齋)正身心.不令散亂.持者護也.所謂於諸戒行.如法護持.必須外禁六情.內制三毒.慇懃覺察清淨身心.了如是義.名為持齋.食有五種.一者法喜食.所謂依持正法.歡喜奉行.二者禪悅食.所為內外澄寂.身心悅樂.三者念食.所謂常念諸佛,心口相應.四者願食.所謂行住坐臥常求善願.五者解脫食.所謂心常清淨,不染俗塵.此五種食名為持齋.若復有人.不食如是五種淨食,自言持齋,無有是處.唯斷於無明之食,輒作解者,名為破齋.若亦有破,云何獲福.世有迷人,不悟斯理,身心放逸,皆為諸惡,貪欲恣情,不生慚愧.唯斷外食,自為持齋,必無是處.又禮拜者,當如法(是)也.必須理體內明.事隨權變.(理有行藏).會如是義.乃名依法.夫禮者,敬也.拜者,伏也.所謂恭敬真性.屈伏無明.名為禮拜.若能惡情永滅,善念恒存.雖不理相(現相).名為禮拜.(其)相即法相也.世尊欲令世俗表謙下心.亦為禮拜.故須屈伏外身.示內恭敬,覺外明內,性相相應.若復不行理法.唯執外求,內則放縱貪(瞋)癡,常為惡業,外即空勞身相,詐現威儀.無慚於聖.徒誑於凡,不免輪迴,豈成功德..

Hỏi: Như kinh giảng nói, tâm rất thành khẩn niệm Phật, chắc chắn được đầu thai cõi tịnh phương tây. Lấy một môn (niệm Phật) này thì có thể thành Phật, đâu cần giả dối quán tâm cầu cho giải thoát.

Đạt Ma đáp: Nói chung niệm Phật ấy là đang tu chánh niệm. Hiểu rõ ý nghĩa là chánh, không hiểu rõ ý nghĩa là tà (lệch lạc). Chánh niệm chắc chắn được đầu thai (cõi Phật), tà niệm chỗ nào nói đến bên kia vậy.

Phật ấy là giác ngộ, giác ngộ nói đó là xét kỹ thân tâm, đừng làm cho khởi lên xấu ác. Niệm ấy là nghĩ nhớ vậy, nói đó là nhớ giữ giới hành, không quên tinh thông tiến bộ. Rõ nghĩa như thế đấy gọi là niệm. Cho nên biết niệm ở tại tâm, chẳng phải ở tại lời nói. Nhờ nơm tìm cá, được cá quên nơm. Nhờ lời nói tìm ý, được ý quên lời. Đã xưng niệm đến danh hiệu Phật, phải biết niệm Phật thuộc về đạo. Nếu tâm không thật, miệng tụng hư hão danh hiệu (Phật), bên trong ba độc tới, ta người dồn ứ đầy ngực, đem tâm vô minh hướng ra ngoài cầu Phật, như thế chỉ có hư hão [phí] công sức. Hơn nữa như tụng so với niệm, nghĩa lý khác xa nhau rất nhiều. Ở miệng gọi là tụng, ở tâm gọi là niệm. Cho nên biết niệm theo tâm khởi lên, đó gọi là then chốt của giác hành. Tụng ở trong miệng chính là âm thanh của hình tướng. Thực hiện bề ngoài cầu tìm lý, cuối cùng không có ở chỗ đó. Cho nên biết các vị Thánh quá khứ tu niệm Phật như thế, đều chẳng nói ra ngoài, chỉ suy tìm bên trong tâm. Tâm chính là nguồn gốc nhiều thiện lành, tâm chính là chủ của muôn đức. Niết bàn thường vui do chân tâm sinh ra. Luân hồi ba cõi cũng theo tâm khởi lên. Tâm là then chốt cửa nẻo của xuất thế gian, tâm là cửa ải bến bờ của giải thoát, biết then chốt cửa nẻo đó, sao lo nghĩ khó vào, biết cửa ải bến bờ đó, lo gì chẳng thông suốt [đạt tới].

Vấn: Như kinh thuyết ngôn. Chí tâm niệm Phật, tất đắc vãng sinh tây phương tịnh thổ. Dĩ thử nhất môn, tức ưng thành Phật. Hà giả quan tâm. Cầu vu giải thoát. Đáp: Phu niệm Phật giả, đương tu chánh niệm. Liễu nghĩa vi chánh, bất liễu nghĩa vi tà. Chánh niệm tất đắc vãng sinh, tà niệm vân hà đáo bỉ tai. Phật giả, giác dã. Sở vị giác sát thân tâm, vật linh khởi ác dã. Niệm giả, ức dã. Sở vị ức trì giới hành, bất vong tinh tiến. Liễu như thị nghĩa. Danh chi vi niệm. Cố tri niệm tại vu tâm, phi tại vu ngôn. Nhân thuyên cầu ngư, đắc ngư vong thuyên. Nhân ngôn cầu ý, đắc ý vong ngôn. Kí xưng niệm Phật chi danh, tu tri niệm Phật chi đạo. Nhược tâm vô thật, khẩu tụng không danh, tam độc nội trăn, nhân ngã điền ức, tương vô minh tâm hướng ngoại cầu Phật, đồ nhĩ hư [phí] công. Thả như tụng chi dữ niệm, nghĩa lí huyền thù. Tại khẩu viết tụng. Tại tâm viết niệm. Cố tri niệm tòng tâm khởi, danh vi giác hành chi môn. Tụng tại khẩu trung, tức thị âm thanh chi tương. Chấp ngoại cầu lí, chung vô thị xử. Cố tri quá khứ chư Thánh sở tu niệm Phật, giai phi ngoại thuyết, chích thôi nội tâm. Tâm tức chúng thiện chi nguyên, tâm vi vạn đức chi chủ. Niết bàn thường nhạc do chân tâm sinh. Tam giới luân hồi diệc tòng tâm khởi. Tâm thị xuất thế chi môn hộ. Tâm thị giải thoát chi quan tân. Môn hộ giả, khởi lự nan nhập. Thức quan tân giả, hà ưu bất thông (đạt).問:如經說言.至心念佛,必得往生西方淨土.以此一門,即應成佛.何假觀心. 求於解脫.答:夫念佛者,當須正念.了義為正,不了義為邪.正念必得往生,邪念云何到彼哉.佛者,覺也.所謂覺察身心,勿令起惡也.念者,憶也.所謂憶持戒行,不忘精進.了如是義.名之為念.故知念在於心,非在於言.因筌求魚,得魚忘筌.因言求意,得意忘言.既稱念佛之名,須知念佛之道.若心無實,口誦空名,三毒內臻,人我填臆,將無明心向外求佛,徒爾虛(費)功.且如誦之與念,義理懸殊.在口曰誦.在心曰念.故知念從心起,名為覺行之門.誦在口中,即是音聲之相.執外求理,終無是處.故知過去諸聖所修念佛,皆非外說,只推內心.心即眾善之源,心為萬德之主.涅槃常樂由真心生.三界輪迴亦從心起.心是出世之門戶.心是解脫之關津.知門戶者,豈慮難入.識關津者,何憂不通(達).

Hỏi: Như kinh Ôn thất nói giảng, các vị tăng tắm rửa được vô số phước, tức là nhờ vào việc pháp (cách thức) này mới thành công đức. Nếu là quán tâm có thể tương ứng (ứng theo nhau được) không.

Đạt Ma đáp: Chúng tăng tắm rửa ấy chẳng phải việc [tắm rửa] thế gian có làm. Thế Tôn đã từng [coi như] vì các đệ tử giảng nói kinh Ôn thất, muốn (đệ tử) nhận giữ lấy pháp tắm rửa đấy. Ôn thất (căn nhà ấm áp) đó tức là thân mình. Bởi vậy đốt lửa trí tuệ, hâm nóng nước tịnh giới, tắm gội trong thân chân như Phật tánh, nhận giữ lấy bẩy pháp tự mình trang nghiêm.

Đương thời ngày trước Tỳ kheo (nhà sư) thông minh trí cao, đều tỏ ngộ ý Thánh tu hành như giảng nói, thành tựu công đức đều lên Thánh quả. Chúng sinh thời nay chẳng ai suy đoán việc đó, đem nước thế gian tẩy rửa thân chất trở ngại, tự nói y theo kinh, sao chẳng sai lầm. Vả lại Phật tánh chân như chẳng phải là hình thể phàm tục. Bụi bẩn phiền não xưa nay không có hình tướng, sao có thể đem chất nước trở ngại tẩy rửa thân vô vi. Việc chẳng tương ứng, nói thế nào là hiểu đạo. Nếu muốn thân được sạch, nên xét kỹ thân này, chính bởi vì tham muốn sanh ra chẳng sạch đó, dơ thối đầy dẫy, trong ngoài đầy tràn. Nếu tẩy rửa thân này cầu cho sạch ấy, giống như tẩy rửa vũng hố, hết vũng hố (thân) mới sạch. Lấy thử nghiệm đấy, sáng tỏ hiểu biết tẩy rửa bề ngoài chẳng phải Phật giảng nói. Cho nên là mượn việc đời, ví dụ gốc tích chân thật, tựa nói bẩy việc nuôi dưỡng công đức.

Việc đó có bẩy, nói bẩy việc nào. Một đó là nước sạch, hai là đốt lửa, ba là chậu rửa tay, bốn là cành dương, năm là tro sạch, sáu là dầu tía tô, bẩy là áo bên trong. Nêu ra bẩy việc này ví dụ cho bẩy pháp. Tất cả chúng sinh noi theo bẩy pháp này, tắm gội trang nghiêm, đạt tới trừ bỏ tâm độc vô minh dơ bẩn. Bẩy pháp đó là: Một ấy là tịnh giới, tẩy rửa mầm mống lỗi lầm sai trái, giống như nước sạch giặt rửa các bụi dơ. Hai ấy là trí tuệ, quan sát trong ngoài, giống như đốt lửa (trí tuệ) làm ấm nước sạch. Ba ấy là phân biệt, lược bỏ đi các xấu ác, giống như chậu rửa tay làm sạch trơn cáu bẩn. Bốn ấy là chân thật, cắt đứt các vọng tưởng, giống như cành dương làm mất đi hôi miệng. Năm ấy là chánh tín, quyết định không nghi ngờ, giống như tro sạch xoa thân che gió (lục trần). Sáu ấy là nhu hòa nhẫn chịu, giống như dầu tía tô thông nhuận lớp da. Bẩy ấy là hổ thẹn các ác nghiệp, giống như áo trong che dấu hình thể xấu xí. Bẩy pháp như trên là ý nghĩa bí mật ở trong kinh, (Phật) Như Lai đang lúc như thế, vì các đại thừa căn cơ tốt đẹp mà giảng nói, chẳng phải vì kẻ tầm thường trí thấp kém hèn mọn.

Vấn: như Ôn thất kinh thuyết. Tẩy dục chúng tăng, hoạch phúc vô lượng. Thử tắc bằng vu sự pháp, công đức thủy thành. Nhược vi quan tâm khả tương ứng hồ (phủ). Đáp: Tẩy dục chúng tăng giả, phi (tẩy) thế gian hữu vi sự dã. Thế tôn thường (đương nhĩ) vị chư đệ tử thuyết Ôn thất kinh, dục linh thụ trì tẩy dục chi pháp. Kì ôn thất giả, tức thân thị dã. Sở dĩ nhiên trí tuệ hỏa, ôn tịnh giới thang. Mộc dục thân trung chân như Phật tính. Thụ trì thất pháp dĩ tự trang nghiêm. Đương nhật bỉ khâu thông minh thượng trí, giai ngộ Thánh ý, như thuyết tu hành, công đức thành tựu, câu đăng Thánh quả. Kim thì chúng sinh mạc trắc kì sự, tương thế gian thủy, tẩy chất ngại thân, tự vị y kinh, khởi phi ngộ dã. Thả chân như Phật tính phi thị phàm hình, phiền não trần cấu bổn lai vô tương, khởi khả tương chất ngại thủy tẩy vô vi thân. Sự bất tương ứng, vân hà ngộ đạo. Nhược dục thân đắc tịnh giả, đương quan thử thân, bổn nhân tham dục bất tịnh sở sinh, xú uế biền điền, nội ngoại sung mãn. Nhược tẩy thử thân cầu vu tịnh giả, do như tẩy tiệm, tiệm tận phương tịnh. Dĩ thử nghiệm chi, minh tri tẩy ngoại phi Phật thuyết dã. Thị cố giả thế sự, bỉ dụ chân tông, ẩn thuyết thất sự cung dưỡng công đức. Kì thất sự vân hà. Nhất giả tịnh thủy, nhị giả nhiên hỏa, tam giả táo đậu, tứ giả dương chi, ngũ giả tịnh hôi, lục giả tô cao, thất giả nội y. Cử thử thất sự dụ vu thất pháp. Nhất thiết chúng sinh do thử thất pháp, mộc dục trang nghiêm, năng trừ độc tâm, vô minh cấu uế. Kì thất pháp giả. Nhất giả tịnh giới, tẩy đãng khiên phi, do như tịnh thủy trạc chư trần cấu. Nhị giả trí tuệ, quan sát nội ngoại, do như nhiên hỏa năng ôn tịnh thủy. Tam giả phân biệt, giản khí chư ác, do như táo đậu năng tịnh cấu nị. tứ giả chân thật, đoạn chư vọng tưởng, do như dương chi năng tiêu khẩu khí. Ngũ giả chánh tín, quyết định vô nghi, do như tịnh hôi, ma thân chướng phong. Lục giả nhu hòa, nhẫn nhục cam thụ, do như tô cao thông nhuận bì phu. Thất giả tàm quý, hối chư ác nghiệp, do như nội y già xú hình thể. Như thượng thất pháp thị kinh trung bí mật chi nghĩa, Như Lai đương nhĩ vi chư đại thừa lợi căn giả thuyết, phi vi thiểu trí hạ liệt phàm phu. 問:如溫室經說.洗浴眾僧, 獲福無量.此則憑於事法,功德始成.若為觀心可相應乎(否).答:洗浴眾僧者,非(洗)世間有為事也.世尊嘗(當爾)為諸弟子說溫室經,欲令受持洗浴之法.其溫室者,即身是也.所以燃智慧火,溫淨戒湯.沐浴身中真如佛性.受持七法以自莊嚴.當日比丘聰明上智,皆悟聖意,如說修行,功德成就,俱登聖果.今時眾生莫測其事,將世間水,洗質礙身,自謂依經,豈非誤也且真如佛性非是凡形,煩惱塵垢本來無相,豈可將質礙水洗無為身.事不相應,云何悟道.若欲身得淨者,當觀此身,本因貪欲不淨所生,臭穢駢闐,內外充滿.若洗此身求於淨者,猶如洗塹,塹盡方淨.以此驗之,明知洗外非佛說也.是故假世事,比喻真宗,隱說七事供養功德.其事有七.云何為七.一者淨水,二者燃火,三者澡豆,四者楊枝,五者淨灰,六者蘇膏,七者內衣.舉此七事喻於七法.一切眾生由此七法,沐浴莊嚴,能除毒心,無明垢穢.其七法者.一者淨戒,洗蕩愆非,猶如淨水濯諸塵垢.二者智慧,觀察內外,猶如燃火能溫淨水.三者分別,簡棄諸惡,猶如澡豆能淨垢膩.四者真實,斷諸妄想,猶如楊枝能消口氣.五者正信,決定無疑,猶如淨灰,摩身障風.六者柔和,忍辱甘受,猶如蘇膏通潤皮膚.七者慚愧,悔諸惡業,猶如內衣遮醜形體.如上七法是經中祕密之義,如來當爾為諸大乘利根者說,非為少智下劣凡夫. Tịnh giới: giới hạnh trong sạch yên tịnh. Bẩy pháp có thể là: Tịnh giới, Trí tuệ, Phân biệt, Chân thật, Chánh tín, Nhẫn, Tàm quý. Ngoài ra còn bẩy pháp Thất giác chi (Thất Bồ đề) là bảy Bồ đề phần, là nhóm thứ sáu trong 37 Bồ đề phần: Trạch pháp (cách thức phân tích, phân biệt), Tinh tiến (tinh thông tiến tới), Hỷ (vui vẻ), Khinh an (nhẹ nhàng yên ổn), Niệm (ý niệm), Định (yên định), Xả (buông xả).

Bởi vậy người thời nay không có tài hiểu rõ, thời nay thấy biết vụng về nông cạn, chỉ biết kén chọn công sức việc làm, phí phạm nhiều tiền của, đất nước nhiều tổn hại, viễn vông xây dựng tòa tháp hình tượng, công việc nặng nhọc người làm việc suy nhược, chất chứa gỗ đất bùn, vạch viền vẽ xanh đỏ, hết sức tận tâm, tổn hại mình mê hoặc người, chưa biết hổ thẹn, đã từng [biết] tỉnh ngộ hiểu ra đâu. Thấy có làm thì ham thích cần cù chăm chỉ ái mộ, giảng nói không làm thì ngớ ngẩn lơ mơ như mê mờ. Đời hiện nay vừa tham (nhiều) mà ít hiền từ, đâu hiểu ra về sau đang đi tới khổ lớn. Đối với tu học này, chỉ có tự mình nhọc (tâm) mệt (trí), quay lưng chánh theo về tà, [lừa dối] ai nói được phúc. Chỉ có thể thu lấy tâm soi chiếu bên trong, sáng tỏ hiểu ra xét kỹ bên ngoài, dứt hết (tâm) ba độc mãi mãi khiến cho tan mất hết, đóng cửa sáu giặc làm cho không xâm chiếm nhiễu loạn, tự nhiên vô số công đức, mọi sự trang nghiêm, vô số pháp môn, tất cả đều thành tựu, vượt phàm chứng Thánh, tự mắt trông thấy chẳng phải xa dài. Tỏ ngộ trong giây lát, sao mà phiền não bạc đầu. Cửa chân thật sâu kín, lẽ nào có thể bày tỏ đủ, nói sơ lược quán tâm, nói đó [rõ] vài phần. Ta nói lời kệ:

Ta vốn cầu tâm tâm tự giữ,

Cầu tâm chẳng được đợi tâm tri

Phật tánh chẳng từ ngoài tâm được

Tâm sanh liền lúc đó sanh tội,

Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật.

Biết rõ ba cõi rỗng không vật.

Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm,

Chỉ ngay tâm này tâm là Phật.

Sở dĩ kim nhân vô năng giải ngộ, thiết kiến kim thì thiển thức.Duy tri sự tương vi công, quảng phí tài bảo, đa thương thủy lục, vọng doanh tượng tháp. Hư dịch nhân phu, tích mộc điệp nê, đồ thanh họa duyến. Khuynh tâm tận lực, tổn kỷ mê tha, vị giải tàm quý, hà tằng giác ngộ (tri). Kiến hữu vi tắc cần cần ái trứ, thuyết vô vi tắc ngột ngột như mê. Thả tham hiện thế chi tiểu từ, khởi giác đương lai chi đại khổ. Thử chi tu học, đồ tự bì lao, bối chánh quy tà, thùy (thùy) ngôn hoạch phúc. Đãn năng nhiếp tâm nội chiếu, giác quan ngoại minh. Tuyệt tam độc vĩnh sử tiêu vong. Bế lục tặc bất lệnh xâm nhiễu. Tự nhiên hằng sa công đức, chủng chủng trang nghiêm. Vô sổ pháp môn, nhất nhất thành tựu. Siêu phàm chứng thánh, mục kích phi diêu. Ngộ tại tu du, hà phiền hạo thủ. Chân môn u bí, ninh khả cụ trần.Lược thuật quan tâm, thuyết (tường) kì thiểu phân. Nhi thuyết kệ ngôn: Ngã bổn cầu tâm tâm tự trì, cầu tâm bất đắc đãi tâm tri. Phật tính bất tòng tâm ngoại đắc, tâm sinh tiện thị tội sinh thì. Ngã bổn cầu tâm bất cầu Phật, liễu tri tam giới không vô vật. Nhược dục cầu Phật đãn cầu tâm, chích giá tâm tâm tâm thị Phật.所以今人無能解悟,竊見今時淺識. 唯知事相為功,廣費財寶,多傷水陸,妄營像塔.虛役人夫,積木疊泥,圖青畫緣.傾心盡力,損己迷他,未解慚愧,何曾覺悟(知).見有為則勤勤愛著,說無為則兀兀如迷.且貪現世之小慈,豈覺當來之大苦.此之修學,徒自疲勞,背正歸邪,誰(誑)言獲福.但能攝心內照,覺觀外明.絕三毒永使銷亡.閉六賊不令侵擾.自然恒沙功德,種種莊嚴.無數法門,一一成就.超凡證聖,目擊非遙.悟在須臾,何煩皓首.真門幽祕,寧可具陳.略述觀心,說(詳)其少分.而說偈言:我本求心心自持,求心不得待心知.佛性不從心外得,心生便是罪生時.我本求心不求佛,了知三界空無物.若欲求佛但求心,只這心心心是佛. Vũ Đế hỏi Bồ đề Đạt Ma: Trẫm từ lên ngôi đến nay xây đền chùa, chép kinh giúp đỡ tăng ni không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?. Đạt Ma đáp: Không có công đức. Vũ Đế hỏi: Tại sao không công đức. Đạt Ma nói: Vì những việc vua làm là nhân quả hữu lậu (nhân quả phiền não), chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân quả, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật. Vũ Đế hỏi :Vậy công đức chân thật là gì?. Đạt Ma đáp: Trí phải được hoàn toàn thanh tịnh. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, công đức này không thể lấy việc của thế gian mà cầu tìm được.

 NGỘ TÁNH LUẬN

Nói chung đạo ấy là lấy tịch diệt làm thể. Tu lấy ấy là lìa tan hình tướng làm chủ. Cho nên kinh (Duy Ma Cật) nói: Tịch diệt là Bồ đề, vì diệt các hình tướng. Phật ấy là giác ngộ, người có tâm giác ngộ được đạo Bồ đề, cho nên danh hiệu là Phật. Kinh (Kim Cang) nói: Lìa tan tất cả các tướng, tức là danh hiệu các vị Phật. Phải biết tướng có là tướng không rồi (hai tướng) qua lại lẫn nhau (có rồi không). Không thể lấy mắt thấy, chỉ có thể lấy trí hiểu biết. Nếu nghe pháp này sanh một ý niệm tâm tin tưởng, người này bắt đầu theo đại thừa, thì mới vượt qua ba cõi. Ba cõi này là Tham Sân Si, phản ngược Tham Sân Si là Giới Định Tuệ, tức gọi là vượt qua ba cõi. Như thế tham sân si cũng không có thật tánh, chỉ căn cứ vào chúng sinh mà nói như vậy. Năng lực phản chiếu hiểu rõ thấy hết, tham sân si tánh chính là Phật tánh. Ngoài tham sân si hoàn toàn không có Phật tánh nào khác. Kinh rằng: Các vị Phật từ xưa nay, thường nhờ ở chỗ ba độc, nuôi dưỡng cho pháp trắng sáng mãi mà thành đến Thế Tôn. Ba độc ấy là tham sân si. Nói đại thừa, tối thượng thừa, đều là điều Bồ tát đem ra làm đến nơi, không nơi nào chẳng thừa, cũng chẳng có chỗ nào (để) thừa. Suốt ngày thừa (mà) chưa từng thừa, đó là Phật thừa. Kinh rằng: Vô thừa là Phật thừa. Nếu người nào biết sáu căn chẳng thật, năm uẩn giả danh, khắp cả thể tìm đến, chắc chắn không có xác định ở nơi nào, người này đang hiểu rõ Phật nói.

Kinh (Pháp cú) nói: Hang hốc nhà ở năm uẩn gọi là thiền viện. Soi chiếu bên trong mở ra hiểu biết tức là cửa (then chốt) đại thừa. Không nhớ tất cả pháp, thì mới gọi là thiền định. Nếu hiểu rõ lời nói này, đi đứng nằm ngồi đều là thiền định. Biết tâm là không gọi là thấy Phật. Lý do vì sao, các vị Phật mười phương đều vì không có tâm, chẳng thấy vì tâm, gọi là thấy Phật. Xả tâm không hối tiếc gọi là đại bố thí, lìa các động định gọi là đại tọa thiền. Lý do vì sao. Kẻ phàm một hướng động. Tiểu thừa một hướng định. Cho là vượt hơn kẻ phàm tiểu thừa đi tới ngồi thiền, gọi là đại tọa thiền. Nếu khởi lên hiểu biết như thế ấy, tất cả các hình tướng chẳng tách lìa tự tiêu tan, tất cả các bệnh chẳng sửa trị tự giảm bớt, «lực đại thiền định này đều là».

Phu đạo giả, dĩ tịch diệt vi thể. Tu giả, dĩ li tương vi tông. Cố kinh vân: Tịch diệt thị Bồ đề.Diệt chư tương cố. Phật giả, giác dã. Nhân hữu giác tâm, đắc Bồ đề đạo, cố danh vi Phật. Kinh vân: Li nhất thiết chư tương, tức danh chư Phật. Thị tri hữu tướng thị vô tướng chi tương. Bất khả dĩ nhãn kiến, duy khả dĩ trí tri. Nhược văn thử pháp giả, sinh nhất niệm tín tâm, thử nhân dĩ phát đại thừa, nãi siêu tam giới. Tam giới giả, tham sân si thị. Phản tham sân si, vi giới định tuệ, tức danh siêu tam giới. Nhiên tham sân si diệc vô thật tính, đãn cư chúng sinh nhi ngôn hĩ. Năng phản chiếu liễu liễu kiến, tham sân si tính tức thị Phật tính. Tham sân si ngoại canh vô biệt hữu Phật tính. Kinh vân: chư Phật tòng bổn lai, thường xử vu tam độc, trường dưỡng vu bạch pháp, nhi thành vu Thế Tôn. Tam độc giả, tham sân si dã. Ngôn đại thừa, tối thượng thừa giả, giai Bồ tát sở hành chi xử dã. Vô sở bất thừa, diệc vô sở thừa, chung nhật thừa vị thường thừa, thử vi phật thừa. Kinh vân: Vô thừa vi Phật thừa dã. Nhược nhân tri lục căn bất thật, ngũ uẩn giả danh, biến thể cầu chi, tất vô định xử, đương tri thử nhân giải Phật ngữ. Kinh vân: Ngũ uẩn quật trạch, thị danh thiện viện. Nội chiếu khai giải tức đại thừa môn. Bất ức nhất thiết pháp, nãi danh vi thiền định. Nhược liễu thử ngôn giả, hành trụ tọa ngọa giai thị thiền định. Tri tâm thị không, danh vi kiến Phật. Hà dĩ cố. Thập phương chư Phật giai dĩ vô tâm bất kiến vu tâm, danh vi kiến Phật. Xá tâm bất lận, danh đại bố thi. Li chư động định, danh đại tọa thiền. Hà dĩ cố. Phàm phu nhất hướng động. Tiểu thừa nhất hướng định. Vị xuất quá phàm phu tiểu thừa chi tọa thiền, danh đại tọa thiền. Nhược tác thử hội giả, nhất thiết chư tương bất li tự giải. Nhất thiết chư bệnh bất trì tự soa, «thử giai đại thiền định lực».夫道者,以寂滅為體. 修者,以離相為宗.故經云:寂滅是菩提.滅諸相故.佛者,覺也.人有覺心,得菩提道,故名為佛.經云:離一切諸相,即名諸佛.是知有相是無相之相.不可以眼見,唯可以智知.若聞此法者,生一念信心,此人以發大乘,乃超三界.三界者,貪嗔癡是.返貪嗔癡,為戒定慧,即名超三界.然貪嗔癡亦無實性,但據眾生而言矣.能返照了了見,貪嗔癡性即是佛性.貪嗔癡外更無別有佛性.經云:諸佛從本來,常處於三毒,長養於白法,而成於世尊.三毒者,貪嗔癡也.言大乘,最上乘者,皆菩薩所行之處也.無所不乘,亦無所乘,終日乘未嘗乘,此為佛乘.經云:無乘為佛乘也.若人知六根不實,五蘊假名,遍體求之,必無定處,當知此人解佛語.經云:五蘊窟宅,是名禪院.內照開解即大乘門.不憶一切法,乃名為禪定.若了此言者,行住坐臥皆是禪定.知心是空,名為見佛.何以故.十方諸佛皆以無心不見於心,名為見佛.捨心不吝,名大布施.離諸動定,名大坐禪.何以故.凡夫一向動.小乘一向定.謂出過凡夫小乘之坐禪,名大坐禪.若作此會者,一切諸相不離自解.一切諸病不治自差,此皆大禪定力. Thừa là cỗ xe, thuyền bè chuyên chở. Tiểu thừa là cỗ xe nhỏ, tu chở một mình. Đại thừa là cỗ xe lớn, tu độ mình và độ người. Phật thừa chẳng độ ai mà độ cho tất cả. Tất cả chúng sinh nếu hiểu rõ Phật pháp, tự tu tự độ thì tức là chẳng độ ai mà độ tất cả. Thị tri hữu tướng thị vô tướng chi tương. Tạm dịch: Phải biết tướng có là tướng không rồi (hai tướng có và không) qua lại lẫn nhau. Tướng có là hình dạng, mầu sắc, tướng không không hình dạng, mầu sắc. Kinh Duy Ma Cật: Chỉ có chúng sinh ở chốn bùn lầy phiền não mới có thể phát khởi Phật pháp. Kinh Duy Ma Cật: Cũng như hạt giống đem bỏ giữa hư không chẳng bao giờ có thể nảy mầm, đem vùi trong đất phân mới có thể tươi tốt. Cho nên phải biết rằng, tất cả phiền não đều là chủng tánh của (Phật) Như Lai. Kinh Kim Cang: Bồ Tát còn thấy có mình độ (thừa) và chúng sanh được độ, tức là Bồ Tát còn chấp bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thì không phải là Bồ Tát. Nhất thiết chư bệnh bất trị tự sái, thử giai đại thiền định lực. Bệnh không sửa trị được, không tự giảm bớt thì không thể là đại tọa thiền định lực. Câu này chỉ có thể ở đoạn văn sau.

Lực đại thiền định này đều là: Nói chung đem tâm cầu pháp ấy là mê, chẳng đem tâm cầu pháp ấy là ngộ. Chẳng vướng mắc văn tự gọi là giải thoát, chẳng nhiễm sáu trần gọi là hộ pháp (giữ gìn Phật pháp). Tách rời ra ngoài sinh tử gọi là xuất gia, chẳng thụ nhận có về sau tên gọi là đắc đạo. Chẳng sinh ra vọng tưởng gọi là Niết bàn, chẳng xử (ở nơi) vô minh là đại trí tuệ. Nơi không có phiền não gọi là vui Niết bàn, nơi [tâm] không có hình tướng gọi là bờ bên kia. Mê thì có bờ này, ngộ thì không bờ này. Lý do vì sao, làm kẻ phàm một hướng trụ bên này. Nếu người giác ngộ tối thượng thừa, tâm chẳng trụ bên này, cũng chẳng trụ bên kia, cho nên đạt tới lìa tan đối với bờ này bờ kia. Nếu thấy bờ kia khác đối với bờ này, người này đối với tâm đã không có [được] thiền định. Phiền não gọi là chúng sinh, tiêu tan (phiền não) tỉnh ngộ gọi là Bồ đề. Chẳng là một cũng chẳng khác lạ, chỉ ngăn cách tai đó nghe mê ngộ. Mê thì có thế gian có thể rời bỏ, ngộ thì không thế gian có thể rời bỏ. Trong pháp bình đẳng không thấy kẻ phàm khác với Thánh nhân. Kinh rằng: Pháp bình đẳng này, kẻ phàm không thể vào, Thánh nhân không thể làm ra. Pháp bình đẳng đó, chỉ có đại Bồ tát cùng các vị Phật Như Lai làm ra (pháp bình đẳng). Nếu thấy sinh khác với tử, động khác với tĩnh, đều gọi là chẳng bình đẳng. Không thấy phiền não khác với Niết bàn, phải gọi là bình đẳng. Lý do vì sao, vì phiền não với Niết bàn cùng một gốc tánh không.

Do đó mà người Tiểu thừa sằng bậy cắt đứt phiền não, viễn vông vào Niết bàn, làm nơi Niết bàn ngừng trệ. Bồ Tát biết phiền não tánh không, tức là chẳng lìa không, cho nên thường ở tại Niết bàn. Niết bàn này, Niết mà chẳng sinh, Bàn mà chẳng tử, lìa bỏ sinh tử gọi là Bàn Niết bàn. Tâm không khứ lai (quá khứ, vị lai) tức là vào Niết bàn. Phải biết Niết bàn chính là tâm không. Các vị Phật vào Niết bàn chính là nơi không có vọng tưởng, Bồ Tát vào đạo trường chính là nơi không có phiền não. Nơi an nhàn rỗng không chính là không có tham sân si. Tham là cõi dục, sân là cõi sắc, si là cõi vô sắc. Nếu một niệm tâm sinh thì vào ba cõi. Một niệm tâm diệt thì ra ngoài ba cõi. Phải biết ba cõi sanh diệt, muôn pháp có không đều do một tâm.

Thử giai đại thiền định lực. Phàm tương tâm cầu pháp giả vi mê, bất tương tâm cầu pháp giả vi ngộ. Bất trứ văn tự danh giải thoát, bất nhiễm lục trần danh hộ pháp. Xuất li sinh tử danh xuất gia. Bất thụ hậu hữu danh đắc đạo. Bất xử vô minh vi đại trí tuệ. Vô phiền não xử danh bàn Niết bàn. Vô (tâm) tương xử danh vi bỉ ngạn. Mê thì hữu thử ngạn, ngộ thì vô thử ngạn. Vi phàm phu nhất hướng trụ thử. Nhược giác tối thượng thừa giả, tâm bất trụ thử, diệc bất trụ bỉ, cố năng li vu thử bỉ ngạn dã. Nhược kiến bỉ ngạn dị vu thử ngạn, thử nhân chi tâm, dĩ (đắc) vô thiền định. Phiền não danh chúng sinh, ngộ giải danh Bồ đề. Diệc bất nhất bất dị. Chích cách kì mê ngộ nhĩ. Mê thì hữu thế gian khả xuất, ngộ thì vô thế gian khả xuất. Bình đẳng pháp trung bất kiến phàm phu dị vu Thánh nhân. Kinh vân: Bình đẳng pháp giả, phàm phu bất năng nhập, Thánh nhân bất năng hành. Bình đẳng pháp giả, duy đại Bồ tát dữ chư Phật Như Lai hành dã. Nhược kiến sinh dị vu tử, động dị vu tĩnh, giai danh bất bình đẳng. Bất kiến phiền não dị vu Niết bàn, thị danh bình đẳng. Hà dĩ cố. Phiền não dữ Niết bàn, đồng thị nhất tính không cố. Thị dĩ tiểu thừa nhân vọng đoạn phiền não, vọng nhập Niết bàn, vi Niết bàn sở trệ. Bồ tát tri phiền não tính không, tức bất li không, cố thường tại Niết bàn. Niết bàn giả, Niết nhi bất sinh, Bàn nhi bất tử. Xuất li sinh tử danh bàn Niết Bàn.. Thị tri Niết bàn tức thị không tâm. Chư Phật nhập Niết bàn giả, tức thị vô vọng tưởng xử. Bồ tát nhập đạo tràng giả, tức thị vô phiền não xử. Không nhàn xử giả, tức thị vô tham sân si dã. Tham vi dục giới, sân vi sắc giới, si vi vô sắc giới. Nhược nhất niệm tâm sinh, tức nhập tam giới. Nhất niệm tâm diệt, tức xuất tam giới. Thị tri tam giới sinh diệt, vạn pháp hữu vô, giai do nhất tâm. 此皆大禪定力.凡將心求法者為迷,不將心求法者為悟.不著文字名解脫,不染六塵名護法.出離生死名出家.不受後有名得道.不生妄想名涅槃.不處無明為大智慧.無煩惱處名般涅槃.無(心)相處名為彼岸.迷時有此岸,悟時無此岸.何以故.為凡夫一向住此.若覺最上乘者,心不住此,亦不住彼,故能離於此彼岸也.若見彼岸異於此岸,此人之心,已(得)無禪定.煩惱名眾生,悟解名菩提.亦不一不異.只隔其迷悟耳.迷時有世間可出,悟時無世間可出.平等法中不見凡夫異於聖人.經云:平等法者,凡夫不能入,聖人不能行.平等法者,唯大菩薩與諸佛如來行也.若見生異於死,動異於靜,皆名不平等.不見煩惱異於涅槃,是名平等.何以故.煩惱與涅槃,同是一性空故.是以小乘人妄斷煩惱,妄入涅槃,為涅槃所滯.菩薩知煩惱性空,即不離空,故常在涅槃.涅槃者,涅而不生,槃而不死.出離生死名般涅槃.心無去來,即入涅槃.是知涅槃即是空心.諸佛入涅槃者,即是無妄想處.菩薩入道場者,即是無煩惱處.空閑處者,即是無貪嗔癡也.貪為欲界,嗔為色界,癡為無色界.若一念心生,即入三界.一念心滅,即出三界.是知三界生滅, 萬法有無, 皆由一心. Bàn Niết bàn, Bát Niết bàn (Parinirvāṇa): Tịch diệt đồng nghĩa với Niết bàn, Niết bàn vô dư.

Hễ nói một tâm ấy giống như phá vỡ gạch cây gỗ đá ấy là vật chất vô tình. Nếu biết tâm là giả danh không có thực thể, tức là tự biết tịch lặng của tâm. Đó cũng chẳng phải có, đó cũng chẳng phải không có. Cớ vì sao, kẻ phàm hướng về một tâm sanh gọi là có. Tiểu thừa hướng về một tâm diệt gọi là không có. Phật và Bồ Tát chưa từng sanh tâm, chưa từng diệt tâm, gọi đó là chẳng phải có, chẳng phải không có tâm. Chẳng phải có chẳng phải không có tâm, thế gọi là trung đạo. Phải biết đem tâm học pháp thì tâm và pháp đều mê. Chẳng đem tâm học pháp thì tâm và pháp đều tỏ ngộ. Nói chung mê ấy là mê đối với ngộ. Ngộ ấy là ngộ đối với mê. Người mà chánh kiến, biết tâm hư hão không có, tức là vượt qua mê ngộ. Không có mê ngộ, thì mới gọi là chánh giải chánh kiến (hiểu rõ đúng, thấy đúng).

Sắc chẳng tự là sắc, do tâm cho nên là sắc. Tâm chẳng tự là tâm, do sắc cho nên là tâm. Phải biết tâm, sắc hai tướng đều có sanh diệt. Có ấy là có đối với không có. Không ấy là không có đối với có, đó gọi là chân kiến (thấy chân thật). Người mà chân kiến, không chỗ nào chẳng thấy, cũng không thấy có chỗ nào. Thấy khắp mười phương mà chưa từng thấy có. Lý do vì sao, vì không có gì là thấy, thấy vì không có thấy, thấy chẳng phải vì thấy. Thấy ở nơi kẻ phàm đều gọi là vọng tưởng. Nếu tịch diệt không thấy mới gọi là chân kiến. Tâm cảnh đối nhau, sinh ra đang vào lúc thấy. Nếu trong chẳng khởi tâm, thì ngoài chẳng sinh cảnh. Cho nên tâm cảnh đều yên tịnh, mới gọi là chân kiến. Lúc khởi lên hiểu rõ như vậy, mới gọi là chánh kiến. Chẳng thấy tất cả pháp, mới gọi là đắc đạo. Chẳng hiểu tất cả pháp, mới gọi là hiểu pháp. Lý do vì sao, thấy với chẳng thấy, đều vì chẳng thấy. Hiểu với chẳng hiểu, đều vì chẳng hiểu. Không thấy mà thấy, mới gọi là chân kiến. Không hiểu mà hiểu mới gọi là chân giải (hiểu thật).

Nói chung chân kiến ấy, chẳng phải thấy ngay do thấy, cũng chỉ là thấy đối với chẳng thấy. Chân giải ấy, chẳng phải hiểu ngay do hiểu, cũng chỉ là hiểu đối với chẳng hiểu. Nói chung có điều gì hiểu đều gọi là chẳng hiểu. Không có điều gì hiểu ấy mới thật gọi là hiểu. Hiểu và chẳng hiểu, đều chẳng phải (thật) hiểu . Kinh rằng: Chẳng xả bỏ trí gọi là ngu si. Lấy tâm là không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là chân thật. Lấy tâm là có, hiểu cùng chẳng hiểu đều là sai bậy. Nếu lúc hiểu rõ, pháp đuổi theo người. Nếu lúc không hiểu rõ, người đuổi theo pháp. Nếu pháp đuổi theo vì người, thì pháp sai thành pháp (đúng). Nếu người đuổi theo vì pháp, thì pháp (đúng) thành pháp sai. Nếu người đuổi theo vì pháp, thì tất cả pháp sai bậy. Nếu pháp đuổi theo vì người, thì tất cả pháp chân thật.

Phàm ngôn nhất tâm giả, tựa phá ngõa thạch trúc mộc vô tình chi vật. Nhược tri tâm thị giả danh vô hữu thật thể, tức tri tự tịch chi tâm, diệc thị phi hữu, diệc thị phi vô. Hà dĩ cố. Phàm phu nhất hướng sinh tâm, danh vi hữu. Tiểu thừa nhất hướng diệt tâm, danh vi vô. Bồ tát dữ Phật vị tằng sinh tâm, vị tằng diệt tâm, danh vi phi hữu phi vô tâm. Phi hữu phi vô tâm, thử danh vi trung đạo. Thị tri tương tâm học pháp, tắc tâm pháp câu mê. Bất tương tâm học pháp, tắc tâm pháp câu ngộ. Phàm mê giả, mê vu ngộ. Ngộ giả, ngộ vu mê. Chánh kiến chi nhân, tri tâm không vô, tức siêu mê ngộ. Vô hữu mê ngộ, thủy danh chánh giải chánh kiến. Sắc bất tự sắc, do tâm cố sắc. Tâm bất tự tâm, do sắc cố tâm. Thị tri tâm sắc lưỡng tương câu hữu sinh diệt. Hữu giả, hữu vu vô. Vô giả, vô vu hữu. Thị danh chân kiến. Phu chân kiến giả, vô sở bất kiến, diệc vô sở kiến. Kiến mãn thập phương, vị tằng hữu kiến. Hà dĩ cố. Vô sở kiến cố, kiến vô kiến cố, kiến phi kiến cố. Phàm phu sở kiến, giai danh vọng tưởng. Nhược tịch diệt vô kiến, thủy danh chân kiến. Tâm cảnh tương đối, kiến sinh vu trung. Nhược nội bất khởi tâm, tắc ngoại bất sinh cảnh. Cố tâm cảnh câu tịnh, nãi danh vi chân kiến. Tác thử giải thì, nãi danh chánh kiến. Bất kiến nhất thiết pháp, nãi danh đắc đạo. Bất giải nhất thiết pháp, nãi danh giải pháp. Hà dĩ cố. Kiến dữ bất kiến, câu bất kiến cố. Giải dữ bất giải, câu bất giải cố. Vô kiến chi kiến, nãi danh chân kiến. Vô giải chi giải, nãi danh chân giải. Phu chân kiến giả, phi trực kiến vu kiến, diệc nãi kiến vu bất kiến. Chân giải giả, phi trực giải vu giải, diệc nãi giải vu bất giải. Phàm hữu sở giải, giai danh bất giải. Vô sở giải giả, thủy danh chân giải. Giải dữ bất giải, câu phi giải dã. Kinh vân: Bất xá trí tuệ danh ngu si. Dĩ tâm vi không, giải dữ bất giải câu thị chân. Dĩ tâm vi hữu, giải dữ bất giải câu thị vọng. Nhược giải thì, pháp trục nhân. Nhược bất giải thì, nhân trục pháp. Nhược pháp trục vu nhân, tắc phi pháp thành pháp. Nhược nhân trục vu pháp, tắc pháp thành phi pháp. Nhược nhân trục vu pháp, tắc pháp giai vọng. Nhược pháp trục vu nhân, tắc pháp giai chân.凡言一心者, 似破瓦 石竹木無情之物.若知心是假名無有實體,即知自寂之心,亦是非有,亦是非無.何以故.凡夫一向生心,名為有.小乘一向滅心,名為無.菩薩與佛未曾生心,未曾滅心,名為非有非無心.非有非無心,此名為中道.是知將心學法,則心法俱迷.不將心學法,則心法俱悟.凡迷者,迷於悟.悟者,悟於迷.正見之人,知心空無,即超迷悟.無有迷悟,始名正解正見.色不自色,由心故色.心不自心,由色故心.是知心色兩相俱有生滅.有者,有於無.無者,無於有.是名真見.夫真見者, 無所不見, 亦無所見.見滿十方,未曾有見.何以故. 無所見故, 見無見故, 見非見故.凡夫所見, 皆名妄想. 若寂滅無見, 始名真見.心境相對, 見生於中. 若內不起心, 則外不生境. 故心境俱淨, 乃名為真見. 作此解時, 乃名正見.不見一切法, 乃名得道. 不解一切法, 乃名解法.何以故. 見與不見, 俱不見故. 解與不解, 俱不解故. 無見之見,乃名真見.無解之解,乃名真解.夫真見者,非直見於見,亦乃見於不見.真解者,非直解於解,亦乃解於不解.凡有所解,皆名不解.無所解者,始名真解.解與不解,俱非解也.經云:不捨智(慧)名愚癡.以心為空,解與不解俱是真.以心為有,解與不解俱是妄.若解時,法逐人.若不解時,人逐法.若法逐於人,則非法成法.若人逐於法,則法成非法.若人逐於法,則法皆妄.若法逐於人,則法皆真. Chân kiến, Chánh kiến: Thấy hiểu ngay thẳng chân thật vào cội nguồn của các sự vật, các pháp hữu hình và vô hình. Thấy hiểu này là trí tuệ cao nhất, nhìn thấy sự thật cuối cùng của sự vật, thấy cội nguồn sự vật đúng là như thế. Kiến cũng là nơi chỗ hiểu tới, hiểu tới chỗ. Có hai loại thấy. 1.Phàm Kiến: kiến thức về một sự tích lũy của trí hiểu biết thông thường. 2.Chánh kiến: hiểu rõ sự thật sâu xa từ cội nguồn phát sinh ra sự vật, nghĩa là nhìn thấy, hiểu đúng bản chất của sự vật, không theo tên gọi hay hình thức bề ngoài. Kinh Kim cang: Đức Phật hỏi: Tu Bồ Ðề, Như Lai có nhục nhãn, có thiên nhãn, có tuệ nhãn, có pháp nhãn, có Phật nhãn không. Tất cả mọi người đều có năm loại mắt, vì mê nên không tự thấy, trừ bỏ tâm mê thì năm mắt mở sáng. Mắt thứ nhất Nhục nhãn (mắt thịt) là mỗi niệm tu hành pháp Bát nhã Ba la mật để trừ tâm mê. Mắt thứ hai Thiên nhãn là thấy tất cả chúng sinh đều có tánh Phật. Mắt thứ ba Tuệ nhãn là tâm không sanh ngu si, trừ bỏ tâm chấp các pháp. Mắt thứ tư Pháp nhãn là dứt hết tất cả phiền não. Mắt thứ năm Phật nhãn là thấy Pháp thân trong Sắc thân, thấy tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Kinh Bát Nhã: Vô trí diệc vô đắc: Không có trí cũng không có chứng đắc.

Do đó Thánh nhân đã chẳng đem tâm cầu pháp, cũng chẳng đem pháp cầu tâm, cũng chẳng đem tâm cầu tâm, cũng chẳng đem pháp cầu pháp. Cho nên tâm chẳng sinh pháp, pháp chẳng sinh tâm. Tâm và pháp đôi bên tịch lặng, cho nên thường là ở tại định (yên định). Tâm chúng sinh sanh thì Phật pháp diệt, tâm chúng sinh diệt thì Phật pháp sanh. Tâm sanh thì chân pháp diệt, tâm diệt thì chân pháp sanh. Đã biết tất cả các pháp chẳng nối liền lẫn nhau, đó gọi là người đắc đạo. Biết tâm chẳng nối liền tất cả pháp, người này thường ở tại đạo tràng. Khi mê có tội, lúc hiểu rõ (thì) không tội. Lý do vì sao, vì tội lỗi tánh không. Lúc mê không tội thấy (có) tội, nếu lúc hiểu rõ tội tức là không có tội. Lý do vì sao, vì tội lỗi không có ở nơi nào. Kinh rằng: Các pháp không có tánh, thật dùng chớ nghi, nghi tức thành tội. Lý do vì sao. Tội dựa vào nghi ngờ mà sinh ra. Nếu khởi lên hiểu rõ chỗ này, tội lỗi đời trước tức thì bị tiêu diệt. Khi mê năm ấm (ngũ uẩn) sáu thức đều là pháp sinh tử phiền não. Lúc tỏ ngộ năm ấm sáu thức đều là pháp Niết bàn không sinh tử. Người mà tu đạo chẳng cầu tìm đạo bên ngoài. Lý do vì sao. Biết tâm là đạo, nếu lúc được tâm, không có tâm nào có thể được. Nếu lúc được đạo, không có đạo nào có thể được. Nếu nói đem tâm cầu đắc đạo ấy đều gọi là tà kiến. Lúc mê có Phật có pháp, tỏ ngộ không Phật không pháp. Lý do vì sao. Tỏ ngộ chính là Phật pháp.

Nói chung người tu đạo hễ thân mất thì đạo thành, cũng như nứt vỏ (hạt) sinh ra (cây). Nghiệp báo thân này niệm niệm vô thường, không có pháp nào nhất định. Chỉ tùy theo niệm niệm mà tu, cũng chẳng được chán ghét sinh tử, cũng chẳng được yêu thích sinh tử. Chỉ bên trong niệm niệm đó đều chẳng vọng tưởng, chính là sống chứng Hữu dư Niết bàn, chết vào Vô sanh pháp nhẫn. Lúc mắt thấy sắc chẳng nhiễm vì sắc, lúc tai nghe tiếng chẳng nhiễm vì âm thanh, đều là giải thoát. Mắt chẳng bị (nhiễm) sắc, mắt là cửa thiền, tai chẳng bị (nhiễm) âm thanh, tai là cửa thiền. Tổng quát mà nói đến. Thấy sắc tánh ấy là thường giải thoát, thấy sắc tướng ấy là thường (bị) trói buộc. Chẳng để cho phiền não trói buộc tức gọi là giải thoát. Hoàn toàn không có giải thoát nào khác. Người khéo giỏi quan sát sắc, sắc chẳng sinh ra ở tâm, tâm chẳng sinh ra vì sắc, thì sắc với tâm đều thanh tịnh. Lúc không có vọng tưởng, mỗi tâm là một nước Phật. Lúc có vọng tưởng, mỗi tâm là một địa ngục. Chúng sinh khởi lên tạo ra vọng tưởng, lấy tâm sinh tâm cho nên thường ở tại địa ngục. Bồ Tát xem xét kỹ vọng tưởng, chẳng lấy tâm sinh tâm cho nên thường ở tại nước Phật. Nếu chẳng lấy tâm sinh tâm, thì tâm tâm vào hư không, niệm niệm về yên tĩnh, từ một nước Phật đến một nước Phật. Nếu lấy tâm sinh tâm, thì tâm tâm chẳng yên tĩnh, niệm niệm về động, từ một địa ngục qua một địa ngục. Nếu một niệm tâm khởi lên thì có hai nghiệp thiện ác, có thiên đường địa ngục. Nếu một niệm tâm chẳng khởi lên, thì không có hai nghiệp thiện ác, cũng không có thiên đường địa ngục.

Thị dĩ Thánh nhân diệc bất tương tâm cầu pháp, diệc bất tương pháp cầu tâm, diệc bất tương tâm cầu tâm, diệc bất tương pháp cầu pháp. Sở dĩ tâm bất sinh pháp, pháp bất sinh tâm. Tâm pháp lưỡng tịch, cố thường vi tại định. Chúng sinh tâm sinh tắc Phật pháp diệt, chúng sinh tâm diệt tắc Phật pháp sinh. Tâm sinh tắc chân pháp diệt, tâm diệt tắc chân pháp sinh. Dĩ tri nhất thiết pháp các bất tương chúc, thị danh đắc đạo nhân. Tri tâm bất chúc nhất thiết pháp, thử nhân thường tại đạo tràng. Mê thì hữu tội, giải thì vô tội. Hà dĩ cố. Tội tính không cố. Mê thì vô tội kiến tội, nhược giải thì tức tội vô tội. Hà dĩ cố. Tội vô xử sở cố. Kinh vân: Chư pháp vô tính, chân dụng mạc nghi, nghi tức thành tội. Hà dĩ cố. Tội nhân nghi hoặc nhi sinh. Nhược tác thử giải giả, tiền thế tội nghiệp tức vi tiêu diệt. Mê thì lục thức ngũ âm giai thị phiền não sinh tử pháp, ngộ thì lục thức ngũ âm giai thị Niết bàn vô sinh tử pháp. Tu đạo chi nhân bất ngoại cầu đạo. Hà dĩ cố: Tri tâm thị đạo. Nhược đắc tâm thì, vô tâm khả đắc. Nhược đắc đạo thì, vô đạo khả đắc. Nhược ngôn tương tâm cầu đạo đắc giả, giai danh tà kiến. Mê thì hữu Phật hữu pháp. Ngộ vô Phật vô pháp. Hà dĩ cố. Ngộ tức thị Phật pháp. Phu tu đạo giả, thân diệt đạo thành, diệc như giáp sách thụ sinh. Thử nghiệp báo thân niệm niệm vô thường, vô nhất định pháp. Đãn tùy niệm niệm tu chi, diệc bất đắc yếm sinh tử, diệc bất đắc ái sinh tử. Đãn niệm niệm chi trung câu bất vọng tưởng. Tắc sinh chứng hữu dư Niết bàn, tử nhập vô sinh pháp nhẫn. Nhãn kiến sắc thì bất nhiễm vu sắc, nhĩ văn thanh thì bất nhiễm vu thanh, giai giải thoát dã. Nhãn bất trứ sắc, nhãn vi thiện môn. Nhĩ bất trứ thanh, nhĩ vi thiện môn. Tổng nhi ngôn chi. Kiến sắc tính giả thường giải thoát, kiến sắc tương giả thường hệ phược. Bất vi phiền não hệ phược giả, tức danh giải thoát, canh vô biệt giải thoát. Thiện quan sắc giả, sắc bất sinh vu tâm, tâm bất sinh vu sắc, tức sắc dữ tâm câu thị thanh tịnh. Vô vọng tưởng thì, nhất tâm thị nhất Phật quốc. Hữu vọng tưởng thì, nhất tâm thị nhất địa ngục. Chúng sinh tạo tác vọng tưởng, dĩ tâm sinh tâm, cố thường tại địa ngục. Bồ tát quan sát vọng tưởng, bất dĩ tâm sinh tâm, cố thường tại Phật quốc. Nhược bất dĩ tâm sinh tâm, tắc tâm tâm nhập không, niệm niệm quy tĩnh, tòng nhất Phật quốc, chí nhất Phật quốc. Nhược dĩ tâm sinh tâm. Tắc tâm tâm bất tĩnh, niệm niệm quy động, tòng nhất địa ngục, lịch nhất địa ngục. Nhược nhất niệm tâm khởi, tắc hữu thiện ác nhị nghiệp, hữu thiên đường địa ngục. Nhược nhất niệm tâm bất khởi, tức vô thiện ác nhị nghiệp, diệc vô thiên đường địa ngục.是以聖人亦不將心求法,亦不將法求心,亦不將心求心,亦不將法求法.所以心不生法,法不生心.心法兩寂,故常為在定.眾生心生則佛法滅,眾生心滅則佛法生.心生則真法滅,心滅則真法生.已知一切法各不相屬,是名得道人.知心不屬一切法,此人常在道場.迷時有罪,解時無罪.何以故.罪性空故.迷時無罪見罪,若解時即罪無罪.何以故.罪無處所故.經云:諸法無性,真用莫疑,疑即成罪.何以故.罪因疑惑而生.若作此解者,前世罪業即為消滅.迷時六識五陰皆是煩惱生死法,悟時六識五陰皆是涅槃無生死法.修道之人不外求道.何以故:知心是道.若得心時,無心可得.若得道時,無道可得.若言將心求道得者,皆名邪見.迷時有佛有法.悟無佛無法.何以故.悟即是佛法.夫修道者,身滅道成,亦如甲拆樹生.此業報身念念無常,無一定法.但隨念念修之,亦不得厭生死,亦不得愛生死.但念念之中俱不妄想.則生證有餘涅槃,死入無生法忍.眼見色時不染於色,耳聞聲時不染於聲,皆解脫也.眼不著色,眼為禪門.耳不著聲,耳為禪門.總而言之.見色性者常解脫,見色相者常繫縛.不為煩惱繫縛者,即名解脫,更無別解脫.善觀色者,色不生於心,心不生於色,即色與心俱是清淨.無妄想時,一心是一佛國.有妄想時,一心是一地獄.眾生造作妄想,以心生心,故常在地獄.菩薩觀察妄想,不以心生心,故常在佛國.若不以心生心,則心心入空,念念歸靜,從一佛國,至一佛國.若以心生心.則心心不靜,念念歸動,從一地獄,歷一地獄.若一念心起,則有善惡二業,有天堂地獄.若一念心不起, 即無善惡二業, 亦無天堂地獄. Hữu dư Niết bàn là Niết bàn sau khi chết của một vị A La Hán không còn tái sinh, còn gọi là Bát Niết bàn, Niết bàn toàn phần. Bậc A La Hán chứng quả khi còn sống, còn sắc thân thì gọi là Hữu dư Niết Bàn. Khi còn có sắc thân thì còn phải chịu cảnh già, bịnh, chết, còn những nợ của nghiệp đời trước, nhưng khi A La Hán chết, không còn có thân nữa thì nhập Vô dư Niết Bàn. Niết bàn này là trạng thái đã dứt bỏ mọi phiền não, không còn tái sinh. Trong Hữu dư Niết bàn vẫn thoát được cảnh khổ trong trạng thái Thiền định. Vô sanh Pháp nhẫn. Vô sanh là không sanh diệt. Nhẫn là tin nhận giữ gìn, trí tuệ an trú trong thể chân lý, tâm không động loạn. Ðại Trí Ðộ luận: Ðối với thật tướng không sanh diệt của các pháp, tin nhận thông suốt, không chướng ngại, không thoái lui gọi là Vô sanh nhẫn.

Thể là chẳng phải có chẳng phải không, ở kẻ phàm thì có, ở Thánh thì không có. Thánh nhân không có tâm (sắc) đó, cho nên bụng dạ rỗng suốt, cùng đồng với trời bao dung [Đại Tạng kinh: Do thế trong tịnh đó là đạo lớn đang chứng, chẳng phải cảnh giới Tiểu thừa và kẻ phàm]. Lúc tâm được Niết bàn, thì chẳng thấy có Niết bàn. Cớ vì sao, tâm là Niết bàn. Nếu ngoài tâm thấy thêm Niết bàn, thế gọi là biểu hiện tà kiến. Tất cả phiền não là hạt giống Như Lai, do vì phiền não mà được trí tuệ. Chỉ có thể nói phiền não sanh Như Lai, chẳng có thể được nói phiền não là Như Lai. Cho nên thân tâm là đất ruộng, phiền não là hạt giống, trí tuệ là mầm chồi, Như Lai ví dụ với lúa thóc. Phật ở trong tâm, như mùi hương ở trong cây. Phiền não nếu hết, Phật từ tâm ra ngoài. Nếu (cây) mục rữa nát hết, mùi hương từ cây ra ngoài. Tức là biết ngoài cây không có mùi hương, ngoài tâm không có Phật. Nếu ngoài cây có mùi hương, tức là mùi hương khác, ngoài tâm có Phật, tức là Phật nào khác.

Trong tâm có ba độc ấy phải gọi là cõi đất dơ bẩn xấu ác. Trong tâm không có ba độc ấy phải gọi là cõi đất thanh tịnh. Kinh rằng: Nếu khiến cho cõi đất chẳng sạch, dơ bẩn xấu ác tràn đầy, các vị Phật thế tôn xuất hiện ở bên trong, (thì) không có ở nơi này. Chẳng sạch sẽ dơ bẩn xấu ác, tức là vô minh ba độc. Các vị Phật thế tôn ấy tức là tâm thanh tịnh giác ngộ.

Tất cả lời nói không có trái ngược Phật pháp, nếu đạt tới không có (đối tượng) của lời nói, thì nói suốt ngày mà đó là đạo. Nếu chỉ có của lời nói thì im lặng suốt ngày mà chẳng phải là đạo. Cho nên là Như Lai nói chẳng nhân vì im lặng, im lặng chẳng nhân vì nói, nói chẳng tách rời im lặng. Tỏ ngộ như thế nói hay im lặng đều ở tại tam muội. Nếu lúc hiểu rõ mà nói, nói cũng là giải thoát, nếu lúc chẳng hiểu rõ mà im lặng, im lặng cũng là trói buộc. Nguyên cớ đó đạt đến lời nói tách lìa hình tướng, nói cũng gọi là giải thoát. Im lặng nếu vướng mắc hình tướng, im lặng là trói buộc.

Vị thể phi hữu phi vô. Tại phàm tức hữu, tại Thánh tức vô. Thánh nhân vô kì tâm, cố hung ức không đỗng, dữ thiên đồng lượng (Đại Tạng kinh: Thử dĩ hạ tịnh thị đại đạo trung chứng,phi tiểu thừa cập phàm phu cảnh giới dã). Tâm đắc Niết bàn thì, tức bất kiến hữu Niết bàn. Hà dĩ cố. Tâm thị Niết bàn. Nhược tâm ngoại canh kiến Niết bàn, thử danh trứ tà kiến dã. Nhất thiết phiền não vi Như Lai chủng tử. Vi nhân phiền não nhi đắc trí tuệ. Chích khả đạo phiền não sinh Như Lai, bất khả đắc đạo phiền não thị Như Lai. Cố thân tâm vi điền trù, phiền não vi chủng tử, trí tuệ vi manh nha, Như Lai dụ vu cốc dã. Phật tại tâm trung, như hương tại thụ trung. Phiền não nhược tận, Phật tòng tâm xuất. Hủ hủ nhược tận, hương tòng thụ xuất. Tức tri thụ ngoại vô hương, tâm ngoại vô Phật. Nhược thụ ngoại hữu hương, tức thị tha hương. Tâm ngoại hữu Phật, tức thị tha Phật. Tâm trung hữu tam độc giả, thị danh quốc thổ uế ác. Tâm trung vô tam độc giả, thị danh quốc thổ thanh tịnh. Kinh vân: Nhược sử quốc thổ bất tịnh, uế ác sung mãn, chư Phật thế tôn vu trung xuất, vô hữu thử xử. Bất tịnh uế ác giả, tức vô minh tam độc dã. Chư Phật thế tôn giả, tức thanh tịnh giác ngộ tâm dã. Nhất thiết ngôn ngữ vô phi Phật pháp. Nhược năng vô kì sở ngôn, tức tận nhật ngôn nhi thị đạo. Nhược năng hữu kì sở ngôn, tức chung nhật mặc nhi phi đạo. Thị cố Như Lai ngôn bất thừa mặc, mặc bất thừa ngôn, ngôn bất li mặc. Ngộ thử ngôn mặc giả, giai tại tam muội. Nhược tri thì nhi ngôn, ngôn diệc giải thoát. Nhược bất tri thì nhi mặc, mặc diệc hệ phược. Thị cố ngôn nhược li tương, ngôn diệc danh giải thoát. mặc nhược trứ tương, mặc tức thị hệ phược.為體非有非無.在凡即有,在聖 即無.聖人無其心,故胸臆空洞,與天同量(此已下並是大道中證,非小乘及凡夫境界也).心得涅槃時,即不見有涅槃.何以故.心是涅槃.若心外更見涅槃,此名著邪見也.一切煩惱為如來種子.為因煩惱而得智慧.只可道煩惱生如來,不可得道煩惱是如來.故身心為田疇,煩惱為種子,智慧為萌芽,如來喻於穀也.佛在心中,如香在樹中.煩惱若盡,佛從心出.朽腐若盡,香從樹出.即知樹外無香,心外無佛.若樹外有香,即是他香.心外有佛,即是他佛.心中有三毒者,是名國土穢惡.心中無三毒者,是名國土清淨.經云:若使國土不淨,穢惡充滿,諸佛世尊於中出,無有此處.不淨穢惡者,即無明三毒也.諸佛世尊者,即清淨覺悟心也.一切言語無非佛法.若能無其所言,即盡日言而是道.若能有其所言,即終日默而非道.是故如來言不乘默,默不乘言,言不離默.悟此言默者,皆在三昧.若知時而言,言亦解脫.若不知時而默,默亦繫縛.是故言若離相,言亦名解脫.默若著相,默即是繫縛. Tam muội (Samadhi): là trạng thái rất yên tĩnh của người tu tập, hợp nhất với rỗng không trong tâm thức, là trạng thái thanh tịnh cao nhất của tâm, nhưng chưa phải là giác ngộ.

Văn tự ấy tánh vốn giải thoát. Văn tự không thể là trói buộc, trói buộc xưa nay tự tới văn tự. Pháp không cao thấp nếu thấy cao thấp tức là phi pháp (pháp sai trái). Pháp sai là chiếc bè, pháp đúng là con người. Chiếc bè ấy, người cưỡi chiếc bè ấy, tức là vượt qua pháp sai, noi theo pháp đúng. Nếu lấy thói đời mà nói, thì có nam nữ sang hèn. Lấy đạo mà nói, thì không có nam nữ sang hèn. Do đó mà Thiên nữ ngộ đạo, chẳng biến đổi hình dáng nữ. Xa nặc hiểu rõ ý chân thật, lẽ nào biến đổi xưng hô hèn mọn. Che trùm chỗ này (cho nên) không có nam nữ sang hèn, đều là do một tướng. Thiên nữ ở trong 12 năm cầu tướng nữ, đã không thể được, tức là biết ở trong 12 năm cầu tướng nam, cũng không thể được. Mười hai năm ấy tức là 12 nhập.

Lìa tâm không có Phật, lìa Phật không có tâm, cũng như lìa nước không có băng giá, lìa băng giá không có nước. Nói lìa tâm không có Phật, chẳng phải là lìa xa tại tâm, chỉ khiến tâm chẳng ham thích hình tướng. Kinh rằng: Chẳng thấy hình tướng gọi là thấy Phật. Chính là tách lìa tâm hình tướng. Tách lìa Phật không có tâm ấy là nói Phật theo tâm xuất hiện. Tâm có thể sinh ra Phật. Như thế Phật theo tâm sinh ra, mà Phật chưa từng sinh ra tâm. Cũng như cá sinh ra ở nước, nước chẳng sinh ra vì cá. Muốn xem đến cá, chưa thấy cá mà thấy nước trước. Muốn xem đến thấy Phật, chưa thấy Phật mà thấy tâm trước. Tức là biết đã thấy cá, quên đến nước. Đã thấy Phật quên đến tâm. Nếu chẳng quên đến tâm, tâm còn nơi mê hoặc. Nếu chẳng quên đến nước, vẫn bị nơi nước mê hoặc.

Phu văn tự giả, bổn tính giải thoát. Văn tự bất năng tựu hệ phược, hệ phược tự bổn lai tựu văn tự. Pháp vô cao hạ. Nhược kiến cao hạ, tức phi pháp dã. Phi pháp vi phiệt, thị pháp vi nhân phiệt giả, nhân thừa kì phiệt, tức độ phi pháp, tắc thị pháp dã. Nhược dĩ thế tục ngôn chi, tức hữu nam nữ quý tiện. Dĩ đạo ngôn chi, tức vô nam nữ quý tiện. Thị dĩ thiên nữ ngộ đạo, bất biến nữ hình. Xa Nặc giải chân, ninh di tiện xưng. Thử cái phi nam nữ quý tiện, giai do nhất tương dã. Thiên nữ vu thập nhị niên trung cầu nữ tương, liễu bất khả đắc. Tức tri vu thập nhị niên trung cầu nam tương, diệc bất khả đắc. Thập nhị niên giả, tức thập nhị nhập thị dã. Li tâm vô Phật, li Phật vô tâm, diệc như li thủy vô băng, diệc như li băng vô thủy. Ngôn li tâm vô Phật giả, phi thị viễn li vu tâm, đãn sử bất trứ tâm tương. Kinh vân: Bất kiến tương danh vi kiến Phật. Tức thị li tâm tương dã. Li Phật vô tâm giả. Ngôn Phật tòng tâm xuất, tâm năng sinh Phật. Nhiên Phật tòng tâm sinh, nhi Phật vị thường sinh tâm. Diệc như ngư sinh vu thủy, thủy bất sinh vu ngư. Dục quan vu ngư giả, vị kiến ngư nhi tiên kiến thủy. Dục quan vu Phật giả, vị kiến Phật nhi tiên kiến tâm. Tức tri dĩ kiến ngư giả vong vu thủy. Dĩ kiến Phật giả vong vu tâm. Nhược bất vong vu tâm, thượng vi tâm sở hoặc. Nhược bất vong vu thủy, thượng bị thủy sở mê. 夫文字者,本 性解脫.文字不能就繫縛,繫縛自本來就文字.法無高下若見高下,即非法也.非法為筏,是法為人.筏者,人乘其筏,即渡非法,則是法也.若以世俗言之,即有男女貴賤.以道言之,即無男女貴賤.是以天女悟道,不變女形.車匿解真,寧移賤稱.此蓋非男女貴賤,皆由一相也.天女於十二年中求女相,了不可得.即知於十二年中求男相,亦不可得.十二年者,即十二入是也.離心無佛,離佛無心,亦如離水無冰,亦如 離冰無水.言離心無佛者,非是遠離於心,但使不著 心相.經云:不見相名為見佛.即是離心相也.離佛無心者.言佛從心出,心能生佛.然佛從心生,而佛未嘗生心.亦如魚生於水,水不生於魚.欲觀於魚者,未見魚而先見水.欲觀於佛者,未見佛而先見心.即知已見魚者忘於水.已見佛者忘於 心.若不忘於心,尚為心所惑.若不忘於 水,尚被水所迷. Kinh Kim Cang: Này các Tỳ kheo, các ông phải biết rằng, pháp của Ta nói ra đó, ví dụ cũng như chiếc bè, đến (chánh) pháp còn phải xả bỏ, huống chi là phi pháp. Xa Nặc là nô lệ của Phật Thích Ca khi còn là thái tử. Xa Nặc tự ngộ: Suốt trong thời gian qua, ta đã là một tên nô lệ của sự tham đắm. Đức Phật đã từng dạy về Sự thật như là một phương pháp để thoát khỏi vũng lầy tham đắm. Ta đã hãnh diện giảng dạy cho tín đồ về những sự thật đó, nhưng chính ta thì lại không tu tập cho bản thân mình. Ta chỉ biết sử dụng mọi năng lượng của mình trong việc hủy báng người khác, mà chưa từng đối diện với chính mình. Mười hai nhập là sáu căn (mắt, tai, mũi, miệng lưỡi, thân, ý) nhập vào sáu cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Sáu căn nhập sáu trần sinh sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức).

Chúng sinh với Bồ đề, cũng như nước với băng. Bị nơi ba độc (tham sân si) thiêu, đốt thì gọi là chúng sinh. Biến thành ba pháp giải thoát nơi sạch sẽ, thì gọi là Bồ đề. Bị ba (tháng) đông mà đóng băng thì gọi là băng. Vì ba (tháng) hè mà tan thì gọi là nước. Nếu xả bỏ băng thì không hẳn là nước. Nếu quên mất chúng sinh thì không hẳn là Bồ đề. Sáng tỏ hiểu rõ tánh băng chính là tánh nước, tánh nước chính là tánh băng. Tánh chúng sinh ấy tức là tánh Bồ đề. Chúng sinh với Bồ đề cùng một tánh, chỉ như (củ cây) Ô đầu với Phụ tử cùng một gốc thôi, chỉ là thời tiết (củ lớn nhỏ) không đồng đều. Cho nên mê ngộ khác cảnh, có chúng sinh Bồ đề hai tên gọi. Rắn hóa làm rồng nó chẳng đổi vẩy, phàm đổi làm Thánh chẳng đổi khuôn mặt đó. Chỉ biết tâm ấy trí soi chiếu bên trong, thân ấy răn giới ngay thẳng bên ngoài.

Chúng sinh độ Phật, Phật độ chúng sinh, đó gọi là bình đẳng. Chúng sinh độ Phật ấy là phiền não sinh ra tỏ ngộ giải thoát. Phật độ chúng sinh ấy là tỏ ngộ giải thoát tan mất phiền não. [Phải biết] Chẳng phải không có phiền não, chẳng phải không tỏ ngộ giải thoát. Phải biết không có phiền não (thì) không lấy gì (để) sinh ra tỏ ngộ giải thoát, không tỏ ngộ giải thoát (thì) không lấy gì (để) dập tắt phiền não. Nếu lúc mê Phật độ (cứu vớt) chúng sinh, nếu lúc tỉnh ngộ chúng sinh độ Phật. Lý do vì sao, Phật chẳng tự thành, đều do chúng sinh cho nên qua (bờ kia). Các vị Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô minh tham ái đều là tên khác (của) chúng sinh. Chúng sinh với vô minh, cũng như bàn tay phải với bàn tay trái, hoàn toàn không khác. Khi mê ở bờ này, lúc tỉnh ngộ ở bờ kia. Nếu biết tâm rỗng không chẳng thấy hình tướng thì lìa tan mê ngộ. Đã lìa tan mê ngộ, cũng không có bờ bên kia. Như Lai chẳng ở bờ này, cũng chẳng ở bờ kia, chẳng ở giữa dòng. Giữa dòng ấy là người Tiểu thừa, bờ này là kẻ phàm, bờ kia là Bồ đề.

Phật có ba thân ấy là Hóa thân Báo thân Pháp thân. Nếu chúng sinh thường khởi lên nguồn gốc tốt lành thì Hóa thân xuất hiện. Tu trí tuệ tức là Báo thân xuất hiện. Giác ngộ vô vi thì Pháp thân xuất hiện. [Thường hiện ra] Bay nhẩy mười phương, nên làm thì làm cứu giúp, ấy là Hóa thân Phật. [Nếu] Dứt mê tu thiện, [tức là] thành đạo núi tuyết ấy là Báo thân Phật. Không nói, không thuyết giảng, [Vô tác vô đắc] trạm nhiên (sâu lắng) thường trụ ấy là Pháp thân Phật. Nếu phân tích hết lý, một Phật còn không có, làm sao có được ba. Lời nói này ba thân ấy chỉ dựa theo người có trí cao vừa thấp. Người [mà] trí thấp vọng (sai bậy) vui thích phúc lực, vọng thấy Hóa thân Phật. Người [mà] trí vừa vọng cắt đứt phiền não, vọng thấy Báo thân Phật. Người [mà] trí cao vọng (viễn vông) chứng (đắc) Bồ đề, vọng thấy Pháp thân Phật. Người [mà] trí cao tột bậc, soi chiếu bên trong tròn đầy tịch lặng, tâm sáng tức là Phật, chẳng đợi tâm mà được Phật [trí]. Phải biết ba thân với vạn pháp, đều không thể chọn lấy, không thể giảng nói. Thế tức là tâm giải thoát, thành tựu đến đạo lớn. Kinh rằng: Phật chẳng thuyết pháp, chẳng độ chúng sinh, chẳng chứng Bồ đề. Thế đấy là nói vậy.

Chúng sinh dữ Bồ đề, diệc như thủy dữ băng. Vi tam độc sở thiêu, tức danh chúng sinh. Vi tam giải thoát sở tịnh, tức danh Bồ đề. Vi tam đông sở đống, tức danh vi băng. Vi tam hạ sở tiêu, tức danh vi thủy. Nhược xá khước băng, tức vô biệt thủy. Nhược khí khước chúng sinh, tắc vô biệt Bồ đề. Minh tri băng tính tức thị thủy tính, thủy tính tức thị băng tính. Chúng sinh tính giả, tức Bồ đề tính dã. Chúng sinh dữ Bồ đề đồng nhất tính, chích như ô đầu dữ phụ tử cộng căn nhĩ, đãn thì tiết bất đồng. Mê ngộ dị cảnh cố, hữu chúng sinh Bồ đề nhị danh hĩ. Xà hóa vi long, bất cải kì lân. Phàm biến vi Thánh, bất cải kì diện. Đãn tri tâm giả trí nội chiếu, thân giả giới ngoại trinh. Chúng sinh độ Phật, Phật độ chúng sinh, thị danh bình đẳng. Chúng sinh độ Phật giả, phiền não sinh ngộ giải. Phật độ chúng sinh giả, ngộ giải diệt phiền não. (Thị tri) Phi vô phiền não, phi vô ngộ giải. Thị tri phi phiền não vô dĩ sinh ngộ giải, phi ngộ giải vô dĩ diệt phiền não. Nhược mê thì Phật độ chúng sinh, nhược ngộ thì chúng sinh độ Phật. Hà dĩ cố. Phật bất tự thành, giai do chúng sinh độ cố. Chư Phật dĩ vô minh vi phụ, tham ái vi mẫu. Vô minh, tham ái giai thị chúng sinh biệt danh dã. Chúng sinh dữ vô minh, diệc như hữu chưởng dữ tả chưởng, canh vô biệt dã. Mê thì tại thử ngạn, ngộ thì tại bỉ ngạn. Nhược tri tâm không bất kiến tương, tắc li mê ngộ. Kí li mê ngộ, diệc vô bỉ ngạn. Như Lai bất tại thử ngạn, diệc bất tại bỉ ngạn, bất tại trung lưu. Trung lưu giả. tiểu thừa nhân dã. Thử ngạn giả. Phàm phu dã. Bỉ ngạn giả. Bồ đề dã. Phật hữu tam thân giả. Hóa thân, báo thân, pháp thân. (Hóa thân diệc vân ứng thân). Nhược chúng sinh thường tác thiện căn, (thì) tức hóa thân hiện. Tu trí tuệ, tức báo thân hiện. Giác vô vi, tức pháp thân hiện. (thường hiện) Phi đằng thập phương, tùy nghi cứu tể giả, hóa thân Phật dã. (Nhược) Đoạn hoặc tu thiện, (tức thị) tuyết sơn thành đạo giả, báo thân Phật dã. Vô ngôn vô thuyết, (Vô tác vô đắc) trạm nhiên thường trụ giả, pháp thân Phật dã. Nhược luận chí lí, nhất phật thượng vô, hà đắc hữu tam.Thử ngôn tam thân giả, đãn cư nhân trí hữu thượng trung hạ. Hạ trí (chi) nhân vọng hưng phúc lực, vọng kiến hóa thân Phật. Trung trí nhân (chi) vọng đoạn phiền não, vọng kiến báo thân Phật. Thượng trí (chi) nhân vọng chứng Bồ đề, vọng kiến pháp thân Phật. Thượng thượng trí nhân (chi) nội chiếu viên tịch, minh tâm tức Phật, bất đãi tâm nhi đắc Phật. Thị tri tam thân dữ vạn pháp, giai bất khả thủ, bất khả thuyết. thử tức giải thoát tâm thành vu đại đạo. Kinh vân: Phật bất thuyết pháp, bất độ chúng sinh, bất chứng Bồ đề. Thử chi vị hĩ.眾生與菩提,亦如水與冰.為三毒所燒,即名眾生.為三解脫所淨,即名菩提.為三冬所凍,即名為冰.為三夏所消,即名為水.若捨卻冰,即無別水.若棄卻眾生,則無別菩提.明知冰性即是水性,水性即是冰性.眾生性者,即菩提性也.眾生與菩提同一性,只如烏頭與附子共根耳,但時節不同.迷悟異境故,有眾生菩提二名矣.蛇化為龍,不改其鱗.凡變為聖,不改其面.但知心者智內照,身者戒外貞.眾生度佛,佛度眾生,是名平等.眾生度佛者,煩惱生悟解.佛度眾生者,悟解滅煩惱.(是知)非無煩惱,非無悟解.是知非煩惱無以生悟解,非悟解無以滅煩惱.若迷時佛度眾生,若悟時眾生度佛.何以故. 佛不自成, 皆由眾生度故.諸佛以無明為父, 貪愛為母. 無明, 貪愛皆是眾生別名也.眾生與無明, 亦如右掌與左掌,更無別也.迷時在此岸,悟時在彼岸.若知心空不見相,則離迷悟.既離迷悟,亦無彼岸.如來不在此岸,亦不在彼岸,不在中流.中流者.小乘人也.此岸者.凡夫也.彼岸者.菩提也.佛有三身者.化身,報身,法身.若眾生常作善根,即化身現.修智慧,即報身現.覺無為,即法身現.(常現)飛騰十方,隨宜救濟者,化身佛也.(若)斷惑修善,(即是)雪山成道者,報身佛也.無言無說,(無作無得)湛然常住者,法身佛也.若論至理,一佛尚無,何得有三.此言三身者,但據人智有上中下.下智(之)人妄興福力,妄見化身佛.中智(之)人妄斷煩惱,妄見報身佛.上智人(之)妄證菩提,妄見法身佛.上上智(之)人內照圓寂,明心即佛,不待心而得佛.是知三身與萬法,皆不可取,不可說.此即解脫心成於大道.經云:佛不說法,不度眾生,不證菩提.此之謂矣. Cây Ô đầu, củ lớn là Ô đầu, củ nhỏ là Phụ tử cùng một gốc, do thời tiết nên có củ lớn củ nhỏ. Tuyết sơn thành đạo (Thành đạo núi tuyết) trong câu Tuyết lãnh tu hành, lục niên khổ hành (Tu hành trên đỉnh núi tuyết, sáu năm khổ hành). Sáu năm là tu hành sáu pháp Ba la mật. Vô tác vô đắc. Không tạo tác, không chứng đắc.

Chúng sinh tạo nghiệp, nghiệp [chẳng] tạo chúng sinh. Đời nay tạo nghiệp, đời sau nhận lấy quả báo, không lúc nào thoát khỏi. Chỉ có bậc chí nhân (Thánh nhân), ở trong thân này chẳng tạo các nghiệp, cho nên chẳng nhận lấy quả báo. Kinh rằng: Chẳng tạo các nghiệp tự nhiên đắc đạo. Lời nói không hư hão đâu. Người có thể tạo nghiệp, nghiệp không thể tạo người. Nếu người tạo nghiệp, nghiệp với người cùng sinh. Nếu người chẳng tạo nghiệp, nghiệp với người đều diệt. Phải biết nghiệp do con người tạo ra, bởi vì người nghiệp sinh ra. Nếu người không tạo nghiệp, tức là nghiệp không theo con người sinh ra. Cũng như người có thể mở rộng đạo, đạo không thể mở rộng người. Nay là kẻ phàm thường luôn tạo nghiệp, nói càn bậy không có quả báo, sao [ít nhất] chẳng khổ. Nếu lấy hết lý mà phân tích đến, tâm trước tạo ra tâm sau báo trả, đâu có thoát khỏi. Nếu tâm trước chẳng tạo, thì tâm sau không báo trả, cũng được yên ổn vong kiến (không thấy) nghiệp báo vậy. Kinh rằng: Tuy có tin theo Phật, nói Phật khổ hành. Phải gọi là tà kiến. Tuy có tin Phật, nói Phật có kim thương mã mạch (phú quý) báo đáp đấy. Phải gọi là tin chẳng đủ, phải gọi là nhất xiển đề.

Mở ra pháp Thánh ấy gọi là Thánh nhân, mở ra pháp phàm ấy gọi là kẻ phàm. Chỉ nên bỏ pháp phàm thành tựu pháp Thánh, tức là kẻ phàm trở thành Thánh nhân. Người đời ngu si chỉ muốn cầu Thánh nhân xa xôi, chẳng tin mở ra tuệ của tâm là Thánh nhân. Kinh (Kim Cang) nói: Trong (loại) người vô trí, chớ thuyết giảng kinh này. Kinh nói chỗ ấy là: Tâm cũng là Pháp vậy. Người mà vô trí, chẳng tin tâm này là giải pháp, thành đến Thánh nhân. Chỉ muốn tìm học xa bên ngoài, yêu thích ngưỡng mộ tượng Phật trên trời tỏa sáng, cùng các việc hương thơm mầu sắc, đều rơi vào tà kiến, cuồng loạn mất tâm. Kinh rằng: Nếu thấy các tướng chẳng phải (thật) tướng, tức là thấy Như Lai. Tám mươi bốn ngàn pháp môn, hết cả do một tâm mà khởi lên. Nếu tướng tâm bên trong yên tĩnh, đạt tới như hư không, tức là lìa khỏi bên trong thân tâm 84.000 căn bệnh [gây nên] phiền não [Đại Tạng kinh: Nếu chưa tỏ ngộ chỗ này, lý trọng yếu ấy, thì nên sớm cầu tìm đến người tài giỏi (học hỏi), không khiến mất đi cả hai (thân tâm)]. Kẻ phàm đang sống lo chết, kịp no đủ buồn lo đói đều gọi là rất mê loạn. Cho nên bậc chí nhân chẳng tính trước, chẳng lo sau, không thay đổi hiện nay, niệm niệm theo về đạo.

Chúng sinh tạo nghiệp, nghiệp (bất) tạo chúng sinh. Kim thế tạo nghiệp, hậu thế thụ báo, vô hữu thoát thì. Duy hữu chí nhân, vu thử thân trung bất tạo chư nghiệp, cố bất thụ báo. Kinh vân: Chư nghiệp bất tạo tự nhiên đắc đạo. Khởi hư ngôn tai. Nhân năng tạo nghiệp, nghiệp bất năng tạo nhân. Nhân nhược tạo nghiệp, nghiệp dữ nhân câu sinh. Nhân nhược bất tạo nghiệp, nghiệp dữ nhân câu diệt. Thị tri nghiệp do nhân tạo, nhân do nghiệp sinh. Nhân nhược bất tạo nghiệp, tức nghiệp vô do nhân sinh dã. Diệc như nhân năng hoằng đạo, đạo bất năng hoằng nhân. Kim chi phàm phu, vãng vãng tạo nghiệp, vọng thuyết vô báo, khởi (chí thiểu) bất khổ tai. Nhược dĩ chí lí nhi luận chi, tiền tâm tạo hậu tâm báo, hà hữu thoát thì. Nhược tiền tâm bất tạo, tức hậu tâm vô báo, diệc an đắc vọng kiến nghiệp báo tai. Kinh vân: Tuy tín hữu Phật, ngôn Phật khổ hành, thị danh tà kiến. Tuy tín hữu Phật, ngôn phật hữu kim thương mã mạch chi báo, thị danh tín bất cụ túc, thị danh nhất xiển đề. Giải Thánh pháp giả, danh vi Thánh nhân. Giải phàm pháp giả, danh vi phàm phu. Đãn năng xá phàm pháp tựu thánh pháp, tức phàm phu thành Thánh nhân hĩ. Thế gian ngu nhân, đãn dục viễn cầu Thánh nhân, bất tín tuệ giải chi tâm vi Thánh nhân dã. Kinh vân: Vô trí nhân trung, mạc thuyết thử kinh. thử kinh giả. Kinh vân: Tâm giả pháp giã. Vô trí chi nhân, bất tín thử tâm giải pháp, thành vu Thánh nhân. Đãn dục viễn cầu ngoại học, ái mộ không trung Phật tượng quang minh hương sắc đẳng sự, giai đọa tà kiến, thất tâm cuồng loạn. Kinh vân: Nhược kiến chư tương phi tương, tức kiến Như Lai. Bát vạn tứ thiên pháp môn, tận do nhất tâm nhi khởi. Nhược tâm tương nội tịnh, do như hư không, tức xuất li thân tâm nội bát vạn tứ thiên phiền não (vi) bệnh bổn dã (Đại Tạng kinh: Nhược vị ngộ thử đại lí giả, tức tu tảo cầu nhân thiên chi thiện, vô lệnh lưỡng thất). Phàm phu đương sinh ưu tử, Lâm bão sầu cơ, giai danh đại hoặc. Sở dĩ chí nhân bất mưu kì tiền, bất lự kì hậu, vô biến đương kim, niệm niệm quy đạo.眾生造業,業(不)造眾生.今世造業,後世受報,無有脫時.唯有至人,於此身 中不造諸業,故不受報.經云:諸業不造自然得道.豈虛言哉.人能造業,業不能造人.人若造業,業與人俱生.人若不造業,業與人俱滅.是知業由人造,人由業生.人若不造業,即業無由人生也.亦如人能弘道,道不能弘人.今之凡夫,往往造業,妄說無報,豈(至少)不苦哉.若以至理而論之,前心造後心報,何有脫時.若前心不造,即後心無報,亦安得妄見業報哉.經云:雖信有佛,言佛苦行,是名邪見.雖信有佛,言佛有金鏘馬麥之報,是名信不具足,是名一闡提.解聖法者,名為聖人.解凡法者,名為凡夫.但能捨凡法就聖法,即凡夫成聖人矣.世間愚人,但欲遠求聖人,不信慧解之心為聖人也.經云:無智人中,莫說此經.此經者.經云:心也法也.無智之人,不信此心解法,成於聖人.但欲遠求外學,愛慕空中佛像光明香色等事,皆墮邪見,失心狂亂.經云:若見諸相非相,即見如來.八萬四千法門,盡由一心而起.若心相內淨,由如虛空,即出離身心內八萬四千煩惱(為)病本也.(若未悟此大理者,即須早求人天之善,無令兩失).凡夫當生憂死,臨飽愁飢,皆名大惑.所以至人不謀其前,不慮其後,無變當今,念念歸道. Chúng sinh tạo nghiệp, nghiệp [bất] tạo chúng sinh. Đại Tạng kinh có chữ bất (chẳng) tạo ra chúng sinh. Có hai ý nghiệp và chúng sinh liên quan đến nhau. Nghiệp và chúng sinh chẳng liên quan đến nhau. Diệc an đắc vong (vọng, vô) kiến nghiệp báo tai. Vong (vọng, vô) có hai nghĩa. Chữ Vong (vô)亡:  quên, không có (vô) như chữ Vô無. Vong (vô) kiến: không thấy, quên thấy. Ý thứ hai là Vọng kiến: càn bậy, sai, viễn vông thấy. Cũng là được yên ổn không thấy nghiệp báo vậy. Con người tạo ra nghiệp, nói bậy (vọng ngôn) không có báo trả, trước mắt quên thấy, không thấy, thấy sai (vong, vô kiến) nghiệp báo, bởi vì ít nhất sẽ thấy một trong ba khổ: Lão, Bệnh, Tử luân hồi ba cõi sáu đường. Kim thương mã mạch: Cây thương vàng, ngựa quý ăn lúa mạch, ngụ ý giầu sang quyền quý. Kinh Niết Bàn: Kẻ phạm tội nhất xiển đều là kẻ dứt tất cả các thiện căn, lòng không có một thiện pháp nào cả.

Đêm ngồi tụng kệ rằng:

Canh một ngồi ngay chân xếp tròn,

Thần vui lặng chiếu cùng rỗng hết.

Kiếp rộng xưa nay chẳng sinh diệt,

Cần đâu sinh diệt diệt ngòi sinh,

Tất cả các pháp đều như huyễn,

Bản tánh tự không cần chi trừ.

Nếu biết tánh tâm chẳng hình tướng,

Lắng sâu không động tự như như.

Canh hai ngưng thần chuyển sáng tịnh,

Chẳng khởi nhớ tưởng chân như tánh.

Bao la muôn tượng hợp về không,

Càng chấp có không vẫn là bịnh.

Các pháp vốn rỗng chẳng tự có,

Kẻ phàm vọng tưởng luận chánh tà.

Đạt đến chẳng hai nơi nghĩ nhớ,

Ai nói ngay phàm không là thánh.

Canh ba tâm tịnh cùng hư không,

Đủ khắp mười phương nào chẳng thông

Núi sông vách đá không thể chặn,

Hằng sa thế giới tại bên trong.

Thế giới bản tính chân như tính,

Cũng không bản tính tức hàm dung.

Chẳng những các Phật hay như thế,

Khắp loại hữu tình đều hòa đồng.

Canh tư không diệt cũng không sinh,

Lượng sánh hư không pháp giới bình.

Không đến không đi không khởi diệt,

Chẳng có chẳng không chẳng sáng tối.

Chẳng khởi những thấy thấy Như Lai,

Không danh đáng gọi danh chân Phật.

Chỉ có hiểu ra biết ứng theo,

Chưa hiểu chúng sinh giống như mù

Canh năm Bát nhã chiếu vô biên,

Không khởi một niệm vượt ba cõi.

Muốn thấy chân như bình đẳng tính,

Chớ đừng sinh tâm ngay bây giờ.

Diệu lý huyền ảo tâm chẳng lường,

Không cần tìm đuổi khiến mệt nhọc.

Nếu hay không niệm tức chân cầu,

Nếu càng có cầu còn chẳng hiểu.

Chân tánh tụng:

Trước sau thường cực diệu,

Duyên tình chân lý tánh.

Lý không mất chiếu diệt,

Thân cực tịnh sáng tròn.

Dạ tọa kệ vân: Nhất canh đoan tọa kết già phu, di thần tịch chiếu hung (mẫn) đồng hư. Khoáng kiếp do lai bất sinh diệt, hà tu sinh diệt diệt sinh cừ (vô dư). Nhất thiết chư pháp giai như huyễn, bổn tính tự không na dụng trừ. Nhược thức tâm tính phi hình tượng, trạm nhiên bất động tự như như. Nhị canh ngưng thần chuyển minh tịnh, bất khởi ức tưởng chân như tính. Sâm la vạn tượng tinh quy không, canh chấp hữu không hoàn thị bệnh. Chư pháp bổn tự phi không hữu, phàm phu vọng tưởng luận tà chánh. Nhược năng bất nhị kì cư hoài, thùy đạo tức phàm phi thị Thánh. Tam canh tâm tịnh đẳng hư không, biến mãn thập phương vô bất thông. Sơn hà thạch bích vô năng chướng, hằng sa thế giới tại kì trung. Thế giới bổn tính chân như tính, diệc vô bổn tính tức hàm dung. Phi đãn chư phật năng như thử, hữu tình chi loại phổ giai đồng. Tứ canh vô diệt diệc vô sinh, lượng dữ hư không pháp giới bình. Vô lai vô khứ vô khởi diệt, phi hữu phi vô phi ám minh. Vô khởi chư kiến như lai kiến, vô danh khả danh chân Phật danh. Duy hữu ngộ giả ứng năng thức, vị hội chúng sinh do nhược manh. Ngũ canh bàn nhược chiếu vô biên, bất khởi nhất niệm lịch tam thiên. Dục kiến chân như bình đẳng tính, thận vật sinh tâm tức mục tiền. Diệu lí huyền áo phi tâm trắc, bất dụng tầm trục lệnh bì cực. Nhược năng vô niệm tức chân cầu, canh nhược hữu cầu hoàn bất thức. Chân tính tụng: Thủy chung thường diệu cực, chân li tính tình duyến. Lí không vong chiếu diệt, thân chí tịnh minh viên. 夜坐偈云:一更端坐結跏趺,怡神寂照胸(泯)同虛.曠劫由來不生滅,何須生滅滅生渠(無餘).一切諸法皆如幻,本性自空那用除.若識心性非形像,湛然不動自如如.二更凝神轉明淨,不起憶想真如性.森羅萬像併歸空,更執有空還是病.諸法本自非空有,凡夫妄想論邪正.若能不二其居懷,誰道即凡非是聖.三更心淨等虛空,遍滿十方無不通.山河石壁無能障,恒沙世界在其中.世界本性真如性,亦無本性即含融.非但諸佛能如此,有情之類普皆同.四更無滅亦無生,量與虛空法界平.無來無去無起滅,非有非無非暗明.無起諸見如來見,無名可名真佛名.唯有悟者應能識,未會眾生由若盲.五更般若照無邊,不起一念歷三千.欲見真如平等性,慎勿生心即目前.妙理玄奧非心測,不用尋逐令疲極.若能無念即真求,更若有求還不識.真性頌.始終常妙極,眞離性情緣.理空忘照滅,身至淨明圓. Canh một: Tịch chiếu hung đồng hư. Tinh thần hòa thuận, vui vẻ tịch lặng soi chiếu ngực, bụng cùng hư không. Đại Tạng kinh: Tịch chiếu mẫn đồng hư. Tinh thần hòa thuận soi chiếu tịch lặng tan hết cùng hư không. Số kiếp chúng sanh rộng lớn vô cùng, xưa nay vốn là chẳng sanh chẳng diệt, đâu cần khởi lên dập tắt, trừ tuyệt ngòi sanh (sanh cừ). Đại Tạng kinh: diệt vô dư. Tan mất không có về sau. Canh hai: Chư pháp bổn tự phi không hữu. Các pháp tự nó là rỗng không chẳng phải là có. Nhược năng bất nhị kì cư hoài đạt đến chẳng phân biệt làm hai trong nghĩ nhớ. Canh ba: Hàm dung: hòa chứa.

BÁT NHÃ BA LA MẬT TÂM KINH

Biển trí tuệ thanh tịnh,

Lý mật nghĩa sâu kín.

Ba la đến bờ kia,

Hướng đạo chỉ do tâm.

Nghe nhiều ngàn loại ý,

Bất li tuyến nhân châm.

Kinh hoa mịch nhất đạo

Muôn kiếp kính người hiền

Trí tuệ thanh tịnh hải, lí mật nghĩa u thâm. Ba la đáo bỉ ngạn, hướng đạo kì do tâm. Đa văn thiên chủng ý, bất li tuyến nhân châm. Kinh hoa mịch nhất đạo, vạn kiếp chúng hiền khâm. 智慧清淨海, 理密義幽深,波羅到彼岸, 向道秖由心.多聞千種意, 不離線因針,經花糸一道, 萬劫眾賢欽. Bất li tuyến nhân châm. Nghe nhiều thì sanh ra hàng ngàn ý tưởng, chẳng nương nhờ (nhân) bám lấy (li) những lời nói đó như đường (tuyến) kim mũi chỉ khâu (châm). Kinh hoa mịch: Kinh sách nhiều như hoa gấm muôn vẻ mầu sắc, rối rắm như tơ tằm. Bát Nhã tâm kinh chỉ có trong Thiếu Thất lục môn, không có trong Chánh Pháp nhãn tạng, Đại tạng kinh và Tông Cảnh lục.

Quán Tự Tại Bồ Tát

Bồ Tát siêu thánh trí,

Sáu xứ đều ngang đồng.

Tâm không xem tự tại,

Đại thần thông không ngại.

Cửa thiền vào chánh thụ,

Tam muội mặc đông tây.

Mười phương trải qua khắp,

Nào thấy Phật nơi đâu.

Bồ tát siêu thánh trí, lục xứ tất giai đồng. Tâm không quan tự tại, vô ngại đại thần thông. Thiền môn nhập chánh thụ, tam muội nhâm tây đông. Thập phương du lịch biến, bất kiến Phật hành tung. 菩薩超聖智, 六處悉皆同.心空觀自在, 無閡大神通.禪門入正受, 三昧任西東.十方遊歷遍, 不見佛行蹤. Sáu xứ, sáu nơi, lục trần là Sắc, Thanh, Hương, Xúc, Vị, Pháp. Chánh thụ: sự thụ nhận chân chánh.

 Hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời

Sáu năm cầu đại đạo

Hành thâm chẳng lìa thân.

Trí tuệ tâm giải thoát,

Người đến đầu bờ kia.

Đạo Thánh không tĩnh tịch,

Nay ta nói như thế.

Phật hành ý bình đẳng

Đến thời tự vượt bầy.

Lục niên cầu đại đạo, hành thâm bất li thân. Trí tuệ tâm giải thoát, đạt bỉ ngạn đầu nhân. Thánh đạo không tịch tịch, như thị ngã kim văn. Phật hành bình đẳng ý, thì đáo tự siêu quần. 六年求大道, 行深不離身.智慧心解脫, 達彼岸頭人.聖道空寂寂,如是我今聞.佛行平等意, 時到自超群. Sáu năm cầu đạo lớn có thể là tu hành sáu pháp Ba la mật, giác ngộ thực hiện ý bình đẳng.

Chiếu kiến ngũ uẩn giai không

Tham ái thành ngũ uẩn,

Giả hợp được làm thân.

Máu thịt liền xương gân,

Da bọc đống bụi trần.

Lũ mê vui bám chấp,

Người trí chẳng vì thân.

Bốn tướng đều dứt sạch

Kêu là rất thật chân.

Tham ái thành ngũ uẩn, giả hợp đắc vi thân. Huyết nhục liên cân cốt, bì lí nhất đôi trần. Mê đồ sinh lạc trước, trí giả bất vị thân. Tứ tướng giai quy tận, hô thậm nãi vi chân. 貪愛成五蘊,假合得為身,血肉連筋骨, 皮裏一堆塵.迷徒生樂著, 智者不為親,四相皆歸盡,呼甚乃為真. Ngũ uẩn là Sắc, Thanh, Hương, Xúc, Vị. Bốn tướng là Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả.

Độ nhất thiết khổ ách

Vọng buộc làm thân khổ

Ta, người tâm tự mê.

Niết bàn đạo thanh tịnh,

Ai được sáng nương dựa tâm,

Cõi âm sáu trần khởi

Ách nạn nghiệp theo cùng.

Nếu muốn tâm không khổ,

Sớm hiểu ngộ Bồ đề.

Vọng hệ thân vi khổ, nhân ngã tâm tự mê. Niết bàn thanh tịnh đạo, thùy khẳng trứ tâm y. Âm giới lục trần khởi, ách nạn nghiệp tương tùy. Nhược yếu tâm vô khổ, Văn tảo ngộ Bồ đề. 妄繫身為苦, 人我心自迷,涅槃清淨道, 誰肯著心依.陰界六塵起, 厄難業相隨,若要心無苦, 聞早悟菩提. Âm giới lục trần khởi. Cõi trần thế tối tăm khởi lên sáu trần làm cho nhiều tai ách hoạn nạn.

 Xá lợi tử

Đạt đạo nguồn gốc tâm,

Tâm tịnh lợi về nhiều.

Như sen ra khỏi nước,

Đốn giác đạo nguyên hòa.

Thường nơi tướng tịch diệt,

Trí tuệ người khó qua.

Lẻ vượt ngoài ba cõi,

Chẳng vương vấn Ta bà.

Đạt đạo do tâm bổn, tâm tịnh lợi hoàn đa. Như liên hoa xuất thủy, đốn giác đạo nguyên hòa. Thường cư tịch diệt tương, trí tuệ chúng nan quá. Độc siêu tam giới ngoại, canh bất luyến sa bà. 達道由心本,心淨利還多,如蓮華出水,頓覺道源和.常居寂滅相,智慧眾難過,獨超三界外, 更不戀 娑婆. Đốn giác đạo nguyên hòa. Chợt thức tỉnh hiểu ra nguồn gốc tâm hòa đồng cùng nguồn gốc đạo. Ta Bà (Samsāra): nghĩa là cõi ráng chịu đựng. Chúng sinh trong cõi này chịu các đau khổ phiền não, do tham sân si bức bách làm các điều ác, phải chịu nghiệp quả luân hồi trong ba nẻo sáu đường, vẫn cứ đau khổ nhẫn chịu mà không mong muốn giải thoát.

 Sắc bất dị không không bất dị sắc

Sắc Không cùng một loại

Chưa đến thấy hai bên.

Nhị thừa sanh phân biệt,

Chấp tướng tự dối tâm.

Ngoài Không chẳng khác Sắc,

Chẳng Sắc nghĩa mênh mông.

Tánh thanh tịnh không sinh,

Hiểu thấu đấy Niết bàn.

Sắc dữ không nhất chủng. Vị đáo kiến lưỡng bàn. Nhị thừa sinh phân biệt. Chấp tướng tự tâm mạn. Không ngoại vô biệt sắc. Phi sắc nghĩa năng khoan. Vô sinh thanh tịnh tính, ngộ giả tức Niết bàn.色與空一種,未到見兩般,二乘生分別,執相自心謾.空外無別色,非色義能寬,無生 清淨性,悟者即涅槃. Nhị thừa (tiểu thừa) trong Tam thừa là Phật thừa, Bồ Tát thừa và Nhị thừa. Nhị thừa còn phân biệt sắc không, còn sanh ra chấp tướng có tướng không, là còn tự lừa dối tâm.

Sắc tức thị không không tức thị sắc

Chẳng phải trống rỗng chẳng có

Chẳng phải sắc sắc không hình.

Sắc không cùng về một,

Cõi tịnh được yên ổn.

Chẳng phải rỗng không vi diệu.

Chẳng phải hình sắc rõ ràng.

Sắc không đều chẳng phải tướng

Nơi đâu tạo thân hình,

Phi không không bất hữu, phi sắc sắc vô hình. Sắc không đồng quy nhất, tịnh thổ đắc an ninh. Phi không không vi diệu, phi sắc sắc phân minh. Sắc không giai phi tướng, thậm xứ lập thân hình. 非空空不有, 非色色無形,色空同歸一, 淨土得安寧.非空空為妙, 非色色分明,色空皆非相, 甚處立身形. Phi không không bất hữu. Chẳng phải là trống rỗng, hư không, chẳng có gì hết.

Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị

Thụ tưởng nhận các duyên,

Hành thức hay đo lường.

Tâm biến kế nên mất,

Ta, bệnh chẳng liên quan.

Tâm giải thoát chẳng ngại,

Phá chấp ngộ nguồn tâm.

Cho nên nói như thế.

Tánh tướng quanh một loại.

Thụ tưởng nạp chư duyên, hành thức lượng năng khoan. Biến kế tâm tu diệt, ngã bệnh bất tương kiền. Giải thoát tâm vô ngại, phá chấp ngộ tâm nguyên. Cố vân diệc như thị, tính tướng nhất ban ban. 受想納諸緣, 行識量能寬, 遍計心須滅, 我病不相干. 解脫心無礙, 破執悟心源, 故云亦如是, 性相一般般.

Xá lợi tử

Nói Xá luận thân tướng,

Nói Lợi một loại tâm.

Bồ Tát kim cương lực,

Bốn tướng lệnh chớ xâm.

Đạt đạo người lìa chấp,

Thấy tánh pháp vô âm.

Mọi phiền đều dứt hết,

Toàn thể ấy vàng ròng.

Thuyết xá luận thân tướng, lợi ngôn nhất chủng tâm. Bồ tát kim cương lực, tứ tướng vật lệnh xâm. Đạt đạo li nhân chấp, kiến tính pháp vô âm. Chư lậu giai tổng tận, biến thể thị chân kim.說舍論身相,利言一種心,菩薩金剛力,四相勿令侵.達道離人執,見性法無音,諸漏皆總盡,遍體是真金 Hữu lậu: có phiền não. Lậu hoặc: phiền não mê muội. Vô lậu: không còn phiền não.

Thị chư pháp không tướng

Chư Phật nói pháp không,

Thanh văn cầu tướng có.

Dùng kinh tìm đạo lý,

Ngày nào tâm thôi học,

Viên thành chân thật tướng,

Thấy ngay bỏ tu tâm.

Siêu pháp giới khác hẳn,

Tự tại hết lo chi.

Chư Phật thuyết không pháp, thanh văn hữu tướng cầu. Tầm kinh mịch đạo lí, hà nhật học tâm hưu. Viên thành chân thật tướng, đốn kiến bãi tâm tu. Huýnh nhiên siêu pháp giới, tự tại canh hà ưu.諸佛說空法,聲聞有相求,尋經覓道理,何日學心休.圓成真實相,頓見罷心修,迥然超法界,自在更何憂. Huýnh nhiên: đặc biệt, khác hẳn. Các vị Phật nói các pháp rỗng không, không có thật tánh, người tu giới Thánh văn lại dựa vào hình tướng kinh sách để cầu tìm đạo lý. Tâm còn cầu pháp thì vẫn còn phải học mãi từ bên ngoài, tâm không còn thì đấy là siêu pháp giới.

Bất sinh bất diệt

Lô xá thể thanh tịnh

Tướng không xưa nay thật.

Như không cùng khắp cả,

Muôn kiếp thể mãi còn.

Chẳng chung cùng chẳng bám

Chẳng mới cũng chẳng cũ.

Sáng hòa bụi chẳng nhiễm

Ba cõi thành độc tôn.

xá thanh tịnh thể, vô tướng bổn lai chân. Như không giai tổng biến, vạn kiếp thể trường tồn. Bất cộng giai bất trước, vô cựu diệc vô tân. Hòa quang trần bất nhiễm, tam giới độc vi tôn. 盧舍清淨體, 無相本來真,如空皆總遍, 萬劫體長存.不共皆不著, 無舊亦無新,和光塵不染, 三界獨為尊. Lô Xá: Đại Nhật Như Lai (Vairocana, Mahavairocana), Tỳ Lô Xá Na Phật chính là Pháp thân của Phật Thích Ca. Trong Mạn Đà La của Mật giáo thì Đại Nhật Như Lai ở vị trí trung tâm. Ngài là biểu hiện của ánh sáng Trí Tuệ chiếu soi và diệt trừ bóng tối của vô minh.

 Bất cấu bất tịnh

Chân như vượt ba cõi,

Dơ sạch trước nay không.

Thuận người khởi phương tiện,

Giảng kỹ tới nói sơ.

Cõi không không có pháp,

Hiện rõ một vòng cô.

Xưa nay không một vật,

Đâu hợp kêu đôi bên.

Chân như việt tam giới, cấu tịnh bổn lai vô. Năng nhân khởi phương tiện, thuyết tế cập ngôn thô. Không giới vô hữu pháp, thị hiện nhất luân cô. Bổn lai vô nhất vật, khởi hợp lưỡng bàn hô. 真如越三界,垢淨本來無,能仁起方便, 說細及言麤.空界無有法, 示現一輪孤, 本來無一物, 豈合兩般呼. Chân như (Tathatā): là thể tánh tuyệt đối của các thể tinh khiết không ô nhiễm, viên mãn thanh tịnh, thể tánh bất động, lâu bền, ngoài sự lý luận nhận thức. Hiểu rõ chân như tức là giác ngộ, vượt khỏi thế giới nhị nguyên, chứng được nhất thể của khách thể và chủ thể. Chân như đồng nghĩa Như Lai tạng, Phật tánh, Pháp thân. Chân như pháp giới: pháp giới thể tánh của chân như, pháp giới và chân như có ý như nhau. Chân như tánh khởi: sự sinh khởi lên của mọi hiện tượng tùy thuộc hoặc nương vào thể tánh chân như. Chân như tướng: dùng trí huệ trung đạo để làm sáng tỏ tính chất hữu vô của các pháp, thấy các pháp đều là chân như pháp giới. Chân như vô vi: là Thể tánh chân thật của mọi hiện tượng, chân như được gọi là vô vi.

Bất tăng bất giảm

Thể Như Lai không tướng,

Đầy đủ mười phương không.

Trên không khó lập có,

Trong có chẳng thấy không,

Xem giống trăng trong nước.

Nghe như gió bên tai.

Pháp thân nào thêm bớt,

Ba cõi gọi chân dung.

Như Lai thể vô tướng, mãn túc thập phương không. Không thượng nan lập hữu, hữu nội bất kiến không. Khán tự thủy trung nguyệt, văn như nhĩ bạn phong. Pháp thân hà tăng giảm, tam giới hào chân dung. 如來體無相,滿足十方空,空上難立有,有內不見空.看似水中月,聞如耳 畔風, 法身何增減, 三界號真容. Như Lai: sự biểu hiện của Chân như, Thể tánh của vũ trụ, gạch nối giữa hiện tượng và bản thể, đồng nghĩa với Trí tuệ và Tánh không. Kinh Kim Cang: Như Lai là một thực tại như thế, không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu.

Thị cố không trung

Bồ đề chẳng tại ngoài,

Trong văn tìm cũng khó.

Phi tướng phi phi tướng,

Đo lường mất cơ quan.

Thế giới chẳng phải thế giới,

Tam quang chiếu bốn trời.

Xưa nay không chướng ngại,

Nơi nào có chận ngang.

Bồ đề bất tại ngoại, trung văn mịch dã nan. Phi tướng phi phi tướng, lượng trắc thất cơ quan. Thế giới phi thế giới, tam quang chiếu tứ thiên. Bổn lai vô chướng ngại, thậm xử hữu già lan. 菩提不在外,中聞覓也難,非相非非相,量測失機關.世界非世界,三光照四天,本來無障閡,甚處有 遮 欄. Tam quang có thể là Tam minh. Túc mạng minh: Trí tuệ sáng rõ tướng của mình và chúng sinh. Thiên nhãn minh: Trí tuệ sáng rõ tướng sinh tử của chúng sinh. Lậu tận minh: Trí tuệ sáng rõ cảnh khổ của mình nên dùng trí tuệ diệt trừ phiền não. Già lan: lan can ngăn chận. Phi tướng phi phi tướng. Chẳng phải hình tướng, chẳng phải không hình tướng.

Vô sắc thọ tưởng hành thức

Sắc không xưa nay không,

Chẳng nhận ý về cùng.

Hành thức có trong không,

Có hết lại về không.

Chấp có thật chẳng có,

Nương không lại mất không.

Sắc không tâm đều lìa,

Mới đắc chốn thần thông.

Vô sắc bổn lai không, vô thụ ý hoàn đồng. Hành thức vô trung hữu, hữu tận khước quy không. Chấp hữu thật bất hữu, y không hựu lạc không. Sắc không tâm câu li, phương thủy đắc thần thông. 無色本來空, 無受意還同, 行識無中有, 有盡卻歸空. 執有實不有, 依空又落空, 色空心俱離, 方始得神通. Sắc không xưa nay rỗng không, vì tâm nên có sắc, vì tâm nên không sắc, tâm không nhận hình sắc thì ý cùng theo tâm, ý theo tâm không thì hiểu biết, thực hành cũng rỗng không.

Vô nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý

Sáu căn không tự tánh,

Theo tướng nên an bầy.

Sắc chia duyên vang tiếng,

Ta, người miệng khôi hài.

Mũi ai chia thơm thối,

Thân ý tham tình quái

Sáu xứ tham ái dứt,

Muôn kiếp chẳng luân hồi.

Lục căn vô tự tính, tùy tương dữ an bài. Sắc phân duyến thanh hưởng, nhân ngã thiệt khôi hài. Tị hoặc phân hương xú, thân ý dục tình quai. Lục xứ tham ái đoạn, vạn kiếp bất luân hồi.六根無自性,隨相與安排.色分緣聲響,人我舌詼諧.鼻或分香臭,身意欲情乖,六處貪愛斷,萬劫不輪迴.

Vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp

Trí chứng không thanh, sắc,

Hương, vị, xúc khác gì.

Sáu trần theo vọng khởi,

Tâm tục tự nghi ngờ.

Sinh tử thôi sinh tử

Lúc ấy chứng Bồ đề.

Pháp tánh không vô trụ

Chỉ sợ ngộ chậm khác.

Chứng trí vô thanh sắc, hương vị xúc tha thùy. Lục trần tòng vọng khởi, phàm tâm tự hoặc nghi. Sinh tử hưu sinh tử, Bồ đề chứng thử thì. Pháp tính không vô trụ, chỉ khủng ngộ tha trì.證智無聲色,香味觸他誰,六塵從妄起,凡心自惑疑.生死休生死,菩提證此時,法性空無住, 只恐悟 他遲. Sinh tử hưu sinh tử. Tâm không còn sinh ra, chẳng chết đi thì lúc ấy là thức tỉnh giác ngộ.

Vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới

Sáu thức theo vọng khởi,

Dựa nó tánh tự mở.

Mắt, tai gồm thân, ý,

Ai khá tự lượng tài.

Miệng, mũi làm điên đảo,

Tâm chủ khiến quay về.

Sáu thức trong chẳng lâu,

Biết ngay hướng Như Lai.

Lục thức tòng vọng khởi, y tha tính tự khai. Nhãn nhĩ kiêm thân ý, thùy khẳng tự lượng tài. Thiệt tị hành điên đảo, tâm vương tức khiến hồi. Lục thức trung bất cửu, đốn ngộ hướng Như Lai. 六識從妄起,依他性自開,眼耳兼身意,誰肯自量裁.舌鼻行顛倒,心王卻遣回,六識中不久,頓悟向如來Sáu ý thức theo tâm vọng khởi lên, dựa theo ý thức quay trở về, tâm tánh tự mở ra giác ngộ.

Vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận

Có mười hai nhân duyên,

Tướng sanh già cuốn theo.

Có thân đến vô minh,

Hai tướng đều đứng đầu.

Thân mất vô minh hết,

Nhận trả lại tới kỳ.

Biết thân như huyễn hóa,

Nhanh chóng ngộ vô vi.

Thập nhị nhân duyến hữu, sinh hạ lão tướng tùy. Hữu thân vô minh chí, nhị tướng đẳng đầu tề. Thân tận vô minh tận, thụ báo tức lai kì. Trí thân như huyễn hóa, cấp cấp ngộ vô vi. 十二因緣有, 生下老相隨,有身無明至, 二相等頭齊.身盡無明盡, 受報卻來期,智身如幻化, 急急悟無為. Thập Nhị Nhân Duyên: 1.Vô minh là tối tăm, mù mịt không sáng tỏ rõ ràng. Vô minh sinh ra 2.Hành là hành động tạo nghiệp, hành động có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành sinh ra 3.Thức hiểu biết là nền tảng cho một đời sống. Thức sinh ra 4.Danh sắc là toàn bộ tâm lý, vật lý do ngũ uẩn tạo thành. Danh sắc sinh ra 5.Lục căn là các giác quan, lục căn tiếp xúc cảnh bên ngoài gọi là 6.Xúc, cảm xúc tiếp xúc sinh ra 7.Thụ là nhận lấy của con người với thế giới bên ngoài, thụ sinh ra 8.Ái, lòng tham ái ham muốn xuất phát từ vô minh. Ái sinh ra 9.Thủ là điều cá nhân muốn chiếm lấy. Thủ dẫn đến 10.Hữu là toàn bộ những gì gọi là có tồn tại, sự sống, thế giới. Hữu dẫn đến 11.Sinh một thế giới và cá nhân mới xuất hiện. Sinh ra rồi sẽ 12.Lão, Tử có sinh nên có hoại diệt.

Vô khổ tập diệt đạo

Ba cõi khởi Tứ đế

Đốn giáo nghĩa phân minh.

Khổ dứt tập thôi hết,

Đạo Thánh tự nhiên thành.

Thanh văn ngưng vọng tưởng,

Duyên giác ý yên ổn.

Muốn biết nơi xứ Phật,

Tâm cao chớ lưu giữ.

Tứ đế hưng tam giới, đốn giáo nghĩa phân minh. Khổ đoạn tập dĩ diệt, thánh đạo tự nhiên thành. Thanh văn hưu vọng tưởng, Duyên giác ý an ninh. Dục tri thành Phật xứ, tâm thượng mạc lưu đình. 四諦興三界, 頓教義分明,苦斷集已滅, 聖道自然成. 聲聞休妄想, 緣覺意安寧, 欲知成佛處, 心上莫留停. Tứ đế là Khổ đế: Mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ. Người chánh trí, sẽ thấy thế gian có chung bệnh là đau khổ, bất toại nguyện, xung đột giữa tham ái và đời sống. Khổ có ba loại: Khổ khổ, Hành khổ, Hoại khổ. Khổ khổ là khổ thông thường như khổ vì có thân ngũ uẩn sanh, lão, bệnh, tử, khổ khi gần người ghét, xa người thương, khổ khi muốn mà không được… Các loại khổ này có khắp trong trong thế gian. Tất cả những vấn đề, vấn nạn, khó khăn trong đời sống đều nằm trong Khổ Đế. Hành khổ là khổ vì bám víu vào năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Năm uẩn nầy họp lại thành thân và tâm của một chúng sanh, vì bám víu vào năm uẩn nên chúng sanh tạo ra nghiệp, và chịu nhiều đau khổ vì định luật nhân quả. Hoại khổ là sự khổ về vô thường. Chúng sanh và thế gian thay đổi không ngừng, xoay chuyển liên tục, không một ai thoát khỏi sự thay đổi sanh diệt, đôi khi hưởng được một ít hạnh phúc do năm uẩn mang lại, nhưng hạnh phúc này ngắn ngủi, mong manh như sương khói, như điện chớp, khi năm uẩn bị diệt mất, hạnh phúc cũng tan biến mất, thay vào đó là sự đau khổ. Phật nói: Thế gian này thành hình dạng ra từ sự đau khổ. Tập đế: Là nguyên nhân của khổ là sự tụ tập tích lũy từ tham ái, thỏa mãn dục vọng, thỏa mãn được trở thành… Theo đạo Phật không có một vị thượng đế nào quyết định về đời sống của con người, sự đau khổ và nguồn gốc đau khổ không đến từ bên ngoài, đều từ ở bên trong chúng sinh. Nguồn gốc đau khổ là sự tùy thuộc liên hệ giữa những điều kiện từ bên ngoài và lòng tham ái ở bên trong mỗi người. Diệt đế: Nguồn gốc các loại tham ái tan biến mất thì đau khổ cũng được tiêu diệt hết. Đạo đế: Phương pháp để đạt sự diệt khổ là Giới, Định, Tuệ. Giới: giữ gìn đức hạnh. Định: yên tĩnh, ổn định không di chuyển. Tuệ: minh mẫn, sáng suốt, tự tỏ rõ thông suốt từ đầu đến cuối, mà không phải do học hỏi, truyền thụ, giảng dậy.

Vô trí diệc vô đắc

Pháp vốn chẳng có không,

Trí tuệ khó đo lường.

Hoan hỉ tâm lìa bẩn,

Phát quang đầy mười phương.

Nan thắng hiện nơi trước,

Viễn hành đạo tràng lớn.

Bất động vượt bờ bên,

Thiện tuệ pháp trung vương.

Pháp bổn phi vô hữu, trí tuệ nan trắc lượng. Hoan hỉ tâm li cấu, Phát quang mãn thập phương. Nan thắng vu tiền hiện, Viễn hành đại đạo tràng. Bất động siêu bỉ ngạn, Thiện tuệ pháp trung vương. 法本非無有, 智慧難測量,歡喜心離垢, 發光滿十方. 難勝於前現, 遠行大道場, 不動超彼岸, 善慧法中王. Thắng nghĩa căn là ngũ quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Thắng nghĩa đế: 1.Thế gian thắng nghĩa: Đối với pháp do ngũ uẩn hư vọng của thế gian, nói rõ nghĩa chân như mầu nhiệm. 2.Đạo lý thắng nghĩa: Soi tỏ các lẽ trong khổ tập diệt đạo. 3.Chứng đắc thắng nghĩa: Chứng được rõ lẽ người cũng không mà pháp cũng không. 4.Thắng nghĩa thắng nghĩa: Nhất chân pháp giới, chỉ có các vị Phật hiểu rõ hết, chứng nghĩa nhiệm mầu hơn các cả các nghĩa mầu. Pháp trung vương là trí tuệ sáng suốt khéo nhận thấy các pháp đều ở trong tâm chủ. Trí tuệ, Hoan hỉ, Phát quang, Nan thắng, Viễn hành, Bất động là thập địa Bồ đề.

Dĩ vô sở đắc cố

Tịch diệt thể không đắc,

Chân không dứt tay vin.

Xưa nay không tướng mạo,

Tạm quyền lập tam đàn.

Bốn trí mở dậy pháp,

Sáu độ gọi qua ải.

Thập địa tam thừa pháp,

Các Thánh khó lường khác.

Tịch diệt thể vô đắc, chân không tuyệt thủ phàn. Bổn lai vô tương mạo, quyền thả lập tam đàn. Tứ trí khai pháp dụ, lục độ hào đô quan. Thập địa tam thừa pháp, chúng Thánh trắc tha nan.寂滅體無得,真空絕手攀,本來無相貌,權且立三檀.四智開法喻,六度號都關,十地三乘法, 眾聖測他難. Tam đàn (Tam đàn na) có hai nghĩa. Một là Tam đàn thí:  Tài thí đem tiền của bố thí. Pháp thí giác ngộ rồi đem chánh pháp giảng giải ch người giác ngộ. Vô úy thí giảng pháp cho người không còn nỗi ám ảnh sợ hãi. Hai là Tam đàn cụ túc giới: Sa di giới, Tỳ kheo giới và Bồ Tát giới. Tứ trí. Đại viên cảnh trí: Trí tuệ tròn đầy to lớn, trí thanh tịnh không ô nhiễm vào cảnh giới. Bình đẳng tánh trí: Trí tuệ bình đẳng không phân biệt. Diệu quán sát trí: Trí quán sát mầu nhiệm, không vướng mắc vào tri giác sai lầm. Thành sở tác trí: Trí tuệ được tạo thành viên mãn do chuyển hóa lục thức từ sai lầm đến nhận rõ thật tánh của vạn vật, là sự thành tựu của thức thứ tám A lại da thức (tàng thức). Thập địa Tam thừa pháp: Mười pháp tu chứng quả của các vị Phật, Bồ Tát và La Hán. 1.Hoan hỉ địa: Vui trên đường giác ngộ. 2.Li cấu địa: Giữ giới và thực hành thiền định. 3.Phát quang địa: Chứng thật được quy luật vô thường. 4.Diệm huệ địa: Đốt bỏ hết các quan niệm sai lầm, tu tập trí huệ Bát Nhã và 37 Bồ đề phần. 5.Nan thắng địa: Nhập định đạt trí tuệ hiểu sâu về Tứ diệu đế và Chân như. 6.Hiện tiền địa: Hiểu rõ các pháp là vô ngã và lý duyên khởi với 12 nhân duyên, chuyển hoá trí phân biệt thành trí Bát Nhã, nhận thức rõ được tánh Không 7.Viễn Hành địa: Đủ khả năng mọi phương tiện để giáo hoá chúng sinh. 8.Bất Động địa: Không còn bất kỳ cảnh ngộ nào làm cho giao động, tu tập thực hiện không trở ngại. 9.Thiện Huệ địa: Trí tuệ viên mãn, đạt Thập lực, Lục thông, Tứ vô sở uý, Bát giải thoát, biết rõ cơ sở mọi giáo pháp và giảng dạy giáo pháp. 10.Pháp vân địa: Thành đạt viên mãn nhất thiết trí, trí tuệ Phật.

Bồ đề tát đỏa

Phật đạo thật khó biết,

Tát đóa là kẻ phàm.

Chúng sinh cầu thấy tánh,

Kính Phật chớ phụ tâm.

Thế gian thiện tri thức,

Nói luận pháp tinh thô.

Đốn ngộ tâm bình đẳng,

Ở giữa có tướng trừ.

Phật đạo chân nan thức, Tát đóa thị phàm phu. Chúng sinh yếu kiến tính, kính Phật mạc tâm cô. Thế gian thiện tri thức, ngôn luận pháp tế thô. Đốn ngộ tâm bình đẳng, trung gian hữu tương trừ. 佛道真難識, 薩埵是凡夫, 眾生要見性, 敬佛莫心孤. 世間善知識, 言論法細麤, 頓悟心平等, 中間有相除. Trung gian hữu tương trừ. Trong khoảng không gian có đủ chất không bỏ đi thứ gì.

Y Bát nhã Ba la mật đa cố

Nói trí tuệ Bát nhã,

Ba la không chỗ nương.

Tâm không tánh rộng lớn,

Trong ngoài đều vô vi.

Tánh không chẳng ngăn biện.

Ba cõi hiếm người được,

Hiểu cả sáng đại pháp,

Đều khen chẳng nghĩ bàn.

Bàn nhược ngôn trí tuệ, ba la vô sở y. Tâm không tính quảng đại, nội ngoại tận vô vi. Tính không vô ngại biện, tam giới đạt nhân hi. Đại kiến minh đại pháp, giai tán bất tư nghị. 般若言智慧, 波羅無所依,心空性廣大, 內外盡無為.性空無礙辯, 三界達人稀,大見明大法, 皆讚不思議.

Tâm vô quái ngại

Tâm giải thoát không ngại,

Ý như hư không lớn.

Bốn phương không một vật,

Trên dưới cùng đều cả.

Đi đến tâm tự tại,

Pháp người chẳng cùng gặp.

Hỏi đạo chẳng thấy vật,

Kệ xoay thoát cõi phiền.

Giải thoát tâm vô ngại, ý nhược thái hư không. Tứ duy vô nhất vật, thượng hạ tất giai đồng. Lai vãng tâm tự tại, nhân pháp bất tương phùng. Phóng đạo bất kiến vật, nhâm vận xuất phiền lung. 解脫心無閡, 意若太虛空, 四維無一物, 上下悉皆同. 來往心自在, 人法不相逢, 訪道不見物, 任運出煩籠. Tâm được giải thoát thì không còn việc gì, thứ gì làm cho trở ngại, không còn trở ngại thì ý rộng lớn như hư không. Tâm ý được giải thoát khỏi tất cả phiền não.

Vô quái ngại cố vô hữu khủng bố

Sống chết tâm sợ hãi,

Vô vi tánh tự an.

Cảnh mất tâm cũng mất,

Tánh như biển rộng sâu.

Ba thân về cõi tịnh,

Tám thức lìa nhân duyên.

Sáu thông tùy tướng thật,

Về gốc tức về nguồn.

Sinh tử tâm khủng phố, vô vi tính tự an. Cảnh vong tâm diệc diệt, tính hải trạm nhiên khoan. Tam thân quy tịnh thổ, bát thức li nhân duyến. Lục thông tùy thật tương, phục bổn tức hoàn nguyên. 生死心恐怖,無為性自安,境忘心亦滅,性海湛然寬.三身歸淨土, 八識離因緣, 六通隨實相, 復本卻還源Tam thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Pháp thân: thể tính chân thật của Phật (Người giác ngộ). Pháp thân là thể Chân như tinh khiết, tất cả các sự sống đều có sẵn ở bên trong. Pháp thân cũng là quy luật vận hành tự nhiên trong vũ trụ. Báo thân: hoặc Thụ dụng thân là thân hưởng thụ qua những duyên nghiệp đã có từ trước. Ứng thân, Hoá thân: là thân Phật và Bồ Tát hiện diện trong trần thế. Ứng thân do báo thân chiếu hiện. Tám thức: Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý và Tiềm thức (Mạc na thức), Tàng thức (A lại da thức).

Viễn li điên đảo mộng tưởng

Hai bên đều chớ lập,

Đạo giữa tu tâm vật.

Thấy tánh sinh tử dứt,

Bồ đề không nơi cầu.

Ngoài thân tìm chân Phật,

Điên đảo một đời thôi.

Ngồi yên thân an vui,

Vô quả vi tự tròn.

Nhị biên thuần mạc lập, trung đạo vật tâm tu. Kiến tính sinh tử tận, Bồ đề vô sở cầu. Thân ngoại mịch chân Phật, điên đảo nhất sinh hưu. Tĩnh tọa thân an lạc, vô vi quả tự chu. 二邊純莫立,中道勿心修,見性生死盡,菩提無所求.身外覓真佛,顛倒一生休,靜坐身安樂,無為果自周.

Cứu cánh Niết bàn

Cuối cùng tánh không sinh,

Thanh tịnh ấy Niết bàn.

Kẻ phàm chớ lường Thánh,

Chưa đến tức khó ứng.

Có học tức không học,

Trí Phật chuyển thâm huyền.

Muốn hiểu lý vô tâm,

Chớ chấp tức tâm nguyên.

Cứu cánh vô sinh tính, thanh tịnh thị Niết bàn. Phàm phu mạc trắc thánh, vị đáo tức ứng nan. Hữu học tức vô học, Phật trí chuyển thâm huyền. Yếu hội vô tâm lí, mạc trước tức tâm nguyên.究竟無生性,清淨是涅槃,凡夫莫測聖,未到即應難.有學卻無學,佛智轉深玄,要會無心理,莫著息心源.

Tam thế các vị Phật

Quá khứ nói không đúng,

Vị lai chẳng là thật.

Hiện tại mầm Bồ đề,

Pháp không gọi cửa huyền.

Ba thân về cùng một,

Một tánh đều trong thân.

Đạt lý chẳng tam thế,

Một pháp được không người.

Quá khứ phi ngôn thật, vị lai bất vi chân. Hiện tại Bồ đề tử, vô pháp hào huyền môn. Tam thân đồng quy nhất, nhất tính biến hàm thân. Đạt lí phi tam thế, nhất pháp đắc vô nhân. 過去非言實, 未來不為真,現在菩提子, 無法號玄門.三身同歸一一性遍含身,達理非三世, 一法得無因. Tam thế là ba đời các vị Phật quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng là tam thân Phật Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Ba thân cùng một tánh Phật, thông suốt lý thì chẳng có ba thân, ba thân không có thì một thân cũng chẳng có. Kinh Kim Cang: Như Lai nói tâm không phải thật có tâm, chỉ giả gọi là tâm, tại sao vậy, vì tâm quá khứ không thế có được, tâm hiện tại không thể có được, tâm vị lai cũng không thể có được.

Y Bát Nhã Ba la mật đa cố đắc A nậu Đa la Tam miệu tam Bồ đề

Trí Phật sâu khó lường,

Tuệ mở rộng vô biên.

Tâm vô thượng chánh biến,

Từ quang khắp đầy trời.

Trong tâm khéo tịch diệt,

Thừa tạo dựng muôn thứ.

Bồ Tát nhiều phương tiện,

Rộng cứu người khắp trời.

Phật trí thâm nan trắc, Tuệ giải quảng vô biên. Vô thượng tâm chánh biến. Từ quang mãn đại thiên. Tịch diệt tâm trung xảo. Kiến lập vạn dư bàn. Bồ tát đa phương tiện. Phổ cứu vi nhân thiên. 佛智深難測,慧解廣無邊,無上心正遍, 慈光滿大千寂滅心中巧, 建立萬餘般,菩薩多方便, 普救為人天. Chánh biến (Chánh tri biến): Biết khắp không gian, thời gian chẳng có bên này bên kia, đối đãi, trái nghịch tức là hiểu biết bản thể Phật tánh, khắp thời gian thì chẳng sanh diệt, gọi là Niết Bàn, khắp không gian thì chẳng khứ lai, gọi là Như Lai.

 Cố tri Bát Nhã Ba la mật đa thị đại thần chú thị đại minh chú

Bát Nhã là thần chú,

Giỏi trừ năm uẩn nghi.

Phiền não đều dứt hết,

Thanh tịnh tự chia lìa.

Bốn trí sóng vô tận,

Tám thức đầy thần uy.

Đèn tâm sáng cõi pháp,

Ngay đấy thế Bồ đề.

Bàn nhược vi thần chú, năng trừ ngũ uẩn nghi. Phiền não giai đoạn tận, thanh tịnh tự phân li. Tứ trí ba vô tận, bát thức hữu thần uy. Tâm đăng minh pháp giới, tức thử thị Bồ đề. 般若為神咒, 能除五蘊疑,煩惱皆斷盡, 清淨自分離.四智波無盡, 八識有神威,心燈明法界, 即此是菩提.

Thị vô thượng chú

Gọi tột cùng vô thượng,

Vượt qua bầy lũ mê.

Ma ha chủ ba cõi,

Nguyện rộng khởi từ bi.

Năng thuận ý chúng sinh,

Tùy dẫn hóa chuyển mê.

Người người qua bờ bên,

Do mình chẳng nương ai.

Vô thượng xưng tối thắng, bạt tế vi quần mê. Ma ha tam giới chủ, nguyện quảng khởi từ bi. Năng thuận chúng sinh ý, tùy lưu dẫn hóa mê. Nhân nhân khởi bỉ ngạn, do ngã bất do y.無上稱最勝,拔濟為群迷,摩訶三界主,願廣起慈悲.能順眾生意,隨流引化迷,人人起彼岸,由我不由伊.

Thị vô đẳng đẳng chú

Đạo Phật thành ngàn Thánh,

Pháp lực không gì qua.

Chân không hết mọi có,

Thần hiện nhiều hóa thân.

Đến giúp chúng sinh khổ.

Giúp bỏ thế gian ma.

Kiếp thạch đều về hết,

Duy ngã tại Ta bà.

Phật đạo thành thiên thánh, pháp lực canh vô quá. Chân không diệt chư hữu, kỳ hiện hóa thân đa. Lai vi chúng sinh khổ, khứ vi thế gian ma. Kiếp thạch giai quy tận, duy ngã tại sa bà. 佛道成千聖, 法力更無過,真空滅諸有, 示現化身多.來為眾生苦, 去為世間魔,劫石皆歸盡, 唯我在娑婆. Kiếp trạch: Một kiếp người trăm năm sinh tử, một kiếp đá hàng ngàn vạn triệu năm sanh diệt.

Năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư

Phật nguyện rộng tâm từ,

Đời đời độ chúng sinh.

Hoằng pháp dạy chân lý,

Rộng khuyên nhanh tu hành.

Hồi tâm thấy thật tướng,

Hết khổ thấy không sinh.

Ngưng hết ba đường ác,

Thảnh thơi vui muôn dặm.

Phật nguyện từ tâm quảng. Thế thế độ chúng sinh. Hoằng pháp đàm chân lí. Phổ khuyến cấp tu hành. Hồi tâm kiến thật tương. Khổ tận kiến vô sinh. Vĩnh tức tam ác đạo. Thản đãng lạc lí lí. 佛願慈心廣,世世度眾生,弘法談真理,普勸急修行.回心見實相,苦盡見無生, 永息三惡 道, 蕩樂裏裏.

Cố thuyết Bát Nhã Ba la mật đa chú

Thuyết giảng lý chân như,

Chưa ngộ mau hồi tâm.

Sáu giặc mười ác dứt,

Mồ ma gom diệt nguồn.

Thần chú trừ ba độc,

Hoa tâm năm cánh mở.

Nền gốc kết quả chín,

Từng bước thấy Như Lai.

Cố thuyết chân như lí, vị ngộ tốc tâm hồi. Lục tặc thập ác diệt, ma san hợp để tồi. Thần chú trừ tam độc, tâm hoa ngũ diệp khai.Quả thục căn bàn kết, bộ bộ kiến Như Lai. 故說真如理, 未悟速心回,六賊十惡滅, 魔山合底摧.神咒除三毒, 心花五葉開,果熟根盤結, 步步見如來.

Tức thuyết chú: Gate Gate Pàragate Pàràsamïgate Bodhi Svàhà

Gate bản tông cương,

Khéo giúp thấy đạo tràng.

Như Lai tối tôn thắng,

Tâm phàm chớ so lường.

Không biên không trong giữa,

Không ngắn cũng chẳng dài.

Bát nhã Ba la mật,

Muôn đời xưa nay thường.

Gate bổn tông cương, phù ki kiến pháp tràng. Như Lai tối tôn thắng, phàm tâm mạc đẳng lượng. Vô biên vô trung tế, vô đoản diệc vô trường. Bàn nhược ba la mật, vạn đại cổ kim thường. 羯諦本宗綱,扶機建法幢,如來最尊勝,凡心莫等量.無邊無中際,無短亦無長,般若波羅蜜, 萬代古今常. Gate là chữ Phạn nghĩa là vượt qua. Phiên âm là: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha ma ha. Thần chú là mật ngữ không thể giải thích được.

Advertisements

Tiên tri về năm 2018 (Nhà tiên tri Craig Hamilton-Parker)


Tiên tri về năm 2018: Kim Jong-un bị lật đổ, khủng hoảng môi trường chưa từng thấy

 

Nhà tiên tri Craig Hamilton-Parker, người từng tiên đoán chính xác về sự kiện Anh rời Liên minh châu Âu (Brexit) hay chiến thắng của Tổng thống Mỹ Donald Trump, mới đây đã có những tiết lộ đáng sợ về năm 2018.

Nhà tiên tri Craig Hamilton-Parker. (Ảnh: Info KS)

Craig Hamilton-Parker, người thường xuyên tiên tri về các sự kiện toàn cầu, mới đây đã tiên đoán rằng năm 2018 sẽ có vụ tấn công khủng bố trên đường cao tốc Anh, tình hình Triều Tiên có nhiều biến động và cuộc tấn công vũ khí hoá học vào một thành phố châu Âu.

“Năm 2018 sẽ là năm hỗn loạn chính trị và khủng hoảng môi trường – gây ra bởi thời tiết khắc nghiệt chưa từng có”, ông viết trên blog cá nhân.

Cụ thể hơn, ông Hamilton-Parker tiên đoán New Zealand sẽ đối mặt với một trận động đất lớn và nghiêm trọng; một tàu chiến Mỹ sẽ bị đánh chìm; Hoàng tử Harry của Anh sẽ công bố hôn nhân với Meghan Markle; ông Donald Trump sẽ được ủng hộ mạnh mẽ hơn sau khi vượt qua được một âm mưu buộc tội; và một ngọn núi lửa gần Naples sẽ phun trào.

Ông cũng tin rằng một phần lớn các tảng băng ở Nam Cực sẽ bị tan chảy, trong khi Hoa Kỳ sẽ sụt giảm thương mại ở phương Đông khi Trung Quốc và Nga tạo thành liên minh quân sự và kinh tế để đối phó với cuộc khủng hoảng Triều Tiên.

Tại Triều Tiên, ông Hamilton-Parker dự đoán rằng sự kiểm soát của ông Kim Jong-un đối với Triều Tiên sẽ nới lỏng, tin rằng Kim Jong-un sẽ bị người dân lật đổ sau khi các lực lượng Hoa Kỳ tấn công một tuyến thương mại chính.

Kim Jong-un có thể bị lật đổ và sống lưu vong ở Trung Quốc. (Ảnh: Huffington Post)

Ông Hamilton-Parker nói Kim Jong-un sẽ mất tích và một số người sẽ tuyên bố ông ta sống một cuộc sống bí mật ở Trung Quốc.

“Nhiều dự đoán ở trên khá ảm đạm, nhưng tôi cảm thấy rằng đồng thời người dân thế giới sẽ tin tưởng hơn về tâm linh, điều này sẽ bắt đầu đưa chúng ta vào Thời Đại Vàng”, nhà tiên tri cho hay.

Dự báo về môi trường:

Núi Vesuvius ở Ý sẽ phun trào và dân Naples sẽ được di tản.

Sẽ có sự gia tăng hoạt động địa chấn – bao gồm những nơi không hề có địa chấn trong 1.000 năm qua – với một trận động đất nghiêm trọng ở New Zealand.

Các vùng biển phía Nam sẽ không thể đi lại được tại một số nơi do lượng lớn băng bị vỡ ở Nam Cực.

Sẽ có những cơn siêu bão kỷ lục ở vùng Caribe.

Dự báo về xung đột và khủng bố:

Lệnh cấm vận thương mại với Triều Tiên sẽ thất bại và Mỹ sẽ tấn công đường sắt và những cây cầu để cắt đứt nhập khẩu của Bình Nhưỡng.

Kim Jong-un sẽ bị lật đổ bởi người dân của mình và sẽ mất tích, một số người cho rằng ông ta sống một cuộc sống bí mật ở Trung Quốc.

Xuất hiện dịch cúm trên thế giới, có thể liên quan đến chiến tranh sinh học bắt nguồn từ Triều Tiên hoặc một nhóm khủng bố.

Nhật Bản sẽ trả tiền thuê các dịch vụ phòng thủ tên lửa của Mỹ.

Một gian lận Bitcoin khổng lồ sẽ được khám phá và ngăn chặn nó cấp ngân sách cho khủng bố và chiến tranh. Một công ty nổi tiếng của Mỹ có liên quan vào vụ bê bối.

Những kẻ khủng bố sẽ tấn công khí gas hóa học bằng các thiết bị bay không người lái vào một thủ đô của châu Âu. Đây có thể là London hay Berlin – hoặc cả hai.

Một cuộc tấn công vũ khí hóa học vào một trường học sẽ bị chặn đứng vào phút chót.

Ông Trump càng được ủng hộ rộng rãi hơn sau khi vượt qua được một âm mưu buộc tội của phe đối lập. (Ảnh: Getty)

Dự báo về kinh tế:

Đồng euro sẽ sụt giảm và vào cuối năm 2018 và vào năm 2019, sẽ có những cuộc bạo động khi suy thoái kinh tế trầm trọng hơn.

Anh và Mỹ sẽ bị ảnh hưởng bởi đồng euro yếu, nhưng nền kinh tế của họ sẽ hồi phục nhanh chóng và đồng bảng Anh cùng đô-la sẽ được xem như là tài sản trú ẩn an toàn cho tiền tệ và đầu tư quốc tế.

Đan Mạch và Ý sẽ rút khỏi EU khi euro bị phá sản.

Dự báo về Mỹ

Một nỗ lực buộc tội Donald Trump vào giữa năm 2018 sẽ thất bại và kết quả là ông càng được ủng hộ mạnh mẽ hơn.

Ông Trump sẽ khởi động một thỏa thuận thương mại khổng lồ với Anh trước Brexit, nó sẽ làm rung chuyển EU.

Bức tường biên giới Mexico sẽ không được xây dựng. Thay vào đó nó sẽ bao gồm máy bay không người lái và bộ cảm biến.

Hoa Kỳ sẽ suy giảm thương mại ở phương Đông khi Trung Quốc và Nga thành lập một liên minh quân sự và kinh tế để đối phó với cuộc khủng hoảng Triều Tiên và chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ.

Một tàu chiến Hoa Kỳ sẽ bị chìm bởi một hoạt động của bom mìn hoặc khủng bố.

Hoa Kỳ sẽ cho Nhật Bản thuê vũ khí hạt nhân.

Tuệ Tâm (t/h)

http://thoibao.today/paper/tien-tri-ve-nam-2018-kim-jongun-bi-lat-do-khung-hoang-moi-truong-chua-tung-thay-2573377

THẾ CHIẾN III


http://www.vanews.org/2016/10/tin-nong-my-chinh-thuc-cong-bo-khai.html

TIN NÓNG: Mỹ chính thức công bố khai chiến với Nga, Trung Cộng và các nước đối nghịch…

Đăng bởi Thùy Trâm vào Chủ Nhật, ngày 09 tháng 10 năm 2016 | 9.10.16

Tướng Mark Milley tuyên bố: “We will beat you harder than ever before” (Chúng tôi sẽ đánh các người nặng nề hơn bất cứ lúc nào trước đây).

MỸ KHAI CHIẾN VỚI NGA, TRUNG QUỐC VÀ CÁC BÊN ĐỐI NGHỊCH..

Nga đưa hỏa tiễn phòng không S-300 đến Syria và lãnh đạo quân Syria tấn công các phe dân quân đối lập chống lại chính quyền Bashar al-Assad là lực lượng do Mỹ huấn luyện để chống quân khủng bố Hồi giáo ISIS. Nga thách thức Hoa Kỳ bằng hành động chiến tranh.

Thế nên hôm nay Tướng Mark Milley, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ chính thức công bố sẵn sàng Thế Chiến Thứ 3 để đáp trả đánh bại các kẻ thù Nga, Trung Quốc, Iran, Bắc Hàn hay bất cứ kẻ thù nào, ở bất cứ nơi đâu trên toàn Thế giới. Tình hình đang rất nghiêm trọng..

Tướng Mark Milley tuyên bố: “We will beat you harder than you have ever been beaten before” (Chúng tôi sẽ đánh các người nặng nề hơn bất cứ lúc nào trước đây).

Army Chief of Staff Gen. Mark Milley warned last night that the United States was ready to “destroy” its enemies in comments that were clearly directed at Russia.

“I want to be clear to those who wish to do us harm….the United States military – despite all of our challenges, despite our [operational] tempo, despite everything we have been doing – we will stop you and we will beat you harder than you have ever been beaten before. Make no mistake about that,” said Milley.

The General went on to warn that Russia and other countries had taken advantage of the U.S. being focused on the war on terror.

KHỔNG MINH MÃ TIỀN KHÓA – THÔI BỐI ĐỒ – THIÊU BÍNH CA


Đến thời điểm này, nhận thấy thời điểm của nước Trung Hoa đã ứng theo Sấm ký.

KHỔNG MINH – MÃ TIỀN KHOÁ

孔明馬前課

按孔明馬前課,乃軍中閒暇之時,作此以示後人,趨避之方,此十四課為馬前課中之別裁,每一課指一朝其興衰治亂可得言諸外,至十四課止者,兩次來復之期也,殿以未濟,以見此後又一元矣。天道循環,明者自明,昧者自昧,又烏可以坐而致哉?

八六老僧白鶴山守元誌

Án Khổng Minh Mã Tiền Khóa, nãi quân trung gian hạ chi thì, tác thử dĩ kì hậu nhân, xu tị chi phương, thử thập tứ khóa vi mã tiền khóa trung chi biệt tài, mỗi nhất khóa chỉ nhất triêu kì hưng suy trì loạn khả đắc ngôn chư ngoại, chí thập tứ khóa chỉ giả, lưỡng thứ lai phục chi kì dã, điện dĩ vị tể, dĩ kiến thử hậu hựu nhất nguyên hĩ. Thiên đạo tuần hoàn, minh giả tự minh, muội giả tự muội, hựu ô khả dĩ tọa nhi trí tai ?

Bát lục lão tăng Bạch Hạc sơn Thủ Nguyên chí.

 Muốn biết và tin tưởng vào tương lai, cần dõi tìm hiểu rõ ở quá khứ

Xác nhận và nắm vững quá khứ và hiện tại, sẽ tin tưởng vào tương lai

 Đại lược của Sư Thủ Nguyên:

Trong quân lữ khoảng thời gian nhàn rỗi, Khổng Minh gieo quẻ trước ngựa để người đời sau biết phương nào mà tới, phương nào mà tránh. Mỗi quẻ chỉ một triều đại, hưng suy trị loạn thế nào người ta có thể hiểu được ngoài lời nói.

Đại đạo tuần hoàn, người sáng suốt thì tự hiểu, kẻ ngu tối thì cứ mịt mù mê muội trong u tối, dâu có ngồi yên không làm gì mà hiểu thấu được .

Lời bàn:

Đoạn trên rất ích lợi cho người đọc, nếu suy ngẫm và hiểu thấu đáo, không riêng gì vấn đề Sấm truyền mà còn cho mọi vấn đề mọi phương diện khác, nhất là đang sống toàn cảnh trong ngoài nước Việt, các sự kiện trên thế giới ngày càng dần đi tới tình cảnh rối ren, hỗn loạn, khủng hoảng … mọi vấn đề, “Thế đồ đa hiểm trở – Dục vãng cánh hà chi : đường đời bao hiểm trở – Muốn đi nào biết đi đâu ?”, đi đâu không hiểm trở ?, muốn, muốn đi nào biết đi đâu ?, mà đi đâu thì ở đâu cũng đã và đang hoặc sẽ đầy hiểm trở !!!, nếu cứ ùa theo dòng trào lưu xu thế mà không xét kỹ, có thể tưởng rằng bỏ nơi nguy hại sẽ có hiện nay, nhưng không đến nguy hại lớn và sẽ được yên ổn về sau, để rồi lao vào nguy hại nhiều hơn hoặc rồi sẽ nguy hại lớn hơn về sau.

 第一課 ○●●●●○ 中下

無力回天 鞠躬盡瘁

陰居陽拂 八千女鬼

證曰 : 陽陰陰陰陰陽在卦為頤

解曰 : 諸葛鞠躬盡瘁而死  後蜀漢後主降於魏

Quẻ thứ nhất: Quẻ Di (Trung Hạ)

Vô lực hồi thiên

Cúc cung tận tụy

Âm cư dương phất

Bát thiên nữ quỷ

Chứng viết:  dương âm âm âm âm dương tại quái vi Di

Giải viết:  chư cát cúc cung tận tụy nhi tử, hậu Thục Hán hậu chủ hàng vu Ngụy

Dịch nghĩa:

Không có sức (để) xoay ngược lại (được) cơ trời

Còng lưng kiệt sức

Âm ở lại dương lướt qua

Tám ngàn nữ quỷ

Sư Thủ Nguyên ở núi Bạch Hạc sống vào năm Gia Tĩnh đời Minh đoán như sau:

Sau khi Khổng Minh chết, hậu chúa hàng Ngụy, bốn chữ bát 八 thiên 千 nữ  女 quỷ 鬼 hợp lại thành chữ Ngụy 魏

  1. 第二課 ○●○○●○ 中下

火上有火 光燭中土

稱名不正 江東有虎

證曰 : 陽陰陽陽陰陽在卦為離

解曰 : 司馬炎篡魏  元帝都建康屬江東

Quẻ thứ 2: Quẻ Ly (Trung Hạ)

Hỏa thượng hữu hỏa (Viêm : 炎)

Quang chúc trung thổ

Xưng danh bất chính

Giang Đông hữu hổ

Chứng viết:  dương âm dương dương âm dương tại quái vi Li

Giải viết:  Ti (Tư) Mã Viêm 炎 soán Ngụy, nguyên đế đô kiến khang chúc Giang Đông

Dịch nghĩa:

Trên lửa có lửa

Soi sáng trung thổ (vùng dất ở giữa)

Xưng danh không chính đáng

Giang Đông có cọp

Lời giải thích của sư Thủ Nguyên:

Lưỡng hỏa thành Viêm ý nói Tư Mã Viêm lên ngôi thế nhà Ngụy. Tư Mã Viêm sẽ thống nhất Trung Hoa, nhưng xưng danh không chính đáng, sau này con cháu chạy về phía Giang Đông.

  1. 第三課 ○●●●●● 下下

擾擾中原 山河無主

二三其位 羊終馬始

證曰 : 陽陰陰陰陰陰在卦為剝

解曰 : 五代始於司馬 (五代始於蕭氏 ) 終於楊氏

Quẻ thứ ba: Quẻ Bác (Hạ Hạ)

Nhiễu nhiễu Trung Nguyên

Sơn hà vô chủ

Nhị tam kì vị

Mộc chung mã thảo 草 thủy

Chứng viết:  dương âm âm âm âm âm tại quái vi bác

Giải viết:  ngũ đại thủy vu ti mã (ngũ đại thủy vu Tiêu thị ) chung vu Dương thị

Dịch nghĩa:

Trung Nguyên nhiễu loạn (rối loạn)

Sơn hà (quốc gia) không có chủ

Lại hai ba đời (ngôi vị)

Mộc cuối  mã 馬 đầu (bản khác là chữ thảo 草)

Chứng viết:  dương âm âm âm âm âm tại quái vi Bác

Giải viết:  ngũ đại thủy vu ti mã (ngũ đại thủy vu Tiêu thị), chung vu Dương thị

 Sư Thủ Nguyên giải thích rằng:

Trung Nguyên (Trung Quốc) bị rối loạn, đất nước không có chủ (chính thức). Hai ba đời là ngũ đại. Đời Ngũ Đại (Tề, Lương, Trần, Ngụy, Tùy) bắt đầu từ họ Tiêu có chữ thảo đầu, tức là Tiêu Đạo Thành và kết thúc bằng họ Dương tức là Dương Đế có chữ mộc ở bên.

  1. 第四課 ●●○●○● 中上

十八男兒 起於太原

動則得解 日月麗天

證曰 : 陰陰陽陰陽陰在卦為解

解曰 : 李唐起於太原  武曌稱周

Quẻ thứ tư: Quẻ Giải (Trung Thượng)

Thập bát nam nhi

Khởi vu Thái Nguyên

Động tắc đắc giải

Nhật nguyệt lệ thiên

Chứng viết:  âm âm dương âm dương âm tại quái vi Giải

Giải viết:  Lí Đường khởi vu Thái Nguyên, Vũ ? xưng Chu

Dịch nghĩa:

Mười tám người con trai

Dấy (khởi) lên từ Thái Nguyên

Động ắt được giải (thông)

Mặt trời mặt trăng (sáng) đẹp (ở trên) bầu trời.

 Sư Thủ Nguyên giải:

Nam nhi là chữ tử 子, thập bát tử là chữ Lý 李, chỉ Lý Uyên khởi binh từ Thái Nguyên, sau lên ngôi vua là Đường Cao Tổ, con nối ngôi là Lý Thế Dân tức Đường Thái Tông.

  1. 第五課 ○○○●●● 下中

五十年中 其數有八

小人道長 生靈荼毒

證曰 : 陽陽陽陰陰陰在卦為否

解曰 : 五代八姓  共五十三年

Quẻ thứ năm: Quẻ Bỉ (Hạ Trung)

Ngũ thập niên trung

Kì sổ hữu bát

Tiểu nhân đạo trưởng

Sinh linh đồ độc

Chứng viết:  dương dương dương âm âm âm tại quái vi Phủ (否: phủ, bĩ)

Giải viết:  ngũ đại bát tính, cộng ngũ thập tam niên

Dịch nghĩa:

Trong năm mươi năm

Số đó là tám

Tiểu nhân đạo trưởng (kẻ tầm thường mà muốn ra làm đạo lý xa dài)

Làm hại sinh linh (thần và người ắt phải căm giận cay đắng)

Sư Thủ Nguyên giải:

Sau Đường là đời Ngũ Đại trải 53 năm (Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu), có 8 họ làm vua cả thẩy (Đướng, Vương, Tiêu, Lưu, Mã, Cao, Mạnh, Lý) làm cho mọi sanh linh than thở căm giận oán ghét.

  1. 第六課 ●○○●○○ 上中

惟天生水 順天應人

剛中柔外 土乃生金

證曰 : 陰陽陽陰陽陽在卦為兌

解曰 : 趙宋黃袍加身  而立敵為金

Quẻ thứ sáu: Quẻ Đoài (Thượng Trung)

Duy thiên sinh thủy

Thuận thiên ứng nhân

Cương trung nhu ngoại

Thổ nãi sinh kim

Chứng viết:  âm dương dương âm dương dương tại quái vi Đoái

Giải viết: Triệu Tống hoàng bào gia thân, nhi lập địch vi Kim

Dịch nghĩa:

Chỉ có trời (mới) sinh (ra) nước

Thuận theo trời (thì mới) hợp lòng người

Trong cứng ngoài mềm

Đất sẽ sinh kim

Sư Thủ Nguyên giải thích:

Họ Triệu (Triệu Khuông Dẫn) lập nhà Tống, thống nhất Trung Hoa. Sau đó, Kim vào cướp phá, đó là cứng bên trong mà mềm bên ngoài (Thổ nãi sinh Kim).

  1. 第七課 ●○●○○● 中中

一 兀 復始 以剛處中

五五相傳 爾西我東

證曰 : 陰陽陰陽陽陰在卦為井

解曰 : 元代共十主  後各汗國分裂

Quẻ thứ bảy: Quẻ Tỉnh (Trung Trung)

Nhất ngột phục thủy

Dĩ cương xử trung

Ngũ ngũ tương truyền

Nhĩ tây ngã đông

Chứng viết:  âm dương âm dương dương âm tại quái vi Tỉnh

Giải viết:  Nguyên đại cộng thập chủ, hậu các hãn quốc phân liệt

Dịch nghĩa:

Một (cái, sự) cao chót vót trở lại đầu

Lấy (cái) cứng bền đặt ở chính giữa

Năm năm truyền cho nhau

Người ở bên tây ta bên đông

Sư Thủ Nguyên giải thích:

Chữ nhất 一 và chữ ngột 兀 hợp thành chữ nguyên 元 chỉ nhà Nguyên đánh lấy Trung Quốc, truyền được ngũ ngũ là 10 đời vua, về sau mỗi chúa hùng cứ một nơi hai bên Đông Tây (nội Mông và ngoại Mông).

  1. 第八課 ○○●●●○ 上上

日月麗天 其色若赤

綿綿延延 凡十六葉

證曰 : 陽陽陰陰陰陽在卦為益

解曰 : 朱即赤  日月是明  共十六主

Quẻ thứ tám: Quẻ Ích (Thượng Thượng)

Nhật nguyệt lệ thiên

Kì sắc nhược xích

Miên miên diên diên

Phàm thập lục diệp

Chứng viết:  dương dương âm âm âm dương tại quái vi Ích

Giải viết:  chu tức xích, nhật nguyệt thị minh, cộng thập lục chủ

Dịch nghĩa:

Mặt trăng mặt trời đẹp (ở trên) bầu trời

Sắc của nó màu đỏ

Kéo dài không dứt

Tính thành mười sáu lá.

Sư Thủ Nguyên dịch nghĩa:

Chữ nhật 日 chữ nguyệt 月 thành chữ minh 明 chỉ nhà Minh. sắc đỏ chỉ chữ chu 朱 là họ Chu đời nhà Minh, Minh Thái Tổ là Chu Nguyên Chương, đời nhà Minh được 16 đời.

  1. 第九課 ○●○●●● 中上

水月有主 古月為君

十傳絕統 相敬若賓

證曰 : 陽陰陽陰陰陰在卦為晉

解曰 : 水月有主是清也  古月是胡也  滿清十皇朝最後亡於宣統

Quẻ thứ chín: Quẻ Tấn (Trung Thượng)

Thủy nguyệt hữu chủ

Cổ nguyệt vi quân

Thập truyền tuyệt thống

Tương kính nhược tân

Chứng viết: dương âm dương âm âm âm tại quái vi Tấn

Giải viết: thủy nguyệt hữu chủ thị Thanh dã, cổ nguyệt thị Hồ dã, Mãn Thanh thập hoàng triêu tối hậu vong vu tuyên thống

Dịch nghĩa:

Có trăng có nước lại có chủ

Trăng xưa làm vua

Truyền được mười lần thì dứt

Xem nhau như khách

Sư Thủ Nguyên nói:

Ba chữ thuỷ 水, nguyệt 月, chủ 有 hợp lại thành chữ thanh 清 ý chỉ nhà Thanh. Hai chữ cổ 古 và nguyệt 月 hợp lại thành chữ hồ 胡 chỉ người Hồ ở phương Bắc làm vua, truyền được 10 đời thì hết.

–      Lão tăng sinh vào năm thứ 10 đời Gia Tĩnh, đến nay đã 86 tuổi, từ đây về sau không dám bàn láo nữa.

  1. 第十課 ●○●○●● 中下

豕後牛前 千人一口

五二倒置 朋來無咎

證曰 : 陰陽陰陽陰陰在卦為蹇

解曰 : 豕後牛前  辛亥也  千人一口為和  五二倒置是民也  朋者外邦也

Quẻ thứ mười: Quẻ Kiển (Trung Hạ)

Thỉ hậu ngưu tiền

Thiên nhân nhất khẩu

Ngũ nhị đảo trí

Bằng lai vô cửu

Chứng viết:  âm dương âm dương âm âm tại quái vi Kiển

Giải viết:  thỉ hậu ngưu tiền, Tân Hợi dã, thiên nhân nhất khẩu vi hòa, ngũ nhị đảo trí thị dân dã, bằng giả ngoại bang dã.

Dịch nghĩa:

Sau heo trước trâu

Ngàn người một miệng

Năm (5) hai (2) đảo lộn

Bạn đến không lỗi

Sư Thủ Nguyên không giải quẻ này. Hai ông Mã Nguyên Lương và Lê Xuân Mai lạm bàn rằng:

Sau heo trước trâu chỉ năm Tân Sửu, ký hoà ước với 11 nước, đến năm Tân Hợi xảy ra cuộc Cách mạng, xóa ngôi vua.

Chú thích: phong trào Dân chủ Cộng Hoà nổi lên từ năm Tân Sửu (Ngưu tiền 1901), ký hoà ước với 11 nước ngoài (bằng lai), đến năm Tân Hợi (Thỉ hậu 1911) xẩy ra cuộc Cách mạng lập chính phủ Nam Kinh, thiên 千 nhân 人 nhất 一 khẩu 口 là chữ hoà 和 (Cộng hoà)

  1. 第十一課 ○●○○●○ 中下

四門乍辟 (四門乍開) 突如其來

晨雞一聲 其道大衰

證曰 : 陽陰陽陽陰陽在卦為離

解曰 : 當朝之象也  四門乍辟謂為門戶開放  酉年當期時  無人再相信其道理故

Quẻ thứ mười một: Quẻ Ly (Trung Hạ)

Tứ môn sạ tích (Tứ môn sạ khai)

Đột như kì lai

Thần kê nhất thanh

Kỳ đạo đại suy

Chứng viết:  dương âm dương dương âm dương tại quái vi Li

Giải viết: đương triêu chi tượng dã, tứ môn sạ tích vị vi môn hộ khai phóng, dậu niên đương kì thì, vô nhân tái tương tín kì đạo lí cố

Tạm lược dịch: cái tượng đang (còn là) sáng sớm, (mà) bốn cửa chợt nhiên (lại) mở toang ra, gọi là cửa ngõ cửa nhà (đều bị) mở bung ra (cả), (đó là) đang là thời kỳ của năm Dậu, chẳng người (nào) tin được cái đạo (vô) lý (đến) như vậy.

Dịch nghĩa:

Bốn cửa (chợt nhiên) mở toang (ra)

Thình lình mà (xông) đến

Sớm mai gà gáy một tiếng

Đạo ấy rất (là) suy kém

  1. 第十二課 ●○○○○● 上中

拯患救難 是唯聖人

陽復而治 晦極生明

證曰 : 陰陽陽陽陽陰在卦為大過

解曰 : 當來之象也  災難當頭之極  其時聖人出現  救苦救難故

Quẻ thứ mười hai: Quẻ Đại Quá (Thượng Trung)

Chửng hoạn cứu nạn

Thị duy thánh nhân

Dương phục nhi trị

Hối cực sanh minh

Chứng viết:  âm dương dương dương dương âm tại quái vi Đại Quá

Giải viết: đương lai chi tượng dã, tai nan đương đầu chi cực, kì thì Thánh Nhân xuất hiện, cứu khổ cứu nan cố.

Tạm lược dịch: đang là cái tượng đương đầu với tai nạn đến cùng cực (giống như là bị bất ngờ cháy nhà, tai 災: tai vạ, cháy nhà), thì lại có Thánh Nhân xuất hiện, đến cứu giúp khổ nạn vậy.

Dịch nghĩa:

Cứu vớt hoạn nạn

Ấy chỉ có thánh nhân

Dương (khí trở) về (mà sẽ được) trì (sửa chữa lại)

Tối (tăm mù mịt) quá (thì sẽ lại) sinh (ra) sáng (sủa trở lại)

  1. 第十三課 ○●●○○○ 上中

賢不遺野 天下一家

無名無德 光耀中華

證曰 : 陽陰陰陽陽陽在卦為大畜

解曰 : 世界大同之象

Quẻ thứ mười ba: Đại Súc (Thượng Trung)

Hiền bất di dã

Thiên hạ nhất gia

Vô danh vô đức

Quang diệu Trung Hoa

Chứng viết:  dương âm âm dương dương dương tại quái vi Đại Súc

Giải viết:  thế giới đại đồng chi tượng

Tạm lược dịch:

(chẳng bỏ sót) Người hiền tài (nào cho dù có ở nơi đồng quê) thôn dã

Trên dưới (cùng chung) một nhà

(cho dù) Chẳng (có) danh không (có) đức.

(Thì nước) Trung Hoa (cũng được) sáng sủa

  1. 第十四課 ○●○●○● 中下

占得此課 易數乃終

前古後今 其道無窮

證曰 : 陽陰陽陰陽陰在卦為未濟

Quẻ thứ mười bốn (hết): Quẻ Vị Tế (Trung Hạ)

Chiêm đắt thử khóa

Dịch số nãi chung

Tiền cổ hậu kim

Kỳ đạo vô cùng

Chứng viết: dương âm dương âm dương âm tại quái vi Vị Tể

Tạm lược dịch:

Bói được quẻ này

Dịch số bèn hết

Trước cũ sau mới

Đạo ấy vô cùng

Chú thích: Gia Cát Khổng Minh băn khoăn về vận mệnh của nước Trung Hoa ra sao mới gieo thêm quẻ thứ 14, thì lại bị quẻ Vị Tế, có nghĩa là chưa xong, không tốt, cho nên mới tỏ ra lời có vẻ chán chường, nước Trung Hoa quẻ số 13 đã là “Vô danh vô đức” vậy trong tương lai rồi sẽ ra sao ?, lại vẫn chưa xong (Vị Tế) và cũng là quẻ cuối cùng trong 64 quẻ tức là hết rồi “Dịch số nãi chung”, số của Dịch đã hết, không còn có hy vọng nào và quẻ này không có lời giải (giải viết).

Nước Trung Hoa kể từ khi mất nước vào tay nhà Thanh (người Hồ), vào bị thống trị gần 300 năm, cho tới năm 1911 thì có cuộc Cách mạng giành lấy lại được chủ quyền, nhưng nào có được yên ổn thái bình thịnh trị ?, cho đến năm 1949 – 1950 thì cuộc Cách mạng CS đỏ do Mao Trạch Đông lãnh đạo trải qua 40 năm nội tranh và thế chiến, để rồi cả nước Trung Hoa rơi vào tay CS, người dân Trung Hoa với bao xáo trộn khốn khổ lầm than cho tới nay.

Nếu tính từ quẻ số 01 cho tới quẻ số 10, cứ mỗi quẻ là chỉ về một triều đại, thì quẻ thứ 10 là chỉ về triều đại Cộng Hoà, đó là một biến cách sâu xa hệ trọng như nước Việt Nam sau thời 1945 (từ triều đình phong kiến qua chế độ Dân chủ Cộng hòa).

Xét từ quẻ số 10 qua các quẻ 11, 12, 13 không thấy có điểm nào nói đến một triều đại khác, mà chỉ nói đến cục diện tình hình và sự kiện, từ quẻ số 10: “thiên nhân nhất khẩu” là ám chỉ thể chế Cộng hòa cho tới câu “ngũ nhị đảo chí: năm hai đảo lộn”.

Bắt đầu từ (1).Khang Hữu Vi và (2).Lương Khải Siêu khởi xướng công bố chế độ Cộng hòa, lúc đó triều đình nhà Thanh vẫn tồn tại, cho đến khi cuộc Cách mạng năm Tân Hợi do (3).Tôn Văn lãnh đạo lật đổ nhà Thanh, chế độ chính trị vẫn là danh hiệu Cộng hòa (Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng), (4).Tưởng Giới Thạch kế thừa cho tới năm Kỷ Sửu – Canh Dần 1949 -1950, thì cuộc Cách mạng CS đỏ do (5).Mao Trạch Đông lãnh đạo chiến thắng nắm quyền, có năm (ngũ5) nhân vật. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, danh nghĩa là (1).Cộng hòa nhưng theo thể chế (2).Cộng sản  (nhị2), từ khi chế độ CS lên nắm quyền tại Trung Hoa thì mọi tư tưởng, nếp sống, tâm lý, xã hội … đều thay đổi đảo lộn hoàn toàn đảo chí, cho tới ngày nay thì danh gọi là Cộng sản nhưng nghĩa là Tư bản thì cũng vẫn là đảo chí.

 

THÔI BỐI ĐỒ (推背图)

Thôi Bối Đồ (Bức tranh sau lưng): là một kỳ thư tiên tri trong lịch sử Trung Quốc.

Theo những tương truyền kể lại, cách đây hơn 1300 năm, Đường triều Thái Tông hoàng đế (tức Lý Thế Dân) yêu cầu hai vị Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cương tiên đoán cho quốc vận đời Đường, Một người dùng thuật Thiên can ( lấy hào dương cương làm chủ), một người dùng thuật Địa chi (lấy hào âm nhu làm chủ), hai người ngồi đâu lưng vào nhau để bói toán rồi đưa ra sau lưng nên có tên gọi là Thôi bối đồ.

Một làm tranh vẽ để hình tượng sự việc sẽ ra, một dùng câu thơ để chiết giải. Nhưng Lý Thuần Phong càng tiên đoán thì càng say mê, khiến ông đã tiên đoán quốc vận của Trung Quốc đến 2000 năm sau, chỉ đến khi Viên Thiên Cương thúc đẩy vào lưng Lý Thuần Phong mà nói: “Thiên cơ không thể tiết lộ, hãy nghỉ ngơi đi.”, cũng chính là bức tranh cuối cùng thứ 60 khiến Thôi Bối Đồ nổi tiếng từ ấy.

Thôi Bối Đồ gồm tổng cộng 60 bức tranh, bức tranh đầu là lời mở đầu và bức 60 là lời kết.

 60 bức tranh đó được chia thành như sau:

  • Đời Đường: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9
  • Ngũ Đại Thập Quốc: 10, 11, 12, 13, 14
  • Đời Tống: 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24
  • Đời Nguyên: 25, 26
  • Đời Minh: 27, 28, 29, 30, 31, 32
  • Đời Thanh: 33, 34, 35, 36
  • Dân Quốc: 37, 38, 39 ( thời kỳ Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch, Mao trạch Đông)
  • Dân Quốc 38 năm sau: từ 40 đến 59 (sau thời Mao cho tới nay và thời gian sắp tới, rất quan trọng có dịch nghĩa từ đồ hình)

Thôi Bối Đồ chia làm hai phần tiên đoán, đó là hình và chữ. Nếu chỉ nhìn hình không thì không thể nào hiểu thấu được thiên cơ trong đó mà phải có chữ đi kèm mới giải ra được chính xác hơn. Và vì sự tiên đoán quá chính xác của Thôi Bối Đồ khiến nó bị liệt vào hàng sách cấm.

Cũng theo một số ghi chép cho biết thì Thôi Bối Đồ xuất hiện khá nhiều dị bản. Tuy vậy hiện nay tại Viện bảo tàng Cố Cung Đài Bắc có lưu giữ lại một bản Thôi Bối Đồ do năm xưa vua Càn Long mời Kim Thánh Thán* đến bình giải. Và thời Kim Thánh Thán còn sống thì sự việc đã ứng đúng với bức tranh thứ 33. Và cũng vào đời vua Càn Long, khi ấy liên quan Anh Pháp tấn công Bắc Kinh đã lấy được cuốn Thôi Bội Đồ buộc Lý Tín Khanh phải dùng 12 viên minh châu để chuộc lại.

Theo như một số chuyên gia cho rằng thì từ bức thứ 39 đến 47 là những tiên đoán về quốc vận Trung Quốc trong thế kỷ 20 đến nửa đầu thế kỷ 21; còn từ bức thứ 48 đến 59 là chưa xảy ra.

* Kim Thánh Thán (Phồn thể: 金聖歎; Giản thể: 金圣叹; bính âm: Jīn Shèngtàn; Wade-Giles: Chin Shêng-t’an, sinh 1608-1610? – mất 17 tháng 8 năm 1661), tên thật Kim Vị (金喟), là một nhà văn, nhà phê bình văn học theo lối ấn tượng của Trung Quốc, được người đời sau mệnh danh là “Vua của thể loại văn bạch thoại Trung Quốc”[1]. Ông nổi tiếng là 1 người đọc rộng, uyên bác nhưng tính tình cuồng ngạo, dị kỳ, thường nói trong thiên hạ có 6 bộ sách tài tử (lục tài tử thư): Nam Hoa kinh, Ly Tao, Sử ký Tư Mã Thiên, thơ luật của Đỗ Phủ, Thủy hử và Tây sương ký.

Năm sinh của Kim Thánh Thán chưa được xác định, có người nói năm 1608, có người nói 1610, [2], chỉ biết vào khoảng cuối thời Minh, đầu thời Thanh, mất vào năm Thuận trị thứ 18 đời Thanh thế tổ (1661). Ông có tên khai sinh là Trương Thái, lớn lên mới đổi sang họ Kim. Ông là người Trường Châu, tỉnh Giang tô.

Thời thanh niên, ông bị hỏng trong kỳ thi tuế, lại đỗ đầu kỳ thi khoa sau khi đổi tên thành Nhân Thụy(人瑞). Nhưng lúc này nhà Minh đã mất, ông dứt bỏ ý định làm quan.

Kim Thánh Thán mất trong 1 trường hợp bi đát, bất ngờ:

Năm 1661, vua Thanh ra chiếu đến Giang tô, lệnh các quan từ chức tuần phủ trở xuống đều phải tới phủ trị. Nhân dịp này các học sinh đến tố cáo việc làm phi pháp của viên lệnh huyện họ Ngô. Tuần phủ Châu Quốc Trị bắt liền 5 học sinh. Hôm sau các học sinh lại đến quốc tử giám kêu khóc, bị bắt thêm 30 người, trong đó có Kim Thánh Thán. Nhân lúc vùng Giang Nam đang có giặc cướp, các học sinh trên liền bị khép vào tội phụ hội với giặc, kết án tử hình, tịch biên gia sản.

Trước khi thọ hình, ông than thở: “Chém đầu thì đau đớn lắm, tịch biên thì thê thảm lắm, thế mà ngờ đâu Thánh Thán lại gặp cảnh này, kỳ lạ lắm thay !”. Rồi cười mà chịu chết.

Trương truyền ông có nhờ ngục tốt đem thư về cho vợ con trước khi bị xử. Ngục tốt trình lên quan. Ngờ trong thư có lời phỉ báng, quan mở ra xem thì bật cười vì thấy mấy dòng: “Gửi con: dưa muối mà ăn với đậu vàng thì có vị như là hồ đào, nếu phép này mà được lưu truyền thì ta chẳng còn hận chi nữa”.

推背

推背图,传闻是一千三百多年前,由唐朝太宗皇帝(李世民)命两位 当时著名的天相家李淳风和袁天罡所作,以推算大唐国运。由于李淳风推算的上了瘾, 一发不可收,竟推算到唐以后中国2000多年的命运,直到袁天罡推他的背,说道:”天机不可再泻, 还是回去休息吧!”,既是第60像所述,所以推背图因此得名。由唐开始一直预言到未来 世界大同,当中共包括六十象,六十,代表著循环周而复始的意思。

推背图因为它预言的准确,使历朝历代的统治者心惊,一直被列为禁书,直到今日它在大陆依然没能逃脱禁书的黑名单。我们只有在港台的一些网站得以一览它的玄 妙。而今天我们从网上看到的推背图,是清乾隆年间的举人金圣叹评批的版本,原本现仍保存于台北故宫博物院中,与我们看到的没有出入。(怀疑者可去台北故 宫)

与西方大名鼎鼎的预言家诺察丹玛斯所著的《诸世纪》不同的是,推背图并没有打乱历史的顺序,而且预言 的也都是有关国家兴亡的大事,所以更有研究价值,其准确性也更高。而最令人感到欣慰的是,它与《诸世纪》预言的悲观世界正好相反,他预言世界大同,天下一 家的其乐融融的未来世界,令人鼓舞。

推背图的预言,主要是对中国於治乱兴替之间的重要关键事件作出的。我们发现由於历史漫长,其中发生 过的重要事件无数,而推背图又仅以六十的象来包容,必然会发生一些我们认为很重要的事件而推背图里没有预言的。但其实我们的未来还是未知之数,现在认为重 要的事,说不定在未来有其他更重大的事件。所以在解释上,不能拘泥於一时的政治事件,要理解这六十象纯粹是作者两人,认为对中国最具有「生死存亡」,有深 远意义的「超头等大事」,否则肯定会解读错误。

推背图共六十象,除去第一像引言和最后一象结言并非预言外,共有58像预言,从大唐气数(第2像) 一直预言到世界大同(第59像),且每像相接,决无次序错乱。其中,在金圣叹老先生在世的时候已应验到第33像。一般认为由第三十九至四十七象,是代表由 二十世纪中叶至廿一世纪上半叶的中国预言,而且由三十九至四十二象都已经发生。

解说 :

於一九九九年八月
修订於二零零二年七月

推背全六十象

  • Đời Đường: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9
01 第一象 甲子 乾下乾上 乾

谶曰:茫茫天地 不知所止

日月循环 周而复始

颂曰:自从盘古迄希夷 虎斗龙争事正奇

悟得循环真谛在 试於唐後论元机

金圣叹:此象古今治乱相因,如日月往来,阴阳递嬗,即孔子百世可知之意,红者为日,白者为月,有日月而後昼夜成,有昼夜而後寒暑判,有寒暑而後历数定,有历数而後系统分,有系统而後兴亡见

Đệ nhất tượng: Giáp Tý Kiền hạ Kiền thượng Kiền

Sấm viết: mang mang thiên địa, bất tri sở chỉ, nhật nguyệt tuần hoàn, chu nhi phục thủy Tụng viết: tự tòng bàn cổ hất hi di, hổ đấu long tranh sự chánh kì, ngộ đắc tuần hoàn chân đế tại, thí vu đường hậu luận nguyên ky.

Kim Thánh Thán: thử tượng cổ kim trì loạn tương nhân, như Nhật Nguyệt vãng lai, Âm Dương đệ thiện, tức Khổng Tử bách thế khả tri chi ý, hồng giả vi nhật, bạch giả vi nguyệt, hữu Nhật Nguyệt nhi hậu trú dạ thành, hữu trú dạ nhi hậu hàn thử phán, hữu hàn thử nhi hậu lịch sổ định, hữu lịch sổ nhi hậu hệ thống phân, hữu hệ thống nhi hậu hưng vong kiến

02 第二象 乙丑 巽下乾上

谶曰: 硕果 莫明其数

一果一仁 即新即故

颂曰: 万物土中生 二九先成实

一统定中原 阴盛阳先竭

金圣叹:一盘果子即李实也,其数二十一,自唐高祖至昭宣凡二十一主。二九者指唐祚二百八十九年。阴盛者指武当国,淫昏乱政,几危唐代。厥後开元之治虽是媲美贞观,而贵妃召祸,乘舆播迁,女宠代兴,夏娣继之,亦未始非阴盛之象

Đệ nhị tượng: ất Sửu Tốn hạ Kiền thượng Cấu

Sấm viết: thạc quả, mạc minh kì sổ, nhất quả nhất nhân, tức tân tức cố

Tụng viết: vạn vật thổ trung sanh, nhị cửu tiên thành thật, nhất thống định Trung nguyên, Âm thịnh Dương tiên kiệt

Kim Thánh Thán: nhất bàn quả tử tức lí thật dã, kì sổ nhị thập nhất, tự Đường Cao Tổ chí chiêu tuyên phàm nhị thập nhất chủ, nhị cửu giả chỉ đường tộ nhị bách bát thập cửu niên, âm thịnh giả chỉ vũ đương quốc, dâm hôn loạn chánh, kỉ nguy đường đại, quyết hậu khai nguyên chi trì tuy thị bễ mĩ trinh quan, nhi quý phi triệu họa, thừa dư bá thiên, nữ sủng đại hưng, hạ ? kế chi, diệc vị thủy phi âm thịnh chi tượng

03 第三象 丙寅 艮下乾上

谶曰:日月当空 照临下土

扑朔迷离 不文亦武

颂曰:参遍空王色相空 一朝重入帝王宫

遗枝拨尽根犹在 喔喔晨鸡孰是雄

金圣叹:此象主武当国,废中宗於房州,杀唐宗室殆尽。先武氏削发为尼,故有参遍空王之句。高宗废后王氏而立之,故有喔喔晨鸡孰是雄之兆

Đệ tam tượng: Bính Dần Cấn hạ Kiền thượng Độn

Sấm viết: Nhật Nguyệt đương không, chiếu lâm hạ thổ, phác sóc mê li, bất văn diệc vũ Tụng viết: tham biến không vương sắc tương không, nhất triêu trọng nhập đế vương cung, di chi bát tẫn căn do tại, ác ác thần kê thục thị hùng

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ vũ đương quốc, phế trung tông vu phòng châu, sát Đường Tông thất đãi tẫn, tiên vũ thị tước phát vi ni, cố hữu tham biến không vương chi cú, Cao Tông phế Hậu Vương thị nhi lập chi, cố hữu ác ác thần kê thục thị hùng chi triệu

04 第四象 丁卯 坤下乾上 否

谶曰:飞者不飞 走者不走

振羽高冈 乃克有後

颂曰: 威行青女实权奇 极目萧条十八枝

赖有猴儿 著力 已倾大树仗扶持

金圣叹:此象主狄仁杰荐张柬之等五人反周为唐。武后尝梦鹦鹉两翼俱折,

狄仁杰曰:武者陛下之姓也,起二子则两翼折矣。五猴指张柬之等五人

Đệ tứ tượng: Đinh Mão Khôn hạ Kiền thượng Phủ (Bĩ)

Sấm viết: phi giả bất phi, tẩu giả bất tẩu, chấn vũ cao cương, nãi khắc hữu hậu

Tụng viết: uy hành thanh nữ thật quyền kì, cực mục tiêu điều thập bát chi, lại hữu hầu nhân, trứ lực, dĩ khuynh đại thụ trượng phù trì

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ địch nhân kiệt tiến trương giản chi đẳng ngũ nhân phản chu vi Đường, Vũ Hậu thường mộng anh vũ lưỡng dực câu chiết, địch nhân kiệt viết: vũ giả bệ hạ chi tính dã, khởi nhị tử tắc lưỡng dực chiết hĩ, Ngũ Hầu chỉ Trương Giản chi đẳng ngũ nhân

05 第五象 戊辰 坤下巽上

谶曰:
杨花飞 蜀道难

截断竹箫方见日 更无一史乃平安

颂曰:
渔阳鼙鼓过潼关 此日君王幸剑山

木易若逢山下鬼 定於此处葬金环

金圣叹:一马鞍指安禄山,一史书指史思明。一妇人死卧地上,乃贵妃死於马嵬坡, 截断竹萧者肃宗即位,而安史之乱平

Đệ ngũ tượng: Mậu Thần Khôn hạ Tốn thượng Quan

Sấm viết: dương hoa phi, thục đạo nan, tiệt đoạn trúc tiêu phương kiến nhật, canh vô nhất sử nãi bình an

Tụng viết: ngư dương bề cổ quá Đồng Quan, thử nhật Quân vương hạnh kiếm sơn    mộc dịch nhược phùng sơn hạ quỷ, định vu thử xử táng kim hoàn

Kim Thánh Thán: nhất mã an chỉ An Lộc Sơn, nhất sử thư chỉ sử tư minh, nhất phụ nhân tử ngọa địa thượng, nãi Quý phi tử vu mã ngôi pha, tiệt đoạn trúc tiêu giả Túc Tông tức vị, nhi an sử chi loạn bình

06 第六象 已巳 坤下艮上 剥

谶曰:
非都是都 非皇是皇

阴霾既去 日月复光

颂曰:
大帜巍巍树两京 辇舆今日又东行

乾坤再造人民乐 一二年来见太平

金圣叹:此象主明皇还西京,至德二载九月,广平王叔,十月收复东京,安史之乱尽弭,十二月迎上皇还西京,故云再造。

Đệ lục tượng: dĩ Tị Khôn hạ Cấn thượng Bác

Sấm viết: phi đô thị đô, phi hoàng thị hoàng, âm mai kí khứ, nhật nguyệt phục quang

Tụng viết: đại xí nguy nguy thụ lưỡng kinh, liễn dư kim nhật hựu đông hành, Kiền Khôn tái tạo nhân dân nhạc, nhất nhị niên lai kiến thái bình

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Minh Hoàng hoàn Tây kinh, chí đức nhị tái cửu nguyệt, nghiễm bình vương thúc, Quách Tử Đinh thu phục Tây kinh, thập nguyệt thu phục Đông kinh, an sử chi loạn tẫn nhị, thập nhị nguyệt nghênh Thượng hoàng hoàn Tây kinh, cố vân tái tạo

07 第七象 庚午 震下乾上 无妄

谶曰:
旌节满我目 山川 我足

破关客乍来 陡令中原哭

颂曰:
蝼蚁从来足溃堤 六宫深锁梦全非

重门金鼓含兵气 小草滋生土口啼

 

金圣叹:此象主藩镇跋扈及吐蕃入寇中原

Đệ thất tượng: Canh Ngọ Chấn hạ Kiền thượng Vô Vọng

Sấm viết: tinh tiết mãn ngã mục, sơn xuyên, ngã túc, phá quan khách sạ lai, đẩu lệnh trung nguyên khốc

Tụng viết: lâu nghĩ tòng lai túc hội đê, lục cung thâm tỏa mộng toàn phi, trọng môn kim cổ hàm binh khí, tiểu thảo tư sanh thổ khẩu đề

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ phiên trấn bạt hỗ cập thổ phiền nhập khấu Trung nguyên

08 第八象 辛未 坤下离上 晋

谶曰:
搀枪血中土 破贼还为贼

朵朵李花飞 帝曰迁大吉

颂曰:
天子蒙尘马首东 居然三杰踞关中

孤军一驻安社稷 内外能收手臂功

金圣叹:此象主建中之乱,三人者李希烈、朱 、李怀光也。李怀光以破朱, 功,为卢杞所忌,遂反, 故曰破贼还为贼。三人先後犯阙,德宗乘舆播迁,赖李晟以孤军收复京城,而社稷重安矣

Đệ bát tượng: Tân Vị (Tỵ) Khôn hạ Li thượng Tấn

Sấm viết: sam thương huyết trung thổ, phá tặc hoàn vi tặc, đóa đóa lí hoa phi, đế viết thiên đại cát

Tụng viết: thiên tử mông trần mã thủ đông, cư nhiên tam kiệt cứ quan trung, cô quân nhất trú an xã tắc, nội ngoại năng thu thủ tí công

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ kiến trung chi loạn, tam nhân giả lí hi liệt, chu, lí hoài quang dã, lí hoài quang dĩ phá chu công, vi lô kỷ sở kị, toại phản, cố viết phá tặc hoàn vi tặc, tam nhân tiên hậu phạm khuyết, đức tông thừa dư bá thiên, lại lí thịnh dĩ cô quân thu phục kinh thành, nhi xã tắc trọng an hĩ

09 第九象 壬申 乾下离上 大有

谶曰:
非白非黑 草头人出

借得一枝 满天飞血

颂曰:

万人头上起英雄 血染河山日色红

一树李花都惨淡 可怜巢覆亦成空

金圣叹:此象主黄巢作乱,唐祚至昭宗。朱温弑之以自立,改国号梁温,为黄巢旧党,故曰覆巢亦成空

Đệ cửu tượng: Nhâm Thân Kiền hạ Li thượng Đại Hữu

Sấm viết: phi bạch phi hắc, thảo đầu nhân xuất, tá đắc nhất chi, mãn thiên phi huyết

Tụng viết: vạn nhân đầu thượng khởi anh hùng, huyết nhiễm hà sơn nhật sắc hồng, nhất thụ lí hoa đô thảm đạm, khả liên sào phúc diệc thành không

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ hoàng sào tác loạn, đường tộ chí chiêu tông, chu ôn thí chi dĩ tự lập, cải quốc hào lương ôn, vi hoàng sào cựu đảng, cố viết phúc sào diệc thành không

  • Ngũ Đại Thập Quốc: 10, 11, 12, 13, 14
10 第十象 癸酉 坎下坎上 坎

谶曰:
荡荡中原 莫御八牛

泅水不涤 有血无头

颂曰:
一后二主尽升遐 四海茫茫总一家

不但我生还杀我 回头还有李儿花

金圣叹:「此象主朱温弑何皇后、昭宣、昭宗而自立,所谓一后二主也。未几为次子友圭所弑,

是颂中第三句意。李克用之子存勖代父复仇,百战灭梁,改称後唐,是颂中第四句 意

Đệ thập tượng: Quý Dậu Khảm hạ Khảm thượng Khảm

Sấm viết: đãng đãng trung nguyên, mạc ngự bát ngưu, tù thủy bất địch, hữu huyết vô đầu

Tụng viết: nhất hậu nhị chủ tẫn thăng hà, tứ hải mang mang tổng nhất gia, bất đãn ngã sanh hoàn sát ngã, hồi đầu hoàn hữu lí nhân hoa

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ chu ôn thí Hà hoàng hậu, Chiêu Tuyên, Chiêu Tông nhi tự lập, sở vị nhất hậu nhị chủ dã, vị kỉ vi thứ tử hữu khuê sở thí, thị tụng trung đệ tam cú ý, lí khắc dụng chi tử tồn úc đại phụ phục cừu, bách chiến diệt lương, cải xưng Hậu Đường, thị tụng trung đệ tứ cú ý

11 第十一象 申戍 下坎上

谶曰:
五人同卜 非禄非福

兼而言之 喜怒哀乐

颂曰:
龙蛇相斗三十年 一日同光直上天

上得天堂好游戏 东兵百万入秦川

金圣叹:此象主伶人郭从谦作乱,唐主为流矢所中

Đệ thập nhất tượng: Thân thú Đoái hạ Khảm thượng Tiết

Sấm viết: ngũ nhân đồng bặc, phi lộc phi phúc, kiêm nhi ngôn chi, hỉ nộ ai nhạc

Tụng viết: long xà tương đấu tam thập niên, nhất nhật đồng quang trực thượng thiên    thượng đắc thiên đường hảo du hí, đông binh bách vạn nhập tần xuyên

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ linh nhân quách tòng khiêm tác loạn, đường chủ vi lưu thỉ sở trung

12 第十二象 乙亥 震下坎上 屯

谶曰:
块然一石 谓他人父

统二八州 已非唐土

颂曰:
反兆先多口 出入皆无主

系铃自解铃 父亡子亦死

金圣叹:「此象主石敬塘求救于契丹。唐主遣张敬达讨石敬塘,敬塘不得已,求救于契丹,事之以父礼

贿以幽蓟十六州。晋帝之立国契丹功也,然卒以契丹亡,故有系铃解铃之兆

Đệ thập nhị tượng: ất Hợi Chấn hạ Khảm thượng Truân

Sấm viết: khối nhiên nhất thạch, vị tha nhân phụ, thống nhị bát châu, dĩ phi đường thổ Tụng viết: phản triệu tiên đa khẩu, xuất nhập giai vô chủ, hệ linh tự giải linh, phụ vong tử diệc tử

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Thạch Kính Đường cầu cứu Vu Khế Đan, Đường chủ khiển Trương Kính đạt thảo Thạch Kính Đường, Kính Đường bất đắc dĩ, cầu cứu Vu Khế Đan, sự chi dĩ phụ lễ, hối dĩ u kế thập lục châu, Tấn đế chi lập quốc Khế Đan công dã, nhiên tốt dĩ Khế Đan vong, cố hữu hệ linh giải linh chi triệu

13 第十三象 丙子 离下坎上 既

谶曰:
汉水竭 雀高飞

飞来飞去何所止 高山不及城郭低

颂曰:
百个雀儿水上飞 九十九个过山西

惟有一个踏破足 高栖独自理毛衣

金圣叹:此象主周主郭威夺汉自立。郭威少贱,世称之曰郭雀儿

Đệ thập tam tượng: Bính Tử (Tý) Li hạ Khảm thượng Kí Tể

Sấm viết: hán thủy kiệt, tước cao phi, phi lai phi khứ hà sở chỉ, cao sơn bất cập thành quách đê

Tụng viết: bách cá tước nhân thủy thượng phi, cửu thập cửu cá quá sơn tây, duy hữu nhất cá đạp phá túc, cao tê độc tự lí mao y

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Chu chủ Quách uy đoạt Hán Tự Lập, Quách uy thiểu tiện, thế xưng chi viết Quách tước nhân

14 第十四象 丁丑 离下上 革

谶曰:
李树得根芽 石榴漫放花

枯木逢春只一瞬 让他天下竞荣华

颂曰:
金木水火土已终 十三童子五王公

英明重见太平日 五十三参运不通

金圣叹:此象主周世宗承郭威受命为五代之终,世宗姓柴名荣,英明武断,勤於为治,惜功业未竟而殂。五代共五十三年,凡八姓十三主,颂意显然

Đệ thập tứ tượng: Đinh Sửu Li hạ Đoái thượng Cách

Sấm viết: lí thụ đắc căn nha, thạch lưu mạn phóng hoa, khô mộc phùng xuân chích nhất thuấn, nhượng tha thiên hạ cạnh vinh hoa

Tụng viết: kim mộc thủy hỏa thổ dĩ chung, thập tam đồng tử ngũ vương công, anh minh trọng kiến thái bình nhật, ngũ thập tam tham vận bất thông

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Chu Thế Tông thừa Quách uy thụ mệnh vi ngũ đại chi chung, Thế Tông tính sài danh vinh, anh minh vũ đoạn, cần vu vi trì, tích công nghiệp vị cánh nhi tồ, ngũ đại cộng ngũ thập tam niên, phàm bát tính thập tam chủ, tụng ý hiển nhiên

  • Đời Tống: 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24
15 第十五象 戊寅 离下震上 丰

谶曰:
天有日月 地有山川

海内纷纷 父後子前

颂曰:
战事中原迄未休 几人高枕卧金戈

寰中自有真天子 扫尽群妖见日头

金圣叹:此象主五代末造,割据者星罗棋布,惟吴越钱氏〈钱,四世〉稍图治安.南唐李氏〈李升三世〉略知文物,馀悉淫乱昏虐。大祖崛起,拯民水火。太 小名香孩儿,手执帚著,扫除群雄也

Đệ thập ngũ tượng: Mậu Dần Li hạ Chấn thượng Phong

Sấm viết: thiên hữu nhật nguyệt, địa hữu sơn xuyên, hải nội phân phân, phụ hậu tử tiền

Tụng viết: chiến sự trung nguyên hất vị hưu, kỉ nhân cao chẩm ngọa kim qua, hoàn trung tự hữu chân thiên tử,tảo tẫn quần yêu kiến nhật đầu

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ ngũ đại mạt tạo, cát cư giả tinh la kì bố, duy Ngô Việt tiễn thị, (tiễn, tứ thế) sảo đồ trì an, nam đường lí thị, (lí thăng tam thế) lược tri văn vật, dư tất dâm loạn hôn, đại tổ quật khởi, chửng dân thủy hỏa, thái, tiểu danh hương hài nhân, thủ chấp trửu trứ, tảo trừ quần hùng dã

16 第十六象 已卯 离下坤上 明夷

谶曰:
天一生水 姿禀圣武

顺天应人 无今无古

颂曰:
纳土姓钱并姓李 其馀相次朝天子

天将一统付真人 不杀人民更全嗣

金圣叹:「此象主宋太 受禅汴都,天下大定,钱李二氏相率归化,此一治也

Đệ thập lục tượng: dĩ Mão Li hạ Khôn thượng Minh Di

Sấm viết: thiên nhất sanh thủy, tư bẩm thánh vũ, thuận thiên ứng nhân, vô kim vô cổ

Tụng viết: nạp thổ tính tiễn tịnh tính lí, kì dư tương thứ triêu thiên tử, thiên tương nhất thống phó chân nhân, bất sát nhân dân canh toàn tự

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ tống thái, thụ thiện biện đô, thiên hạ đại định, tiễn lí nhị thị tương suất quy hóa, thử nhất trì dã

17 第十七象 庚辰 坎下坤上

谶曰:
声赫赫 干戈息

扫边氛 奠邦邑

颂曰:
天子亲征乍渡河 欢声百 起讴歌

运筹幸有完全女 奏得奇功在议和

金圣叹:此象主宋真宗澶渊之役。景德元年,契丹大举入寇,寇准劝帝亲征,

乃幸澶渊。既渡河,远近望见卸盖皆踊跃呼万岁,声闻数十里,契丹夺气,遂议和

Đệ thập thất tượng: Canh Thần Khảm hạ Khôn thượng Sư

Sấm viết: thanh hách hách, kiền qua tức, tảo biên phân, điện bang ấp

Tụng viết: thiên tử thân chinh sạ độ hà, hoan thanh bách, khởi âu ca, vận trù hạnh hữu hoàn toàn nữ, tấu đắc kì công tại nghị hòa

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Tống Chân Tông thiền uyên chi dịch, Cảnh Đức nguyên niên, khế đan đại cử nhập khấu, khấu chuẩn khuyến đế thân chinh, nãi hạnh thiền uyên, kí độ hà, viễn cận vọng kiến tá cái giai dũng dược hô vạn tuế, thanh văn sổ thập lí, khế đan đoạt khí, toại nghị hòa

18 第十八象 辛巳 艮下艮上 艮

谶曰:
天下之母 金刀伏兔

三八之年 治安巩固

颂曰:
水旱频仍不是灾 力扶幼主坐灵台

朝中又见钗光照 宇内承平气象开

金圣叹:此象主仁宗嗣立,刘太后垂帘听政。旁有一犬,其惟狄青乎

Đệ thập bát tượng: Tân Tị Cấn hạ Cấn thượng Cấn

Sấm viết: thiên hạ chi mẫu, kim đao phục thỏ, tam bát chi niên, trì an củng cố

Tụng viết: thủy hạn tần nhưng bất thị tai, lực phù ấu chủ tọa linh thai, triêu trung hựu kiến sai quang chiếu, vũ nội thừa bình khí tượng khai

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Nhân Tông tự lập, lưu thái hậu thùy liêm thính chánh, bàng hữu nhất khuyển, kì duy địch thanh hồ

19 第十九象 壬午 离下艮上

谶曰:
众人   尽入其室

百万雄师 头上一石

颂曰:
朝用奇谋夕丧师 人民西北尽流离

陬华虽好春光老 悔不深居坐殿墀

金圣叹:此象主神宗误用安石,引用群邪,致启边衅,用兵西北,丧帅百万。熙宁初,王陬上平戎三策,安石惊为奇谋,力荐於神宗,致肇此祸

Đệ thập cửu tượng: Nhâm Ngọ Li hạ Cấn thượng Bí

Sấm viết: chúng nhân, tẫn nhập kì thất, bách vạn hùng sư, đầu thượng nhất thạch

Tụng viết: triêu dụng kì mưu tịch tang sư, nhân dân Tây Bắc tẫn lưu li, tưu hoa tuy hảo xuân quang lão, hối bất thâm cư tọa điện trì

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Thần Tông ngộ dụng An Thạch, dẫn dụng quần tà, trí khải biên hấn, dụng binh Tây Bắc, tang suất bách vạn, hi trữ sơ, vương tưu thượng bình Nhung tam sách, An Thạch kinh vi kì mưu, lực tiến vu Thần Tông, trí triệu thử họa

20 第二十象 癸未 离下乾上 同人

谶曰:
朝无光 日月盲

莫与京 终旁皇

颂曰:
父子同心并同道 中天日月手中物

奇云翻过北海头 △阙龙廷生怛恻

金圣叹:此象主司马光卒,蔡京父子弄权,群小朋兴,贤良受锢,有日月晦盲之象

Đệ nhị thập tượng: Quý Vị (Tỵ) Li hạ Kiền thượng Đồng Nhân

Sấm viết : triêu vô quang, nhật nguyệt manh, mạc dữ kinh, chung bàng hoàng

Tụng viết: phụ tử đồng tâm tịnh đồng đạo, trung thiên Nhật Nguyệt thủ trung vật    kì vân phiên quá bắc hải đầu, khuyết long đình sanh đát trắc

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ ti Mã Quang Tốt, thái kinh phụ tử lộng quyền, quần tiểu bằng hưng, hiền lương thụ cố, hữu nhật nguyệt hối manh chi tượng

21 第二一象 甲申 下艮上

谶曰:
空厥宫中 雪深三尺

吁嗟元’首首’ 南辕北辙

颂曰:
妖氛未靖不康宁 北扫烽烟望帝京

异姓立朝终国位 卜世三六又南行

金圣叹:此象主金兵南下,徽宗禅位。靖康元年十一月,京师陷,明年四月,金以二帝及宗室妃嫔北去,立张邦昌为帝。卜世三六者,宋自太祖至徽钦,凡九世,然则南渡以後又一世矣, 西元 1126 年,靖康之变。西元 1127 年,南宋始

Đệ nhị nhất tượng: Giáp Thân Đoái hạ Cấn thượng Tổn

Sấm viết: không quyết cung trung, tuyết thâm tam xích, hu ta nguyên “thủ thủ” nam viên bắc triệt

Tụng viết: yêu phân vị tĩnh bất khang trữ, bắc tảo phong yên vọng đế kinh, dị tính lập triêu chung quốc vị, bặc thế tam lục hựu nam hành

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Kim binh Nam Hạ, Huy Tông thiện vị,Tĩnh Khang nguyên niên thập nhất nguyệt, kinh sư hãm, Minh niên tứ nguyệt, Kim dĩ nhị đế cập tông thất phi tần Bắc khứ, lập Trương Bang Xương vi đế, bặc thế tam lục giả, Tống tự Thái Tổ chí huy khâm, phàm cửu thế, nhiên tắc nam độ dĩ hậu hựu nhất thế hĩ, Tây nguyên 1126 niên, Tĩnh Khang chi biến, Tây nguyên 1127 niên, Nam Tống thủy

22 第二二象 乙酉 下离上 睽

谶曰:
天马当空 否极见泰

△△淼淼 木 大赖

颂曰:
神京王气满东南 祸水汪洋把策干

一木会支二八月 临行马色半平安

金圣叹:此象主司马光卒,蔡京父子弄权,群小朋兴,贤良受锢,有日月晦盲之象

Đệ nhị nhị tượng: Ất Dậu Đoái hạ Li thượng Khuê

Sấm viết: thiên mã đương không, phủ cực kiến thái, miểu miểu, mộc, đại lại

Tụng viết: thần kinh vương khí mãn Đông Nam, họa thủy uông dương bả sách kiền    nhất mộc hội chi nhị bát nguyệt, lâm hành mã sắc bán bình an

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ ti Mã Quang Tốt, thái kinh phụ tử lộng quyền, quần tiểu bằng hưng, hiền lương thụ cố, hữu nhật nguyệt hối manh chi tượng

23 第二三象 丙戍 下乾上 履

谶曰:
似道非道 乾沈坤黯

祥光宇内 一江断楫

颂曰:
胡儿大张挞伐威 两柱擎天力不支

如何兵火连天夜 犹自张灯作水嬉

金圣叹:此象主贾似道当权,汪立信文天祥辈不能以独力支持宋室。襄樊围急,西子湖 边似道犹张灯夜宴,宋室之亡其宜也

Đệ nhị tam tượng: Bính Thú Đoái hạ Kiền thượng Lí

Sấm viết: tự đạo phi đạo, Kiền trầm Khôn ảm, tường quang vũ nội, nhất giang đoạn tiếp

Tụng viết: hồ nhân đại trương thát phạt uy, lưỡng trụ kình thiên lực bất chi, như hà binh hỏa liên thiên dạ, do tự trương đăng tác thủy hi

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ cổ Tự Đạo đương quyền, uông lập tín văn thiên tường, bối bất năng dĩ độc lực chi trì tống thất, tương phiền vi cấp, tây tử hồ biên Tự Đạo do trương đăng dạ yến, Tống thất chi vong kì nghi dã

24 第二四象 丁亥 下巽上 中孚

谶曰:
山崖海边 不帝亦仙

二九四八 於万斯年

颂曰:
十一卜人小月终 回天无力道俱穷

干戈四起疑无路 指点洪涛巨浪中

金圣叹:此象主帝迁山,元令张弘范来攻,宋将张世杰兵溃,陆秀夫负帝赴海:宋室以亡

〈西元 1279 年,宋亡

Đệ nhị tứ tượng: Đinh Hợi Đoái hạ Tốn thượng Trung Phu

Sấm viết: sơn nhai hải biên, bất đế diệc tiên, nhị cửu tứ bát, vu vạn tư niên

Tụng viết: thập nhất bặc nhân tiểu nguyệt chung, hồi thiên vô lực đạo câu cùng    kiền qua tứ khởi nghi vô lộ, chỉ điểm hồng đào cự lãng trung

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ đế thiên sơn, nguyên lệnh Trương Hoằng phạm lai công, Tống tương trương thế kiệt binh hội, lục tú phu phụ đế phó hải: Tống thất dĩ vong, Tây nguyên 1279 niên, Tống vong

  • Đời Nguyên: 25, 26
25 第二五象 戊子 艮下巽上

谶曰:
北帝南臣 一兀自立

斡离河水 燕巢捕”麦戈”

颂曰:
鼎足争雄事本奇 一狼二鼠判须臾

北关锁钥虽牢固 子子孙孙五五宜

金圣叹:此象主元太祖称帝斡难河,太祖名铁木真,元代凡十主。斧铁也,柄木也,斧柄 十段即隐十主之意

Đệ nhị ngũ tượng: Mậu Tử (Tý) Cấn hạ Tốn thượng Tiệm

Sấm viết: Bắc đế Nam thần, nhất ngột tự lập, oát li hà thủy, yến sào bộ “mạch qua”

Tụng viết: đỉnh túc tranh hùng sự bổn kì, nhất lang nhị thử phán tu du, bắc quan tỏa thược tuy lao cố, tử tử tôn tôn ngũ ngũ nghi

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ nguyên Thái Tổ xưng đế oát nan hà, Thái Tổ danh Thiết Mộc Chân, Nguyên đại phàm thập chủ, phủ thiết dã, bính mộc dã, phủ bính thập đoạn tức ẩn thập chủ chi ý

26 第二六象 已丑 震下震上 震

谶曰:
时无夜 年无米

花不花 贼四起

颂曰:
鼎沸中原木木来 四方警报起边垓

房中自有长生术 莫怪都城澈夜开

金圣叹:此象主顺帝惑西僧房中运气之术,溺於娱乐,以致刘福通,徐寿辉,方国珍,明玉珍,

张士诚, 陈友谅等狼顾鸱张,乘机而起,宦官朴不花壅不上闻,至徐达, 遇春直入京师, 都城夜开, 毫无警备, 有元一代竟丧於淫僧之手,不亦哀哉。刘福通立韩林儿 ,故曰木木来

Đệ nhị lục tượng: dĩ Sửu Chấn hạ Chấn thượng Chấn Sấm viết: thì vô dạ, niên vô mễ    hoa bất hoa, tặc tứ khởi

Tụng viết: đỉnh phí trung nguyên mộc mộc lai, tứ phương cảnh báo khởi biên cai    phòng trung tự hữu trường sanh thuật, mạc quái đô thành triệt dạ khai

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Thuận Đế hoặc tây tăng phòng trung vận khí chi thuật, nịch vu ngu nhạc, dĩ trí lưu phúc thông, từ thọ huy, phương quốc trân,  minh ngọc trân, trương sĩ thành, trần hữu lượng đẳng lang cố si trương, thừa ky nhi khởi, hoạn quan phác bất hoa ủng bất thượng văn,  chí từ đạt,  Thường Ngộ Xuân trực nhập kinh sư, đô thành dạ khai, hào vô cảnh bị, hữu nguyên nhất đại cánh tang vu dâm tăng chi thủ, bất diệc ai tai, lưu phúc thông lập hàn lâm nhân vi đế, cố viết mộc mộc lai

  • Đời Minh: 27, 28, 29, 30, 31, 32
27 第二七象 庚寅 乾下震上 豫

谶曰:
惟日与月 下民之极

应运而兴 其色曰赤

颂曰:
枝枝叶叶现金光 晃晃朗朗照四方

江东岸上光明起 谈空说偈有真王

金圣叹:此象主明太 登极。太祖曾为皇觉寺僧,洪武一代海内熙洽,治臻大平

Đệ nhị thất tượng: Canh Dần Kiền hạ Chấn thượng Dự

Sấm viết: duy nhật dữ nguyệt, hạ dân chi cực, ứng vận nhi hưng, kì sắc viết xích

Tụng viết: chi chi diệp diệp hiện kim quang, ?? lãng lãng chiếu tứ phương, Giang Đông ngạn thượng quang minh khởi, đàm không thuyết kệ hữu chân vương

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ minh thái, đăng cực, Thái Tổ tằng vi hoàng giác tự tăng, hồng vũ nhất đại hải nội hi hiệp, trì trăn đại bình

28 第二八象 辛卯 坎下震上 解

谶曰:
草头火脚 宫阙灰飞

家中有鸟 郊外有尼

颂曰:
羽满高飞日 争妍有李花

真龙游四海 方外是吾家

金圣叹:此象主燕王起兵,李景隆迎燕兵入都,宫中大火,建文祝发出亡

Đệ nhị bát tượng: Tân Mão Khảm hạ Chấn thượng Giải

Sấm viết :thảo đầu hỏa cước, cung khuyết hôi phi, gia trung hữu điểu, giao ngoại hữu ni

Tụng viết : vũ mãn cao phi nhật, tranh nghiên hữu lí hoa, chân long du tứ hải, phương ngoại thị ngô gia

Kim Thánh Thán : thử tượng chủ yến vương khởi binh, Lí Cảnh Long nghênh yến binh nhập đô, cung trung đại hỏa, kiến văn chúc phát xuất vong 

29 第二九象 壬辰 巽下震上 恒

谶曰:
枝发厥荣 为国之栋

熙熙 康乐利众

颂曰:
一枝向北一枝东 又有南枝种亦同

宇内同歌贤母德 真有三代之遗风

金圣叹:「此象主宣宗时张太后用杨士奇、杨溥、杨荣三人,

能使天下又安,希风三代,此一治也。时人稍士奇为西杨,溥为南杨,荣为东杨。」

Đệ nhị cửu tượng : Nhâm thần Tốn hạ Chấn thượng Hằng

Sấm viết: chi phát quyết vinh, vi quốc chi đống, hi hi, khang nhạc lợi chúng

Tụng viết:nhất chi hướng bắc nhất chi đông, hựu hữu nam chi chủng diệc đồng, vũ nội đồng ca hiền mẫu đức, chân hữu tam đại chi di phong

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ tuyên tông thì trương thái hậu dụng dương sĩ kì, dương phổ, dương vinh tam nhân, năng sử thiên hạ hựu an, hi phong tam đại, thử nhất trì dã, thì nhân sảo sĩ kì vi tây dương, phổ vi nam dương, vinh vi đông dương.

30 第三十象 癸巳 巽下坤上 升

谶曰:
半圭半林 合则生变

石亦有灵 生荣死贱

颂曰:
缺一不成也占先 六龙亲御到胡边

天心复见人心顺 相克相生马不前

金圣叹:此象主张太后崩权归王振,致有乜先之患。其後上皇复辟,石亨自诩首功,率以恣横伏诛,此一乱也

Đệ tam thập tượng: Quý Tị Tốn hạ Khôn thượng Thăng

Sấm viết: bán khuê bán lâm, hợp tắc sanh biến, thạch diệc hữu linh, sanh vinh tử tiện

Tụng viết: khuyết nhất bất thành dã chiêm tiên, lục long thân ngự đáo hồ biên    thiên tâm phục kiến nhân tâm thuận, tương khắc tương sanh mã bất tiền

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ trương thái hậu băng quyền quy vương chấn, trí hữu ? tiên chi hoạn, kì hậu thượng hoàng phục tích, thạch hanh tự hủ thủ công, suất dĩ tứ hoành phục tru, thử nhất loạn dã

31 第三一象 甲午 离下巽上 家人

谶曰:
当涂遗孽 秽乱宫阙

一男一女 断送人国

颂曰:
忠臣贤士尽沉沦 天启其衷乱更纷

纵有胸怀能坦白 乾坤不属旧明君

金圣叹:「此象主天启七年间,妖气漫天,元气受伤。一男一女指魏阉与客氏而言。魏杀客氏,客氏熹宗乳母,称奉圣夫人

Đệ tam nhất tượng: Giáp Ngọ Li hạ Tốn thượng Gia Nhân

Sấm viết: đương đồ di nghiệt, uế loạn cung khuyết, nhất nam nhất nữ, đoạn tống nhân quốc

Tụng viết: trung thần hiền sĩ tẫn trầm luân, thiên khải kì trung loạn canh phân    túng hữu hung hoài năng thản bạch, kiền khôn bất chúc cựu minh quân

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ thiên khải thất niên gian, yêu khí mạn thiên, nguyên khí thụ thương, nhất nam nhất nữ chỉ ngụy yêm dữ khách thị nhi ngôn, ngụy sát khách thị, khách thị hi tông nhũ mẫu, xưng phụng thánh phu nhân

32 第三二象 乙未 巽下坎上 井

谶曰:
马跳北阙 犬敖西方

八九数尽 日月无光

颂曰:
杨花落尽李花残 五色旗分自北来

太息金陵王气尽 一枝春色占长安

金圣叹:此象主李闯、张献忠扰乱中原,崇祯投环梅山,福王偏安不久明祀遂亡。颂末句似指胡后,

大有深意

Đệ tam nhị tượng: ất Tị Tốn hạ Khảm thượng Tỉnh

Sấm viết: mã khiêu bắc khuyết, khuyển ngao tây phương, bát cửu sổ tẫn, nhật nguyệt vô quang

Tụng viết: dương hoa lạc tẫn lí hoa tàn, ngũ sắc kì phân tự bắc lai, thái tức kim lăng vương khí tẫn, nhất chi xuân sắc chiêm trường an

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ lí sấm, Trương Hiến Trung nhiễu loạn trung, Sùng Trinh đầu hoàn mai sơn, Phúc Vương thiên an bất cửu minh tự toại vong, tụng mạt cú tự chỉ hồ hậu, đại hữu thâm ý

  • Đời Thanh: 33, 34, 35, 36
33 * 第三三象 丙申 巽下上 大

谶曰:黄河水清 气顺则治

主客不分 地支无子

颂曰:天长白瀑来 胡人气不衰

藩篱多撤去 稚子半可哀

金圣叹:「此象乃满清入关之徵。反客为主殆亦气数使然,非人力所能挽回欤。辽金而後胡人两主中原,璜璜汉族对之得毋有愧。」

Đệ tam tam tượng: Bính Thân Tốn hạ Đoái thượng Đại Quá

Sấm viết: hoàng hà thủy thanh, khí thuận tắc trì, chủ khách bất phân, địa chi vô tử

Tụng viết: thiên trường bạch bộc lai, hồ nhân khí bất suy, phiên li đa triệt khứ, trĩ tử bán khả ai

Kim Thánh Thán: thử tượng nãi Mãn Thanh nhập quan chi trưng, phản khách vi chủ đãi diệc khí sổ sử nhiên, phi nhân lực sở năng vãn hồi dư, Liêu Kim nhi hậu Hồ nhân lưỡng chủ Trung nguyên, hoàng hoàng Hán tộc đối chi đắc vô hữu quý

34 第三四象 丁酉 巽下巽上 巽

谶曰:
头有发 衣怕白

太平时 王杀王

颂曰:
太平又见血花飞 五色章成 外衣

洪水滔天苗不秀 中原曾见梦全非

金圣叹:「证已往之事易,推未来之事难,然既证已往,似不得不推及将来。吾但愿自此以後,吾所谓平治者皆幸而中,吾所谓不平治者幸而不中,而吾可告无罪矣。此象疑遭水灾或兵戎与天灾共见,此一乱也

Đệ tam tứ tượng: Đinh Dậu Tốn hạ Tốn thượng Tốn

sấm viết: đầu hữu phát, y phạ bạch, thái bình thì, vương sát vương

Tụng viết: thái bình hựu kiến huyết hoa phi, ngũ sắc chương thành, ngoại y, hồng thủy thao thiên miêu bất tú, Trung nguyên tằng kiến mộng toàn phi

Kim Thánh Thán : chứng dĩ vãng chi sự dịch, thôi vị lai chi sự nan, nhiên kí chứng dĩ vãng, tự bất đắc bất thôi cập tương lai, ngô đãn nguyện tự thử dĩ hậu, ngô sở vị bình trì giả giai hạnh nhi trung, ngô sở vị bất bình trì giả hạnh nhi bất trung, nhi ngô khả cáo vô tội hĩ, thử tượng nghi tao thủy tai hoặc binh nhung dữ thiên tai cộng kiến, thử nhất loạn dã

35 第三五象 戊戍 震下上 随

谶曰:
西方有人 足踏神京

帝出不还 三台扶倾

颂曰:
黑云黯黯自西来 帝子临河筑金台

南有兵戎北有火 中兴曾见有奇才

金圣叹:「此象疑有出狩事,亦乱兆也。」(此象是描述八国联军,当日慈禧曾避祸於热河,热河乃满清之夏都,奇才所指是曾国藩

Đệ tam ngũ tượng: Mậu Tuất Chấn hạ Đoái thượng Tùy

Sấm viết:tây phương hữu nhân, túc đạp thần kinh, đế xuất bất hoàn, tam thai phù khuynh

Tụng viết: hắc vân ảm ảm tự tây lai, đế tử lâm hà trúc kim thai, nam hữu binh nhung bắc hữu hỏa, trung hưng tằng kiến hữu kì tài

Kim Thánh Thán: tượng nghi hữu xuất thú sự, diệc loạn triệu dã, thử tượng thị miêu thuật bát quốc liên quân, đương nhật từ hi tằng tị họa vu nhiệt hà, nhiệt hà nãi Mãn Thanh chi hạ đô, kì tài sở chỉ thị tằng quốc phiên

36 第三六象 己亥 乾下巽上 小畜

谶曰:
纤纤女子 赤手御敌

不分祸福 灯光蔽日

颂曰:
双拳旋转乾坤 海内无端不靖

母子不分先後 西望长安入觐

金圣叹:「此象疑一女子能定中原,建都长安。此乃指慈禧之义和团事件,而此次事後慈禧与光绪皆避祸去长安,不久,二人两日间先後去世

Đệ tam lục tượng: Kỷ Hợi Kiền hạ Tốn thượng Tiểu Súc

Sấm viết: tiêm tiêm nữ tử, xích thủ ngự địch, bất phân họa phúc, đăng quang tế nhật

Tụng viết: song quyền toàn chuyển kiền khôn, hải nội vô đoan bất tĩnh, mẫu tử bất phân tiên hậu, tây vọng Trường An nhập cận

Kim thánh thán: thử tượng nghi nhất nữ tử năng định Trung nguyên, kiến đô Trường An, (thử nãi chỉ Từ Hi chi nghĩa hòa đoàn sự kiện, nhi thử thứ sự hậu Từ Hi dữ Quang Tự giai tị họa khứ Trường An, bất cửu, nhị nhân lưỡng nhật gian tiên hậu khứ thế )

  •  37, 38, 39 ( thời kỳ Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch, Mao trạch Đông)
37 第三七象 庚子 震下巽上 益

谶曰:汉水茫茫 不统继统

南北不分 和衷与共

颂曰:水清终有竭 倒戈逢八月

海内竟无王 半凶还半吉

金圣叹:「此象虽有元首出现,而一时未易平治,亦一乱也。此乃预言民国之成立。

Đệ tam thất tượng: Canh Tý Chấn hạ Tốn thượng Ích

Sấm viết:hán thủy mang mang, bất thống kế thống, nam bắc bất phân, hòa trung dữ cộng

Tụng viết:thủy thanh chung hữu kiệt, đảo qua phùng bát nguyệt, hải nội cánh vô vương, bán hung hoàn bán cát

Kim Thánh Thán: thử tượng tuy hữu nguyên thủ xuất hiện, nhi nhất thì vị dịch bình trì, diệc nhất loạn dã, thử nãi dự ngôn dân quốc chi thành lập.

38 第三八象 辛丑 震下离上 噬嗑

谶曰:门外一鹿 群雄争逐

劫及 鱼 水深火热

颂曰:火运开时祸蔓延 万人後死万人生

海波能使江河浊 境外何殊在目前

金圣叹:「此象兵祸起於门外有延及门内之兆。」〈此乃指第一次世界大战〉

Đệ tam bát tượng: Tân Sửu Chấn hạ Li thượng Phệ Hạp

Sấm viết: môn ngoại nhất lộc, quần hùng tranh trục kiếp cập ngư thủy thâm hỏa nhiệt

Tụng viết: hỏa vận khai thì họa mạn duyên, vạn nhân hậu tử vạn nhân sanh, hải ba năng sử giang hà trọc, cảnh ngoại hà thù tại mục tiền

Kim Thánh Thán: thử tượng binh họa khởi vu môn ngoại hữu duyên cập môn nội chi triệu, (thử nãi chỉ đệ nhất (nhị ?) thứ thế giới đại chiến)

39 第三九象 壬寅 巽下

谶曰:鸟无足 山有月

旭初升 人都哭

颂曰:十二月中气不和 南山有雀北山罗

一朝听得金鸡叫

大海沉沉日已过

金圣叹:「此象疑一外夷扰乱中原,必至酉年始得平也。」〈此象是指日本侵华。鸟无足,山有月,是一个岛字

Đệ tam cửu tượng:  Nhâm Dần Tốn Hạ  Đoài Thượng  Di (?)

Sấm viết: điểu vô túc,  sơn hữu nguyệt, húc sơ thăng,  nhân đô khốc

Tụng viết: thập nhị nguyệt trung khí bất hòa, nam sơn hữu tước bắc sơn la, nhất triêu thính đắc kim kê khiếu, đại hải trầm trầm nhật dĩ quá

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất ngoại di nhiễu loạn Trung Nguyên, tất chí dậu niên thủy đắc bình dã, thử tượng thị chỉ Nhật Bổn xâm Hoa, điểu vô túc, sơn hữu nguyệt, thị nhất cá đảo tự

  • Dân Quốc 38 năm sau: từ 40 đến 59 (sau thời Mao cho tới nay và thời gian sắp tới, rất quan trọng có dịch nghĩa từ đồ hình)
40 第四十象 癸卯 巽下艮上

谶曰:一二三四 无土有主

小小天罡 垂拱而治

颂曰:一口东来气太骄 脚下无履首无毛

若逢木子冰霜涣 生我者猴死我雕

金圣叹:「此象有一李姓,能服东夷,而不能图长治久安之策,

卒至旋治旋乱,有兽活禽死之意也。」〈此似指国民党迁台

Đệ tứ thập tượng: Quý Mão – Tốn Hạ – Cấn Thượng – Cổ

Sấm viết: nhất nhị tam tứ, vô thổ hữu chủ, tiểu tiểu Thiên Cương, thùy củng nhi trì

Tụng viết: nhất khẩu đông lai khí thái kiêu, cước hạ vô lí thủ vô mao, nhược phùng mộc tử băng sương hoán, sanh ngã giả hầu tử ngã điêu

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất lí tính, năng phục đông di, nhi bất năng đồ trường trì cửu an chi sách, tốt chí toàn trì toàn loạn, hữu thú hoạt cầm tử chi ý dã thử tự chỉ Quốc Dân Đảng thiên thai

Lược dịch:

Sấm viết: một hai ba bốn, đất ở không có chủ, sao Thiên Cương bé nhỏ, cung kính cúi đầu mà sửa trị.

Tụng viết: một cửa (khẩu) to lớn ở phía đông qua lại, dưới chân chẳng có giầy dép đầu không tóc, nếu như giống (mầm) cây gỗ gặp (được) băng sương tan rã, (như) con khỉ đã chết, ấy là ta sống lại (mà) trở thành con chim diều hâu kên kên.

Kim Thánh Thán: tượng này có một tánh lý, có tài (khả) năng chế phục (qui phục) Đông di (Nhật Bản), mà không có khả năng mưu đồ trường trị (trị vì lâu dài), sách lược yên bình lâu dài. Lính tốt (lính quèn) quay trở lại (thì) rối loạn, (mạng người) chết (như) loài chim thú vậy, ấy là chỉ Quốc Dân đảng vậy. (thời kỳ Nhật Bản – Tưởng – Mao)

41 第四一象 甲辰 离下离上 离

谶曰:天地晦盲 草木繁殖

阴阳反背 上土下日

颂曰:帽儿须戴血无头 手弄乾坤何日休

九十九年成大错 称王只合在秦州

金圣叹:「此象一武士握兵权,致肇地覆天翻之祸,或一白姓者平之。〈此指毛泽东所行各种运动,九十九合成是廿八年,与毛在位期相合。秦州即陕西省,延安亦在陕西。帽儿 戴是说扣帽子。

Đệ tứ nhất tượng : Giáp thần Li hạ Li thượng Li

Sấm viết: thiên địa hối manh, thảo mộc phồn thực, âm dương phản bối, thượng thổ hạ nhật

Tụng viết: mạo nhân tu đái huyết vô đầu, thủ lộng Kiền Khôn hà nhật hưu, cửu thập cửu niên thành đại thác, xưng vương chích hợp tại Tần Châu

Kim Thánh Thán: thử tượng nhất vũ sĩ ác binh quyền, trí triệu địa phúc thiên phiên chi họa, hoặc nhất bạch tính giả bình chi, (thử chỉ Mao Trạch Đông sở hành các chủng vận động, cửu thập cửu hợp thành thị nhập bát niên, dữ Mao tại vị kì tương hợp, Tần Châu tức Thiểm Tây tỉnh, duyên an diệc tại Thiểm Tây, mạo nhân đái thị thuyết khấu mạo tử

Lược dịch:

Sấm viết: trời đất tối tăm mờ mịt, cây cỏ cây cỏ đầy rẫy (hoang vu tiêu điều cây cỏ mọc hoang đầy rẫy), âm dương quay lưng đối nhau, mặt trời ở dưới mặt đất.

Tụng viết: người đội mũ râu quai nón (có) tâm huyết sắt máu, không ai đứng trên được, tài giỏi bỡn cợt cả Kiền Khôn mà sao ngày lại tốt lành, chín mười chín năm thành lầm lẫn lớn, chỉ một mình xưng vua ở tại Tần Châu.

Kim Thánh Thán: tượng này là một võ sĩ nắm bình quyến, suy cho cùng là nơi chốn bắt đầu gây ra cái hoạ tự nhiên lập lại, hoặc ấy là một thời bày ra trăm họ được bình trị chăng ? (đó là ám chỉ nơi mà Mao Trạch Đông vận động các phong trào quần chúng, chín mười phong trào đảng phái qui tụ về một thành lập nên làm một trong 28 năm đều là do Mao tập hợp thành, Tần Châu tức là tỉnh Thiểm Tây, cuộc khởi tạo sự nghiệp của Mao cũng ở Thiểm Tây, người đội mũ chính là Mao Trạch Đông vậy

42 第四二象 乙巳 艮下离上 旅

谶曰:美人自西来 朝中日渐安

长弓在地 危而不危

颂曰:西方女子琵琶仙 皎皎衣裳色更鲜

此时浑迹匿朝市 闹乱君臣百万般

金圣叹:「此象疑一女子当国,服色尚白,大权独揽,几危社稷,发现或在卯年,此始乱之兆也

Đệ tứ nhị tượng: Ất Tị Cấn hạ Li thượng Lữ

Sấm viết: mĩ nhân tự tây lai, triêu trung nhật tiệm an, trường cung tại địa, nguy nhi bất nguy

Tụng viết: tây phương nữ tử tỳ bà tiên. kiểu kiểu y thường sắc canh tiên, thử thì hồn tích nặc triêu thị, nháo loạn quân thần bách vạn bàn

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất nữ tử đương quốc, phục sắc thượng bạch, đại quyền độc lãm, kỉ nguy xã tắc, phát hiện hoặc tại Mão niên, thử thủy loạn chi triệu dã.

Lược dịch:

Sấm viết:  Người đẹp đến từ phía Tây, ngày giữa sớm mai dần dần yên định, bề dài đo tại đất, nguy nhưng mà chẳng nguy (hoặc cao ngất ngưởng tưởng nguy hiểm nhưng chưa hẳn là nguy hiểm).

Tụng viết: Con gái phương Tây (ôm cây) đàn Tỳ bà (đẹp như) tiên, đổi thay quần áo sạch sẽ lại (càng) thêm tươi tốt (Giang Thanh diễn viên sân khấu điện ảnh ?), ấy thời ẩn dấu vết vẩn đục từ sớm (như) ở chợ búa, vua tôi (bàn cãi) quanh co ầm ỹ nháo nhào rối loạn (đại ý là nhìn bề ngoài áo quần sạch sẽ đẹp đẽ tốt tươi đấy, nhưng ẩn dấu bên trong lẫn lộn sạch đẹp bẩn xấu như các loại ở chợ đã được che dấu sớm từ trước rồi).

Kim Thánh Thán: tượng này nghi ngờ có một nữ nhân đảm đương việc nước, áo mặc màu trắng ở trên, nắm chiếm lấy một mình quyền thế, làm nguy nan cho xã tắc, phát hiện ra ở năm Mão, ấy là cái triệu chứng mới bắt đầu loạn vậy. (thời Giang Thanh mới bắt đầu được Mao sủng ái ?)

43 第四三象 丙午 巽下离上 鼎

谶曰:君非君 臣非臣

始艰危 终克定

颂曰:黑兔走入青龙穴 欲尽不尽不可说

唯有外边根树上 三十年中子孙结

金圣叹:「此象疑前象女子乱国未终,君臣出狩,有一杰出之人为之底定,然必在三十年後

Đệ tứ tam tượng: Bính Ngọ Tốn hạ Li thượng Đỉnh

Sấm viết: quân phi quân, thần phi thần, thủy gian nguy, chung khắc định

Tụng viết: hắc thỏ tẩu nhập thanh long huyệt, dục tẫn bất tẫn bất khả thuyết, duy hữu ngoại biên căn thụ thượng, tam thập niên trung tử tôn kết

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi tiền tượng nữ tử loạn quốc vị chung, quân thần xuất thú, hữu nhất kiệt xuất chi nhân vi chi để định, nhiên tất tại tam thập niên hậu

Lược dịch:

Sấm viết: vua chẳng ra vua, tôi chẳng phải là tôi tớ, thời gian đầu gian nan nguy khốn, sau được yên định.

Tụng viết: con thỏ đen chạy vào hang rồng xanh (Đặng Tiểu Bình ẩn trốn chờ thời cơ ?), tham muốn hết sức chẳng còn có thể nói gì được nữa (tứ nhân bang).

Kim Thánh Thán: tượng này là nghi ngờ nữ nhân (quẻ) trước là người làm cho đất nước rối loạn, vua tôi ra ngoài, có một người kiệt xuất đến làm cho yên ổn, như thế ắt hẳn ở tại 30 năm sau đó.

44 第四四象 丁未 坎下离上 未

谶曰:日月丽天 群阴慑服

百灵来朝 双羽四足

颂曰:而今中国有圣人 虽非豪杰也周成

四夷重译称天子 否极泰来九国春

金圣叹:「此象乃圣人复生,四夷来朝之兆,一大治也。

Đệ tứ tứ tượng: Đinh vị Khảm hạ Li thượng Vị Tế

Sấm viết: nhật nguyệt lệ thiên, quần âm nhiếp phục, bách linh lai triêu, song vũ tứ túc

Tụng viết: nhi kim Trung Quốc hữu thánh nhân, tuy phi hào kiệt dã chu thành, tứ di trọng dịch xưng thiên tử, phủ cực thái lai cửu quốc xuân

Kim Thánh Thán: thử tượng nãi thánh nhân phục sanh, tứ di lai triêu chi triệu, nhất đại trì dã

Lược dịch:

Sấm viết: Mặt trời mặt trăng sáng đẹp ở trên bầu trời, bè lũ đen tối sợ hãi khiếp phục, hàng trăm sinh linh lại về chầu, hai lông vũ bốn chân.

Tụng viết: Mà nay Trung Quốc có thánh nhân, cho dầu chẳng phải là hào kiệt làm cho thành trọn vẹn, bốn bên (các nước chung quanh) coi trọng xem như là ông vua (của nước Trung Hoa), bĩ cực lại được thái lai đất nước như mùa xuân đẹp.

Kim Thánh Thán: tượng này là thánh nhân sinh lại, là điềmbốn bên vui vẻ quay trở lại, tất cả đều được sửa trị vậy.

45 第四五象 戊申 坎下艮上 蒙

谶曰:
有客西来 至东而止

木火金水 洗此大耻

颂曰:
炎运宏开世界同 金乌隐匿白洋中

从此不敢称雄长 兵气全消运已终

金圣叹:「此象于太平之世复见兵戎,当在海洋之上,自此之後,更臻盛世矣。」

Đệ tứ ngũ tượng: Mậu Thân Khảm hạ Cấn thượng Mông

Sấm viết: hữu khách tây lai, chí đông nhi chỉ, mộc hỏa kim thủy, tẩy thử đại sỉ

Tụng viết: viêm vận hoành khai thế giới đồng, kim ô ẩn nặc bạch dương trung, tòng thử bất cảm xưng hùng trường, binh khí toàn tiêu vận dĩ chung

Kim Thánh Thán: thử tượng vu thái bình chi thế phục kiến binh nhung, đương tại hải dương chi thượng, tự thử chi hậu, canh trăn thịnh thế hĩ.

Lược dịch:

Sấm viết: Có khách đến từ hướng Tây, ở tận cùng phía Đông, mộc hoả kim thuỷ, ấy thời nhẵn nhụi sạch sẽ (hết cái) nhục lớn.

Tụng viết: vận số to lớn mở ra ở phương Nam thế giới cùng nhau, mặt trời ẩn trốn ở bên trong biển trắng, đi theo vậy mà chẳng dám xứng đáng là tài giỏi khoẻ mạnh, binh khí tan rã xong hết vận số kết thúc.

Kim Thánh Thán: tượng này là thời thái bình (đi qua lại thấy) trở lại áo giáp binh khí, đang ở tại trên biển (căng thẳng eo biển Trung Hoa – Đài Loan ?), bởi vì là sau đó, thay đổi là thời thịnh vượng (Trung Hoa tăng cường quân sự).

46 第四六象 己酉 坎下巽上

谶曰:
黯黯阴霾 杀不用刀

万人不死 一人难逃

颂曰:
有一军人身带弓 只言我是白头翁

东边门 伏金剑 勇士後门入帝宫

金圣叹:「此象疑君王昏 ,一勇士仗义兴兵为民请命,故曰万人不死一人难逃

Đệ tứ lục tượng: Kỷ Dậu Khảm hạ Tốn thượng Hoán

Sấm viết: ảm ảm âm mai, sát bất dụng đao, vạn nhân bất tử, nhất nhân nan đào

Tụng viết: hữu nhất quân nhân thân đái cung, chích ngôn ngã thị bạch đầu ông,     đông biên môn, phục kim kiếm, dũng sĩ hậu môn nhập đế cung

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi quân vương hôn, nhất dũng sĩ trượng nghĩa hưng binh, vi dân thỉnh mệnh, cố viết vạn nhân bất tử nhất nhân nan đào.

Lược dịch:

Sấm viết: Đen tối ảm đạm mịt mù, giết chết mà chẳng dùng đến gươm đao, muôn người chẳng chết, một người cũng khó mà trốn được.

Tụng viết: Có một người lính đeo cung tên trên người, chỉ nói ta là ông đầu bạc, bên ngoài cửa phía Đông, dấu gươm sắt, dũng sĩ ở cửa sau vào cung điện của nhà vua.

Kim Thánh Thán: tượng này nghi ngờ là quân vương hôn ám tối tăm, một dũng sĩ vì nghĩa khí động binh lính, vì dân mà truyền lệnh, cớ sao lại viết rằng muôn người chẳng chết một người cũng khó mà trốn chạy được ?.

47 第四七象 庚戍 坎下乾上

谶曰:
偃武修文 紫薇星明

匹夫有责 一言为君

颂曰:
无王无帝定乾坤 来自田间第一人

好把旧书多读到 义言一出见英明

金圣叹:「此象有贤君下士,豪杰来归之兆,盖辅助得人,而帝不居德,王不居功,蒸蒸然有无为而治之盛。此一治也

Đệ tứ thất tượng: Canh thú Khảm hạ Kiền thượng

Sấm viết: yển vũ tu văn, tử vi tinh minh, thất phu hữu trách, nhất ngôn vi quân

Tụng viết: vô vương vô đế định Kiền Khôn, lai tự điền gian đệ nhất nhân, hảo bả cựu thư đa độc đáo, nghĩa ngôn nhất xuất kiến anh minh.

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu hiền quân hạ sĩ, hào kiệt lai quy chi triệu, cái phụ trợ đắc nhân, nhi đế bất cư đức, vương bất cư công, chưng chưng nhiên hữu vô vi nhi trì chi thịnh, thử nhất trì dã. Nghỉ. Như yển vũ tu văn 偃武修文  nghỉ việc võ sửa việc văn.

Lược dịch:

Sấm viết: nghỉ việc võ sửa trị việc văn, sao Tử Vi sáng sủa, người đàn ông có trách nhiệm gánh nhận, một lời làm vua.

Tụng viết: Không vua chúa chẳng đế vương xếp đặt Kiền Khôn (Trời Đất), đến từ đồng ruộng (là) người hạng nhất, yêu thích giữ lấy sách cũ nhiều độc đáo, ý nghĩa lời nói ra thấy thật là sáng suốt.

Kim Thánh Thán: tượng này có vua hiền tôi giỏi ở bên dưới, là điềm hào kiệt quay trở về, được người che chở phò trợ, vậy mà vua chẳng ở đức độ, vì sao vương hầu chẳng (vì) việc công, một lũ một bọn như thế làm sao có được thịnh vượng ?, ấy vậy cần phải sửa trị vậy.

48 第四八象 辛亥 离下乾上 同人

谶曰:
卯午之间 厥象维离

八牛牵动 雍雍熙熙

颂曰:
水火既济人民吉 手持金戈不杀贼

五十年中一将臣 青青草自田间出

金圣叹:「此象疑一朱姓与一苗姓争朝纲,而朱姓有以德服人之化,龙蛇相斗,想在辰巳之年,其建都或在南方

Đệ tứ bát tượng: Tân Hợi Li hạ Kiền thượng Đồng Nhân

Sấm viết: Mão Ngọ chi gian, quyết tượng duy li, bát ngưu khiên động, ung ung hi hi

Tụng viết: Thủy Hỏa Kí Tể nhân dân cát, thủ trì kim qua bất sát tặc, ngũ thập niên trung nhất tương thần, thanh thanh thảo tự điền gian xuất

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất chu tính dữ nhất miêu tính tranh triêu cương, nhi chu tính hữu dĩ đức phục nhân chi hóa, long xà tương đấu, tưởng tại thần Tị chi niên, kì kiến đô hoặc tại Nam phương.

Lược dịch:

Sấm viết: vào khoảng Mão Ngọ, hiện trạng khởi lên ràng buộc bám dính lấy, co kéo  tám trâu, hoà hợp vui vẻ.

Tụng viết: Thủy Hỏa Kí Tể nhân dân tốt, tay cầm nắm vũ khí chẳng giết giặc, trong năm mươi năm rồi sẽ có một bày tôi, cỏ cây sinh ra xanh ngát một khoảng ruộng.

 Kim Thánh Thán: tượng này ngờ rằng một người họ Chu là một mầm mống tranh giành trong triều cương, vậy mà họ Chu có đức độ cảm phục được lòng người, rồng rắn đánh nhau, nhớ lại ở năm Tị, dựng lên kinh đô hoặc ở phương Nam.

49 第四九象 壬子 坤下坤上 坤

谶曰:
山谷少人口 欲剿失其巢

帝王称弟兄 纷纷是英豪

颂曰:
一个或人口内啼 分南分北分东西

六爻占尽文明见 棋布星罗日月

金圣叹:「久分必合,久合必分,理数然也,然有文明之象,当不如割据者之纷扰也

Đệ tứ cửu tượng: Nhâm tử Khôn hạ Khôn thượng Khôn

Sấm viết: sơn cốc thiểu nhân khẩu, dục tiễu thất kì sào, đế vương xưng đệ huynh, phân phân thị anh hào.

Tụng viết: nhất cá hoặc nhân khẩu nội đề, phân Nam phân Bắc phân Đông Tây, lục hào chiêm tẫn văn minh kiến, kì bố tinh la Nhật Nguyệt

Kim Thánh Thán: cửu phân tất hợp, cửu hợp tất phân, lí sổ nhiên dã, nhiên hữu văn minh chi tượng, đương bất như cát cư giả chi phân nhiễu dã

Tạm dịch:

Sấm viết: hang núi ít người, tham muốn ăn hớt mất luôn cả tổ chim (tham quá bắt lấy cả tổ chim làm tuyệt giống), đế vương xưng anh em (mỗi địa phương là một ông vua con), rối bời anh hùng hào kiệt (người nào cũng tự xưng là tài giỏi).

Tụng viết: một cái (gì đó) hoặc một ngừơi kêu khóc ở bên trong (lòng dân đau xót uất hận ở bên trong), chia Nam chia Bắc chia Đông Tây (chia rẽ trầm trọng), xem (bói) hết thảy cả sáu hào thấy được nền văn minh (mới ló rạng), la liệt cờ vải trăng sao mặt trời.

Kim Thánh Thán: chia ra lâu ắt hẳn (có ngày) hợp lại, hợp lâu (rồi) ắt hẳn (có ngày sẽ phải) phân chia ra, lí số tự nhiên (nó là) như vậy (đấy), hiện tượng này (phân chia ra, cửu hợp tất phân …) có như thế (mới) là sự văn minh, cảnh huống (hiện nay) đang chẳng phải là tốt, cái ấy (hiện tượng ấy, cát cứ địa phương), (hiện nay) là ngổn ngang rối loạn nhũng nhiễu.

Lời bàn: Hiện tượng đồ hình 49 nói chính là thời kỳ của CS Trung Quốc khi Mao Trạch Đông chiếm trọn thống lĩnh toàn cõi Hoa Lục, thực thi chính sách CS tham lam tàn bạo khiến cả trăm triệu người chết trực tiếp hay gián tiếp, khiến cho lòng người dân khắp Hoa Lục phân tán rối loạn ngổn ngang phát sinh ra mọi tệ nạn, suy đồi đạo đức đến tột cùng ở khắp các nơi, và ở mọi nơi ở mỗi tỉnh, mỗi quận, mỗi phường, xã, thôn là một ông vua con nhũng nhiễu cát cứ tự đặt luật riêng, hàng ngàn sứ quân chứ không như thời Xuân Thu chiến Quốc Lục quốc, Tam Quốc … đúng thực trạng của các nước CS như TQ và VN hiện nay, TU ra lệnh địa phương chẳng tuân theo, ỷ dựa vào thẻ Đảng CS mà không tuân theo pháp luật, luật lệnh của TU ban ra nhưng dưới chẳng thi hành “hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc”…

50 第五十象 癸丑 震下坤上

谶曰:
水火相战 时穷则变

贞下起元 兽贵人贱

颂曰:
虎头人遇虎头年 白米盈仓不值钱

豺狼结队街中走 拨尽风云始见天

金圣叹:「此象遇寅年遭大乱,君昏臣暴,下民无生息之日,又一乱也

Đệ ngũ thập tượng: Quý Sửu Chấn hạ Khôn thượng Phục

Sấm viết: Thủy Hỏa tương chiến, thì cùng tắc biến, trinh hạ khởi nguyên, thú quý nhân tiện

Tụng viết: hổ đầu nhân ngộ hổ đầu niên, bạch mễ doanh thương bất trị tiễn, sài lang kết đội nhai trung tẩu, bát tẫn phong vân thủy kiến thiên

Kim Thánh Thán: thử tượng ngộ Dần niên tao đại loạn, quân hôn thần bạo, hạ dân vô sanh tức chi nhật, hựu nhất loạn dã

Lược dịch:

Sấm viết: nước lửa đánh nhau, thời (đã tới lúc) cùng cực ắt sẽ biến dạng, dưới chính đính mới đầu khởi lên, loài cầm thú thì quỳ loài người thì hèn mọn.

Tụng viết: người đầu hổ gặp đầu năm hổ, gạo trắng đầy bao chẳng cầm nắm được tiền, loài lang sói kết thành bầy chạy giữa bốn bên (nơi nào cũng thấy loài lang sói), gió mây (làm u ám) hết sạch mới thấy được trời xanh.

 Kim Thánh Thán: tượng hình này năm Dần gặp nạn lớn, vua hôn ám bầy tôi tàn bạo, dân ở dưới hàng ngày sống khó thở (bị áp bức uất ức nghẹn ngào đến khó thở), lại sẽ có một sự rối loạn (trong xã hội) vậy.

51 第五一象 甲寅 下坤上

谶曰:
阴阳和 化以正

坤顺而感 後见尧舜

颂曰:
谁云女子尚刚强 坤德居然感四方

重见中天新气象 卜年一六寿而康

金圣叹:「此象乃明君得贤后之助,化行国内,重见升平,又一治也。卜年一六,或在位七十年

Đệ ngũ nhất tượng: Giáp Dần Đoái hạ Khôn thượng Lâm

Sấm viết: âm dương hòa, hóa dĩ chánh, khôn thuận nhi cảm, hậu kiến Nghiêu Thuấn

Tụng viết: thùy vân nữ tử thượng cương cường, khôn đức cư nhiên cảm tứ phương, trọng kiến trung thiên tân khí tượng, bặc niên nhất lục thọ nhi khang.

Kim Thánh Thán: thử tượng nãi minh quân đắc hiền hậu chi trợ, hóa hành quốc nội, trọng kiến thăng bình, hựu nhất trì dã, bặc niên nhất lục, hoặc tại vị thất thập niên

Lược ldịch:

Sấm viết: Âm Dương hoà, biến hoá thành chánh đáng, nhu thuận mà cảm hoá, sau thấy được vua Nghiêu Thuấn.

Tụng viết: rằng ai là người đàn bà con còn cứng rắn mạnh mẽ, đức của nhu hoà như thế cảm thông được bốn phương, hình tượng mới được xem trọng giữa bầu trời, bói thử yên được lâu trong một sáu năm.

Kim Thánh Thán: tượng hình này là vua hiền được vợ giỏi trợ giúp, thi hành chuyển hoá trong nước, coi trọng sự công bằng, lại có một sự sửa chữa vậy, bói thử một sáu năm, hoặc là ở địa vị bẩy mươi năm.

52 第五二象 乙卯 乾下坤上 泰

谶曰:
慧星乍见 不利东北

踽踽何之 瞻彼乐国

颂曰:
枪一点现东方 吴楚依然有帝王

门外客来终不久 乾坤再造在角亢

金圣叹:此象主东北被夷人所扰,有迁都南方之兆. 角亢南极也。其後有明君出,驱逐外人,再度升平

Đệ ngũ nhị tượng: Ất Mão Kiền hạ Khôn thượng Thái

Sấm viết: Tuệ tinh sạ kiến, bất lợi Đông Bắc, củ củ hà chi, chiêm bỉ nhạc quốc

Tụng viết: thương nhất điểm hiện Đông phương, Ngô Sở y nhiên hữu đế vương    môn ngoại khách lai chung bất cửu, Kiền Khôn tái tạo tại Giác Kháng

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Đông Bắc bị di nhân sở nhiễu, hữu thiên đô Nam phương chi triệu, Giác Kháng Nam cực dã, kì hậu hữu minh quân xuất, khu trục ngoại nhân, tái độ thăng bình

Lược dịch:

Sấm viết: chợt thấy sao Tuệ, chẳng lợi (ich nơi) Đông Bắc, lủi thủi một mình làm chi ?, nhìn xem nước bên cạnh vui thích.

Tụng viết: một ngôi sao chổi nhỏ bé hiện ra ở phương Đông, Ngô Sở vẫn cứ như cũ có được đế vương, khách đến ngoài cửa chẳng lâu sau, Kiền Khôn tạo lại (nơi ngôi sao) Giác (Giốc) Kháng (Cang).

Kim Thánh Thán: tượng này chủ nơi Đông Bắc bị người (nước) bên cạnh quấy rối, có triệu chứng dời kinh đô về phương Nam, sao Giác Kháng ở cực Nam vậy, về sau có vua sáng xuất hiện, xua đuổi người ngoài, làm cho được yên bình.

Các nhà Thiên Văn Học chia bầu trời ra 4 hướng : Đông Tây Nam Bắc . Mỗi hướng gồm có 7 chùm sao . Hay là 4 hướng x 7 chùm sao = 28 chùm sao . Ngày nay chúng ta thường gọi là Nhị Thập Bát Tú

Bảy chòm sao hợp lại thành một phương trời và được biểu tượng thành một con vật có mầu sắc theo sự phối thuộc của ngũ hành- Phương Bắc là con rùa đen gọi là Hoa Cái (Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích).

– Phương Tây là con hổ trắng gọi là Bạch Hổ (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm).

– Phương Nam là con phượng đỏ gọi là Phượng Các (Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn).

– Phương Đông là con rồng xanh, gọi là Thanh Long (Giốc, Cang, Đê, Phòng Tâm Vĩ, Cơ).

 http://knolstuff.com/profiles/blog/show?id=1781665%3ABlogPost%3A54631

53 第五三象 丙辰 乾下震上 大壮

谶曰:
关中天子 礼贤下士

顺天休命 半老有子

颂曰:
一个孝子自西来 手握乾纲天下安

域中两见旌旗美 前人不及後人才

金圣叹:「此象有一秦姓名孝者,登极关中,控制南北,或以秦为国号,此一治也

Đệ ngũ tam tượng: Bính thần Kiền hạ Chấn thượng Đại Tráng

Sấm viết: quan trung thiên tử, lễ hiền hạ sĩ, thuận thiên hưu mệnh, bán lão hữu tử

Tụng viết: nhất cá hiếu tử tự tây lai, thủ ác kiền cương thiên hạ an, vực trung lưỡng kiến tinh kì mĩ, tiền nhân bất cập hậu nhân tài

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất Tần tính danh hiếu giả, đăng cực quan trung, khống chế Nam Bắc, hoặc dĩ tần vi quốc hào, thử nhất trì dã

Lược dịch:

Sấm viết: vua ở Quan Trung (ở nơi giữa cửa), lấy lễ hiền với kẻ sĩ ở dưới, thuận lòng trời sai khiến mệnh lệnh, đến gần già mới có con.

Tụng viết: có một đứa con hiếu nghĩa đến từ phía Tây, cầm nắm lấy kỷ cương thiên hạ yên lành, bờ cõi cờ quạt cả hai thấy đẹp đẽ, người thời trước chẳng theo kịp được sự tài giỏi của người thời sau.

Kim Thánh Thán: tượng này có một tên họ Tần hiếu thảo vậy, lên cao ở Quan Trung (chính giữa, đứng đầu ngôi chính giữa …), cầm nắm cai quản Nam Bắc, hoặc là lấy pháp chế (từ thời) nhà Tần làm pháp chế (cai trị nước coi như là) quốc bảo.

54 第五四象 丁巳 乾下

谶曰:
磊磊落落 残棋一局

啄息苟安    虽笑亦哭

颂曰:
不分牛鼠与牛羊 去毛存悺称强

寰中自有真龙出 九曲黄河水不黄

金圣叹:「此象有实去名存之兆,或为周末时,号令不行,尚颁止朔:亦久合必分之徵也

Đệ ngũ tứ tượng: Đinh Tị Kiền hạ Đoái thượng

Sấm viết: lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức cẩu an, tuy tiếu diệc khốc

Tụng viết: bất phân ngưu thử dữ ngưu dương, khứ mao tồn (cách 革 – hưởng  thượng 尚饗 ) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc:diệc cửu hợp tất phân chi trưng dã

Tạm dịch: tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, trác tức 啄 息 (than thở, thở ngắn thở dài từng cơn, thở phào ra …) tạm yên, tuy cười lại khóc.

Chẳng chia ra trâu (với) chuột cùng với (hay là) trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn ? (cách革: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng 享: hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) –  thượng hưởng (ngõ hầu mới được hưởng mà) xưng (là) mạnh, trong cõi giữa tự có chân long (thánh quân) xuất hiện, chín khúc hoàng hà nước chẳng vàng.

Tượng này có điềm báo chứng thực là bỏ danh (xưng, hiệu …) để tồn tại, hoặc là thời kỳ mạt 末 (cuối cùng)  gây nên khắp nơi, hiệu lệnh ban ra chẳng (nơi nào chịu) thi hành, trên mới ban ra ngừng lại (đình chỉ), chứng cớ là ấy (bởi vì) hợp lâu ắt hẳn (có ngày phải) phân chia ra.

Đại loạn bình 大乱平, tứ di phục 四夷服, xưng huynh đệ 称兄弟, lục thất quốc 六七国”

 

55 第五五象 戊午 乾下坎上

谶曰:
惧则生戒 无远勿届

水边有女 对日自拜

颂曰:
觊觎神器终无用 翼翼小心有臣众

转危为安见节义 未必河山是我送

金圣叹:「此象有一石姓或刘姓一统中原,有一姓汝者谋篡夺之,幸有大臣尽忠王室,戒谨惕励,一切外侮不灭自灭,虽乱而亦治也。

Đệ ngũ ngũ tượng: Mậu Ngọ Kiền hạ Khảm thượng

Sấm viết: cụ tắc sanh giới,  vô viễn vật giới, thủy biên hữu nữ* , đối nhật tự bái

Tụng viết: kí du thần khí chung vô dụng, dực* dực tiểu tâm* hữu thần chúng, chuyển nguy* vi an kiến tiết nghĩa, vị tất hà sơn thị ngã tống

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất Thạch tính hoặc Lưu tính nhất thống trung nguyên, hữu nhất tính nhữ giả mưu soán đoạt chi, hạnh hữu đại thần tẫn trung vương thất*, giới cẩn dịch lệ, nhất thiết ngoại vũ bất diệt tự diệt, tuy loạn nhi diệc trì dã

Lược dịch:

Sấm viết: sợ phép tắc pháp luật (nên) sinh ra phòng bị, chẳng xa chớ (nên) đến, ven (bờ) nước có (con) gái, đối (diện) mặt trời (mà) lạy.

Tụng viết: (cho dầu có cầu) mong (hay là mong ước) thần (thánh) (rồi) sau (cũng) chẳng (có) tác dụng (hay công dụng gì cả), tâm nhỏ (hoặc là: lòng khinh thường, tâm hẹp hòi mà ôm ấp) che chở (cho) bầy tôi mọi người, (vì) tiết nghĩa (nên) chuyển nguy làm (nên) yên ổn, chưa hẳn (là) sông núi (đã) ấy đưa (tới) (hay là trở về) cho ta.

Kim Thánh Thán: tượng này có một danh tánh họ Lưu hoặc là họ Thạch (tập) hợp lại (được) ở giữa (nước, quốc gia), (rồi) có một tên (người khác) người ấy mưu mô soán đoạt (tranh dành quyền lực), may (mắn là) có đại thần hết lòng trung (thành với) nhà vua, đề phòng cẩn thận (cố) gắng (hết) sức, hết thẩy (sự) khinh thường (lấn áp) bên ngoài không tan rã (cũng bị) tự tan mất, tuy loạn mà lại (vẫn được cai)  trị (họ Lưu hay họ Thạch ngồi lại được, tại chức không bị truất phế). 

 Đồ hình này là để tiếp diễn đồ hình 54 “thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt 末 thì, hào lệnh bất hành”. Một bản Thôi Bối đồ khác bổ xung những chữ bị mất.

sấm viết lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức cẩu an, tuy tiếu diệc khốc.

tụng viếtbất phân ngưu thử dữ ngưu dương, khứ mao tồn (cách 革 – thượng hưởng 尚饗) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng

Tạm dịch:

Sấm viết: tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, trác tức (than thở, thở ngắn thở dài từng cơn, thở phào ra …) tạm yên, tuy cười lại khóc.

Tụng viết: Chẳng chia ra trâu (với) chuột cùng với (hay là) trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn? (cách 革: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng 享: hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) – thượng hưởng 尚饗(ngõ hầu mới được hưởng mà) xưng (là) mạnh (cường quốc), trong cõi giữa tự có chân long (thánh quân) xuất hiện, chín khúc hoàng hà nước chẳng vàng.

“lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức (thở phào ra) cẩu an (tạm yên), tuy tiếu diệc khốc”.

Câu sấm này rất hay: tưởng như là chủ nghĩa CS lỗi lạc tài ba hơn người, nhưng rồi một cuộc cờ tàn (sự tan rã của khối CS), CS TQ và VN mới “đổi mới” biến chế CN CS theo CN CS/TB biến hoá từ CS chuyên chính vô sản thành độc tài CS lai TB, và trở thành chủ nghĩa vỏ CS ruột tư bản, nhưng vẫn phải dựa vào chủ thuyết CS để giữ lấy vị trí dộc tôn để được “cẩu 苟 an” tạm yên và được “thượng hưởng 尚饗” (ngõ hầu mới được hưởng thụ đủ mọi thứ), nhưng câu “tuy tiếu diệc khốc” mới thực là thấm thía tình cảnh của CS TQ hiện nay (mất phương hướng, lý tưởng), bế tắc hoàn toàn nên sẽ phải đi tới “thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt 末 thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc:diệc cửu hợp 久 tất phân chi trưng dã”. Đã tới thời kỳ cuối cùng rồi (nên phải phân rã mỗi vùng tự trị tự rã trả về cho các dân tộc như trước khi bị xâm chiếm).

Từ đồ hình 54 để hiểu phần tiếp diễn của đồ hình số 55:

“cụ 懼 tắc 则 sanh giới 戒”.

Thực thi pháp luật (độc tài) quá tàn ác nên các vùng (bị xâm chiếm) sợ hãi giới hạn, phòng bị, “cẩu 苟 an” (bị đè nén, nhưng bên trong rối loạn ngầm) đưa tới cảnh báo là.

“vô viễn vật 勿 giới 屆” ở những nơi xa (các nước khác) đừng nên tới (du lịch), vì đang tàng ẩn một mối nguy cơ ngầm rất lớn (nguy cơ phân rã rối loạn) đến nối người đàn bà phải chắp tay cầu trời “thủy biên hữu nữ, đối nhật tự 自 bái”.

Mà cho dù có “kí du 覬覦 thần khí 器 chung vô dụng” ((cho dầu có)(cầu) mong (hay là mong ước) thần (thánh) (rồi) sau (cũng) chẳng (có) tác dụng (hay công dụng gì cả), việc rối loạn phân rã rồi cũng sẽ phải đến.

Khi sự phân rã ra rồi thì sẽ có người họ Lưu hay họ Thạch mới thống nhất một khối dân tộc nào đó về vùng trung nguyên (chữ trung nguyên 中原: khoảng giữa của nước TQ chứ không phải là cả nước Trung Quốc).

Người họ Lưu hay Thạch này (không phải là thánh nhân hay thánh quân để thống nhất lại được toàn bộ lại TQ) vì có tiểu tâm mà muốn (hoài bão) ôm mọi người (thống nhất lại TQ), nhưng rồi lại có người khác tranh dành quyền lực (nơi trung nguyên của họ Lưu hay Thạch), các nơi khác dòm ngó và dự định chiếm lấy vùng trung nguyên, mà họ Lưu hay họ Thạch đã tập hợp số người chiếm lấy được vùng trung nguyên làm nước mới thành lập sau khi bị phân rã, nhờ có những người vì tiết nghĩa (đại thần) hết lòng phò trợ nên các nơi khác bỏ ý định chiếm lấy trung nguyên “nhất thiết ngoại vũ 侮 bất diệt tự diệt”, cho nên tuy còn rối loạn nhưng nước mới thành lập vẫn giữ được “tuy loạn nhi diệc trì dã”. Giữ lại dược nhưng “vị tất hà 河 sơn thị 是 ngã tống 送” chưa hẳn (là) sông núi ấy (đất nước TQ trước khi phân rã) đưa (tới) (hay là trở về) cho ta (TQ cũ).

Trong đồ hình này có điểm lạ so với các đồ hình khác vì có những chữ : Nữ là nữ nhân mà cũng là sao Nữ, dực là cánh chim, che chở, giúp … mà cũng là sao Dực, tâm là tim, giữa … cũng là sao Tâm, nguy là cao ngất, nguy nan và cũng là sao Nguy đều ở trong nhị thập bát tú.

 56 第五六象 己未 坤下坎上 比

谶曰:
飞者非鸟 潜者非鱼

战不在兵 造化游戏

颂曰:
海疆万里尽云烟 上迄云霄下及泉

金母木公工幻弄 干戈未接祸连天

金圣叹:「此象军用火,即乱不在兵之意。颂云,海疆万里,则战争之烈,不仅在於中国 也。

Đệ ngũ lục tượng: Kỷ vị Khôn hạ Khảm thượng Bỉ

Sấm viết: phi giả phi điểu, tiềm giả phi ngư, chiến bất tại binh, tạo hóa du hí

Tụng viết: hải cương vạn lí tẫn vân yên, thượng hất vân tiêu hạ cập tuyền, kim mẫu mộc công công huyễn lộng, kiền (can) qua vị tiếp họa liên thiên

Kim Thánh Thán: thử tượng quân dụng hỏa, tức loạn bất tại binh chi ý, tụng vân, hải cương vạn lí, tắc chiến tranh chi liệt , bất cận tại vu Trung Quốc dã

Tạm dịch:

Sấm viết: cái đó (ấy) bay (được mà) chẳng phải (là con) chim (hoả tiễn, phi tiễn, phi cơ …), cái đó (ấy) ngầm ẩn dấu (bơi lặn được trong nước mà) chẳng phải (là con) cá (tầu ngầm, thuỷ ngư …) chiến tranh chẳng ở tại binh (lính), tạo hoá (trời đất) rong chơi đùa giỡn.

Tụng viết: (từ) vạn dặm bờ (cõi trên) biển hết thẩy (tất cả đều) đầy khói lửa mù mịt, (từ) khoảng mây cao trên trời (cho) đến (tận) dưới suối nguồn (trong rừng) (khói lửa mù mịt từ trên trời dưới biển cho đến ở sâu trong rừng), cha gỗ mẹ sắt khéo làm nên sự huyễn lộng (khoa học kỹ thuật đã đến trình độ vô cùng tối tân hiện đại, làm ra những điều tưởng giả mà lại như thật, cứ như tưởng đùa mà hoá ra là thật).

Kim Thánh Thán: hình tượng này là quân lính dùng lửa (vũ khí), ý tức là loạn (giặc giã) không ở tại binh lính (đánh nhau không dùng đến binh lính cận chiến), ca tụng rằng: vạn dặm ngoài biển (biên giới, hải giới), chiến tranh thời rất ác liệt (dữ dội), chẳng (đánh cận chiến) ở tại (trên đất) Trung Quốc vậy. (chiến tranh xẩy ra bằng vũ khí hiện đại, từ nơi ở xa đánh tới, dùng phi cơ, phi tiễn, tầu ngầm, tầu chiến… để đánh vào trận địa chiến trên đất nước Trung Quốc, chứ không dùng binh lính để đánh cận chiến vào nước Trung Quốc) .

57 第五七象 庚申

谶曰:
物极必反 以毒制毒

三尺童子 四夷讋服

颂曰:
坎离相克见天倪 天使斯人弭杀机

不信奇才产吴越 重洋从此戢兵师

金圣叹:「此象言吴越之间有一童子,能出奇制胜,将燎原之火扑灭净尽,而厄运自此终矣,又一治也

Đệ ngũ thất tượng: Canh Thân Đoái hạ Đoái thượng Đoái

Sấm viết: vật cực tất phản, dĩ độc chế độc, tam xích đồng tử, tứ di triệp phục

Tụng viết: Khảm Li tương khắc kiến thiên nghê, thiên sử tư nhân nhị sát ky, bất tín kì tài sản Ngô Việt, trọng dương tòng thử tập binh sư

Kim Thánh Thán: thử tượng ngôn Ngô Việt chi gian hữu nhất đồng tử, năng xuất kì chế  thắng, tương liệu nguyên chi hỏa phác diệt tịnh tẫn, nhi ách vận tự thử chung hĩ, hựu nhất trì dã

Tạm dịch 

Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) để chế ngự ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích 赤 còn có nghĩa là sắc đỏ, phương Nam), bốn bên sợ (mà) bội phục.

Tụng viết: Trong cõi bầu trời bé nhỏ (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến Người ấy (Thánh nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là Người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí.

Kim Thánh Thán: cảnh tượng này nói ở trong khoảng (đất nước của) Ngô – Việt có một người con trai, có tài năng kì lạ làm ra được (bãi binh, buông vũ khí), coi như là nguồn gốc của lửa bốc cháy (chiến tranh) (được dập tắt) tan mất (các nơi) hoàn toàn tĩnh lặng (được thanh bình), thời vận khốn ách khổ sở bèn tự nhiên mà kết thúc vậy, lại cùng (nhau) sửa chữa (xây dựng lại đất nước).   

Chú thích:

Nước Ngô – Việt: Các nước Việt nho nhỏ ở Hán Đông tan rã, nhưng lại nổi lên hai nước cùng dòng tộc Việt khác rất nổi tiếng thời Đông Châu cũng gọi là thời Xuân Thu hay Chiến Quốc, đó là nước Ngô và nước Việt.

Nước Ngô ở vào tỉnh Giang Tô ngày nay. Vua nước Ngô lúc đó là Thọ Mông. Một phản tướng của nước Sở là Khuất Vu chạy trốn qua nước Tấn nên tộc đảng bị vua Sở đem chém hết. Khuất Vu tức giận, đổi tên là Vu Thần, bày mưu cho vua nước Tấn là Tấn Cảnh Công sang giao hiếu với nước Ngô, dạy cho nước Ngô về binh pháp, chế tạo vũ khí để mượn tay nước Ngô đánh phá nước Sở. Vu Thần lại cho con là Hồ Dung sang làm quan ở nước Ngô. Từ đó nước Ngô hùng mạnh lên, chiếm các nước Việt Hán Đông của nước Sở.

Nước Ngô nổi tiếng về tài đúc kiếm. Thanh kiếm Can Tương và Mạc Gia rất nổi tiếng được sử Tàu nói đến nhiều. Vì có tài luyện kim, đúc kiếm, chế tạo vũ khí nên kho vũ khí rất dồi dào. Nước Ngô lại được phản tướng nước Sở là Ngũ Viên tự là Ngũ Tử Tư sang đầu, rèn luyện quân binh rất hùng mạnh. Nước Ngô lại được thêm Tôn Vũ là người Việt nước Ngô. Tôn Vũ là một chiến lược gia, viết bộ Binh Thư, thường được biết dưới tên “Tôn Ngô Binh Pháp” nổi tiếng cho đến ngày nay các nhà quân sự vẫn còn áp dụng. Có thể nói nước Ngô là nước mạnh nhất thời đó. Ngũ Tử Tư vì muốn báo thù vua Sở nên xúi vua Ngô đánh nước Sở. Vua Ngô là Hạp Lư đem quân đánh Sở, vào chiếm kinh đô nước Sở là Dĩnh Đô, vua Sở phải bỏ chạy. Vua Ngô Hạp Lư lập con vua Sở là công tử Thắng làm vua rồi rút quân về. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua nước Ngô, thế lực bao trùm cả các nước chư hầu nhà Châu. Ngô Phù Sai triệu tập các nước chư hầu nhà Châu để xưng Bá thay cho nước Tấn. Đây là lần đầu tiên một nước Việt tộc đã làm bá chủ các nước Hoa tộc và sau đó một nước Việt tộc khác là U Việt của Câu Tiển lên làm bá chủ thay Phù Sai.

Phía dưới nước Ngô, có nước Việt tức U Việt, nay là tỉnh Chiết Giang. Vua nước Việt là Dõan Thường chăm lo sửa sang triều chính, dùng người hiền lương, thương mến dân nên nước mỗi ngày mỗi cường thịnh. Vua nước Ngô là Dư Sái thấy thế đâm lo lắng sai tướng sang đánh nước Việt, bắt được tướng Việt là Tôn Nhân đem về chặt chân sai giữ thuyền vua. Một hôm Dư Sái ngự chơi thuyền, uống rượu say rồi ngủ quên. Tôn Nhân cởi thanh gươm của Dư Sái, đâm Dư Sái chết. Bọn nội thị xúm lại giết Tôn Nhân. Từ đó giữa nước Ngô và nước Việt có mối thù khiến hai nước cùng chung dòng giống Việt này gây chiến muốn tiêu diệt lẫn nhau.

Nước Việt cũng rất giỏi nghề luyện kim đúc kiếm, đúc đồng pha. Tương truyền vua nước Việt có 5 thanh kiếm quý do kiếm sư Âu Gia Tử luyện ra. Vua Ngô là Thọ Mông nghe tiếng muốn lấy nên vua Việt phải dâng 3 thanh kiếm, đó là các thanh Ngư Trường, Ban Dĩnh và Trạm Lư.

58 第五八象 辛酉 坎下上 困

谶曰:
大乱平 四夷服

称兄弟 六七国

颂曰:
烽烟净尽海无波 称王称帝又统和

犹有煞星隐西北 未能遍唱太平歌

金圣叹:「此象有四夷来王,海不扬波之兆。惜乎西北一隅尚未平靖,犹有遗憾,又一治 也

Đệ ngũ bát tượng: Tân Dậu Khảm hạ Đoái thượng Khốn

Sấm viết: đại loạn bình, tứ di phục, xưng huynh đệ, lục thất quốc

Tụng viết: phong yên tịnh tẫn hải vô ba, xưng vương xưng đế hựu thống hòa, do hữu sát tinh ẩn Tây Bắc, vị năng biến xướng thái bình ca

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu tứ di lai vương, hải bất dương ba chi triệu, tích hồ Tây Bắc nhất ngung thượng vị bình tĩnh, do hữu di hám, hựu nhất trì dã

Tạm dịch

Sấm viết: loạn lớn được yên bình, bốn bên vui lòng nghe theo, cùng nhau xưng danh là anh em, (Trung Hoa chia ra làm) sáu bẩy nước (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Hán ….).

Tụng viết: biển lặng sóng khói lửa tan mất, hết thẩy (mọi nơi) đều được yên tĩnh, (các nước tự) xưng danh vua chúa (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Hán … chia ra tự lập nền chính trị riêng) tất cả lại cùng nhau (sống) hoà thuận, bởi vì sát tinh lui ẩn về phương  Tây Bắc, khắp nơi ca hát bài ca thái bình.

Kim Thánh Thán: tượng này lại có bốn bên làm vua, có điềm báo biển cả chẳng còn nổi lên sóng dữ, tiếc là đất ngoài nơi phương Bắc còn chưa được bằng phẳng yên tĩnh, còn có sự  hối tiếc, lại phải sửa trị một lần nữa vậy.

59 第五九象 壬戍 艮下上 咸

谶曰:
无城无府 无尔无我

天下一家 治臻大化

颂曰:
一人为大世界福 手执签筒拔去竹

红黄黑白不分明 东南西北尽和睦

金圣叹:「此乃大同之象,人生其际,饮和食德,当不知若何愉快也。惜乎其数已终,其或反本归原,还於混噩欤。」〈此象乃说是天下大同,地球上再无国家与政府。人种经大混种,使肤色混同,世上再无不同肤色之种族

Đệ ngũ cửu tượng: Nhâm thú Cấn hạ Đoái thượng Hàm

Sấm viết: vô thành vô phủ, vô nhĩ vô ngã, thiên hạ nhất gia, trì trăn đại hóa

Tụng viết: nhất nhân vi đại thế giới phúc, thủ chấp thiêm đồng bạt khứ trúc, hồng hoàng hắc bạch bất phân minh, Đông Nam Tây Bắc tẫn hòa mục.

Kim Thánh Thán: thử nãi đại đồng chi tượng, nhân sanh kì tế, ẩm hòa thực đức, đương bất tri nhược hà du khoái dã, tích hồ kì sổ dĩ chung, kì hoặc phản bổn quy nguyên, hoàn vu hỗn ngạc dư, thử tượng nãi thuyết thị thiên hạ đại đồng, địa cầu thượng tái vô quốc gia dữ chánh phủ, nhân chủng kinh đại hỗn chủng, sử phu sắc hỗn đồng, thế thượng tái vô bất đồng phu sắc chi chủng tộc

Tạm dịch

Sấm viết: không còn thành trì, không còn quan phủ (ẩn nghĩa là không còn chất chứa oán hận nhau nữa), không (cái này) là của anh hay của tôi, trên dưới một nhà (thế giới đại đồng), sửa chữa trừng trị (những điều sai trái) (tự) cảm hoá to lớn (ở bên trong mọi người).

Tụng viết: một người (mà) làm cho thế giới to lớn này được hướng phúc, nắm tay nhau cùng ký kết (hoà ước, thoả thuận, tương trợ …), (mọi sắc tộc) da đỏ vàng đen trắng chẳng chia rẽ (không còn kì thị sắc tộc nữa), Đông Nam Tây Bắc (các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc) hết lòng sống cùng nhau hoà thuận thân tín kính trọng lẫn nhau.

Kim Thánh Thán: tượng này là hình tượng hoà vui cùng nhau, mọi người cùng sống giao tiếp với nhau (hoà ái), ăn uống thuận hoà cùng (sống) nhau đức độ (không tranh giành quyền lợi), đang (ở trong thời này) chẳng biết được sao (những người ở trong thời đó) lại được hưởng vui vẻ sung sướng (đến) như vậy ?, tiếc vậy (tiếc quá) đã hết số rồi, lại ngờ (rằng) phản bản (thể) (để) quay trở về nguồn gốc (cũ), trở lại ở (thời) (mà trời đất còn) hỗn độn (chưa phân chia ra) thật đáng là kinh ngạc vậy thay !.

Tượng này nói rằng thiên hạ đại đồng, trên trái dất (này) lại (trở về thời mà) chẳng có quốc gia cùng chánh phủ (cai trị) (giống như ở trên niết bàn, thiên đường hay thiên giới vậy), con người trải qua (thời kì) đại hỗn tạp chủng tộc, khiến cho mọi mầu da sắc tộc cùng hỗn hợp đồng nhất với nhau, trên thế gian này lại trở về (thời kì nguyên thuỷ) (chẳng còn phân biệt) màu da sắc tộc (với nhau nữa).

60 第六十象 癸亥 坤下上 萃

谶曰:
一阴一阳 无始无终

终者自终 始者自始

颂曰:
茫茫天数此中求 世道兴衰不自由

万万千千说不尽 不如推背去归休

金圣叹:「一人在前,一人在後,有往无来,无独有偶,以此殿图,其寓意至深远焉。无象之象胜於有象。我以不解解之,著者有知当亦许可。」

Đệ lục thập tượng: Quý Hợi Khôn hạ Đoái thượng Tụy

Sấm viết: nhất âm nhất dương, vô thủy vô chung, chung giả tự chung, thủy giả tự thủy

Tụng viết: mang mang thiên sổ thử trung cầu, thế đạo hưng suy bất tự do, vạn vạn thiên thiên thuyết bất tẫn, bất như thôi bối khứ quy hưu

Kim Thánh Thán: nhất nhân tại tiền, nhất nhân tại hậu, hữu vãng vô lai, vô độc hữu ngẫu, dĩ thử điện đồ, kì ngụ ý chí thâm viễn yên, vô tượng chi tượng thắng vu hữu tượng, ngã dĩ bất giải giải chi, trứ giả hữu tri đương diệc hứa khả.

Tạm dịch

Sấm viết: một âm một dương, chẳng trước không sau, sau lại tự nhiên sau, trước lại tự nhiên trước.

Tụng viết: số (vận của) trời (thật là) mênh mông ấy thế (mà lại) tìm (trở về) sự quân bình, đạo lí của (trần) thế thịnh suy chẳng bởi tự nhiên do (mình làm ra) (mà là đạo lí của trời đất tự nhiên là như vậy), muôn ngàn lời nói chẳng (diễn tả) ra được hết, chẳng bằng (như) thôi bối (đẩy vai nhau) đi (rồi) về (lại) nghỉ ngơi.

Kim Thánh Thán: một người đàng trước một người sau, có đi chẳng lại, chẳng đơn có đôi, lấy thế (làm thành) đồ hình, lại ngụ ý rất thâm sâu xa vậy, chẳng tượng hình (mà lại) thành ra hình tượng, có được ở nơi hình tượng, ta chẳng thể giải thích (được hết thấu đáo) vậy, (Thôi Bối Đồ) trứ danh (như vậy) ấy thế (mà) (người) đang (thời) có biết (đến thì cũng chỉ nói) … ừ (cũng tạm) được !!!

61 第六十一象 歲星逆讖曰:
歲星逆行
諸事不吉
一二九六
換課為宜

頌曰:

Đệ lục thập nhất tượng  Tuế tinh nghịch hành

Sấm viết: Tuế tinh nghịch hành, chư sự bất cát, nhất nhị cửu lục, hoán khóa vi nghi (Tuế tinh “sao Thái Tuế – Mộc tinh” đi ngược, mọi việc chẳng tốt, một hai chín sáu, quẻ thay đổi nên mới gây ra như vậy – )

 

THIÊU BÍNH CA

và Dự ngôn trên bia đá của Lưu Bá Ôn tại núi Thái Bạch tỉnh Thiểm Tây,

胡人至此亡久矣 四大八方有文星

品物咸亨一样形 琴瑟和谐成古道

早晚皇帝又中兴 五百年间出圣君

圣君尚问真人出 周流天下贤良辅

气运南方出将臣 圣人能化乱渊源

八面夷人进贡临 宫女勤耕望夜月

乾坤有象重黄金 北方胡虏害生灵

更令南军诛灭形 匠马单骑安外国

众将揖让留三星 三元复转气运开

大修文武圣主裁 上下三元无倒置

衣冠&# 25991; ୰ 9;一齐来 七元无错又三元

大开文风考对联 猴子满盒鸡逃架

犬吠猪鸣太平年 文武全才一戊丁

流离散乱皆逃民 爱民如子亲兄弟

创立新君修旧京 千言万语知虚实

留与苍生作证盟

这里一看便知中269;将会成为超级大 国 而且伟人将出

参考资料:

THIÊU BÍNH CA

燒 餅 歌

Thiêu Bính ca là một thể loại tiên tri rất khó hiểu, bởi viết theo cách chiết tự để gọi họ tên nhân vật, sự kiện, lý do … cho một triều đại thịnh suy trị loạn tồn vong …, như gọi họ vua nhà Minh mà viết là : thụ thượng quải khúc xích  樹 上 掛 曲 尺 đó là chữ Chu  朱, giải : trên cây treo thước cong, vì chữ thụ thượng là trên cây, chữ chu  朱 có chữ mộc  木 là cây gỗ, quải 掛 là treo, khúc xích 尺 là thước cong, tức là có treo thước cong ở trên chữ mộc 木 đó là chữ chu 朱, hoặc như tên vua cuối cùng nhà Minh là Sùng Trinh 崇 楨 lại gọi là : tổ tôn sơn thượng bối y hành  (lược bớt chữ Nho), vì chữ Sùng có chữ sơn ở trên chữ tôn, chữ Trinh  có chữ y  ở bên chữ bối  và có chữ thượng ở trên …… .Tất cả các tên vua, nhân vật thời đại, sự kiện … đều dùng cách thức cầu kỳ hóc hiểm như vậy.

Vì cố giảm lược tránh quá dài, chỉ đặc biệt chú ý đến hai quẻ :

Hỏa Phong Đỉnh : lưỡng hỏa sơ hưng định thái bình.

Hỏa Sơn Lữ : Ngân hà Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh.

Nghĩa là: quẻ Hỏa Phong Đỉnh: hai hỏa mới (lên) hưng thịnh thái bình. Quẻ Hỏa Sơn Lữ: sao Chức Nữ sông Ngân Hà nhường (ngôi cho) sao Ngưu Tinh, câu này liên quan đến những câu trong Sấm Trạng nói về Ngưu Tinh:

Khi Lý Thường Kiệt xác quyết: “Nam quốc sơn hà … tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (1076) thì có thể hiểu Thiên thư là bản đồ chiêm tinh ghi rõ biên giới nước Đại Việt” Theo sách Thiên quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi Sửu … (trích theo Việt Sử Tiêu Án ).

Qua hai câu tiên tri của Thiêu Bính ca Lưu Bá Ôn thì ông đã nhìn thấy sao Chức Nữ là chủ mệnh tinh của dân tộc Hoa – Hán đã nhường ngôi cho sao chủ mệnh tinh Khiên Ngưu của dân tộc Bách Việt, mà điển hình là dòng giống Lạc Việt còn lại hiện nay chưa bị đồng hoá (văn hoá, tập quán, xã hội …) triệt để như những người Bách Việt khác ở trên đất Trung Hoa

Nam Việt hữu Ngưu Tinh …

Ngưu tinh tụ Bảo giang ….

Các nhà Thiên Văn Học chia bầu trời ra 4 hướng : Đông Tây Nam Bắc . Mỗi hướng gồm có 7 chùm sao . Hay là 4 hướng x 7 chùm sao = 28 chùm sao . Ngày nay chúng ta thường gọi là Nhị Thập Bát Tú

Bảy chòm sao hợp lại thành một phương trời và được biểu tượng thành một con vật có mầu sắc theo sự phối thuộc của ngũ hành.

– Phương Bắc là con rùa đen gọi là Hoa Cái (Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích).

– Phương Tây là con hổ trắng gọi là Bạch Hổ (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm).

– Phương Nam là con phượng đỏ gọi là Phượng Các (Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn).

– Phương Đông là con rồng xanh, gọi là Thanh Long (Giốc, Cang, Đê, Phòng Tâm Vĩ, Cơ).

Phương Bắc – Hoa Cái

Đẩu Mộc Giải : Cua

Ngưu Kim Ngưu : Trâu

Nữ Thổ Bức : Dơi

Hư Nhật Thử : Chuột

Nguy Nguyệt Yến : Én

Thất Hoả Trư : Lợn

Bích Thuỷ Du : Dím

Hai câu trên sau câu Hỏa tinh lai hạ giới  đã ám chỉ nghĩa hẹp là Mao Trạch Đông lên lãnh đạo cuộc C.M đỏ (lửa đỏ, máu đỏ …), còn nghĩa rộng là chủ nghĩa CS phát triển (Hỏa tinh quân) trên toàn thế giới, đem máu lửa đỏ xuống trần gian.

Nên hai quẻ Đỉnh và Lữ là nói đến thời gian sau thi chủ nghĩa CS (sao Hỏa Tinh) sụp đổ trên toàn thế giới và tiên đoán về giai đoạn sau thời của Mao Trạch Đông (sao Hỏa Tinh mờ dần từ khi Mao Trạch Đông bị bệnh rồi chêt).

Hỏa đức tinh quân lai hạ giới

Kim diện lâu đài tận Bính Đinh

Nhất cá Hồ tử đại tướng quân

Án kiếm trì mã sát tình hình

Trừ bạo khử hoạn nhân đa ái

Vĩnh hưởng cửu châu kim mãn doanh

Lược dịch :

Sao hỏa tinh giáng thế

Khiến cho điện các lâu đài mọi nơi đều lửa đỏ (Bính Đinh)

Một gã Hồ tử đại tướng quân

Cắp gươm ruổi ngựa xem xét tình hình

Trừ bạo khử hoạn nhiều người thương mến

Hưởng thụ lâu dài vàng đầy rương

Giải luận :

Một gã Hồ tử 鬍子, chữ Hồ này có nghĩa là lông, râu mặt, râu quai nón là ám chỉ Mao Trạch Đông (mao là lông, râu, tóc) thời mới xuất hiện, được dân chúng (lúc đầu mê lầm mà) yêu mến, tin tưởng đi theo làm cuộc C.M đỏ khiến cho sự máu lửa (Hỏa tinh) ghê gớm chưa từng có ở TQ, các di sản cổ xưa như đền đài miếu mạo chùa chiền .. đã bị đốt phá rất nhiều (Kim diện lâu đài tận Bính Đinh).

Đoạn cuối cùng của Thiêu Binh ca lại cực kỳ đặc biệt và quan trọng hơn nữa từ câu Tứ lục bát phương quan Văn Tinh …, bởi vì từ khi sao Hỏa Tinh mờ đi rồi sẽ biến mất (sao Hỏa Tinh mờ dần từ khi Mao Trạch Đông bị bệnh rồi chêt) thì sao Văn Tinh xuất hiện dần dần sáng tỏ khiến toàn cầu nhân loại quan vọng quan chiêm, đó là Vận hội mới của thời sao Văn Tinh (Thánh Nhân) bắt đầu mở ra, Thánh Nhân xuất hiện đó là khí vận của phương Nam (Ngân hà Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh), và cũng là khí vận của Thánh Nhân (sao Văn Xương) xuất hiện (Tứ lục bát phương quan Văn Tinh). Sấm Trạng:

Năm Giáp Tý vẻ Khuê (Văn Xương) đã rạng …

Nếu nói về thời gian sao Hỏa tinh lu mờ (C.N C.S), sao Văn Tinh đã rạng thì năm Giáp Tý có thể là năm 1984 là những năm khởi đầu của sự lối loạn trong khối C.S L.X dẫn đến sụp đổ C.N C.S trên toàn thế giới.

Hai câu này để kết luận:

Hầu tử mãn hạp Kê đào giá

Khuyển phệ Trư minh thái bình niên

Đó là thời gian kinh hoàng của nhân loại trước khi Thánh Nhân xuất hiện cứu vớt nhân loại

Khổng Minh Mả tiền khoá: 

Chửng hoạn cứu nạn

Duy thị Thánh Nhân …

Thiêu Bính ca:

Khí vận Nam phương xuất tướng thần

Thánh Nhân năng hóa loạn uyên nguyên …

Thôi Bối đồ:

Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) để chế ngự ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích 赤 còn có nghĩa là sắc đỏ, phương Nam), bốn bên sợ (mà) bội phục.

Tụng viết: Trong bầu trời nhỏ bé (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến Người ấy (Thánh nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là Người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí.

 Sấm Trạng:

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỡ tổ chập chùng bay

 Và rất nhiều câu Sấm Trạng nói về Thánh Nhân xuất hiện để cứu đời. Hai câu rất chú ý trong Sấm Trạng là:

Song thiên nhật rạng sáng soi

Thánh nhân chẳng biết, thì coi cho tường …

Hữu xương hồ nhân thập

Hữu sí hồ song thiên

Hai mặt trời trên đất Việt

Dự ngôn trên bia đá của Lưu Bá Ôn tại núi Thái Bạch tỉnh Thiểm Tây

Hồ nhân chí thử vong cửu hĩ

Tứ lục bát phương quan Văn Tinh

Phẩm vật hàm hanh nhất dạng hình

Cầm sắt hòa hài thành cổ đạo

Tả hưng đế hựu trung hưng

Ngũ bách niên gian xuất Thánh Quân

Thánh Quân thượng vấn Chân Nhân xuất

Chu lưu thiên hạ hiền lương phụ

Khí vận Nam phương xuất Tướng Thần

Thánh Nhân năng hóa loạn uyên nguyên

Bát diện di nhân tiến cống lâm

Cung nữ cần canh vọng dạ nguyệt

Kiền Khôn hữu tượng trọng hoàng kim

Bắc phương hồ lỗ hại sanh linh

Canh lệnh Nam quân tru diệt hình

Tượng mã đan kị an ngoại quốc

Chúng tương ấp nhượng lưu tam tinh

Tam nguyên phục chuyển khí vận khai

Đại tu văn vũ thánh chủ tài

Thượng hạ tam nguyên vô đảo trí

Y quan văn vật nhất tề lai

Thất nguyên vô thác hựu tam nguyên

Đại khai văn phong khảo đối liên

Hầu tử mãn hạp Kê đào giá

Khuyển phệ Trư minh thái bình niên

Văn vũ toàn tài ngộ Mậu Đinh (戊 丁 : 成 thành)

Huyết lâm thiên lý vạn dân đào

Ái dân như tử thân huynh đệ

Sang lập tân quân tu cựu kinh

Thiên ngôn vạn ngữ tri hư thật

Lưu dữ thương sanh tác chứng minh.

Lời dịch giả:

Lịch sử Trung Quốc trải qua nhiều triều đại vua chúa, mỗi một triều đại đều có người tu Đạo, nên đã có một số dự ngôn để lại đời sau, như bài thơ dự ngôn của Bộ Khư Đại Sư đời nhà Từ, “Bài đẩy lưng” của Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cang đời nhà Đường (bên cạnh Lý Thái Dân). “Mã tiền khóa” của Khổng Minh thời kỳ chiến quốc. “Mai hoa thơ” củaThiện Ung đời nhà Tống. Bài “Bánh Chiên Ca” của Lưu Bá Ôn đời nhà Minh (bên cạnh Chu Nguyên Chương).

Đến hôm nay thì tất cả dự ngôn ấy đã có người giải ra rất chính xác với chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Người tu Đạo không cầu danh lợi nên những gì họ để lại đời sau chắc chắn không phải khoe tài, có lẽ chỉ nhằm mục đích cảnh tỉnh đời sau là sự việc trên đời đều đã có sự sắp xếp của Trời. Tất cả bài đều nhắc đến cùng một việc là đừng nên bỏ lỡ việc lớn nhứt ở trên đời sẽ xảy ra. Hôm nay có lẽ tất cả những Thần ấy đều có mặt tại đây để nắm giữ cơ hội cuối cùng này. Bài dưới đây là một bài khác của Lưu Bá Ôn đã phát hiện ở trên bia đá, tạm dịch nghĩa nên chắc chắn không chính xác, chỉ để hiểu sơ đại ý bài thơ.

Thiên có nhãn, Địa có nhãn, người người cũng có một đôi nhãn. Thiên cũng lật, Địa cũng lật, tiêu diêu tự tại lạc vô biên. Kẻ nghèo một vạn lưu một ngàn, kẻ giàu một vạn lưu hai ba. Giàu nghèo nếu không hồi tâm chuyển, nhìn xem ngày chết ở nhãn tiền(trước mắt).

Bình địa không có ngũ cốc trồng. Cẩn phòng tứ phương tuyệt khói người. Nếu hỏi ôn dịch hà thời hiện, nên xem giữa tháng 9 tháng 10 mùa đông. Người làm việc thiện thì được thấy, người làm việc ác không được xem. Trên đời có người hành đại thiện, lây bởi kiếp này thật không đáng.

Còn có mười sầu ở trước mắt.

Nhứt sầu thiên hạ loạn khắp nơi. Nhị sầu đông tây người đói chết. Tam sầu hồ rộng bị đại nạn. Tứ sầu các tỉnh khởi lang khói. Ngũ sầu nhân dân không an nhiên. Lục sầu mùa đông giữa tháng chín tháng mười. Thất sầu có cơm không người ăn. Bát sầu có người không áo mặc. Cửu sầu thi thể không người liệm. Thập sầu khó qua năm heo chuột. Nếu được qua khỏi đại kiếp niên, mới tính là thế gian bất lão tiên.

Dù cho là thiết La Hán làm bằng đồng, khó qua mùng mười ba tháng bảy. Cho dù bạn là Kim Cang Thiết La Hán, trừ phi thiện mới được bảo tồn. Cẩn phòng người người khó khăn qua. Ngãi qua thiên phiên năm Rồng Rắn. Ấu nhi giống như Chu Hồng Võ, Tứ Xuyên còn khổ hơn Hán Trung.

Sư tử gầm như Lôi, hơn hẳn trăm cọp hung. Tây giác hiện ra đuôi, bình địa gặp mãnh dược. Nếu hỏi thái bình niên, dựng cầu nghinh tân chủ. Thượng nguyên giáp tử đến, Người người ha ha tiếu. Hỏi bạn cười cái gì? Nghinh tiếp tân địa chủ. Trên quản đất ba tất, tối không nạn trộm cướp. Tuy là mưu vì chủ, chủ ngồi thổ trung ương.

Nhân dân gọi chân chủ, tiền bạc là cái bửu, nhìn thấu dùng không được, nếu thật là cái bửu, lòng đất nứt không ngã.

Bảy người nhứt lộ tẩu, dụ dỗ đã vào khẩu.

Ba chấm cộng một mốc (Chữ Hán ghép lại là chữ Tâm),

Bát Vương nhị thập khẩu (Chữ Hán ghép lại thành chữ Thiện).

Người người đều hỷ hả vui cười, ai ai cũng bình an.

BA BÀI THƠ SẤM TRẠNG VÀ NHỮNG BÀI CƠ BÚT


SẤM TRẠNG TRÌNH và CƠ BÚT

30/08/2010
2 Votes

Ba bài Sấm Trạng Trình chữ Nho ít được biết đến, những lời tiên đoán trùng ý với những nhà Tiên tri khác trên thế giới trong thời gian sắp tới.

BÀI THỨ NHẤT

Phi đĩnh lăng vân vị túc kì

飛 艇 夌 雲 未 足 奇

Thần cơ tại ngã thế nan khuy

神 机 在 我 世 难 窺

Tây dương tẩu Bắc hoàn vô lộ

西 洋 走 北 还 無 路

Việt điểu sào Nam lạc hữu chi

越 鳥 巢 南 樂 有 枝

Thủy phún thành băng kinh Nhật Bản

水 噴 成 冰 驚 日 本

Phong thừa phá lãng tẩu Hoa Kỳ

風 乘 破 浪 走 華 旗

Phá điền tự kiến văn minh hội

破 田 自 見 文 明 會

Tất ốc bồng môn lạc đức huy

篳 屋 蓬 门 樂 德 辉

Lược dịch nghĩa:

Con chuồn chuồn bay lấn mây chưa đủ (thấy làm) lạ

(Ám chỉ phi cơ, trực thăng, phi thuyền, hoả tiễn … các loại)

Thần cơ ở (nơi) Ta, (người) đời khó mà nhìn thấy

(Ý nói về Thần cơ cũng là Thiên cơ, chỉ khi hiện ra sự kiện người đời mới thấy rõ).

Tây dương chạy (về) phương Bắc, mà (cũng) không có đường (để chạy)

(Tây dương bao gồm các người nước ngoài, da trắng Âu Mỹ …)

Chim Việt làm tổ (ở) phương Nam vui có cành (có nơi đậu, trú ẩn)

(Ám chỉ tuy bão lụt, thiên tai, chiến tranh … nhưng nước Việt vẫn được yên ổn, có nơi ẩn trú an toàn hoặc ít bị ảnh hưởng)

Nước phun (lên) thành băng (làm) kinh hãi (nước) Nhật Bản

(Động đất làm thành sóng thần, bão lụt, nạn hồng thủy … tàn phá khốc liệt kinh hoàng ở nước Nhật)

Sóng gió (nổi lên) phá vỡ (mọi thứ) đuổi (nước) Hoa Kỳ chạy

(Động đất, sóng thần, bão tố cuồng phong … tàn phá nước Mỹ phải chạy trốn)

Phá điền (破 田) tự thấy (vận) hội văn minh (mới xuất hiện)

Nhà tranh vách trúc cùng vui trong trong đức sáng ấy

(Hoặc vì chiến tranh làm ra thiên tai, động đất, bão lụt … tai họa xẩy ra trên toàn cầu, nhân loại tang thương vô kể, rồi sau đó mới xuất hiện ra một nền văn minh thịnh vượng đạo đức mới trên thế giới, con người dù giầu hay nghèo cũng được hạnh phúc vui vẻ …).

BÀI THỨ HAI

Bài này do Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc vào bát nhang bằng đồng thau để cúng bên Tổ Ngoại của Cụ Trạng, có lẽ Cụ đã có dụng ý nên dùng bát nhang đúc bị méo, trên bát nhang có khắc 16 câu chữ Nho Sấm ký tiên tri về khoảng 400 năm sau này (lịch sổ sổ bách niên), có Thầy Nhân Thập và Song Thiên sẽ là thời cực thịnh (hữu xương hữu xí).

Điều kỳ bí là bát nhang mà Cụ Trạng nói nó méo rồi lại tròn và bể vỡ rồi lại lành lặn trở lại, thì ra năm 1953 nó bị bom đạn phá vỡ, cháu chắt của Cụ đem ra Hải Phòng thuê tiệm Tầu chuyên làm nghề đúc đồ kim khí hàn gắn lại như cũ và nắn lư nhang cho tròn lại, đúng như lời Cụ đã tiên đoán trước. Nhờ có người bạn ở Hải Phòng chép lại được bài thơ trên nhờ người quen đem về Hà Nội cho và ghi chép lại để truyền cho đời sau.

Hiếu tư dĩ phụng tiên

孝 思 以 奉 先

Vị viên nguyện phục viên

未 圓 願 圓 復

Sinh tam tam thế hậu

生 三 三 世 後

Lịch sổ sổ bách niên

歷 數 數 百 年

Thế bát phùng khuyết liệt

世 八 逢 缺 烈

Chu ngũ phục viên toàn

周 五 復 圓 全

Hữu xương hồ nhân thập

右 昌 乎 人 十

Hữu sí hồ song thiên

右 熾 乎 雙 天

Nội ngoại phi nhị chí

內 外非 二 志

Chung thuỷ như nhất nhiên

終 始 如 一然

Long xà yên đắc ngộ

龍 蛇 安 得 遇

Đĩnh xuất tử tôn hiền

挺 出 子 孫 賢

Thiên cơ bất cảm tiết

天 机 不 敢 泄

Bất đắc bất ngôn yên

不 得 不 言 焉

Lư hương cung vu Tổ

香 供 于 祖

Hiện long phi tại thiên

現 龍 飛 在 天

Lược dịch nghĩa:

Vì hiếu đạo, để nhớ đến phụng thờ Tổ Tiên

Chưa tròn (vì còn bị méo), nhưng nguyện sẽ được tròn trở lại

Sinh ra ba ba (ba mươi ba ?) đời sau

Trải qua vài trăm năm (đếm tới vài ba trăm năm sau, tức là khoảng bốn trăm năm sau)

Đời tám gặp bể vỡ (chưa rõ đời tám là gì, hoặc đời nào bị vỡ bể lư hương)

Trọn năm (5) lại vẹn tròn (trọn vẹn, chu toàn 5 ? lại được vẹn toàn tròn trở lại, chưa rõ ý của câu này)

Có được sự hưng thịnh ở (thầy) Nhân Thập vậy (sau đó, khi được vẹn toàn 5 ? thì đến thời của Nhân Thập thì sẽ được hưng thịnh)

Có sáng rực rỡ ở trên bầu trời (nghĩa đen là cháy sáng mạnh mẽ trên bầu trời, nhưng có thể là nghĩa khác vì trên là thầy Nhân Thập, dưới là Song Thiên)

Bên nội, ngoại lòng chẳng chia làm hai (thời cụ Trạng là Trịnh Nguyễn phân tranh Dàng Trong Đang Ngoài, sau là Nam Bắc phân tranh, cuối cùng chẳng chia hai trước sau như rồi sẽ là một – thống nhất hai miềm Nam Bắc)

Trước sau như một thế thôi

Rồng rắn yên được gặp (chữ long xà ám chỉ bậc phi thường)

Sinh ra con cháu vượt trội hiền tài

Cơ Trời chẳng dám tiết lộ (thời cơ ở nơi trời không dám tiết lộ)

Đừng (nói) chẳng được (nên) phải nói ra vậy

Lư hương để thờ cúng Tổ Tiên

Rồng hiện bay ở trời

BÀI THỨ BA

Hầu khứ kê lai hợi nguyệt kì

猴 去 雞 來 亥 月 期

Quốc tận dân tàn thế lực suy

國 盡 民 残 势 力 衰

Huyết chiến đê đầu nhân huyết chiến

血 戰 低 頭 人 血 戰

Quốc quân hãm nịch quốc quân nguy

國 君 陷 溺 國 君 危

Nhân nhân giai dĩ Chu vi Tống

人 人 皆 以 周 爲 宋

Phong nghĩ tung hoành thị mạc vi

蜂 蟻 縱 橫 是 莫 爲

Thượng đảo hạ huyền nhân vô thủ

上 倒 下 懸 人 無 首

Kham tiếu không huyền đoạn thất ki

堪 笑 空 懸 断 失 期

Lược dịch nghĩa:

Khỉ đi gà đến kỳ (hẹn)tháng hợi

Nước hết dân tàn thế lực suy

Huyết chiến cắm đầu vào huyết chiến

Quốc quân chìm hãm quốc quân nguy

Người người đều lấy (nhà) Chu làm (nhà) Tống

(Ý nói là mọi người đều nhẫm lẫn, nhà Chu mở ra một vận hội mới, một thời thịnh trị văn minh, còn nhà Tống yếu kém lại đi về hướng hủ nho, hủ lậu, suy đồi … làm mất nước)

Ong kiến tung hoành làm được chi ?

Đảo lộn dưới trên đầu chẳng có

Nực cười treo lửng … mất thời cơ.

Một ngày thu năm Nhâm Dần (1542) đang tựa án đọc sách, chợt thấy mây ngũ sắc hiện ra, Trạng liền gieo quẻ bói xem thời vận nước nhà, lúc ấy đời vua thịnh trị nhất triều Mạc là Mạc Đăng Doanh mới mất, Trạng bốc được quẻ Càn, động hào Sơ cửu, liền đoán :

Liên Mậu, Kỷ, Canh, Tân

Can qua sinh sác biến

Nghĩa là loạn liên tiếp vào năm Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi (1548 – 1549 – 1550 – 1551), rồi cụ lại giảng tiếp cho học trò là Trương Thời Cử rằng :

Bốc đắc Càn thuần quái

Sơ cửu thoái tiềm long

Ngã bát thế chi hậu

Binh qua khởi trùng trùng

Ngưu tinh tụ Bảo giang

Đại nhân cư chính trung

Dịch nghĩa :

Bói được quẻ thuần Càn

Hào sơ cửu rồng lui ẩn

Tám đời sau ta

Binh biến khởi trùng trùng

Sao Ngưu tụ Sông Quí

Đại nhân ở chính giữa

(Có bản chép câu 5 là: Tinh tụ Bảo giang thượng nghĩa là Sao tụ trên Sông Quí ).

Bài này chính là chìa khóa để mở mật ngữ và ẩn nghĩa trong toàn bộ Sấm Trạng Trình, một bài Sấm không ai phủ nhận được giá trị chân xác may mắn được truyền lại, trong khi tập Sấm đã bị tam sao thất bản, thêu dệt thêm bớt qua 500 năm.

Bói được quẻ Càn (Trời), thấy rồng lui ẩn, hồng vận chân chúa chưa xuất hiện, tám đời sau, khoảng 1735 khi Tiến sĩ Vũ Khâm Lân tới thăm hậu duệ đời thứ 7 và thứ 8 của Trạng Trình tại chính nền nhà xưa, đúng là thời loạn liên tiếp giữa các phe Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn … Cho tới triều Nguyễn Gia Long cũng chỉ được hơn 60 năm lại bị Thực dân xâm lăng, mà trong 60 năm đó, loạn lạc vẫn liên miên tại miền Bắc bộ (riêng hai đời Minh Mệnh, Thiệu Trị 1820 – 1847 đã có tới 250 vụ loạn), cho tới thập niên 1980 mới tạm gọi là yên ổn. Phải đợi tới khi sao Ngưu, chủ tinh của bậc đại nhân xuất hiện trên Bảo giang thì đất nước mới lại phục hưng, đại hồng vận non sông mới rực rỡ.

Trích VSSL – LVV

BÀI CƠ BÚT CỦA CÔNG CHÚA LIỄU HẠNH

(Chúa Liễu giáng cơ bút)

http://www.dunglac.org/upload/book/f__1191226894.htm

Hoành sơn một dải ra vào,

Cuốc kêu vọng đế, cáo gào giả vương.

Cung trăng đã sẵn trời dương

Giang sơn lại mở một trường xuân thu.

Tên đâu ba mũi phục thù,

Khen cho Khắc Dụng bày trò cho con.

Ngọn cờ phất phới đầu non.

Thạch Thành mèo lại bon bon chạy về.

Dặm đường lai láng máu dê.

Con quay ngả trắng ba que cuộc tàn.

Trời Nam vận ở Viêm bang

Chân nhân đâu đến những phường thầy tăng;

Đồng dao lại có câu rằng:

Non xanh mà mọc trắng răng mới kỳ

Bây giờ quét sạch thử ly.

Ai ơi nhớ lấy thiên ky kẻo lầm.

Đương khi sấm sét ầm ầm.

Ấy là khí số để găm trị bình.

Vũ phu mà bức thư sinh.

Long ô chấp cả mấy anh Thuỷ Hoàng.

Nực cười cho lũ bàng quan.

Cờ tàn mà lại tính đường đẩy xe.

Thôi thôi mặc lũ thằng hề.

Gió mây ta lại đi về gió mây.

BÀI GIÁNG BÚT CỦA VÂN HƯƠNG THÁNH MẪU

(Tại Đền Ngọc Sơn, Hà Nội 1938.)

http://www.thienlybuutoa.org/Misc/CoBut-LieuHanhCongChua.htm

Thiên cơ chẳng dám nói ra

Có duyên đã gặp thì ta đãi lòng

Ba mầu đến độ suy vong

Khỉ về Gà gáy, vầng hồng nổi lên

Cúc vàng rót chén rượu tiên

Uống mà xem lũ đảo điên luân thường

Mèo lùi Cáo nắm kỷ cương

Tương tàn cốt nhục nhiễu nhương lạ kỳ

Nhân gian mấy độ hợp ly

Đồng hoang nhuộm máu kinh kỳ tả tơi

Quỉ Ma giao chiến khắp nơi

Quỉ ở trên trời, Ma ở dưới hang

Cỏ cây non nước điêu tàn

Quỉ nọ ra hàng, Ma ấy mới thôi

Vẩy Rồng tạm tách làm đôi

Bóng câu in dấu muôn đời nhuốc nhơ

Kể từ đôi ngũ nằm chờ

Thầy Tu mở nước bấy giờ mới hay

Chẳng qua cũng giống Quỉ Tây

Ma tàn Quỉ hết đến ngày Long-Hoa

Khỉ về Gà gáy oa oa

Khắp nơi lại dấy can qua kinh trời

Quỉ Ma đến lúc đi đời

Phụ Nguyên Trời đã định ngôi sẵn sàng

Chó mừng tân chủ rõ ràng

Bốn phương tấp nập lên đàng hồi hương

Long Hoa muôn thuở biên cương

Việt Thường con cháu Tiên Rồng vẻ vang.

Lời bàn: Phụ Nguyên 阝元: họ Nguyễn 阮 này là ám chỉ họ Nguyễn Gia Long Nguyễn Ánh mở đầu triều đại nhà Nguyễn, và nói về Nguyễn Bảo Đại cuối cùng của họ Nguyễn đã chấm dứt.

Phụ Nguyên 阝元 : họ Nguyễn 阮 tức là vị Thánh ở núi Tản Viên, đức Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn thuộc đời Hùng Vương thứ 18.

Nguyên Phụ ấy thực ở  rày Tào Khê …

Nguyên Phụ trời đã định ngôi sẵn sàng …

Chữ Khỉ, Gà và Chó được nhắc rất nhiều trong Sấm Trạng, có thể là xác định thời gian Thánh Chúa, Thánh Quân, Vị Lãnh Đạo đất nước ra đời (xuất thế) hoặc chào đời (mới sinh), có họ khác với vị Thánh Nhân mà trong những bài tiên tri của Mã Tiền khóa, Thôi Bối đồ và Thiêu Bính ca nhắc tới vị Thánh Nhân này.

1. Vị Thánh Nhân này mở ra hội Long Hoa cho toàn thế giới, Thánh Nhân có tài phép siêu việt siêu quần xuất chúng khác với vị Thánh Quân :

Thánh nhân năng hóa loạn uyên nguyên (Thiêu Bính ca) …

Ngũ bách niên gian xuất Thánh Quân

Thánh Quân (vua) thượng vấn Chân Nhân (Thánh Nhân) xuất

Chửng hoạn cứu nạn (Mã Tiền khóa)

Thị duy Thánh Nhân …

Đệ ngũ thất tượng: Canh Thân Đoái hạ Đoái thượng Đoái (Thôi Bối đồ)

Sấm viết: vật cực tất phản, dĩ độc chế độc, tam xích 尺 đồng tử, tứ di triệp phục

Tụng viết: Khảm Li tương khắc kiến thiên nghê, thiên sử tư nhân nhị sát ky, bất tín kì tài sản Ngô Việt, trọng dương tòng thử tập binh sư

Kim Thánh Thán: thử tượng ngôn Ngô Việt chi gian hữu nhất đồng tử, năng xuất kì chế thắng, tương liệu nguyên chi hỏa phác diệt tịnh tẫn, nhi ách vận tự thử chung hĩ, hựu nhất trì dã

Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) (để chế ngự) ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích 赤 còn có nghĩa là sắc đỏ phương Nam, tam xích đồng tử, xích tử :  赤子  con đỏ.), bốn bên sợ (mà) bội phục.

Tụng viết: Trong bầu trời nhỏ bé (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến người ấy (Thánh Nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí.

Kim Thánh Thán: cảnh tượng này nói ở trong khoảng (đất nước của) Ngô – Việt có một người con trai (Thánh Nhân), có tài năng kì lạ làm ra được (bãi binh, buông vũ khí), coi như là nguồn gốc của lửa bốc cháy (chiến tranh) (được dập tắt) tan mất (các nơi) hoàn toàn tĩnh lặng (được thanh bình), thời vận khốn ách khổ sở bèn tự nhiên mà kết thúc vậy, lại cùng (nhau) sửa chữa (xây dựng lại đất nước).

2. Còn vị Thánh Quân thì mở ra vận hội mới cho nước Việt Nam

Thầy Nhân Thập : trước đây các vị tiền bối đã giải đoán là chữ Tản  傘 vì có chữ Nhân  人 và 4 chữ Nhân nhỏ với chữ Thập 十 thành chữ Tản 傘, nhưng sao lại gọi là Thầy ?, ba chữ Thầy Nhân Thập đọc và viết theo pháp âm chữ Nho là Thập Nhân Tử 十人子 (chữ Tử còn gọi là Thầy như Lão Tử, Trang tử, Khổng Tử …), vậy chữ Thập Nhân Tử còn có nghĩa là chữ Lí 李 (họ Lý). Đây có thể là họ của vị Thánh Quân và thời gian vị Vua này xuất hiện là ở chữ Phá Điền.

Phá Điền : còn là một ẩn ngữ chưa rõ là thời gian nào để có vị Lãnh đạo đất nước ra đời hay xuất thế để xây dựng lại nước Việt Nam. Chữ Phá Điền này là nói về thời gian vị Vua, Thánh Chúa, Thánh Quân xuất hiện

Phá điền Thiên tử giáng trần …

Phá điền tự kiến văn minh hội

Chó vẫn đuôi mừng Thánh Chúa (vua Thánh, Thánh Quân, Minh Quân …)

Chó mừng tân Chúa rõ ràng …

Có Thầy Nhân Thập đi về

Tả hữu phù trì cây cỏ làm binh …

Lục thất nguyệt gian : là thời gian mà Thánh Nhân xuất hiện để giúp đời mở ra hội Long Hoa trên toàn thế giới.

BỒ TÁT TUỆ TRUNG – ÐÔNG A TRÚC LÂM YÊN TỬ

Sáng Tổ ( Phóng Cuồng Hòa Thượng) Bài Giáng Bút – 1944

Bồ Tát Tuệ Trung là con cuả đức Trần Hưng Ðạo, trước khi đi tu ngài từng làm đại tướng trong trận chiến chống quân Mông. Miếu thờ ngài rất linh thiêng , năm 1944 vì nước nhà loạn lạc nên một số nhân sĩ lên miếu ngài hỏi thăm việc nước. Ðây là bài thơ (sấm) ngài đã giáng bút truyền cho:

Như thị ngã văn: Như ta nghe rằng

Kim ô lạc địa: Quạ vàng rơi xuống (quạ vàng – mặt trờì – cờ Nhật thua trận)

Tinh đáo thanh thanh: Sao đến xanh xanh (Cờ Mỹ sao trên nền xanh – Mỹ đến VN)

Xích xích kim tinh: Ðỏ đỏ sao vàng (Cờ đỏ sao vàng)

Ðế hệ ngũ thế: Ðế hệ năm đời (Đời thứ năm triều Nguyễn Bảo Ðại chấm dứt)

Nhị quỉ tranh phong: Hai quỉ giành thắng (Chiến tranh Pháp – Cộng)

Mộc mã ung dung: Ngựa gổ thong dong (Năm Giáp Ngọ 1954 còn thong thả dễ dàng)

Hoàng Long dĩ trảm: Rồng vàng bị chém (Chia đôi đất nước)

Hầu ngộ thanh dương: Khỉ gặp dê xanh (Năm Ất Mùi tháng Thân 7-1955 )

Hắc hắc thiết vi:  Ðen đen sắt vây (Mầu đen –  Khảm,  miền Bắc màn sắt bao quanh đen tối)

Bách tính Nam quy: Trăm họ về Nam

La sát nhập địa:  La sát vào đất (Quỷ La sát vào đất)

Lục trúc cao phi: Trúc xanh bay cao (Biểu tượng cầm quyền NĐD bay đi)

Thạc thử kí tận: Chuột lớn đã hết (NVT tứ trụ 4 Tí – đã hết)

Chúng sinh đa nạn: Chúng sinh nhiều tai nạn (1975)

Nhị  thập nhật minh: Ngày thứ hai mươi

Thố ngộ thanh long: Thỏ gặp rồng xanh

Kê khuyển ngộ xà: Gà chó gặp rắn

Ðịa Tạng tru ma:  Ðịa Tạng bồ tát diệt ma

Bách tính tôn phục: Trăm họ quy phục

Tứ phương qui gia: Bốn phương về nhà

Ngũ tinh hội tụ


“Ngũ tinh hội tụ”: Hiện tượng thiên văn cực hiếm xảy ra ngày 20/1

Các nhà khoa học dự đoán một hiện tượng thiên văn kỳ thú hiếm có sẽ xảy ra vào trước lúc bình minh ngày 20/1 và kéo dài đến ngày 20/2.

http://soha.vn/kham-pha/ngu-tinh-hoi-tu-hien-tuong-thien-van-cuc-hiem-xay-ra-ngay-20-1-20160119175722083.htm

Hiện tượng ngũ tinh hội tụ rất có thể sẽ xảy ra trước lúc Mặt Trời mọc ngày 20/1.

Khi đó, từ Trái Đất, chúng ta sẽ nhìn thấy 5 hành tinh trong hệ Mặt Trời, gồm: sao Thủy, sao Kim, sao Thổ, sao Hỏa và sao Mộc xếp thành đường chéo.

Đây sẽ là lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ chúng ta có thể quan sát thấy cả 5 hành tinh trên bầu trời bằng “mắt thịt”.

Hiện tượng này sẽ kéo dài đến sáng sớm ngày 20/2 sắp tới.

Các nhà khoa học đang mong chờ cơ hội để quan sát một trường hợp tình cờ đáng để chiêm ngưỡng của vũ trụ.

Theo đó, các hành tinh sẽ lần lượt xuất hiện…

Sao Mộc sẽ lên trước tiên. Tiếp sau đến sao Hỏa nhuộm màu đỏ. Sao Thổ lên cho sắc vàng. Sao Kim là hành tinh sáng nhất. Cuối cùng là sao Thủy.

Thời gian chính xác có thể quan sát được hiện tượng thiên văn kỳ thú này tùy thuộc vào địa điểm.

Theo tờ Washington Post, nếu bạn quan sát ở thủ đô Washington D.C. (Mỹ) thì sẽ thấy trước lúc Mặt Trời mọc ngày 24/1.

Sao Thủy sẽ xuất hiện phía Đông chân trời. Sao Mộc “lảng vảng” phía Tây – Tây Nam.

Có một vài ứng dụng trên điện thoại tính toán cho bạn biết chính xác địa điểm có thể quan sát và cách nhận diện từng hành tinh.


Năm hành tinh trong hệ Mặt Trời

Năm hành tinh trong hệ Mặt Trời

Theo tiến sĩ Alan Duffy, thuộc trường ĐH Swinburne, Melbourne, Australia, sao Thủy sẽ xuất hiện rất gần đường chân trời nên người quan sát cần chọn vị trí ở xa các tòa nhà cao tầng hoặc những chỗ cây cối rậm rạp.

Chúng ta có thể được nhìn thấy khá rõ sao Kim và sao Mộc. Sao Hỏa nổi bật nhất ới ánh sáng đỏ.

“Chúng ta có thể quan sát điều tuyệt vời này bằng mắt thường trong bầu trời đêm” – tiến sĩ Duffy cho biết.

Tuần trăng khuyết sẽ kéo dài từ ngày 27/1 đến 6/2.

Trang EarthSky.org dự đoán, hiện tượng ngũ hành Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ xếp thẳng hàng có thể sẽ xuất hiện từ đêm ngày 13/8 đến 19/8 tới.

Nhưng khi đó sao Thủy và sao Kim sẽ ở dưới thấp nên ở bán cầu Bắc sẽ khó quan sát.

Hiện tượng 5 hành tinh xếp thẳng hàng chéo xuất hiện lần gần đây nhất là từ ngày 15/12/2004 đến 15/1/2005.

Giáo Hoàng cuối cùng ?


Hai năm canh tân không dễ dàng của Giáo Hoàng Phanxicô

mediaGiáo Hoàng Phanxicô tham gia một sự kiện tại Vatican ngày 14/03/2015.REUTERS/Max Rossi

http://vi.rfi.fr/quoc-te/20150314-hai-nam-cach-tan-khong-de-dang-cua-giao-hoang-phanxico/

Ngày 13/3/2015 đánh dấu 2 năm lãnh đạo Tòa thánh Vatican của Giáo Hoàng Phanxicô.  Đức Thánh cha của những người Công giáo, trong hai năm qua, không chỉ đem lại một hình ảnh của một vị chủ chăn gần gũi bình dị hoàn toàn khác trước mà còn thực hiện những cải cách quan trọng trong Giáo hội Công giáo. Công cuộc canh tân của Giáo Hoàng Phanxicô không dễ dàng chút nào vẫn vấp phải không ít chống đối trong chính nội bộ Tòa thánh Vatican.

Thông tín viên Huê Đăng tại Roma điểm lại những nét chính trong công cuộc cách tân của Giáo Hoàng Phanxico trong hai năm lãnh đạo Vatican:

Nhân dịp kỷ niệm hai năm giáo triều của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, các mạng truyền thông báo chí đã đăng tải hai tin quan trọng. Thứ nhất là Đức Giáo Hoàng tuyên bố Năm Thánh Từ Bi sẽ bắt đầu từ ngày 08/12/2015 đến ngày 20/11/2016. Tin thứ hai là trong một buổi phỏng vấn của đài truyền hình Mêhico, Đức Giáo Hoàng đã tuyên bố rằng “Tôi có linh cảm là giáo triều của tôi sẽ không dài lắm” … và cũng ngay sau đó Ngài đã “đính chánh” lại “… nhưng cũng có thể là tôi lầm !!!”. Câu hỏi được đặt ra là Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang nghĩ đến một khả năng từ nhiệm vì lý do tuổi tác ? Đức Giáo Hoàng đã trả lời khẳng định rằng Ngài không nghĩ đến khả năng từ nhiệm, tuy nhiên Ngài cũng đánh giá “can đảm” quyết định từ nhiệm trước đây của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI.

Bối cảnh phức tạp  trước khi Giáo Hoàng Phanxicô lên nằm quyền lãnh đạo Giáo hội La Mã 

Người ta còn nhớ là hai năm về trước, ngay sau khi người tiền nhiệm là Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI từ nhiệm, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lên nắm Giáo triều trong một bối cảnh phức tạp và nhiều khó khăn ở Tòa Thánh: những vụ tai tiếng xì-căn-đan nổ ra liên tục: từ những vụ một số giáo sĩ bị tố cáo dính dáng đến những hoạt động xâm phạm nhi dục đến những vụ điều tra về các hoạt động tài chính không mấy minh bạch của cơ quan IOR, vốn được xem như là ngân hàng của Tòa Thánh. Từ những vụ nghi ngờ đồng tính luyến ái trong hàng chức sắc của Giáo triều đến vụ người cận thần của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI bị bắt giam về nghi tội ăn cắp thông tin và tư liệu bí mật của Tòa Thánh để tẩu tán ra ngoài.

Trong khi đó uy tín của Giáo Hội bị suy giảm và niềm tin của Giáo dân cũng bị hao mòn. Thậm chí, lúc đó có nhiều ý kiến cho rằng Tòa Thánh đang đứng trước một khuynh hướng tụt hậu niềm tin và uy tín không có gì có thể ngăn cản được. Và đỉnh cao của tình thế thoái trào của Tòa Thánh lúc ấy là quyết định từ nhiệm của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, một quyết định bất thường trong lịch sử của Giáo Hội La Mã.

Từ đó đến nay, hai năm trôi qua, những gì đã xảy ra ở Tòa Thánh ?

Cũng chính trong bối cảnh “dầu sôi lửa bỏng” vừa kể, Hồng Y Bergoglio đã lên nắm quyền Giáo Chủ Giáo Hội Roma, trở thành Đức Giáo Hoàng Phanxicô và lập tức một luồn gió mới, một khuynh hướng canh tân cải cách đã được thể hiện, nhất là trong những lề lối cư xử rất “đời thường”: chẳng hạn như quyết định vẫn tiếp tục ăn ở trong một căn hộ nhỏ trong Tòa Thánh, từ chối căn hộ to lớn dành cho Đức Giáo Hoàng.

Luồng gió cách tân của Giáo Hoàng đã đem lại những thay đổi gì trong Tòa thánh ?

Theo một số nguồn tin báo chí thì có lần chính Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tâm sự với một người bạn rất thân rằng chính Ngài “e rằng sẽ không đủ sức đi cho đến hết con đường !!!”.

Trên thực tế điều gì đã xẩy ra trong hai năm qua ? Một mặt ai cũng thấy là uy tín của Đức Giáo Hoàng Phanxicô ngày càng cao trong quần chúng, không phải chỉ riêng trong giới giáo dân. Nhưng cũng đồng lúc những chống đối Ngài cũng một ngày một mạnh, đặc biệt là trong giới chức sắc cao cấp của hàng Giáo phẩm Roma và trong một số dòng tu.

Trong năm đầu Đức Giáo Hoàng Phanxicô tin rằng với chính lối sống bình dị rất “đời thường” của mình, Ngài sẽ có thể thay đổi được tư duy của các chức sắc trong hàng giáo phẩm. Nhưng để rồi đến năm thứ hai thì Đức Giáo Hoàng Phanxicô mới ngộ ra rằng trong khi chính Ngài vẫn tiếp tục sống trong một căn hộ 70 mét vuông thì các chức sắc khác trong hàng giáo phẩm vẫn không từ bỏ các căn hộ xa hoa lộng lẫy, và đặc biệt là Ngài đã phải nhìn nhận rằng có rất nhiều chức sắc cao cấp đã có những khuynh hướng đi ngược lại, nếu không muốn nói là chống lại, lối suy nghĩ của Ngài.

Thế là hồi tháng 12 năm ngoái Đức Giáo Hoàng đã phải chính thức lên tiếng tố cáo các “thói hư tật xấu” của Giáo triều, đặc biệt là Ngài đã phải tố cáo tệ nạn đồng hóa Giáo hội với quyền lực. Và cho đến nay chưa ai biết rõ là những tố cáo đó của Đức Giáo Hoàng Phanxicô rồi sẽ đi đến đâu.

Một trong những xì-căn-đan lớn nhất hai năm trước là những tai tiếng xẩy ra quanh cơ quan IOR, vốn được xem như là Ngân hàng của Vatican; Một số vụ điều tra của Hải quan Ý về những chuyển khoảng tài chính không minh bạch của một số người có tài khoảng trong Ngân hàng Vatican, những vụ bôi nhọ, tố cáo, cách chức lãnh đạo của Ngân hàng.

Từ đó đến nay, Ngân hàng Vatican cũng đã có những quyết định thay đổi nhân sự quan trọng và một số điều luật quản trị mới, trong đó có quyết định sẽ bãi bỏ quyền giữ bí mật ngân hàng của chính IOR để hoạt động tài chính của Tòa Thánh có thể trở nên minh bạch hơn.

Thay đổi quan trọng về mặt đối ngoại

Một khía cạnh đổi mới khác của Tòa Thánh trong hai năm qua là những bước tiến quan trọng với Trung Quốc trong việc tìm cách nối lại quan hệ song phương giữa Tòa Thánh và Bắc Kinh. Mặc dầu cho đến nay cả hai bên đều tuyên bố đã đạt nhiều bước tiến quan trọng, tuy nhiên vẫn còn có một số khúc mắc chưa được giải quyết, trong đó có vấn đề tấn phong giám mục Trung Quốc.

Cũng trong khía cạnh ngoại giao, thời gian qua Mỹ và Cu Ba đã có những bước tiến quan trọng trong việc tìm cách nối lại quan hệ ngoại giao, và cũng chính trong vụ này, nhiều nguồn tin xác nhận có sự đóng góp quan trọng của Tòa Thánh.

Công cuộc cách tân vẫn tiềm ẩn phức tạp trong nội bộ Tòa thánh Vatican

Tóm lại, như đã nói trên, Đức Giáo Hoàng Phanxicô hiện đang phải đối phó với nhiều sự chống đối ngay từ trong nội bộ Giáo triều La Mã về những quyết định canh tân. Câu hỏi được đặt ra là: nếu như Đức Giáo Hoàng Phanxicô thất bại trong cuộc đấu tranh cải cách này ? Chuyện gì sẽ xẩy ra cho Giáo Hội Công Giáo.

Không ai biết rõ điều gì sẽ xẩy ra. Nhưng nếu vì một lý do gì đó mà Đức Giáo Hoàng phải “đầu hàng”, tức là phải bỏ dở công cuộc canh tân cải cách của mình, thì rất có thể là Giáo Hội La Mã sẽ phải trở lại thời rối ren của hai năm về trước, của thời từ nhiệm của Đức Giáo Benedicto XVI.

Có thể chính vì thế mà Đức Giáo Hoàng đã tuyên bố trong buổi phỏng vấn của đài truyền hình Mêhico rằng “có thể Giáo triều của Ngài sẽ không dài lắm”. Có thể hiểu rằng đấy là một tín hiệu để cho biết là nếu Ngài thất bại thì tình hình Giáo Hội sẽ đi lùi lại như hai năm về trước hay tệ hơn nữa.

Bốn kỳ trăng máu (2014 – 2015)


+++ Kỳ trăng máu đầu tiên 2003 của thế kỷ 21 khởi đầu máu chảy Mỹ đánh Iraq rồi tới Afghanistan.

Năm 2014 đầy biến loạn khởi đầu từ tháng 3 Ukraine, hiện tại trên thế giới máu đã đổ khá nhiều trong kỳ 1, qua kỳ 2 năm 2014 sẽ nhiều hơn, và kế tiếp kỳ 3, 4 năm 2015 trên thế giới và Việt Nam rồi sẽ ra sao ?.

http://www.khoahoc.com.vn/khampha/vu-tru/53119_hien-tuong-trang-mau-ngay-8-10-va-huyen-thoai-4-ky-trang-mau.aspx

Theo tính toán của NASA, ngoại trừ châu Âu, châu Phi và một phần nhỏ khu vực châu Á, hầu hết các vùng còn lại trên thế giới đều có thể quan sát được nguyệt thực lần này, nhất là phía tây Bắc Mỹ, Australia và phía đông châu Á.

Tại Việt Nam, chúng ta cũng có thể đón xem nguyệt thực vào tối nay 8/10. Hiện tượng này xảy ra cũng là lúc mặt trăng nhuốm màu đỏ rõ và đẹp nhất.

Nguyệt thực đầu tiên đã diễn ra vào đêm 14 – 15/4 vào 21 giờ 20 GMT 14/4 (tức 4 giờ 20 15/4 giờ VN), theo tạp chí Sky and Telescope. Theo dân gian, nguyệt thực cũng chính là mặt trăng máu, do ánh sáng nảy ra từ bề mặt mặt trăng bị khúc xạ khi xuyên qua khí quyển trái đất và biến chị Hằng thành màu đỏ rực (giống như cơ chế nhuộm đỏ bầu trời mỗi khi bình minh và hoàng hôn). Nhưng không dừng lại ở đó, nguyệt thực đêm đầu tuần chỉ là kỳ đầu tiên của một chuỗi sự kiện liên tiếp nhau, lần lượt diễn ra vào tháng 10/2014, tháng 4/2015 và tháng 9/2015, hay còn gọi là tứ kỳ nguyệt thực.

Huyền thoại 4 kỳ trăHiện tượng Trăng máu ngày 8/10 và huyền thoại 4 kỳ trăng máung máu
Lần trăng máu vào năm 2003 – (Ảnh: denverpost.com)

Hôm nay, 8/10 chúng ta lại tiếp tục được chiêm ngưỡng hiện tượng trăng máu lần thứ 2, cũng là lần trăng máu xuất hiện to nhất và lớn nhất trong năm. Đối với giới thiên văn học và những người yêu mặt trăng, đây quả là một chuỗi sự kiện đáng được săn đón.

Đối với giới thiên văn học và những người yêu mặt trăng, đây quả là một chuỗi sự kiện đáng được chào đón, và hiện chỉ có cư dân các khu vực Bắc Mỹ, bờ biển phía tây Nam Mỹ, Tây Phi và Úc mới xem được. Tuy nhiên, tứ kỳ, mặt trăng máu và ngày tận thế lại là những cụm từ có sự liên hệ lẫn nhau, ít nhất là đối với những người tin vào lời tiên đoán cổ xưa về thảm họa diệt vong của địa cầu. Thay vì quan sát hiện tượng huyền diệu của tự nhiên, một số người đưa ra giả thuyết nhuốm đầy phong cách của Dan Brown, tác giả chuyên viết tiểu thuyết hư cấu với tác phẩm gây tranh cãi Mật mã Da Vinci. “Mặt trời sẽ trở nên tối tăm, và mặt trăng nhuốm màu máu. Ôi ngày vĩ đại, kinh hoàng trước khi Chúa xuất hiện”, theo người khởi xướng là Mục sư John Hagee, tác giả quyển Bốn lần trăng máu: Điều gì đó sắp thay đổi xuất bản năm 2013, dẫn lời ngôn sứ Joel trong Kinh Thánh.

Hiện tượng Trăng máu ngày 8/10 và huyền thoại 4 kỳ trăng máu

Tờ The Daily Express dẫn lời Mục sư Hagee dẫn giải rằng cứ mỗi lần diễn ra tứ kỳ huyết nguyệt trong 500 năm qua, hiện tượng này lại trùng hợp với một thảm kịch nào đó của người Do Thái, hoặc là dịp lễ quan trọng. Trong 4 lần mặt trăng máu sắp tới đây, sự kiện vào ngày 15/4/2014, 4/4/2015 đều trùng với dịp lễ Quá hải, kỷ niệm việc rời khỏi Ai Cập, và 2 kỳ vào ngày 8/10/2014 và 28/9/2015 rơi vào lễ Đền tạm. Tuy nhiên, theo bài viết trên trang EarthSky.org, chuyên gia Bruce McClure và Deborah Byrd nói rằng chẳng có gì phải ngạc nhiên khi các kỳ trăng tròn trùng hợp với những ngày lễ quan trọng của người Do Thái, vì lịch của dân tộc này về cơ bản là lịch âm. “Khôi hài hơn là có đến 3 trong số 4 lần nguyệt thực sẽ không được nhìn thấy từ Israel”, theo hai chuyên gia trên.

Bên cạnh đó, tứ kỳ huyết nguyệt, trong khi xuất hiện ít hơn trăng xanh, hoàn toàn không phải là chuyện gì hiếm hoi. Theo chuyên gia Byrd, đây cũng không phải là lần tứ kỳ huyết nguyệt đầu tiên trong thế kỷ 21, với lần đầu rơi vào năm 2003 – 2004. Và cộng thêm đợt hiện tại 2014 – 2015, sẽ có đến 7 lần hiện tượng trên xuất hiện cho đến năm 2100. Nếu dựa trên các số liệu và những gì đã diễn ra trong quá khứ, có vẻ như trái đất sẽ trải qua bốn lần trăng máu kỳ này một cách bình thường như những lần trước đó.

Hiện tượng “Trăng máu” và huyền thoại tứ kỳ huyết nguyệt

http://www.tinmoi.vn/hien-tuong-trang-mau-va-huyen-thoai-tu-ky-huyet-nguyet-011324423.html

Hôm nay, 8/10 chúng ta lại tiếp tục được chiêm ngưỡng hiện tượng trăng máu lần thứ 2, cũng là lần trăng máu xuất hiện to nhất và lớn nhất trong năm. Đối với giới thiên văn học và những người yêu mặt trăng, đây quả là một chuỗi sự kiện đáng được săn đón.

Theo tính toán của NASA, ngoại trừ châu Âu, châu Phi và một phần nhỏ khu vực châu Á, hầu hết các vùng còn lại trên thế giới đều có thể quan sát được nguyệt thực lần này, nhất là phía tây Bắc Mỹ, Australia và phía đông châu Á. Tại Việt Nam, chúng ta cũng có thể đón xem nguyệt thực vào tối nay 8/10. Hiện tượng này xảy ra cũng là lúc mặt trăng nhuốm màu đỏ rõ và đẹp nhất.

Nguyệt thực đầu tiên đã diễn ra vào đêm 14 – 15/4 vào 21 giờ 20 GMT 14/4 (tức 4 giờ 20 15/4 giờ VN), theo tạp chí Sky and Telescope. Theo dân gian, nguyệt thực cũng chính là mặt trăng máu, do ánh sáng nảy ra từ bề mặt mặt trăng bị khúc xạ khi xuyên qua khí quyển trái đất và biến chị Hằng thành màu đỏ rực (giống như cơ chế nhuộm đỏ bầu trời mỗi khi bình minh và hoàng hôn). Nhưng không dừng lại ở đó, nguyệt thực đêm đầu tuần chỉ là kỳ đầu tiên của một chuỗi sự kiện liên tiếp nhau, lần lượt diễn ra vào tháng 10/2014, tháng 4/2015 và tháng 9/2015, hay còn gọi là tứ kỳ huyết nguyệt.

Những lời đồn đại đáng sợ…

Hiện tượng Tứ kỳ nguyệt thực xảy ra đã được dân gian thêu dệt nên rất nhiều truyền thuyết rùng rợn. Người Trung Quốc đã quan sát hiện tượng Mặt trăng máu từ năm 1000 TCN nhưng họ cũng không tìm hiểu được nguyên nhân của nó. Trong niềm tin tín ngưỡng, khi mặt trăng bị nhuốm màu đỏ như máu và biến mất khỏi bầu trời là lúc những con quỷ dữ tràn tới gây ra đại họa dịch bệnh, đói khát, mất mùa. Họ tổ chức những lễ vật cúng tế và dùng chiêng trống xua đuổi lũ quỷ.

Ở Nhật Bản, người dân sợ hãi thứ ánh sáng của Mặt trăng máu đến mức phải chui xuống những căn hầm trú ẩn. Một số khác thì tin rằng hiện tượng này báo hiệu trận động đất lớn sắp xảy ra.

Hình ảnh Hiện tượng Trăng máu và huyền thoại tứ kỳ huyết nguyệt số 1

Những tin đồn có lẽ bắt đầu từ các tôn giáo. Trong Kinh “Cựu ước” có nhắc đến một câu: “Trước Ngày Tận thế là Mặt trăng đỏ máu…”.

Đối với một số người theo Thiên chúa giáo, họ cho rằng đó là sự trừng phạt của Chúa, là cách người thể hiện sự phẫn nộ đối với loài người. Thường thì hình ảnh nguyệt thực được gắn liền với hình ảnh cái chết của Chúa trên cây thánh giá. Ngoài ra, nó còn liên quan đến Ngày phán xét và sự tận diệt của Trái đất.
Sự thật về hiện tượng mặt trăng máu

Nguyệt thực toàn phần hay Mặt trăng máu là hiện tượng thiên văn bình thường khi mặt trăng đi vào vùng bóng tối của Trái Đất và che mất nguồn ánh sáng Mặt Trời. Còn màu đỏ như máu của mặt trăng là do ánh sáng từ bề mặt mặt trăng bị khúc xạ khi xuyên qua khí quyển trái đất và biến thành màu đỏ rực qua mắt người (giống như cơ chế nhuộm đỏ bầu trời mỗi khi bình minh và hoàng hôn).

Hình ảnh Hiện tượng Trăng máu và huyền thoại tứ kỳ huyết nguyệt số 2

Hình ảnh Hiện tượng Trăng máu và huyền thoại tứ kỳ huyết nguyệt số 3

Lý giải hiện tượng Trăng máu.

Theo báo Đại đoàn kết, gần đây, Mark Biltz – một nhà nghiên cứu Kinh Thánh cho rằng, từ năm đầu tiên của công nguyên cho tới nay chỉ có 87 lần “Bộ tứ” xảy ra, trong đó có 7 lần hiện tượng này trùng đúng vào 2 ngày lễ quan trọng của người Do Thái: lễ Lều Tạm và lễ Vượt Qua. Đáng kể hơn, tất cả thời điểm diễn ra bốn mùa trăng máu đều trùng với một biến cố lớn của dân tộc Do Thái như Cuộc chiến Sáu ngày 1967, việc trục xuất người Do Thái khỏi Tây Ban Nha năm 1492… Bởi vậy mà ông cho rằng, liệu “Bộ tứ” lần này xảy ra tiếp tục thì nó có gây ra sự kiện nào không? Điều này khiến ông nhớ lại một truyền thuyết được nhiều người theo Thiên chúa giáo tin. Họ cho rằng, Mặt trăng máu chính là sự trừng phạt của Chúa – đó là cách Người thể hiện sự phẫn nộ đối với loài người

Theo chuyên gia Byrd, đây cũng không phải là lần “Bộ tứ” – Mặt trăng máu đầu tiên trong thế kỷ 21, với lần đầu rơi vào năm 2003 – 2004. Và cộng thêm đợt hiện tại 2014 – 2015, sẽ có đến 7 lần hiện tượng trên xuất hiện cho đến năm 2100. Nếu dựa trên các số liệu và những gì đã diễn ra trong quá khứ, có vẻ như trái đất sẽ trải qua bốn lần Mặt trăng máu kỳ này một cách bình thường như những lần trước đó.

Mây lửa


Hiện tượng trăng máu vào ngày 8/10
http://www.khoahoc.com.vn/khampha/vu-tru/56387_chiem-nguong-hien-tuong-trang-mau-vao-ngay-8-10-toi.aspx

Tối thứ Tư tuần tới (8/10), người yêu thiên văn Việt Nam sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng nguyệt thực toàn phần – hiện tượng thiên văn kỳ thú nhất năm 2014 có thể quan sát tại Việt Nam. Lần gần đây nhất, Việt Nam có thể quan sát hiện tượng này là vào tháng 12/2011.

Chiêm ngưỡng hiện tượng trăng máu vào ngày 8/10 tới

Theo anh Đặng Vũ Tuấn Sơn, Chủ nhiệm Hội thiên văn học trẻ Việt Nam, nguyệt thực toàn phần lần này có thể quan sát được ở phía tây Bắc Mỹ, Australia và phía đông châu Á. Việt Nam có thể quan sát phần lớn hiện tượng.

Thời gian diễn ra nguyệt thực từ 15h15 đến 20h34 (giờ Việt Nam), pha toàn phần (Mặt trăng đi hoàn toàn vào vùng bóng tối của Trái đất) diễn ra từ 17h25 đến 18h24, đạt cực đại lúc 17h54.

Trong suốt thời gian diễn ra hiện tượng, Mặt trăng sẽ chuyển sang màu đỏ nhạt rồi dần dần sang đỏ sẫm giống màu máu nên còn gọi là hiện tượng trăng máu.

Tại Việt Nam ngày 8/10, Mặt trăng mọc lúc 17h25, thời điểm quan sát lý tưởng nhất là 17h45-19h30, có thể quan sát bằng mắt thường, chọn nơi thoáng đãng, ít ánh sáng đèn, nhìn về hướng trời đông. Đến 4/4/2015, người yêu thiên văn Việt Nam có thể chiêm ngưỡng lại hiện tượng này.

Thientrungnhan's Blog

Điềm báo trước khói lủa trên đất Việt?

Thứ tư, 28/5/2014 | 09:02 GMT+7 http://vnexpress.net/tin-tuc/cong-dong/nguoi-ha-noi-dua-nhau-chup-anh-may-la-2996588.html

Một đám mây tượng hình quầng lửa rực cháy thu hút người Thủ đô. Rồi cầu vồng đôi xuất hiện sau cơn mưa chiều ở Hà Nội.

Hình ảnh xuất hiện trên bầu trời Hà Nội vào chiều 27/5 đã được cộng đồng chia sẻ rất nhiều trên mạng xã hội.

10366328-10200981747425678-438-2997-4026

Đám mây như một ngọn lửa thiêu đốt bầu trời.

10306466-10154218344295206-907-1574-5772

Những đám mây hình cầu sát cạnh nhau tạo hiệu ứng rất đẹp.

10309218-10202606737502910-398-6243-3971
anh-hot-ky-thu-ngam-may-hinh-b-8371-9053
213436baoxaydung-4-2j2sk8mdois-7871-5740

Và cầu vồng đôi xuất hiện ngay sau cơn mưa khiến nhiều người thích thú.

View original post

Lý giải số 7 trong các vụ máy bay rơi


(Soha.vn) – Con số 7 là biểu tượng cho con số thiêng liêng, con số của Chúa trời. Hàng loạt tai nạn máy bay gần đây gắn với con số 7 như một cảnh báo của thượng đế về ngày tận thế

http://soha.vn/xa-hoi/ly-giai-khung-khiep-ve-so-7-ma-quy-trong-cac-vu-may-bay-roi-20140725133427196.htm

Đó là chia sẻ của nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải – Chủ nhiệm bộ môn Cận tâm lý về ý nghĩa con số 7 và con số 10 như một sự trùng hợp bí hiểm trong hàng loạt vụ tai nạn rơi máy bay kinh hoàng thời gian vừa qua.

Cụ thể, chiếc máy bay MH370 của Malaysia mất tích không dấu vết, MH17 bị bắn hạ, ATR72 của Đài Loan và AH5017 bị rơi khiến nhiều người lo lắng nghĩ đến con số 7 “ma quỷ”.

Theo đó, nhiều người lập luận rằng những sự kiện này có mối liên quan, trùng hợp đến kỳ lạ, đáng sợ như: Malaysia Airlines chính thức hoạt động ngày 17/7 năm 1997; Số hiệu MH17 thuộc loại Boing 777 bị bắn rơi ngày 17/7 năm 2014 vào 17 giờ 17 phút (giờ Ukcraine); chiếc máy may AH5017 của hãng máy bay Air Algerie (hãng này được thành lập năm 1947).

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải đi tìm câu trả lời cho sự trùng hợp số 7 trong các vụ tai nạn trong vòng 7 ngày.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải đi tìm câu trả lời cho sự trùng hợp số 7 trong các vụ tai nạn trong vòng 7 ngày.

Lý giải những điều khó hiểu, thần bí này, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải nói rằng bộ môn Cận tâm lý có nghiên cứu về điềm báo và tượng số học.

Nghĩa là tất cả các sự vật, con số đều mang một ý nghĩa đặc biệt, trong đó 10 con số tự nhiên đầu tiên là quan trọng nhất. Số 10 là giới hạn tiến hóa của chi động vật (con người có 10 ngón). Và tùy từng quan niệm, con số đặc biệt riêng như dịch học phương Đông kiêng con số 10, còn người phương Tây coi số 13 là điềm dữ, người Trung Quốc kiêng con số 4 và 10.

Về chiếc máy bay MH370 mất tích cách đây không lâu gây bàng hoàng thế giới, nhà nghiên cứu này cho rằng 3+7=10 và con số 10 được coi là con số cực mãn, thập thành. Nếu những con số dính đến số 10 (MH370) gọi là con số phạm.

Khi hỏi về sự trùng hợp con số 7 mà nhiều người cho rằng con số “ma quỷ”, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải lý giải rằng: “Số 7 là số nguyên tố, đó là biểu tượng của Chúa. Thượng đế tạo ra thế giới trong 7 ngày, đến ngày thứ 7 ngài nghỉ ngơi vì vậy được gọi là ngày của thượng đế. Đó là nguyên nhân vì sao một tuần có 7 ngày.

Ngoài ra trong học thuyết phương Đông nói rằng khi Đức Phật sinh ra Người đứng dậy và bước đi 7 bước. Trong Kinh thánh có chương cảnh báo loài người nếu đi theo con đường tranh giành, chiến tranh thì thượng đế sẽ trừng phạt và được báo bằng 7 điềm (ấn) của Chiên con, mỗi ấn mở ra là sự cảnh báo cho con người. Và đến ấn thứ 7 là ngày chết chóc. Như vậy tất cả các tôn giáo đều coi con số 7 là con số thiêng liêng”.

Ông dẫn chứng thêm rằng sau này các nhà khoa học tìm ra rằng con số 7 có ý nghĩa tượng trưng nào đó. Chẳng hạn trong bảng tuần hoàn Mendeleep có đúng 7 chu kỳ. Hay con số 7 là một mã số chứa đựng trong nó những con số đặc trưng nhất cho vũ trụ này như tỉ số khoảng cách giữa Mặt trời, Mặt trăng tới Trái Đất….

Con số 777 trong thông tin Boing 777 chiếc MH370 đã lấy con số của Chúa.

Nói thêm về con số 17, ông cho rằng đó là một “mã số ẩn” của con số 7. Cụ thể, trong dãy số nguyên tố 1, 3, 5,7,11,13, 17 thì 17 chính là tổng của 4 con số đầu tiên (1+3+5+7=17) và đó là lời cảnh báo sắp đến ngày phán xử cuối cùng.

Chiếc máy bay của Đài Loan rơi gần đây.

Chiếc máy bay của Đài Loan rơi.

“Với tư cách là một nhà khoa học, tôi cho rằng đây là dấu hiệu cảnh báo cuối cùng của Chúa. Đó là thông điệp của Chúa trời nhắn đến nhân loại rằng nếu con người không tu tỉnh thì sẽ chịu sự phán xét ngày tận thế”, nhà nghiên cứu này dự báo.

Nêu ra những điềm báo trước đó về những vụ tai nạn này, ông cho hay, thượng đế đã đưa đến thông điệp trước khi gần đây liên tiếp xảy ra hiện tượng mưa bão, sóng thần khủng khiếp, dịch bệnh tràn lan, giông tố…Và rơi máy bay chính là lời cảnh báo cuối cùng của Người.

Cha giết con, vợ giết chồng, cháu giết bà, người yêu chặt xác….xảy ra gần đây là minh chứng về thời gian loạn dương, loạn âm, trái luân thường đạo lý và đó cũng là sự cảnh báo về những sự việc bất thường xảy ra.

Và theo ông, để ngăn chặn điều này, hãy thực hiện theo nguyên tắc nổi tiếng của Khổng Tử “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác).

“Nếu con người với con người, quốc gia đối xử với nhau theo nguyên lý này thì sẽ không có điềm dữ hay phải chịu sự trừng phạt của thượng đế”, nhà nghiên cứu này cho hay.