Skip to content

Ba bài Sấm Trạng Trình

20/02/2009

Ba bài Sấm Trạng Trình chữ Nho ít được biết đến, những lời tiên đoán trùng ý với những nhà Tiên tri khác trên thế giới trong thời gian sắp tới.

BÀI THỨ NHẤT

Phi đĩnh lăng vân vị túc kì

飛艇 夌 雲 未 足 奇

Thần cơ tại ngã thế nan khuy

神机 在 我 世 难 窺

Tây dương tẩu Bắc hoàn vô lộ

西洋 走 北 还 無 路

Việt điểu sào Nam lạc hữu chi

越鳥 巢 南 樂 有 枝

Thủy phún thành băng kinh Nhật Bản

 

Phong thừa phá lãng tẩu Hoa Kỳ

Phá điền tự kiến văn minh hội

Tất ốc bồng môn lạc đức huy

Lược dịch nghĩa:

Con chuồn chuồn bay lấn mây chưa đủ (thấy làm) lạ

(Ám chỉ phi cơ, trực thăng, phi thuyền, hoả tiễn … các loại)

Thần cơ ở (nơi) Ta, (người) đời khó mà nhìn thấy

(Ý nói về Thần cơ cũng là Thiên cơ, chỉ khi hiện ra sự kiện người đời mới thấy rõ).

Tây dương chạy (về) phương Bắc, mà (cũng) không có đường (để chạy)

(Tây dương bao gồm các người nước ngoài, da trắng Âu Mỹ …)

Chim Việt làm tổ (ở) phương Nam vui có cành (có nơi đậu, trú ẩn)

(Ám chỉ tuy bão lụt, thiên tai, chiến tranh … nhưng nước Việt vẫn được yên ổn, có nơi ẩn trú an toàn hoặc ít bị ảnh hưởng)

Nước phun (lên) thành băng (làm) kinh hãi (nước) Nhật Bản

(Động đất làm thành sóng thần, bão lụt, nạn hồng thủy … tàn phá khốc liệt kinh hoàng ở nước Nhật)

Sóng gió (nổi lên) phá vỡ (mọi thứ) đuổi (nước) Hoa Kỳ chạy

(Động đất, sóng thần, bão tố cuồng phong … tàn phá nước Mỹ phải chạy trốn)  

Phá điền ( ) tự thấy (vận) hội văn minh (mới xuất hiện)

Nhà tranh vách trúc cùng vui trong trong đức sáng ấy

(Hoặc vì chiến tranh làm ra thiên tai, động đất, bão lụt … tai họa xẩy ra trên toàn cầu, nhân loại tang thương vô kể, rồi sau đó mới xuất hiện ra một nền văn minh thịnh vượng đạo đức mới trên thế giới, con người dù giầu hay nghèo cũng được hạnh phúc vui vẻ …).

BÀI THỨ HAI

Bài này do Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc vào bát nhang bằng đồng thau để cúng bên Tổ Ngoại của Cụ Trạng, có lẽ Cụ đã có dụng ý nên dùng bát nhang đúc bị méo, trên bát nhang có khắc 16 câu chữ Nho Sấm ký tiên tri về khoảng 400 năm sau này (lịch sổ sổ bách niên), có Thầy Nhân Thập và Song Thiên sẽ là thời cực thịnh (hữu xương hữu xí).

Điều kỳ bí là bát nhang mà Cụ Trạng nói nó méo rồi lại tròn và bể vỡ rồi lại lành lặn trở lại, thì ra năm 1953 nó bị bom đạn phá vỡ, cháu chắt của Cụ đem ra Hải Phòng thuê tiệm Tầu chuyên làm nghề đúc đồ kim khí hàn gắn lại như cũ và nắn lư nhang cho tròn lại, đúng như lời Cụ đã tiên đoán trước. Nhờ có người bạn ở Hải Phòng chép lại được bài thơ trên nhờ người quen đem về Hà Nội cho và ghi chép lại để truyền cho đời sau. 

Hiếu tư dĩ phụng tiên

孝 思以 奉 先

Vị viên nguyện phục viên

未 圓願 圓 復

Sinh tam tam thế hậu

生 三三 世 後

Lịch sổ sổ bách niên

歷 數數 百 年

Thế bát phùng khuyết liệt

世 八逢 缺 烈

Chu ngũ phục viên toàn

Hữu xương hồ nhân thập

Hữu xí hồ song thiên

Nội ngoại phi nhị chí

外非

Chung thuỷ như nhất nhiên

一然

Long xà yên đắc ngộ

Đĩnh xuất tử tôn hiền

Thiên cơ bất cảm tiết

Bất đắc bất ngôn yên

Lư hương cung vu Tổ

 

Hiện long phi tại thiên

Lược dịch nghĩa:

Vì hiếu đạo, để nhớ đến phụng thờ Tổ Tiên

Chưa tròn (vì còn bị méo), nhưng nguyện sẽ được tròn trở lại

Sinh ra ba ba (ba mươi ba ?) đời sau

Trải qua vài trăm năm (đếm tới vài ba trăm năm sau, tức là khoảng bốn trăm năm sau)

Đời tám gặp bể vỡ (chưa rõ đời tám là gì, hoặc đời nào bị vỡ bể lư hương)

Trọn năm (5) lại vẹn tròn (trọn vẹn, chu toàn 5 ? lại được vẹn toàn tròn trở lại, chưa rõ ý của câu này)

Có được sự hưng thịnh ở (thầy) Nhân Thập vậy (sau đó, khi được vẹn toàn 5 ? thì đến thời của Nhân Thập thì sẽ được hưng thịnh)

Có sáng rực rỡ ở trên bầu trời (nghĩa đen là cháy sáng mạnh mẽ trên bầu trời, nhưng có thể là nghĩa khác vì trên là thầy Nhân Thập, dưới là Song Thiên)

Bên nội, ngoại lòng chẳng chia làm hai

Trước sau như một thế thôi

Rồng rắn yên được gặp (chữ long xà ám chỉ bậc phi thường)

Sinh ra con cháu vượt trội hiền tài

Cơ Trời chẳng dám tiết lộ (thời cơ ở nơi trời không dám tiết lộ)

Đừng (nói) chẳng được (nên) phải nói ra vậy

Lư hương để thờ cúng Tổ Tiên

Rồng hiện bay ở trời

BÀI THỨ BA

Hầu khứ kê lai hợi nguyệt kì

Quốc tận dân tàn thế lực suy

國盡 民 残 势 力 衰

Huyết chiến đê đầu nhân huyết chiến

血戰 低 頭 人 血 戰

Quốc quân hãm nịch quốc quân nguy

國君 陷 溺 國 君 危

Nhân nhân giai dĩ Chu vi Tống

人人 皆 以 周 爲 宋

Phong nghĩ tung hoành thị mạc vi

蜂蟻 縱 橫 是 莫 爲

Thượng đảo hạ huyền nhân vô thủ

上倒 下 懸 人 無 首

Kham tiếu không huyền đoạn thất ki

堪笑 空 懸 断 失 期

Lược dịch nghĩa:

Khỉ đi gà đến kỳ (hẹn)tháng hợi

Nước hết dân tàn thế lực suy

Huyết chiến cắm đầu vào huyết chiến

Quốc quân chìm hãm quốc quân nguy

Người người đều lấy (nhà) Chu làm (nhà) Tống

(Ý nói là mọi người đều nhẫm lẫn, nhà Chu mở ra một vận hội mới, một thời thịnh trị văn minh, còn nhà Tống yếu kém lại đi về hướng hủ nho, hủ lậu, suy đồi … làm mất nước)

Ong kiến tung hoành làm được chi ?

Đảo lộn dưới trên đầu chẳng có

Nực cười treo lửng … mất thời cơ.

2 Comments
  1. thientrungnhan permalink

    Bài số 1 và 3 được Tiền nhân chép lại nói là sấm Trạng, không nói rõ xuất xứ từ nguồn gốc nào.

  2. Son Nguyen permalink

    Làm sao biết bài thứ 1 và 3 là của Trạng Trình?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: