Skip to content

Thôi Bối đồ thời CS Mao

26/02/2009

Thôi Bối Đồ thời CS Mao
Dân Quốc 38 năm sau: từ 40 đến 59 (sau thời Mao cho tới nay và thời gian sắp tới, rất quan trọng có dịch nghĩa từ đồ hình)

第四十象 癸卯 巽下艮上 蠱

40第四十象 癸卯 巽下艮上 蠱

讖曰:
一二三四 無土有主
小小天罡 垂拱而治

頌曰:
一口東來氣太驕 腳下無履首無毛
若逢木子冰霜渙 生我者猴死我雕

金聖嘆:「此象有一李姓,能服東夷,而不能圖長治久安之策,卒至旋治旋亂,有獸活禽死之意也。」

Đệ tứ thập tượng: Quý Mão – Tốn Hạ – Cấn Thượng – Cổ

Sấm viết: nhất nhị tam tứ, vô thổ hữu chủ, tiểu tiểu Thiên Cương, thùy củng nhi trì

Tụng viết: nhất khẩu đông lai khí thái kiêu, cước hạ vô lí thủ vô mao, nhược phùng mộc tử băng sương hoán, sanh ngã giả hầu tử ngã điêu

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất lí tính, năng phục đông di, nhi bất năng đồ trường trì cửu an chi sách, tốt chí toàn trì toàn loạn, hữu thú hoạt cầm tử chi ý dã thử tự chỉ Quốc Dân Đảng thiên thai

Lược dịch ý chính:

Sấm viết: một hai ba bốn, đất ở không có chủ, sao Thiên Cương bé nhỏ, cung kính cúi đầu mà sửa trị.

Tụng viết: một cửa (khẩu) to lớn ở phía đông qua lại, dưới chân chẳng có giầy dép đầu không tóc, nếu như giống (mầm) cây gỗ gặp (được) băng sương tan rã, (như) con khỉ đã chết ấy là ta sống lại (mà) trở thành con chim diều hâu kên kên.

Kim Thánh Thán: tượng này có một tánh lý, có tài (khả) năng chế phục (qui phục) Đông di (Nhật Bản), mà không có khả năng mưu đồ trường trị (trị vì lâu dài) sách lược yên bình lâu dài. Lính tốt (lính quèn) quay trở lại (thì) rối loạn, (mạng người) chết (như) loài chim thú vậy, ấy là chỉ Quốc Dân đảng vậy. (thời Nhật Bản – Tưởng Giới Thạch)

第四十一象 甲辰 離下離上 離

41第四十一象 甲辰 離下離上 離

讖曰:
天地晦盲 草木繁殖
陰陽反背 上土下日

頌曰:
帽兒須戴血無頭 手弄乾坤何日休
九十九年成大錯 稱王只合在秦州

金聖嘆:「此象一武士握兵權,致肇地覆天翻之禍,或一白姓者平之。」

Đệ tứ nhất tượng : Giáp thần Li hạ Li thượng Li

Sấm viết: thiên địa hối manh, thảo mộc phồn thực, âm dương phản bối, thượng thổ hạ nhật

Tụng viết: mạo nhân tu đái huyết vô đầu, thủ lộng Kiền Khôn hà nhật hưu, cửu thập cửu niên thành đại thác, xưng vương chích hợp tại Tần Châu

Kim Thánh Thán: thử tượng nhất vũ sĩ ác binh quyền, trí triệu địa phúc thiên phiên chi họa, hoặc nhất bạch tính giả bình chi, (thử chỉ Mao Trạch Đông sở hành các chủng vận động, cửu thập cửu hợp thành thị nhập bát niên, dữ Mao tại vị kì tương hợp, Tần Châu tức Thiểm Tây tỉnh, duyên an diệc tại Thiểm Tây, mạo nhân đái thị thuyết khấu mạo tử

Lược dịch ý chính:

Sấm viết: trời đất tối tăm mờ mịt, cây cỏ cây cỏ đầy rẫy (hoang vu tiêu điều cây cỏ mọc hoang đầy rẫy), âm dương quay lưng đối nhau, mặt trời ở dưới mặt đất  .

Tụng viết: người đội mũ râu quai nón (có) tâm huyết sắt máu không ai đứng trên được, tài giỏi bỡn cợt cả Kiền Khôn mà sao ngày lại tốt lành, chín mười chín năm thành lầm lẫn lớn, chỉ một mình xưng vua ở tại Tần Châu.

Kim Thánh Thán: tượng này là một võ sĩ nắm bình quyến, suy cho cùng là nơi chốn bắt đầu gây ra cái hoạ tự nhiên lập lại, hoặc ấy là một thời bày ra trăm họ được bình trị chăng ? (đó là ám chỉ nơi mà Mao Trạch Đông vận động các phong trào quần chúng, chín mười phong trào đảng phái qui tụ về một thành lập nên làm một trong 28 năm đều là do Mao tập hợp thành, Tần Châu tức là tỉnh Thiểm Tây, cuộc khởi tạo sự nghiệp của Mao cũng ở Thiểm Tây, người đội mũ chính là Mao Trạch Đông vậy

第四十二象 乙巳 艮下離上 旅

42第四十二象 乙巳 艮下離上 旅

讖曰:
美人自西來 朝中日漸安
長弓在地 危而不危

頌曰:
西方女子琵琶仙 皎皎衣裳色更鮮
此時渾跡匿朝市 鬧亂君臣百萬般

金聖嘆:「此象疑一女子當國,服色尚白,大權獨攬,幾危社稷,發現或在卯年,此始亂之兆也

Đệ tứ nhị tượng: Ất Tị Cấn hạ Li thượng Lữ

Sấm viết: mĩ nhân tự tây lai, triêu trung nhật tiệm an, trường cung tại địa, nguy nhi bất nguy

Tụng viết: tây phương nữ tử tỳ bà tiên. kiểu kiểu y thường sắc canh tiên, thử thì hồn tích nặc triêu thị, nháo loạn quân thần bách vạn bàn

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất nữ tử đương quốc, phục sắc thượng bạch, đại quyền độc lãm, kỉ nguy xã tắc, phát hiện hoặc tại Mão niên, thử thủy loạn chi triệu dã

Lược dịch ý chính:

Sấm viết: Người đẹp đến từ phía Tây, ngày giữa sớm mai dần dần yên định, bề dài đo tại đất, nguy nhưng mà chẳng nguy (hoặc cao ngất ngưởng tưởng nguy hiểm nhưng chưa hẳn là nguy hiểm).

Tụng viết: Con gái phương Tây (ôm cây) đàn Tỳ bà (đẹp như) tiên, đổi thay quần áo sạch sẽ lại (càng) thêm tươi tốt (Giang Thanh diễn viên sân khấu điện ảnh ?), ấy thời ẩn dấu vết vẩn đục từ sớm (như) ở chợ búa, vua tôi (bàn cãi) quanh co ầm ỹ nháo nhào rối loạn (đại ý là nhìn bề ngoài áo quần sạch sẽ đẹp đẽ tốt tươi đấy, nhưng ẩn dấu bên trong lẫn lộn sạch đẹp bẩn xấu như các loại ở chợ đã được che dấu sớm từ trước rồi).

Kim Thánh Thán: tượng này nghi ngờ có một nữ nhân đảm đương việc nước, áo mặc màu trắng ở trên, nắm chiếm lấy một mình quyền thế, làm nguy nan cho xã tắc, phát hiện ra ở năm Mão, ấy là cái triệu chứng mới bắt đầu loạn vậy. (thời Giang Thanh mới bắt đầu được Mao sủng ái ?)

第四十三象 丙午 巽下離上 鼎

43第四十三象 丙午 巽下離上 鼎

讖曰:
君非君 臣非臣
始艱危 終克定

頌曰:
黑兔走入青龍穴 欲盡不盡不可說
唯有外邊根樹上 三十年中子孫結

金聖嘆:「此象疑前象女子亂國未終,君臣出狩,有一傑出之人為之底定,然必在三十年後。」

Đệ tứ tam tượng: Bính Ngọ Tốn hạ Li thượng Đỉnh

Sấm viết: quân phi quân, thần phi thần, thủy gian nguy, chung khắc định

Tụng viết: hắc thỏ tẩu nhập thanh long huyệt, dục tẫn bất tẫn bất khả thuyết, duy hữu ngoại biên căn thụ thượng, tam thập niên trung tử tôn kết

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi tiền tượng nữ tử loạn quốc vị chung, quân thần xuất thú, hữu nhất kiệt xuất chi nhân vi chi để định, nhiên tất tại tam thập niên hậu

Lược dịch ý chính:

Sấm viết: vua chẳng ra vua, tôi chẳng phải là tôi tớ, mới bắt đầu gian nan nguy khốn, sau được yên định.

Tụng viết: con thỏ đen chạy vào hang rồng xanh (Đặng Tiểu Bình ẩn trốn chờ thời cơ ?), tham muốn hết sức chẳng còn có thể nói gì được nữa (tứ nhân bang).

Kim Thánh Thán: tượng này là nghi ngờ nữ nhân (quẻ) trước là người làm cho đất nước rối loạn, vua tôi ra ngoài, có một người kiệt xuất đến làm cho yên ổn, như thế ắt hẳn ở tại 30 năm sau đó.

第四十四象 丁未 坎下離上 未濟

44第四十四象 丁未 坎下離上 未濟

讖曰:
日月麗天 群陰懾服
百靈來朝 雙羽四足

頌曰:
而今中國有聖人 雖非豪傑也周成
四夷重譯稱天子 否極泰來九國春

金聖嘆:「此象乃聖人復生,四夷來朝之兆,一大治也。」

Đệ tứ tứ tượng: Đinh vị Khảm hạ Li thượng Vị Tế

Sấm viết: nhật nguyệt lệ thiên, quần âm nhiếp phục, bách linh lai triêu, song vũ tứ túc

Tụng viết: nhi kim Trung Quốc hữu thánh nhân, tuy phi hào kiệt dã chu thành, tứ di trọng dịch xưng thiên tử, phủ cực thái lai cửu quốc xuân

Kim Thánh Thán: thử tượng nãi thánh nhân phục sanh, tứ di lai triêu chi triệu, nhất đại trì dã

Lược dịch ý chính:

Sấm viết: Mặt trời mặt trăng sáng đẹp ở trên bầu trời, bè lũ đen tối sợ hãi khiếp phục, hàng trăm sinh linh lại về chầu, hai lông vũ bốn chân.

Tụng viết: Mà nay Trung Quốc có thánh nhân, cho dầu chẳng phải là hào kiệt làm cho thành trọn vẹn, bốn bên (các nước chung quanh) coi trọng xem như là ông vua (của nước Trung Hoa), bĩ cực lại được thái lai đất nước như mùa xuân đẹp.

Kim Thánh Thán: tượng này là thánh nhân sinh lại, là điềm bốn bên vui vẻ quay trở lại, tất cả đều được sửa trị vậy.

第四十五象 戊申 坎下艮上 蒙

45第四十五象 戊申 坎下艮上 蒙

讖曰:
有客西來 至東而止
木火金水 洗此大恥

頌曰:
炎運巨集開世界同 金烏隱匿白洋中
從此不敢稱雄長 兵氣全消運已終

金聖嘆:「此象於太平之世復見兵戎,當在海洋之上,自此之後,更臻盛世矣。」

Đệ tứ ngũ tượng: Mậu Thân Khảm hạ Cấn thượng Mông

Sấm viết: hữu khách tây lai, chí đông nhi chỉ, mộc hỏa kim thủy, tẩy thử đại sỉ

Tụng viết: viêm vận hoành khai thế giới đồng, kim ô ẩn nặc bạch dương trung, tòng thử bất cảm xưng hùng trường, binh khí toàn tiêu vận dĩ chung

Kim Thánh Thán: thử tượng vu thái bình chi thế phục kiến binh nhung, đương tại hải dương chi thượng, tự thử chi hậu, canh trăn thịnh thế hĩ

Lược dịch ý chính:

Sấm viết: Có khách đến từ hướng Tây, ở tận cùng phía Đông, mộc hoả kim thuỷ, ấy thời nhẵn nhụi sạch sẽ (hết cái) nhục lớn.

Tụng viết: vận số to lớn mở ra ở phương Nam thế giới cùng nhau, mặt trời ẩn trốn ở bên trong biển trắng, đi theo vậy mà chẳng dám xứng đáng là tài giỏi khoẻ mạnh, binh khí tan rã xong hết vận số kết thúc.

Kim Thánh Thán: tượng này là thời thái bình (đi qua lại thấy) trở lại áo giáp binh khí, đang ở tại trên biển (căng thẳng eo biển Trung Hoa – Đài Loan ?), bởi vì là sau đó, thay đổi là thời thịnh vượng (Trung Hoa tăng cường quân sự).

第四十六象 己酉 坎下巽上 渙

46第四十六象 己酉 坎下巽上 渙

讖曰:
黯黯陰霾 殺不用刀
萬人不死 一人難逃

頌曰:
有一軍人身帶弓 只言我是白頭翁
東邊門裏伏金劍 勇士後門入帝宮

金聖嘆:「此象疑君王昏瞶,一勇士仗義興兵為民請命,故曰萬人不死一人難逃。」

Đệ tứ lục tượng: Kỷ Dậu Khảm hạ Tốn thượng Hoán

Sấm viết: ảm ảm âm mai, sát bất dụng đao, vạn nhân bất tử, nhất nhân nan đào

Tụng viết: hữu nhất quân nhân thân đái cung, chích ngôn ngã thị bạch đầu ông, đông biên môn, phục kim kiếm, dũng sĩ hậu môn nhập đế cung

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi quân vương hôn, nhất dũng sĩ trượng nghĩa hưng binh, vi dân thỉnh mệnh, cố viết vạn nhân bất tử nhất nhân nan đào.

Lược dịch ý chính:

Sấm viết: Đen tối ảm đạm mịt mù, giết chết mà chẳng dùng đến gươm đao, muôn người chẳng chết, một người cũng khó mà trốn được.

Tụng viết: Có một người lính đeo cung tên trên người, chỉ nói ta là ông đầu bạc, bên ngoài cửa phía Đông, dấu gươm sắt, dũng sĩ ở cửa sau vào cung điện của nhà vua.

Kim Thánh Thán: tượng này nghi ngờ là quân vương hôn ám tối tăm, một dũng sĩ vì nghĩa khí động binh lính, vì dân mà truyền lệnh, cớ sao lại viết rằng muôn người chẳng chết một người cũng khó mà trốn chạy được ?.

第四十七象 庚戍 坎下乾上 訟

47第四十七象 庚戍 坎下乾上 訟

讖曰:
偃武修文 紫薇星明
匹夫有責 一言為君

頌曰:
無王無帝定乾坤 來自田間第一人
好把舊書多讀到 義言一齣見英明

金聖嘆:「此象有賢君下士,豪傑來歸之兆,蓋輔助得人,而帝不居德,王不居功,蒸蒸然有無為而治之盛。此一治也。」

Đệ tứ thất tượng: Canh thú Khảm hạ Kiền thượng

Sấm viết: yển vũ tu văn, tử vi tinh minh, thất phu hữu trách, nhất ngôn vi quân

Tụng viết: vô vương vô đế định Kiền Khôn, lai tự điền gian đệ nhất nhân, hảo bả cựu thư đa độc đáo, nghĩa ngôn nhất xuất kiến anh minh

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu hiền quân hạ sĩ, hào kiệt lai quy chi triệu, cái phụ trợ đắc nhân, nhi đế bất cư đức, vương bất cư công, chưng chưng nhiên hữu vô vi nhi trì chi thịnh, thử nhất trì dã. Nghỉ. Như yển vũ tu văn 偃武修文 nghỉ việc võ sửa việc văn.

Lược dịch ý chính:

Sấm viết: nghỉ việc võ sửa trị việc văn, sao Tử Vi sáng sủa, người đàn ông có trách nhiệm gánh nhận, một lời làm vua.

Tụng viết: Không vua chúa chẳng đế vương xếp đặt Kiền Khôn (Trời Đất), đến từ đồng ruộng (là) người hạng nhất, yêu thích giữ lấy sách cũ nhiều độc đáo, ý nghĩa lời nói ra thấy thật là sáng suốt.

Kim Thánh Thán: tượng này có vua hiền tôi giỏi ở bên dưới, là điềm hào kiệt quay trở về, được người che chở phò trợ, vậy mà vua chẳng ở đức độ, vì sao vương hầu chẳng (vì) việc công, một lũ một bọn như thế làm sao có được thịnh vượng ?, ấy vậy cần phải sửa trị vậy.

第四十八象 辛亥 離下乾上 同人

48第四十八象 辛亥 離下乾上 同人

讖曰:
卯午之間 厥象維離
八牛牽動 雍雍熙熙

頌曰:
水火既濟人民吉 手持金戈不殺賊
五十年中一將臣 青青草自田間出

金聖嘆:「此象疑一朱姓與一苗姓爭朝綱,而朱姓有以德服人之化,龍蛇相鬥,想在辰巳之年,其建都或在南方。」

Đệ tứ bát tượng: Tân Hợi Li hạ Kiền thượng Đồng Nhân

Sấm viết: Mão Ngọ chi gian, quyết tượng duy li, bát ngưu khiên động, ung ung hi hi

Tụng viết: Thủy Hỏa Kí Tể nhân dân cát, thủ trì kim qua bất sát tặc, ngũ thập niên trung nhất tương thần, thanh thanh thảo tự điền gian xuất Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất chu tính dữ nhất miêu tính tranh triêu cương, nhi chu tính hữu dĩ đức phục nhân chi hóa, long xà tương đấu, tưởng tại thần Tị chi niên, kì kiến đô hoặc tại Nam phương.


Lược dịch ý chính:

Sấm viết: vào khoảng Mão Ngọ, hiện trạng khởi lên ràng buộc bám dính lấy, co kéo tám trâu, hoà hợp vui vẻ.

Tụng viết: Thủy Hỏa Kí Tể nhân dân tốt, tay cầm nắm vũ khí chẳng giết giặc, trong năm mươi năm rồi sẽ có một bày tôi, cỏ cây sinh ra xanh ngát một khoảng ruộng.

Kim Thánh Thán: tượng này ngờ rằng một người họ Chu là một mầm mống tranh giành trong triều cương, vậy mà họ Chu có đức độ cảm phục được lòng người, rồng rắn đánh nhau, nhớ lại ở năm Tị, dựng lên kinh đô hoặc ở phương Nam.

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: