Skip to content

Thôi Bối đồ trong tương lai

26/02/2009

Thôi Bối đồ trong tương lai

第五十四象 丁巳 乾下兌上 夬

54 讖曰:
磊磊落落 殘棋一局
啄息茍安 雖笑亦哭

頌曰:
不分牛鼠與牛羊 去毛存栅尚稱強
寰中自有真龍出 九曲黃河水不黃

金聖嘆:「此象有實去名存之兆,或為周末時,號令不行,尚頒止朔:亦久合必分之徵也

Đệ ngũ tứ tượng: Đinh Tị Kiền hạ Đoái thượng

Sấm viết: lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức cẩu an, tuy tiếu diệc khốc

Tụng viết: bất phân ngưu thử dữ ngưu dương, khứ mao tồn (cách – hưởng thượng 尚饗 ) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc:diệc cửu hợp tất phân chi trưng dã

Tạm lược dịch:

Sấm viết :tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, trác tức 啄 息 (than thở, thở ngắn thở dài từng cơn, thở phào ra …) tạm yên, tuy cười lại khóc.

Tụng viết: Chẳng chia ra trâu (với) chuột cùng với (hay là) trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn ? (cách: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng : hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) – thượng hưởng (ngõ hầu mới được hưởng mà) xưng (là) mạnh, trong cõi giữa tự có chân long (thánh quân) xuất hiện, chín khúc hoàng hà nước chẳng vàng.

Kim Thánh Thán:Tượng này có điềm báo chứng thực là bỏ danh (xưng, hiệu …) để tồn tại, hoặc là thời kỳ mạt 末 (cuối cùng) gây nên khắp nơi, hiệu lệnh ban ra chẳng (nơi nào chịu) thi hành, trên mới ban ra ngừng lại (đình chỉ), chứng cớ là ấy (bởi vì) hợp lâu ắt hẳn (có ngày phải) phân chia ra.

 

Bản đồ Trung Hoa nếu phân chia ra:

 

 

Đại loạn bình 大乱平, tứ di phục 四夷服, xưng huynh đệ 称兄弟, lục thất quốc 六七国

 

 

 

第五十五象 戊午 乾下坎上 需

55 讖曰:
懼則生戒 無遠勿屆
水邊有女 對日自拜

頌曰:
覬覦神器終無用 翼翼小心有臣眾
轉危為安見節義 未必河山是我送

金聖嘆:「此象有一石姓或劉姓一統中原,有一姓汝者謀篡奪之,幸有大臣盡忠王室,戒謹惕勵,一切外侮不滅自滅,雖亂而亦治也

Đệ ngũ ngũ tượng: Mậu Ngọ Kiền hạ Khảm thượng

Sấm viết: cụ tắc sanh giới, vô viễn vật giới, thủy biên hữu nữ* , đối nhật tự bái

Tụng viết: kí du thần khí chung vô dụng, dực* dực tiểu tâm* hữu thần chúng, chuyển nguy* vi an kiến tiết nghĩa, vị tất hà sơn thị ngã tống

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất Thạch tính hoặc Lưu tính nhất thống trung nguyên, hữu nhất tính nhữ giả mưu soán đoạt chi, hạnh hữu đại thần tẫn trung vương thất*, giới cẩn dịch lệ, nhất thiết ngoại vũ bất diệt tự diệt, tuy loạn nhi diệc trì dã.

Tạm lược dịch:

Sấm viết: sợ phép tắc pháp luật (nên) sinh ra phòng bị, chẳng xa chớ (nên) đến, ven (bờ) nước có (con) gái, đối (diện) mặt trời (mà) lạy.

Tụng viết: (cho dầu có cầu) mong (hay là mong ước) thần (thánh) (rồi) sau (cũng) chẳng (có) tác dụng (hay công dụng gì cả), tâm nhỏ (hoặc là: lòng khinh thường, tâm hẹp hòi mà ôm ấp) che chở (cho) bầy tôi mọi người, (vì) tiết nghĩa (nên) chuyển nguy làm (nên) yên ổn, chưa hẳn (là) sông núi (đã) ấy đưa (tới) (hay là trở về) cho ta.

Kim Thánh Thán: tượng này có một danh tánh họ Lưu hoặc là họ Thạch (tập) hợp lại (được) ở giữa (nước, quốc gia), (rồi) có một tên (người khác) người ấy mưu mô soán đoạt (tranh dành quyền lực), may (mắn là) có đại thần hết lòng trung (thành với) nhà vua, đề phòng cẩn thận (cố) gắng (hết) sức, hết thẩy (sự) khinh thường (lấn áp) bên ngoài không tan rã (cũng bị) tự tan mất, tuy loạn mà lại (vẫn được cai) trị (họ Lưu hay họ Thạch ngồi lại được, tại chức không bị truất phế).

Lời bàn: Đồ hình này là để tiếp diễn đồ hình 54 “thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt thì, hào lệnh bất hành”. Một bản Thôi Bối đồ khác bổ xung những chữ bị mất.

sấm viết lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức cẩu an, tuy tiếu diệc khốc.

tụng viếtbất phân ngưu thử dữ ngưu dương, khứ mao tồn (cách 革 – thượng hưởng 尚饗) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng

Tạm lược dịch:

Sấm viết: tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, (trác tức 啄 息: than thở, thở ngắn thở dài từng cơn, thở phào ra …) tạm yên, tuy cười lại khóc.

Tụng viết: Chẳng chia ra trâu (với) chuột cùng với (hay là) trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn ? (cách 革: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng 享: hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) – thượng hưởng 尚饗(ngõ hầu mới được hưởng mà) xưng (là) mạnh (cường quốc), trong cõi giữa tự có chân long (thánh quân) xuất hiện, chín khúc hoàng hà nước chẳng vàng.

“lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức (thở phào ra) cẩu an (tạm yên), tuy tiếu diệc khốc”.

Lời bàn: Câu sấm này rất hay: tưởng như là chủ nghĩa CS lỗi lạc tài ba hơn người, nhưng rồi một cuộc cờ tàn (sự tan rã của khối CS), CS TQ và VN mới “đổi mới” biến chế CN CS theo CN CS/TB biến hoá từ CS chuyên chính vô sản thành độc tài CS lai TB, và trở thành chủ nghĩa vỏ CS ruột tư bản, nhưng vẫn phải dựa vào chủ thuyết CS để giữ lấy vị trí dộc tôn để được “cẩu an” tạm yên và được “thượng hưởng 尚饗” (ngõ hầu mới được hưởng thụ đủ mọi thứ), nhưng câu “tuy tiếu diệc khốc” mới thực là thấm thía tình cảnh của CS TQ hiện nay (mất phương hướng, lý tưởng), bế tắc hoàn toàn nên sẽ phải đi tới “thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sócdiệc cửu hợp tất phân chi trưng dã”. Đã tới thời kỳ cuối cùng rồi (nên phải phân rã mỗi vùng tự trị tự rã trả về cho các dân tộc như trước khi bị xâm chiếm).

Lời bàn: Từ đồ hình 54 để hiểu phần tiếp diễn của đồ hình số 55:

“cụ tắc sanh giới “.

Thực thi pháp luật (độc tài) quá tàn ác nên các vùng (bị xâm chiếm) sợ hãi giới hạn, phòng bị, “cẩu an” (bị đè nén, nhưng bên trong rối loạn ngầm) đưa tới cảnh báo là.

“vô viễn vật giới ” ở những nơi xa (các nước khác) đừng nên tới (du lịch), vì đang tàng ẩn một mối nguy cơ ngầm rất lớn (nguy cơ phân rã rối loạn) đến nối người đàn bà phải chắp tay cầu trời “thủy biên hữu nữ, đối nhật tự bái”.

Mà cho dù có “kí du 覬覦 thần khí chung vô dụng” (cho dầu có cầu) mong (hay là mong ước) thần (thánh) (rồi) sau (cũng) chẳng (có) tác dụng (hay công dụng gì cả), việc rối loạn phân rã rồi cũng sẽ phải đến.

Khi sự phân rã ra rồi thì sẽ có người họ Lưu hay họ Thạch mới thống nhất một khối dân tộc nào đó về vùng trung nguyên (chữ trung nguyên 中原: khoảng giữa của nước TQ chứ không phải là cả nước Trung Quốc).

Người họ Lưu hay Thạch này (không phải là thánh nhân hay thánh quân để thống nhất lại được toàn bộ lại TQ) vì có tiểu tâm mà muốn (hoài bão) ôm mọi người (thống nhất lại TQ), nhưng rồi lại có người khác tranh dành quyền lực (nơi trung nguyên của họ Lưu hay Thạch), các nơi khác dòm ngó và dự định chiếm lấy vùng trung nguyên, mà họ Lưu hay họ Thạch đã tập hợp số người chiếm lấy được vùng trung nguyên làm nước mới thành lập sau khi bị phân rã, nhờ có những người vì tiết nghĩa (đại thần) hết lòng phò trợ nên các nơi khác bỏ ý định chiếm lấy trung nguyên “nhất thiết ngoại vũ bất diệt tự diệt”, cho nên tuy còn rối loạn nhưng nước mới thành lập vẫn giữ được “tuy loạn nhi diệc trì dã”. Giữ lại dược nhưng “vị tất hà sơn thị ngã tống ” chưa hẳn (là) sông núi ấy (đất nước TQ trước khi phân rã) đưa (tới) (hay là trở về) cho ta (TQ cũ).

Trong đồ hình này có điểm lạ so với các đồ hình khác vì có những chữ : Nữ là nữ nhân mà cũng là sao Nữ, dực là cánh chim, che chở, giúp … mà cũng là sao Dực, tâm là tim, giữa … cũng là sao Tâm, nguy là cao ngất, nguy nan và cũng là sao Nguy đều ở trong nhị thập bát tú.

 

第五十六象 己未 坤下坎上 比

56 讖曰:
飛者非鳥 潛者非魚
戰不在兵 造化游戲

頌曰:
海疆萬里盡雲煙 上迄雲霄下及泉
金母木公工幻弄 干戈未接禍連天

金聖嘆:「此象軍用火,即亂不在兵之意。頌雲,海疆萬里,則戰爭之烈,不僅在於中國 也

Đệ ngũ lục tượng: Kỷ vị Khôn hạ Khảm thượng Bỉ

Sấm viết: phi giả phi điểu, tiềm giả phi ngư, chiến bất tại binh, tạo hóa du hí

Tụng viết: hải cương vạn lí tẫn vân yên, thượng hất vân tiêu hạ cập tuyền, kim mẫu mộc công công huyễn lộng, kiền (can) qua vị tiếp họa liên thiên

Kim Thánh Thán: thử tượng quân dụng hỏa, tức loạn bất tại binh chi ý, tụng vân, hải cương vạn lí, tắc chiến tranh chi liệt, bất cận tại vu Trung Quốc dã

Tạm lược dịch:

Sấm viết: cái đó (ấy) bay (được mà) chẳng phải (là con) chim (hoả tiễn, phi tiễn, phi cơ …), cái đó (ấy) ngầm ẩn dấu (bơi lặn được trong nước mà) chẳng phải (là con) cá (tầu ngầm, thuỷ ngư …) chiến tranh chẳng ở tại binh (lính), tạo hoá (trời đất) rong chơi đùa giỡn (con người mà chế tạo dược những điều trên cứ như là tạo hóa làm ra những đồ chơi).

Tụng viết: (từ xa) vạn dặm bờ (cõi trên) biển hết thẩy (tất cả đều) đầy khói lửa mù mịt, (từ xa) khoảng mây cao trên trời (cho) đến (tận) dưới suối nguồn (ở trong rừng) (khói lửa mù mịt từ trên trời dưới biển cho đến ở sâu trong rừng thẳm), cha gỗ mẹ sắt khéo làm nên sự huyễn lộng (từ những vật liệu từ gỗ sắt thôi, mà khoa học kỹ thuật sau này đã đến trình độ vô cùng tối tân hiện đại, làm ra những điều tưởng không thể tưởng tượng nổi mà lại chế tạo ra được, cứ tưởng như chỉ nói đùa giỡn chơi thôi mà hoá ra đó lại là có thật).

Kim Thánh Thán: hình tượng này là việc quân sự dùng lửa (vũ khí), ý tức là loạn (giặc giã) không ở tại binh lính (không dùng binh lính để đánh nhau), ca tụng rằng: (ở nơi từ xa vạn dặm ở ngoài biển (biên giới, hải giới), (ấy thế mà xẩy ra) chiến tranh thời rất ác liệt (dữ dội), chẳng (đánh cận chiến) ở tại (trên đất) Trung Quốc vậy. (chiến tranh xẩy ra bằng vũ khí hiện đại, từ nơi ở xa đánh tới, dùng phi cơ, phi tiễn, tầu ngầm, tầu chiến… để đánh vào trận địa chiến trên đất nước Trung Quốc, không dùng binh lính xâm nhập vào để đánh cận chiến trên đất nước Trung Quốc) .

 

第五十七象 庚申 兌下兌上 兌

57 讖曰:
物極必反 以毒制毒
三尺童子 四夷讋服

頌曰:
坎離相剋見天倪 天使斯人弭殺機
不信奇才產吳越 重洋從此戢兵師

金聖嘆:「此象言吳越之間有一童子,能出奇制勝,將燎原之火撲滅淨盡,而厄運自此終矣,又一治也

Đệ ngũ thất tượng: Canh Thân Đoái hạ Đoái thượng Đoái

Sấm viết: vật cực tất phản, dĩ độc chế độc, tam xích đồng tử, tứ di triệp phục

Tụng viết: Khảm Li tương khắc kiến thiên nghê, thiên sử tư nhân nhị sát ky, bất tín kì tài sản Ngô Việt, trọng dương tòng thử tập binh sư

Kim Thánh Thán: thử tượng ngôn Ngô Việt chi gian hữu nhất đồng tử, năng xuất kì chế thắng, tương liệu nguyên chi hỏa phác diệt tịnh tẫn, nhi ách vận tự thử chung hĩ, hựu nhất trì dã

Tạm lược dịch

Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) để chế ngự ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích còn có nghĩa là sắc đỏ, phương Nam), bốn bên sợ (mà) bội phục.

Tụng viết: Trong cõi bầu trời nhỏ (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến Người ấy (Thánh nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là Người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí.

Kim Thánh Thán: cảnh tượng này nói ở trong khoảng (đất nước của) Ngô – Việt có một người con trai, có tài năng kì lạ làm ra được (bãi binh, buông vũ khí), coi như là nguồn gốc của lửa bốc cháy (ngọn lửa chiến tranh được dập tắt) tan mất (các nơi) hoàn toàn tĩnh lặng (được thanh bình), thời vận khốn ách khổ sở bèn tự nhiên mà kết thúc vậy, lại cùng (nhau) sửa chữa (xây dựng lại đất nước).

Chú thích: Nước Ngô – Việt: Các nước Việt nho nhỏ ở Hán Đông tan rã, nhưng lại nổi lên hai nước cùng dòng tộc Việt khác rất nổi tiếng thời Đông Châu cũng gọi là thời Xuân Thu hay Chiến Quốc, đó là nước Ngô và nước Việt.

Nước Ngô ở vào tỉnh Giang Tô ngày nay. Vua nước Ngô lúc đó là Thọ Mông. Một phản tướng của nước Sở là Khuất Vu chạy trốn qua nước Tấn nên tộc đảng bị vua Sở đem chém hết. Khuất Vu tức giận, đổi tên là Vu Thần, bày mưu cho vua nước Tấn là Tấn Cảnh Công sang giao hiếu với nước Ngô, dạy cho nước Ngô về binh pháp, chế tạo vũ khí để mượn tay nước Ngô đánh phá nước Sở. Vu Thần lại cho con là Hồ Dung sang làm quan ở nước Ngô. Từ đó nước Ngô hùng mạnh lên, chiếm các nước Việt Hán Đông của nước Sở.

Nước Ngô nổi tiếng về tài đúc kiếm. Thanh kiếm Can Tương và Mạc Gia rất nổi tiếng được sử Tàu nói đến nhiều. Vì có tài luyện kim, đúc kiếm, chế tạo vũ khí nên kho vũ khí rất dồi dào. Nước Ngô lại được phản tướng nước Sở là Ngũ Viên tự là Ngũ Tử Tư sang đầu, rèn luyện quân binh rất hùng mạnh. Nước Ngô lại được thêm Tôn Vũ là người Việt nước Ngô. Tôn Vũ là một chiến lược gia, viết bộ Binh Thư, thường được biết dưới tên “Tôn Ngô Binh Pháp” nổi tiếng cho đến ngày nay các nhà quân sự vẫn còn áp dụng. Có thể nói nước Ngô là nước mạnh nhất thời đó. Ngũ Tử Tư vì muốn báo thù vua Sở nên xúi vua Ngô đánh nước Sở. Vua Ngô là Hạp Lư đem quân đánh Sở, vào chiếm kinh đô nước Sở là Dĩnh Đô, vua Sở phải bỏ chạy. Vua Ngô Hạp Lư lập con vua Sở là công tử Thắng làm vua rồi rút quân về. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua nước Ngô, thế lực bao trùm cả các nước chư hầu nhà Châu. Ngô Phù Sai triệu tập các nước chư hầu nhà Châu để xưng Bá thay cho nước Tấn. Đây là lần đầu tiên một nước Việt tộc đã làm bá chủ các nước Hoa tộc và sau đó một nước Việt tộc khác là U Việt của Câu Tiển lên làm bá chủ thay Phù Sai.

Phía dưới nước Ngô, có nước Việt tức U Việt, nay là tỉnh Chiết Giang. Vua nước Việt là Dõan Thường chăm lo sửa sang triều chính, dùng người hiền lương, thương mến dân nên nước mỗi ngày mỗi cường thịnh. Vua nước Ngô là Dư Sái thấy thế đâm lo lắng sai tướng sang đánh nước Việt, bắt được tướng Việt là Tôn Nhân đem về chặt chân sai giữ thuyền vua. Một hôm Dư Sái ngự chơi thuyền, uống rượu say rồi ngủ quên. Tôn Nhân cởi thanh gươm của Dư Sái, đâm Dư Sái chết. Bọn nội thị xúm lại giết Tôn Nhân. Từ đó giữa nước Ngô và nước Việt có mối thù khiến hai nước cùng chung dòng giống Việt này gây chiến muốn tiêu diệt lẫn nhau.

Nước Việt cũng rất giỏi nghề luyện kim đúc kiếm, đúc đồng pha. Tương truyền vua nước Việt có 5 thanh kiếm quý do kiếm sư Âu Gia Tử luyện ra. Vua Ngô là Thọ Mông nghe tiếng muốn lấy nên vua Việt phải dâng 3 thanh kiếm, đó là các thanh Ngư Trường, Ban Dĩnh và Trạm Lư.

 

第五十八象 辛酉 坎下兌上 困

58 讖曰:
大亂平 四夷服
稱兄弟 六七國

頌曰:
烽煙淨盡海無波 稱王稱帝又統和
猶有煞星隱西北 未能遍唱太平歌

金聖嘆:「此象有四夷來王,海不揚波之兆。惜乎西北一隅尚未平靖,猶有遺憾,又一治 也

Đệ ngũ bát tượng: Tân Dậu Khảm hạ Đoái thượng Khốn

Sấm viết: đại loạn bình, tứ di phục, xưng huynh đệ, lục thất quốc

Tụng viết: phong yên tịnh tẫn hải vô ba, xưng vương xưng đế hựu thống hòa, do hữu sát tinh ẩn Tây Bắc, vị năng biến xướng thái bình ca

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu tứ di lai vương, hải bất dương ba chi triệu, tích hồ Tây Bắc nhất ngung thượng vị bình tĩnh, do hữu di hám, hựu nhất trì dã

Tạm lược dịch

Sấm viết: loạn lớn được yên bình, bốn bên vui lòng nghe theo, cùng nhau xưng danh là anh em, sáu bẩy nước (sau trận chiến kinh hoàng, nước Trung Hoa chia ra làm 6 hay 7 nước, các nước bị dân tộc Hoa Hán chiếm lấy Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Hán …dành lại được độc lập, thành lập lên nước mới như thời Xô Viết tan rã ).

Tụng viết: biển lặng sóng khói lửa tan mất, hết thẩy (mọi nơi) đều được yên tĩnh, (các nước tự) xưng danh vua chúa (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Hán … chia ra tự lập nền chính trị riêng) tất cả lại cùng nhau (sống) hoà thuận, bởi vì sát tinh lui ẩn về phương Tây Bắc, khắp nơi ca hát bài ca thái bình.

Kim Thánh Thán: tượng này lại có bốn bên (các nước chung quanh Trung Hoa, người Hán cho là các nước quang TH là man di mọi rợ, đã dành lại được nền độc lập lên làm) làm vua, có điềm báo biển cả chẳng còn nổi lên sóng dữ (trên thế giới), tiếc là đất ngoài nơi phương Bắc (vùng đất của người Hán vùng Hoa Hạ) còn chưa được bằng phẳng yên tĩnh, còn có sự hối tiếc (tiếc rẻ tranh dành chiếm lấy), lại phải sửa trị một lần nữa (phải đưa ra phân xử lại) vậy (đất của người Hán chiếm lấy của các nước khác phải trả về nguyên chủ, nhưng vẫn còn có những tranh chấp chưa được thật sự ổn định).

 

第五十九象 壬戍 艮下兌上 咸

59 讖曰:
無城無府 無爾無我
天下一家 治臻大化

頌曰:
一人為大世界福 手執籤筒拔去竹
紅黃黑白不分明 東南西北盡和睦

金聖嘆:「此乃大同之象,人生其際,飲和食德,當不知若何愉快也。惜乎其數已終,其或反本歸原,還於混噩歟

Đệ ngũ cửu tượng: Nhâm thú Cấn hạ Đoái thượng Hàm

Sấm viết: vô thành vô phủ, vô nhĩ vô ngã, thiên hạ nhất gia, trì trăn đại hóa

Tụng viết: nhất nhân vi đại thế giới phúc, thủ chấp thiêm đồng bạt khứ trúc, hồng hoàng hắc bạch bất phân minh, Đông Nam Tây Bắc tẫn hòa mục.

Kim Thánh Thán: thử nãi đại đồng chi tượng, nhân sanh kì tế, ẩm hòa thực đức, đương bất tri nhược hà du khoái dã, tích hồ kì sổ dĩ chung, kì hoặc phản bổn quy nguyên, hoàn vu hỗn ngạc dư, thử tượng nãi thuyết thị thiên hạ đại đồng, địa cầu thượng tái vô quốc gia dữ chánh phủ, nhân chủng kinh đại hỗn chủng, sử phu sắc hỗn đồng, thế thượng tái vô bất đồng phu sắc chi chủng tộc

Tạm lược dịch

Sấm viết: không còn thành trì, không còn quan phủ (ẩn nghĩa là không còn chất chứa oán hận nhau nữa), không (cái này) là của anh hay của tôi, trên dưới một nhà (thế giới đại đồng), sửa chữa trừng trị (những điều sai trái) (tự) cảm hoá to lớn (ở bên trong mọi người).

Tụng viết: một người (mà) làm cho thế giới to lớn này được hướng phúc, nắm tay nhau cùng ký kết (hoà ước, thoả thuận, tương trợ …), (mọi sắc tộc) da đỏ vàng đen trắng chẳng chia rẽ (không còn kì thị sắc tộc nữa), Đông Nam Tây Bắc (các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc) hết lòng sống cùng nhau hoà thuận thân tín kính trọng lẫn nhau.

Kim Thánh Thán: tượng này là hình tượng hoà vui cùng nhau, mọi người cùng sống giao tiếp với nhau (hoà ái), ăn uống thuận hoà cùng (sống) nhau đức độ (không tranh giành quyền lợi), đang (ở trong thời này) chẳng biết được sao (những người ở trong thời đó) lại được hưởng vui vẻ sung sướng (đến) như vậy ?, tiếc vậy (tiếc quá) đã hết số rồi, lại ngờ (rằng) phản bản (thể) (để) quay trở về nguồn gốc (cũ), trở lại ở (thời) (mà trời đất còn) hỗn độn (chưa phân chia ra) thật đáng là kinh ngạc vậy thay !.

Tượng này nói rng thiên h đi đng, trên trái dt (này) li (tr v thi mà) chng có quc gia cùng chánh ph (cai tr) (ging như trên niết bàn, thiên đường hay thiên gii vy), con người tri qua (thi kì) đi hn tp chng tc, khiến cho mi mu da sc tc cùng hn hp đng nht vi nhau, trên thế gian này li tr v (thi kì nguyên thu) (chng còn phân bit) màu da sc tc (vi nhau na).

 

第六十象 癸亥 坤下兌上 萃

60 讖曰:
一陰一陽 無始無終
終者自終 始者自始

頌曰:
茫茫天數此中求 世道興衰不自由
萬萬千千說不盡 不如推背去歸休

金聖嘆:「一人在前,一人在後,有往無來,無獨有偶,以此殿圖,其寓意至深遠焉。無象之象勝於有象。我以不解解之,著者有知當亦許可

Đệ lục thập tượng: Quý Hợi Khôn hạ Đoái thượng Tụy

Sấm viết: nhất âm nhất dương, vô thủy vô chung, chung giả tự chung, thủy giả tự thủy

Tụng viết: mang mang thiên sổ thử trung cầu, thế đạo hưng suy bất tự do, vạn vạn thiên thiên thuyết bất tẫn, bất như thôi bối khứ quy hưu

Kim Thánh Thán: nhất nhân tại tiền, nhất nhân tại hậu, hữu vãng vô lai, vô độc hữu ngẫu, dĩ thử điện đồ, kì ngụ ý chí thâm viễn yên, vô tượng chi tượng thắng vu hữu tượng, ngã dĩ bất giải giải chi, trứ giả hữu tri đương diệc hứa khả.

Tạm lược dịch

Sấm viết: một âm một dương, chẳng trước không sau, sau lại tự nhiên sau, trước lại tự nhiên trước.

Tụng viết: số (vận của) trời (thật là) mênh mông ấy thế (mà lại) tìm (trở về) sự quân bình, đạo lí của (trần) thế thịnh suy chẳng bởi tự nhiên do (mình làm ra) (mà là đạo lí của trời đất tự nhiên là như vậy), muôn ngàn lời nói chẳng (diễn tả) ra được hết, chẳng bằng (như) thôi bối (đẩy vai nhau) đi (rồi) về (lại) nghỉ ngơi.

Kim Thánh Thán: một người đàng trước một người sau, có đi chẳng lại, chẳng đơn có đôi, lấy thế (làm thành) đồ hình, lại ngụ ý rất thâm sâu xa vậy, chẳng tượng hình (mà lại) thành ra hình tượng, có được ở nơi hình tượng, ta chẳng thể giải thích (được hết thấu đáo) vậy, (Thôi Bối Đồ) trứ danh (như vậy) ấy thế (mà) (người) đang (thời) có biết (đến thì cũng chỉ nói) … ừ (cũng tạm) được !!!

 

第六十一象 歲星逆行

61 讖曰:
歲星逆行
諸事不吉
一二九六
換課為宜

頌曰:

Đệ lục thập nhất tượng Tuế tinh nghịch hành

Sấm viết: Tuế tinh nghịch hành, chư sự bất cát, nhất nhị cửu lục, hoán khóa vi nghi (Tuế tinh (sao Thái Tuế-Mộc tinh) đi ngược, mọi việc chẳng tốt, một hai chín sáu, quẻ thay đổi nên mới gây ra như vậy – )

 

One Comment
  1. thientrungnhan permalink

    Tình trạng Trung – Nhật hiện nay câu “Sấm viết: cụ tắc sanh giới, vô viễn vật giới, thủy biên hữu nữ, đối nhật tự bái”

    Còn có nghĩa: Cụ tắc sanh giới 戒 (Vì lo sợ nên đề phòng cảnh giới), vô viễn vật 勿 giới 屆 (chớ có đi xa hơn thế nữa) thủy biên hữu nữ 女 : nữ (con gái) còn là âm ngữ chữ 汝: nhữ (mày), nên có thế tạm dịch đại ý là: “có mày (Nhật Bản) đứng (ở) bên bờ nước (bờ biển, biên giới hải phận…,), (TQ) đối diện với nhật (mặt trời, Nhật Bản) mà lạy (chữ bái 拜: lạy, trao cho và cũng còn có nghĩa là bẻ cong).
    Hai bên vì lo sợ nhau (Trung – Nhật) nên đề phòng cảnh giác răn đe nhau chớ có đi xa quá giới hạn, hai bên trao công hàm phản đối nhau, bên (TQ) đối diện (với Nhật, mặt trời) mà trao công hàm hoặc bẻ cong sự thật.

    Kê tiếp là: “Tụng viết: kí du thần khí chung vô dụng, dực dực tiểu tâm hữu thần chúng, chuyển nguy vi an kiến tiết nghĩa, vị tất hà sơn thị ngã tống”.

    Cũng vì thế nên từ Quẻ 55 mới chuyển sang quẻ 56

    “Sấm viết: phi giả phi điểu, tiềm giả phi ngư, chiến bất tại binh, tạo hóa du hí

    Tụng viết: hải cương vạn lí tẫn vân yên, thượng hất vân tiêu hạ cập tuyền, kim mẫu mộc công công huyễn lộng, kiền (can) qua vị tiếp họa liên thiên

    Kim Thánh Thán: thử tượng quân dụng hỏa, tức loạn bất tại binh chi ý, tụng vân, hải cương vạn lí, tắc chiến tranh chi liệt, bất cận tại vu Trung Quốc dã.

    Trong bài sấm Trạng có câu:

    Phi đĩnh lăng vân vị túc kì

    飛艇 夌 雲 未 足 奇

    Thần cơ tại ngã thế nan khuy

    神机 在 我 世 难 窺

    Tây dương tẩu Bắc hoàn vô lộ

    西洋 走 北 还 無 路

    Việt điểu sào Nam lạc hữu chi

    越鳥 巢 南 樂 有 枝

    Thủy phún thành băng kinh Nhật Bản

    水 噴 成 冰 驚 日 本

    Phong thừa phá lãng tẩu Hoa Kỳ

    風 乘 破 浪 走 華 旗

    Trong Sấm ký, sự liền lạc liên tục thứ tự các câu chữ các quẻ rất quan trọng, cho biết thời gian, tính chất, sự kiện của diễn tiến xẩy ra, dựa vào Sấm ký để mưu đồ riêng chỉ cần đảo lộn câu chữ, thứ tự là đã khác hẳn ý nghĩa chính của Sấm ký.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: