Skip to content

Thiêu Bính ca – Lưu Bá Ôn

26/02/2009

THIÊU BÍNH CA 燒 餅 歌

Hồ nhân chí thử vong cửu hĩ

Tứ lục bát phương quan Văn Tinh

Phẩm vật hàm hanh nhất dạng hình

Cầm sắt hòa hài thành cổ đạo


Tả hưng đế hựu trung hưng

Ngũ bách niên gian xuất Thánh Quân

Thánh Quân thượng vấn Chân Nhân xuất

Chu lưu thiên hạ hiền lương phụ

Khí vận Nam phương xuất Tướng Thần

Thánh Nhân năng hóa loạn uyên nguyên

Bát diện di nhân tiến cống lâm

Cung nữ cần canh vọng dạ nguyệt  

Kiền Khôn hữu tượng trọng hoàng kim

Bắc phương hồ lỗ hại sanh linh  

Canh lệnh Nam quân tru diệt hình

Tượng mã đan kị an ngoại quốc

Chúng tương ấp nhượng lưu tam tinh

Tam nguyên phục chuyển khí vận khai

Đại tu văn vũ thánh chủ tài

Thượng hạ tam nguyên vô đảo trí

Y quan văn vật nhất tề lai

Thất nguyên vô thác hựu tam nguyên

Đại khai văn phong khảo đối liên

Hầu tử mãn hạp Kê đào giá

Khuyển phệ Trư minh thái bình niên

Văn vũ toàn tài ngộ Mậu Đinh ( : thành)

Huyết lâm thiên lý vạn dân đào

Ái dân như tử thân huynh đ

Sang lập tân quân tu cựu kinh

Thiên ngôn vạn ngữ tri hư thật

Lưu dữ thương sanh tác chứng minh.

Lời bàn: Thiêu Bính ca là một thể loại tiên tri rất khó hiểu, bởi viết theo cách chiết tự để gọi họ tên nhân vật, sự kiện, lý do … cho một triều đại thịnh suy trị loạn tồn vong …, như gọi họ vua nhà Minh mà viết là : thụ thượng quải khúc xích đó là chữ Chu , giải : trên cây treo thước cong, vì chữ thụ thượng là trên cây, chữ chu có chữ mộc là cây gỗ, quải là treo, khúc xích là thước cong, tức là có treo thước cong ở trên chữ mộc đó là chữ chu , hoặc như tên vua cuối cùng nhà Minh là Sùng Trinh lại gọi là : tổ tôn sơn thượng bối y hành (lược bớt chữ Nho), vì chữ Sùng có chữ sơn ở trên chữ tôn, chữ Trinh có chữ y ở bên chữ bối và có chữ thượng ở trên …… .Tất cả các tên vua, nhân vật thời đại, sự kiện … đều dùng cách thức cầu k hóc hiểm như vậy.

Vì cố giảm lược tránh quá dài, chỉ đặc biệt chú ý đến hai quẻ :

Hỏa Phong Đỉnh : lưỡng hỏa sơ hưng định thái bình.

Hỏa Sơn Lữ : Ngân hà Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh.

Nghĩa là : quẻ Hỏa Phong Đỉnh: hai hỏa mới (lên) hưng thịnh thái bình. Quẻ Hỏa Sơn Lữ: sao Chức Nữ sông Ngân Hà nhường (ngôi cho) sao Ngưu Tinh, câu này liên quan đến những câu trong Sấm Trạng nói về Ngưu Tinh:

Khi Lý Thường Kiệt xác quyết: "Nam quốc sơn hà … tiệt nhiên định phận tại thiên thư" (1076) thì có thể hiểu Thiên thư là bản đồ chiêm tinh ghi rõ biên giới nước Đại Việt" Theo sách Thiên quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi Sửu … (trích theo Việt Sử Tiêu Án ).

Qua hai câu tiên tri của Thiêu Bính ca Lưu Bá Ôn thì ông đã nhìn thấy sao Chức Nữ là chủ mệnh tinh của dân tộc Hoa – Hán đã nhường ngôi cho sao chủ mệnh tinh Khiên Ngưu của dân tộc Bách Việt, mà điển hình là dòng giống Lạc Việt còn lại hiện nay chưa bị đồng hoá (văn hoá, tập quán, xã hội …) triệt để như những người Bách Việt khác ở trên đất Trung Hoa

Nam Việt hữu Ngưu Tinh …

Ngưu tinh tụ Bảo giang ….

Ghi chú: Các nhà Thiên Văn Học chia bầu trời ra 4 hướng : Đông Tây Nam Bắc . Mỗi hướng gồm có 7 chùm sao . Hay là 4 hướng x 7 chùm sao = 28 chùm sao . Ngày nay chúng ta thường gọi là Nhị Thập Bát Tú

Bảy chòm sao hợp lại thành một phương trời và được biểu tượng thành một con vật có mầu sắc theo sự phối thuộc của ngũ hành.

– Phương Bắc là con rùa đen gọi là Hoa Cái (Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích).

– Phương Tây là con hổ trắng gọi là Bạch Hổ (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm).

– Phương Nam là con phượng đỏ gọi là Phượng Các (Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn).

– Phương Đông là con rồng xanh, gọi là Thanh Long (Giốc-Giác, Cang-Kháng, Đê, Phòng Tâm Vĩ, Cơ).

Phương Bắc – Hoa Cái

Đẩu Mộc Giải : Cua

Ngưu Kim Ngưu : Trâu (Khiên Ngưu) 

Nữ Thổ Bức : Dơi (Chức Nữ)

Hư Nhật Thử : Chuột

Nguy Nguyệt Yến : Én

Thất Hoả Trư : Lợn

Bích Thuỷ Du : Dím

Hai câu trên sau câu Hỏa tinh lai hạ giới đã ám chỉ nghĩa hẹp là Mao Trạch Đông lên lãnh đạo cuộc C.M đỏ (lửa đỏ, máu đỏ …), còn nghĩa rộng là chủ nghĩa CS phát triển (Hỏa tinh quân) trên toàn thế giới, đem máu lửa đỏ xuống trần gian.

Nên hai quẻ Đỉnh và Lữ là nói đến thời gian sau thi chủ nghĩa CS (sao Hỏa Tinh) sụp đổ trên toàn thế giới và tiên đoán về giai đoạn sau thời của Mao Trạch Đông (sao Hỏa Tinh mờ dần từ khi Mao Trạch Đông bị bệnh rồi chêt).

Hỏa đức tinh quân lai hạ giới

Kim diện lâu đài tận Bính Đinh

Nhất cá Hồ tử đại tướng quân

Án kiếm trì mã sát tình hình

Trừ bạo khử hoạn nhân đa ái

Vĩnh hưởng cửu châu kim mãn doanh

Lược dịch :

Sao hỏa tinh giáng thế

Khiến cho điện các lâu đài mọi nơi đều lửa đỏ (Bính Đinh)

Một gã Hồ tử đại tướng quân

Cắp gươm ruổi ngựa xem xét tình hình

Trừ bạo khử hoạn nhiều người thương mến

Hưởng thụ lâu dài vàng đầy rương

Giải luận :

Một gã Hồ tử 鬍子, chữ Hồ này có nghĩa là lông, râu mặt, râu quai nón là ám chỉ Mao Trạch Đông (mao là lông, râu, tóc) thời mới xuất hiện, được dân chúng (lúc đầu mê lầm mà) yêu mến, tin tưởng đi theo làm cuộc C.M đỏ khiến cho sự máu lửa (Hỏa tinh) ghê gớm chưa từng có ở TQ, các di sản cổ xưa như đền đài miếu mạo chùa chiền .. đã bị đốt phá rất nhiều (Kim diện lâu đài tận Bính Đinh).

Đoạn cuối cùng của Thiêu Binh ca lại cực k đặc biệt và quan trọng hơn nữa từ câu Tứ lục bát phương quan Văn Tinh …, bởi vì từ khi sao Hỏa Tinh mờ đi rồi sẽ biến mất (sao Hỏa Tinh mờ dần từ khi Mao Trạch Đông bị bệnh rồi chêt) thì sao Văn Tinh xuất hiện dần dần sáng tỏ khiến toàn cầu nhân loại quan vọng quan chiêm, đó là Vận hội mới của thời sao Văn Tinh (Thánh Nhân) bắt đầu mở ra, Thánh Nhân xuất hiện đó là khí vận của phương Nam (Ngân hà Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh), và cũng là khí vận của Thánh Nhân (sao Văn Xương) xuất hiện (Tứ lục bát phương quan Văn Tinh).

Sấm Trạng:

Năm Giáp Tý vẻ Khuê (sao Khuê: Văn Xương) đã rạng …

Nếu nói về thời gian sao Hỏa tinh lu mờ (C.N C.S), sao Văn Tinh đã rạng thì năm Giáp Tý có thể là năm 1984 là những năm khởi đầu của sự lối loạn trong khối C.S L.X dẫn đến sụp đổ C.N C.S trên toàn thế giới.

Hai câu này để kết luận:

Hầu tử mãn hạp Kê đào giá …

Khuyển phệ Trư minh thái bình niên …

Sấm Trạng:

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỡ tổ chập chùng bay

Đó là thời gian kinh hoàng của nhân loại trước khi Thánh Nhân xuất hiện cứu vớt nhân loại

Mã tiền khoá:

Chửng hoạn cứu nạn

Duy thị Thánh Nhân …

Thiêu Bính ca:

Khí vận Nam phương xuất tướng thần

Thánh Nhân năng hóa loạn uyên nguyên …

Thôi Bối đồ:

Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) để chế ngự ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích còn có nghĩa là sắc đỏ, phương Nam), bốn bên sợ (mà) bội phục.

Tụng viết: Trong cõi bầu trời (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến Người ấy (Thánh nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là Người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí.

Và rất nhiều câu Sấm Trạng nói về Thánh Nhân xuất hiện để cứu đời. Hai câu rất chú ý trong Sấm Trạng là:

Song thiên nhật rạng sáng soi

Thánh nhân chẳng biết, thì coi cho tường …

Hữu xương hồ Nhân Thập

Hữu sí hồ Song Thiên

Hai mặt trời trên đất Việt

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: