Skip to content

Thân Dậu niên lai kiến thái bình p.1

02/04/2009

THÂN DẬU NIÊN LAI KIẾN THÁI BÌNH

Xuân Đấu     8/17/2006

"Thân Dậu niên lai kiến thái bình". Câu sấm nổi tiếng của cụ Trạng Trình gây niềm hy vọng lớn lao trong lòng người Việt mỗi độ xuân về. Con Khỉ đã chuyền cành đi mất, nhường chỗ cho Gà lại. Một năm Thân vừa qua với cuộc chiến tranh do Mỹ chủ động nhằm lật đổ bạo quyền Sadam Husseine, tuy chưa giúp mang lại hòa bình cho Iraq, nhưng người dân xứ sa mạc đầy dầu hỏa này tương đối dễ thở hơn. Dù dưới áp lực nặng nề của phiến quân, Iraq vẫn kiên quyết tiến tới một cuộc bầu cử mang tính chất dân chủ hầu tạo dựng hòa bình cho xứ sở của họ. Cuộc chiến diệt trừ phiến quân vẫn còn tiếp tục. Những cảnh giết người man rợ qua hình thức chặt đầu con tin và bom tự sát (suicide bombers) của bọn phiến quân khủng bố vẫn còn tiếp diễn, nhờ vậy ứng thêm với câu sấm của ngài Trình Quốc công là Thân phải thêm Dậu nữa mới kiến thái bình, nếu câu sấm này có tính cách toàn cầu. Một năm Thân chưa đủ, phải thêm năm Dậu mới hoàn hảo, mới hy vọng hết đi nạn khủng bố. Cuối năm Thân mà Mỹ tiếp tục đổ thêm quân vào Iraq, cho thấy quyết tâm của họ trong việc dứt điểm phiến quân và xây đắp hòa bình cho Iraq. Afghanistan (A-Phú Hản) có vẽ đở hơn, cũng đang trên đường tiến tới Hòa Bình sau khi chính quyền Taliban của xứ này bị lật đổ. Arafat của Palestine qua đời, tân tổng thống Mahmoud Abbas thay thế, được thủ tướng Do Thái gọi điện thoại chúc mừng và hứa sẽ hội kiến với điều kiện Palestine chấm dứt khủng bố. Tình hình Trung Đông nhờ đó có thể lắng dịu phần nào. Việt Nam tuy vẫn còn bị đặt dưới sự cai trị độc tài của Cộng sản và vẫn bị Hoa Kỳ xem là một trong những quốc gia cần quan tâm đặc biệt vì sự đàn áp tôn giáo và chà đạp nhân quyền của đảng qua guồng máy cai trị hiện nay; nhưng có vài triệu chứng cho thấy bạo quyền này đang nới lỏng tay dần. Mặc dù mục đích của sự nới lỏng là nhằm thu hút việc đầu tư của một số quốc gia trên thế giới hầu giới chức lãnh đạo Cộng sản tiếp tục tham nhũng; nhưng nhờ vậy, người dân trong nước dể thở hơn. Hành động chen chân vào cho bằng được tổ chức ASEAN năm 1995 là một bằng chứng cụ thể. Nên biết khối ASEAN được thành lập là nhằm chống lại sự bành trướng của Cộng sản; thế mà Việt Cộng vẫn xin vào, đủ cho thấy sự biến thể của chế độ đã cận kề. Việc mua phản lực cơ của Hoa Kỳ và cho phép United Airline đáp xuống phi trường Tân sơn Nhất là những dấu hiệu cho thấy sự sụp đổ dần dần nền kinh tế hoạch định, khép kín của Cộng sản. Ngày tàn của chế độ có thể không phải là một cuộc lật đổ chính quyền mà là sự mất dần ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản lỗi thời, của xã hội chủ nghĩa cổ hủ để nhường bước cho nền kinh tế thị trường tự do mang đầy tinh thần dân chủ. Ngày xưa, trước 1975, tôi thường thăm viếng hội Hồng Môn và thường được quý tu sĩ ở đây nhắc câu sấm của Trạng Trình: "Bất chiến tự nhiên thành" như là điều tiên đoán của họ về tình trạng đất nước sau này. Biết đâu câu sấm đó đang ứng nghiệm. Sự trở lại thân thiện với Hoa Kỳ của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam cho phép tôi chủ quan thêm. Sau khi bị Mỹ cấm vận hơn hai thập niên và sau khi Cộng sản Nga tan rã, Cộng sản Việt Nam ý thức rằng nếu tiếp tục kế hoạch kinh tế nghèo đói của họ, thế nào dân cũng loạn, cho nên họ phải van xin Hoa Kỳ. Biết đã đến lúc chín mùi, Hoa Kỳ cho bải bỏ cấm vận và tái thiết lập bang giao để đưa hai thứ vũ khí: thị trường kinh tế tự do cùng tình thần dân chủ của họ vào lại Việt Nam. Một khi dân hai miền, kể cả cán bộ nghèo đói của Cộng sản, nếm được mùi vị béo bở thơm ngon của các sản phẩm Hoa Kỳ và của các nước tự do khác trên thế giới thì thế nào cũng dần dần quên lãng những lời hứa cuội của Mác Lê nin, hay nói đúng hơn, quên đi cái gọi là thiên đường cộng sản họ được hứa khả. "Chủ nghĩa cộng sản tiêu diệt tư bản như chuyện tất nhiên" theo giọng điệu Karl Marx ở đâu không thấy, chỉ thấy các quốc gia tư bản ngày càng giàu, còn quốc gia cộng sản gần nửa thế kỷ nay vẫn nghèo đói, không đủ ăn, đến độ phải ngửa tay nhận viện trợ nhân đạo từ các quốc gia kia. Nhìn vào sự tan rã của khối Cộng sản Nga, ít nhiều gì chúng ta cũng rút tỉa được một vài bài học. Sự đột biến không phải tự dưng mà có. Nó đã âm ỉ từ lâu, từ cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh của công nhân thợ thuyền Ba Lan (1955), từ cuộc khởi nghĩa của nhân dân Hung Gia Lợi (1956), từ phong trào dân chủ của hiến chương Praha (1977), và phong trào Công Đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan vào đầu thập niên 80 (1981-1982). Dù các phong trào này bị đàn áp, nhưng ý thức dân chủ trong lòng người dân càng ngày càng bùng lên và lớn mạnh, để đến năm 1992, thì biến cố xảy ra với kết quả: liên bang Xô Viết hoàn toàn tan rã. Trung Hoa cũng vậy. Vụ Thiên An Môn với cuộc đàn áp dã man của chính quyền không làm nao núng tinh thần sinh viên và dân chúng. Ngược lại, ý thức tự do, dân chủ càng ngày càng lớn mạnh trong lòng người dân mà một cuộc nổi dậy lật đổ bạo quyền, hoặc một cuộc cải cách thay đổi ý thức hệ cùng guồng máy cai trị chỉ là kết quả tất nhiên trong tương quan nhân quả: "nước chảy đá mòn" mà thôi. Tây Tạng bị Trung Hoa thống trị trong mấy thập niên qua với mưu đồ tiêu diệt Phật giáo; nhưng chưa bao giờ người ta thấy Phật giáo Tây Tạng hưng thịnh trên thế giới như vậy. Đại Hàn, một nước bị hiểm họa Cộng sản và bị chia cắt như đất nước chúng ta trước 1975; nhưng với quyết tâm chống cộng và đấu tranh chống tập đoàn quân phiệt, Nam Hàn đã thành công trong việc dân chủ hóa đất nước. Nhà độc tài Suharto tháng 5 năm 1998 cũng đã bị dân chúng Indonesia lật đổ. Sadam Husseine, như đã nhắc đến ở trên, cũng bị Hoa Kỳ bắt tại Iraq và sắp ra tòa đền tội. Tình hình thế giới trong cái nhìn thoáng qua vừa rồi, đều mang một tính cách chung là: Cộng sản và độc tài, quân phiệt sớm muộn gì rồi cũng cáo chung. Ngược lại, tinh thần dân chủ, dù bị đàn áp, vẫn tiếp tục lớn mạnh. Tuy lớn chậm, nhưng chắc chắn. Đối với Việt Nam, sự thức tỉnh của một số cán bộ Cộng sản cùng sự tranh đấu của các nhà lãnh đạo Tôn giáo và các nhà trí thức trong việc bảo vệ nhân quyền, chống độc tài, độc đảng đã làm nẩy sinh tinh thần dân chủ trong lòng mọi người. Nền kinh tế của xã hội chủ nghĩa với các hình thức hợp tác xã lỗi thời, cùng sự kiện nhà nước quản lý doanh nghiệp đang dần dà chuyển mình sang kinh tế thị trường, cho thấy dấu hiệu của một sự thay đổi đang từ từ xảy ra. Cộng sản với thiên đường mù của thế giới đại đồng vì thế sẽ không còn tồn tại nữa. Làm sao tồn tại nỗi, khi mà nền kinh tế, cùng ý thức hệ của họ đang sáp lại gần với thế giới tự do và tư bản. Sự kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc mới đây của nhà cầm quyền Cộng sản, tuy nghịch lý và thiếu thành thật, nhưng cũng hé lộ dấu hiệu của ba chữ "kiến thái bình". Nghịch lý ở điểm thay vì họ là người phải hòa giải với chúng ta mới đúng; nhưng họ lại kêu gọi ngược lại, chúng ta phải hòa giải với họ, kèm theo mấy lời hăm he trừng phạt những Việt kiều phản động qua nghị quyết 36 vừa mới ban hành. Sự kêu gọi hòa hợp hòa giải này chỉ mang một chủ đích duy nhất là muốn chúng ta đừng chống họ nữa, để yên cho họ tiếp tục bóc lột và đày đọa dân lành còn kẹt lại trong nước. Rất tiếc, việc làm này, họ tưởng là khôn khéo, lại tạo nên dấu hiệu: "kiến thái bình". Tại sao như vậy? Cũng dể hiểu thôi! Mưu sâu thì họa thâm. Chính sự kêu gọi của họ, tuy không thực tâm, và chỉ muốn bày tỏ với thế giới thái độ yêu chuộng hòa bình giả tạo hầu thu hút đầu tư, vô tình tạo nên trong đầu óc dân chúng cùng cán bộ cộng sản một ước vọng sống chung hòa bình. Chính cái đòn hiểm độc này của họ trở lại hại họ một ngày không xa.

 

Một năm Thân vừa qua mới manh nha lập thuyết: "bất chiến tự nhiên thành", phải chờ thêm năm Dậu nữa, để gà cất tiếng gáy ó o đánh thức toàn dân Việt Nam ở trong nước cũng như hải ngoại, thì ánh nắng hòa bình mới ló dạng. Kiến là thấy, nên thấy được những tia nắng hòa bình cũng đủ đảm bảo cho một ngày mai tươi sáng đích thực. Có lẽ phải thêm hai năm kế tiếp nữa là năm Tuất và Hợi đất nước mới hoàn toàn âu ca, thịnh vượng như hai câu sấm khác của Trạng Trình:

 

"Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày"

 

Cái khó khăn của sấm Trạng Trình hay các sấm ký, giáng bút khác mà tôi sắp trình bày là sự xác định thời gian. Ngài chỉ nói: "Thân, Dậu niên lai kiến thái bình", nhưng không nói rõ Thân Dậu nào. Nếu Ngài cộng thêm thiên Can vào, chẳng hạn như Thân, Dậu phải là Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Thân, Quý Dậu, hay Mậu Thân, Kỷ Dậu, v.v… thì dễ cho chúng ta xác định thời gian biết bao. Song làm như vậy ngoài việc lậu thiên cơ, còn dễ đánh tan niềm hy vọng của mọi người, vì nếu không ứng hợp cho cặp Thân, Dậu lần này, người ta làm sao còn tuổi sống để chờ tới 60 năm sau (Lục thập hoa giáp) chứ! Như năm nay là năm Ất Dậu, muốn có một năm Ất Dậu kế tiếp, chúng ta phải đợi tới 60 năm nữa, chứ 12 năm sau, Ất Dậu chỉ thành Đinh Dậu. Thiên Can thì có mười: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; còn Địa chi có tới 12: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Cho nên thà không thêm thiên Can vào với địa chi vẫn hay hơn, vì nếu không ứng hợp với cặp Thân, Dậu kỳ này, chúng ta chỉ cần chờ 12 năm sau để suy nghiệm lại. Có lẽ vì biết cuộc sống ngắn ngủi rất hạn định của con người, cụ Trạng thường làm một lèo tới bảy năm như mấy câu sấm:

 

     "Long Hổ Xà đầu khởi chiến tranh

     Can qua tứ xứ khởi đao binh

     "Mã đề Dương cước anh hùng tận

     Thân Dậu niên lai kiến thái bình"

 

hoặc 8 năm như bài sấm "Rồng nằm bể cạn" cũng của cụ:

 

     "Rồng nằm bể cạn dễ ai hay

     Rắn mới hai đầu khó chịu thay

     Ngựa đã gác yên không người cuỡi

     Dê không ăn lộc ngảnh về tây

     Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

     Gà kia vỗ cánh chập chùng bay

     Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

     Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày"

 

Cụ làm vậy đặng chúng ta có hụt một chu kỳ thì chỉ bốn, năm năm sau là bắt đầu suy nghiệm trở lại, đặng hy vọng trở lại. Vì lý do khó xác định thời gian nên thường thường sự kiện xảy ra rồi, người ta mới nhận rõ. Cũng có khi câu sấm lại trùng với hai biến cố cách nhau 60 năm vì tính chất thường lập lại của chúng. Chẳng hạn như biến cố dùng máy bay giật sập hai tòa nhà chọc trời tại Nữu Ước ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra mới đây làm chấn động thế giới thì năm 1941, cách đây 60 năm, Mỹ cũng bị một trận tấn công khác bằng máy bay vào Trân Châu cảng do phi đội Thần Phong của Nhật thực hiện. Điểm giống nhau của hai biến cố này là:

 

– Cuộc tấn công bằng máy bay

– Các phi công đều quyết tử

 

Một điều lạ lùng nữa là trận tấn công Trân châu cảng năm 1941 này có tên là Tora Tora và trận đánh cuối cùng coi như dữ dội nhất của Mỹ tại Afghanistan năm 2001 cũng có tên gần giống như vậy: Tora Bora, khác nhau chỉ có một chữ "B". Thiên tai, kinh tế cũng có khuynh hướng lập lại sau 60 năm. Chẳng hạn như nền kinh tế của Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới trong tăm 1930 và 1990 có chung một đặc tính là suy thoái. Hoặc động đất lớn xảy ra tại Tân Cương năm 1906 thì năm 1966 lại xảy ra tại Hà Bắc. Tuy vậy, có khi biến cố lập lại, nhưng ý nghĩa hoặc đặc tính của biến cố lại khác nhau, chẳng hạn như Nga Sô, 60 năm trước, khi Cộng sản nắm chính quyền, sức mạnh của họ thật to lớn, đe dọa cả thế giới; nhưng 60 năm sau, Cộng sản Nga sô lại suy tàn. Hai biến cố này, nhìn vào đặc tính thì trái ngược nhau, nhưng nhìn vào tính chất biến đổi như sự biến đổi của Âm Dương trong kinh Dịch, thì giống nhau. Xem như vậy, lục thập hoa giáp (60 năm) mang một ý nghĩa thật đặc biệt trong sự lập lại của các biến cố. Từ đó suy ra mỗi 12 năm, hay một phần năm của lục thập hoa giáp cũng có nhiều biến đổi và trùng hợp hết sức quan trọng. Sự biến đổi và trùng hợp này thường ứng hợp với các câu sấm lưu truyền.

 

Sấm ký thật linh thiêng, nhưng sở dĩ người ta chưa suy đoán kịp những diễn biến sắp xảy ra một cách chính xác, phần là vì chúng ta chưa có một cơ sở suy luận vững chắc nào được thiết lập, phần là vì ý nghĩa khá ẩn tàng, bí mật, đôi khi còn mang nhiều cách lý giải đối nghịch nhau. Chẳng hạn như câu: "Bát Kê thử ư tử địa" với hình cây kiếm chém đứt đầu tám con gà do cụ Trạng Trình ghi trên mộ bia dựng tại vùng Cổ Am gần từ đường họ Trần ở trang ấp vua phong cho Hưng Nhược Vương Trần Quốc Tảng. Nhân đi ngang vùng này và sau khi làm lễ trong nhà từ đường họ Trần, Trình quốc công đã dựng mộ bia và lưu lại câu sấm khó hiểu kia. "Bát Kê thử ư tử địa" có nghĩa là tám con gà chết tại chỗ này, cùng hình ảnh thanh kiếm chém đứt đầu tám con gà là một bí ẩn lớn cho mọi người trong làng. Không ai hiểu nỗi ý Ngài muốn nói gì. Mấy trăm năm sau, có một chuyện xảy ra, người ta mới suy nghiệm được ý của Ngài. Số là quan toàn quyền Pasquier, người Pháp, sang cai trị Đông dương, lúc ra về, máy bay chở ông bay ngang làng Cổ Am thì bị nạn. Dân làng chạy đến chỗ xảy ra tai nạn, lôi được quan toàn quyền Pasquier ra, đặt nằm trên ngôi mộ do ngài Trình Quốc Công dựng nên vì ngôi mộ ở sát ngay chỗ phi cơ rớt. Dân làng sở dĩ đặt quan toàn quyền trên ngôi mộ là vì chỉ nơi đó, đất khô ráo và bằng phẳng. Thoạt tiên, không ai biết người rớt máy bay là quan toàn quyền. Đến khi chính quyền địa phương tới nơi, cho biết, dân chúng mới vỡ lẽ, hiểu được cách chơi chữ của Trình Quốc công trong câu sấm của Ngài. Chữ Pasquier đọc âm theo tiếng Việt là Bát Kê. Dân Việt Nam thường gọi Pasquier là Bát Kê, nên câu sấm: "Bát Kê thử ư địa" không còn nghĩa: "tám con gà chết tại chỗ này" nữa, mà trở thành: "Bát Kê chết tại chỗ này", hay "Pasquier chết tại chỗ này". Thật là ảo diệu! Còn có hai câu sấm khác cũng của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, xác định thêm biến cố này. Đó là:

 

     "Giữa năm hai bảy mười ba

     Lửa đâu mà đốt Tám Gà trên mây"

 

Năm hai bảy mười ba là năm âm lịch nhuần hai tháng Bảy thành 13 tháng. Năm đó đúng là năm Pasquier bị chết. Còn câu thứ hai mô tả chính xác chuyện máy bay chở Pasquier, tức Bát-Kê, tức tám gà, bị bốc lửa lúc còn bay trên mây.

 

Cái chết của Pasquier được Trình Quốc công tiên tri mấy trăm năm về trước đã là điều lạ lùng, mà nguyên nhân đưa đến cái chết của ông lại là điều khiến người ta vô cùng kinh dị. Trước khi bay về Pháp và bị tử nạn, toàn quyền Pasquier có ghé lại đền thờ Trấn Bắc đại tướng quân Hoài văn hầu Trần Quốc-Toản ở Cửa-ông, lấy trộm thanh gươm ở đó mang về. Thanh gươm này có tên là Dương-kiếm, cùng với Âm-kiếm thành một cặp tên là Âm-Dương song kiếm, do đức thánh Trần Hưng Đạo dùng quý kim đúc lúc chống giặc Mông-cổ. Tương truyền Âm-kiếm bị thượng tướng Trần Nguyên-Hãn đem trấn yểm long mạch của tổ tiên vua Lê, nên kiếm mất tích từ đó. Còn lại Dương-kiếm, Hưng Đạo Vương trao cho Hoài-văn hầu Trần Quốc-Toản và Hoài-văn hầu đã dùng kiếm đó giết chết thế tử Toa Đô trong trận Hàm-tử. Sau khi Hoài-văn hầu qui tiên, Dương-kiếm được đặt trên bàn thờ ngài tại Cửa-ông. Tương truyền Dương-kiếm rất linh thiêng, các danh tướng làm lễ mượn kiếm chống giặc đều thành công. Chẳng hạn như thượng tướng Trần Nguyên-Hãn đã mượn Dương-kiếm cắt đầu Liễu-Thăng trong trận Chi Lăng. Vua Quang Trung cũng dùng Dương-kiếm giết chết Sầm Nghi Đống và Hứa Thế-Hanh. Tướng Cờ đen Lưu-vĩnh-Phúc cũng mượn kiếm và nhờ đó lấy đầu đại úy Francis Garnier cùng đại tá Henri Rivière tại Cầu-giấy. Sau khi thành công, các danh tướng đều làm lễ trả kiếm lại đền thờ đàng hoàng nên không hề hấn gì. Quan toàn quyền, ỷ mình quyền thế nhất nước, đã ngang nhiên vào đền thờ chiếm đoạt thanh kiếm làm của riêng, khiến Hoài-văn Hầu hoặc quỷ thần bảo hộ kiếm giết chết. Dân Việt chúng ta, ở thời đó, ai cũng nghĩ vậy, nên càng kính sợ sự linh thiêng của Hoài văn-Hầu hơn. Từ đó người ta kéo về chiêm bái lễ lạy ngài rất đông. Theo Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ cho biết, sau khi toàn quyền Pasquier chết, kiếm báu vẫn được đưa về Pháp và lần lượt qua tay hơn chục người; nhưng người nào giữ kiếm cũng bị chết rất thảm khốc. Trần Đại Sỹ nghĩ rằng những người giử kiếm bị thảm tử như vậy có lẽ vì lời nguyền của Hoài văn-hầu Trần Quốc-Tuấn: "Kiếm này của giòng họ Đông-A, dùng để trấn quốc. Chỉ con cháu ta mới được giữ. Kẻ nào không phải con cháu ta, không dùng để tru diệt quốc tặc mà lưu giữ, thì sẽ tản hồn, hủy phách mà chết". Trần Đại Sỹ còn kể thêm một chuyện xảy ra dưới thời Đệ nhị Cộng hòa (1964-1973). Viên phi công Hoa-Kỳ bị bắn hạ sau khi oanh tạc Cửa-ông, gây hư hại đến 70%. Viên phi công này bị bắt vào tù và ở trong tù ông hóa điên, rồi chết. Sau 75, Cộng sản có đến phá khuấy đền, nhưng bị quỷ thần trừng phạt, đâm ra sợ, không dám đụng tới nữa. Sự linh thiêng của Dương-kiếm và đền thờ Cửa-ông cùng sự mầu nhiệm của câu sấm Trình Quốc-công để lại đã ghi chặt trong tâm tưởng những người con dân Việt yêu nước một niềm hãnh diện về tiền nhân, và một niềm tin vững chắc vào sự phò trợ của các ngài. Đất nước chúng ta tuy bị nhiểu nhương, khổ ách bởi thực dân Pháp và Cộng sản hơn hai thế kỷ nay vì ảnh hưởng của luật nhân quả trong việc cha ông chúng ta tiêu diệt Chiêm thành cùng Thủy Chân Lạp; song chúng ta vẫn tin chắc rằng một ngày rất gần đây, khi nhân quả đã trọn, đất nước sẽ hòa bình âu ca thực sự. Các sấm ký của Trình quốc công, của Nostradamus, và các bài giáng bút của Ngài Tuệ Trung Thượng sĩ cùng công chúa Liễu Hạnh đều xác nhận điều này. Chỉ còn thời điểm là tùy thuộc vào sự suy luận thật sáng suốt của chúng ta vì dẫu sao thiên cơ cũng bất khả lậu và sấm ký chỉ nhằm trao cho người hữu duyên.

 

Sấm ký có rất nhiều, không phải chỉ có từ thời Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) mà trước đó đã thấy xuất hiện. Chẳng hạn như trong tác phẩm Anh-hùng Tiêu Sơn, Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ có nhắc tới bài sấm-ký Cổ-pháp, dài mười câu, mỗi câu bốn chữ, được truyền tụng từ thời vua Lê Ngọa Triều (Lê Long Đỉnh) như sau:

 

     "Mộc căn diểu diểu,

     Mộc biểu thanh thanh.

     Hòa đao mộc lạc,

     Thập bát tử thành.

     Đông -a nhập địa,

     Dị mộc tái sinh.

     Chấn cung xuất nhật,

     Đoài cung ẩn tinh.

     Lục thất niên gian,

     Thiên hạ thái bình."

 

Dịch nghĩa là:

 

     "Gốc cây kia đã cỗi

     Cành cây xanh xanh

     Cái đao bằng gỗ hòa rơi xuống

     Mười tám người thành công

     Đông-A vào đất

     Cây kỳ lạ sống lại

     Mặt Trời xuất từ phương Đông

     Phương Tây có ngôi sao ẩn

     Thời gian sáu bảy

     Toàn dân thái bình"

 

Bài sấm-ký chỉ vỏn vẹn có bốn mươi chữ mà tiên đoán vận mệnh nước Việt Nam trong khoảng gần một ngàn năm. Tương truyền bài sấm-ký này được phát hiện trên một mảnh cây gạo ở châu Cổ-pháp khi cây này bị sét đánh nứt làm đôi. Bài sấm đã được các thiền sư Vạn Hạnh, Bố Đại, Sùng Phạm, và một thầy địa lý giải đoán rất chính xác về tình hình các triều đại Lê, Lý Trần. Các ngài chỉ kiến giải tới đó thôi, rồi dừng, cư sĩ Trần Đại Sỹ đã luận tiếp cho đến triều đại nhà Nguyễn mới hết bài sấm. Như vậy thời gian cả bài sấm là từ năm vua Lý Thái Tổ lên ngôi (1010)cho đến năm 1802, năm chúa Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn, lập quốc, lấy vương hiệu là Gia Long. Bài sấm được các thiền sư, thày địa lý và Trần Đại Sỹ luận đoán như vầy:

 

– Câu 1: " Mộc căn diểu diểu" (Gốc cây kia đã cỗi)

 

Lê là họ Lê mà cũng là cây Lê; nên cây ở đây ám chỉ cây Lê, tức họ Lê. Đã cỗi tức là đã già, sắp chết; nên câu này có nghĩa là nhà Lê sắp hết vận.

 

– Câu 2: "Mộc biểu thanh thanh" (Cành cây xanh xanh)

 

Gốc cây chỉ vua, nên cành cây chỉ bầy tôi. Cành cây xanh xanh có nghĩa là bầy tôi được vượng; nên khi nhà Lê hết vận, chiếc ngai vàng sẽ lọt vào bầy tôi.

 

– Câu 3: "Hòa đao mộc lạc" (Cái đao bằng gỗ hòa rơi xuống)

 

Câu này được giải nghĩa bằng cách chiết tự. Chữ "hòa", chữ "đao" và chữ "mộc" kết thành chữ "Lê"; nên nguyên câu ý nói nhà Lê đã đến hồi hết số.

 

– Câu 4: "Thập bát tử thành" (Mười tám người thành công)

 

Câu này cũng dùng chiết tự để hiểu. Chữ: "thập", chữ: "bát" và chữ: "tử" hợp lại thành chữ: "Lý ". Lý thành công có nghĩa là nhà Lê sụp thì nhà Lý lên thay. Rõ ràng theo lịch sử thì khi Lê Long Đỉnh băng hà, Lý Công-Uẩn, lúc đó đang giữ chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ (một bầy tôi của nhà Lê) lên thay.

 

– Câu 5: " Đông -a nhập địa" (Đông-A vào đất, Đông-A đạt được nguyên vị)

 

Vẫn theo cách chiết tự, chữ Đông và chữ A hợp lại thành chữ "Trần". Câu này có nghĩa là khi hết nhà Lý, nhà Trần sẽ lên thay.

 

– Câu 6: "Dị mộc tái sinh" (Cây kỳ lạ sống lại)

 

Như bình giải ở câu đầu, "cây" ám chỉ nhà Lê, nên cây kỳ lạ sống lại có nghĩa là nhà hậu Lê sẽ thay nhà Trần

 

– Câu 7: "Chấn cung xuất nhật" (Mặt Trời xuất từ phương Đông)

 

Theo Tiên thiên Bát quái do Phục Hy đề ra thì "Ly" ở phương Đông, nhưng ở Hậu thiên Bát quái do Văn Vương sắp lại thì "Chấn" nằm vào chính Đông. Do đó câu này có nghĩa là nhà Mạc sẽ lên thay nhà hậu Lê.

 

– Câu 8: "Đoài cung ẩn tinh" (Phương Tây có ngôi sao ẩn)

 

Cũng Theo Tiên thiên Bát quái thì "Khảm" ở phương Tây, nhưng ở Hậu thiên Bát quái thì "Đoài" nằm vào chính Tây. Ý nói nhà Tây-sơn lại lên.

 

– Câu 9: "Lục thất niên gian" (Thời gian sáu bảy)

 

Sáu cọng với Bảy thành mười ba. Tính theo thời gian Nguyễn Ánh xuất quân vào năm 1789 cho tới năm Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây-sơn, lên ngôi vua (1802) là đúng 13 năm. Câu này ý nói sau 13 năm chiến đấu gian khổ, Nguyễn Ánh đã giành được giang sơn.

 

– Câu 10: "Thiên hạ thái bình" (Toàn dân thái bình)

 

Nguyễn Ánh lên ngôi vua rồi thì thiên hạ thái bình.

 

Như đã nói ở trên, ba vị thiền sư: Vạn Hạnh, Bố Đại, Sùng Phạm chỉ đoán tới lúc nhà Lê tàn, nhà Lý lên thay, và thay bởi bầy tôi, tức bốn câu đầu. Sau đó cuối đời nhà Lý có thêm một thầy địa lý đoán được nhà Lý suy vong và nhà Trần lấy thiên hạ, tức câu sấm thứ 5. Năm câu còn lại, có lẽ do chính Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ lý giải. Mặc dầu sự lý giải của cư sĩ Trần Đại Sỹ, người học rộng hiểu nhiều, rất nổi tiếng về phương diện này, rất hợp với các thời đại xảy ra trong lịch sử, song tôi cũng có một vài chỗ chưa rõ, muốn góp ý thêm hầu được sự chỉ dạy của các bậc cao nhân. Câu 6: "Dị mộc tái sinh" (Cây kỳ lạ sống lại) được cư sĩ dựa theo chữ: " Cây" ám chỉ nhà Lê và nghĩa của sự tái sinh mà đoán là nhà Trần suy vi, được thay thế bởi nhà hậu Lê. Theo lịch sử thì Hồ Quý Ly giết vua Thuận Tông rồi xưng vương năm 1400. Cuối năm, Hồ Quý Ly truyền ngôi lại cho con là Hồ Hán Thương rồi cả hai cha con chống giặc Minh cho đến năm 1407 thì bị bắt đưa về Tàu sống cuộc đời lưu đày khổ nhục bên đó. Nhà Minh đặt ách thống trị lên nước ta chưa được bao lâu thì bị hậu duệ nhà Trần khởi binh đánh lại. Vì thế yếu và thiếu tinh thần đoàn kết, công cuộc khởi nghĩa sau đó bị dẹp tan vào năm 1413. Nước ta bị Tàu tiếp tục đô hộ cho đến năm 1418, Lê Lợi, một thường dân, với sự trợ giúp của Nguyễn Trãi phất cờ khởi nghĩa và mãi đến 10 năm sau Lê Lợi mới đuổi được giặc Minh về Tàu, lên ngôi vua năm 1428, lấy vương hiệu là Bắc Bình Vương và đặt quốc hiệu là Đại Việt. Như vậy, theo sự giải đoán của Trần Đại Sỹ thì sấm ký bỏ qua giai đoạn nhà Trần bị Hồ Quý Ly tiếm ngôi và sự tan rả của nhà hậu Trần trong công cuộc khởi nghĩa chống quân Minh sau đó, để chỉ thẳng nhà hậu Lê. Điều này nghe cũng tương đối hợp lý vì sấm ký chỉ có bốn chữ, không thể mô tả hết được. Tuy nhiên với câu 7: "Chấn cung xuất nhật" (Mặt Trời xuất từ phương Đông) mà suy giải là nhà Mạc lên thay nhà Lê, thì tôi không dám nghi vấn, nhưng còn chưa rõ. "Chấn" là một quẻ trong tám quẻ (bát quái) mà theo Hậu thiên bát quái, trấn hưóng Đông. Chấn chủ động, có nghĩa là sấm sét, còn "nhật" là mặt trời, có thể tạm hiểu như Trời, như quẻ "Càn", mà sự kết hợp của "Càn" và "Chấn" theo kinh Dịch, tạo nên quẻ "Thiên Lôi Vô Vọng". Theo quẻ này, thì nội quái là Chấn, nghĩa là hành động, còn ngoại quái là Càn (trời), nghĩa là hành động mà hợp với lẽ Trời thì không càn bậy, và không càn bậy thì hanh thông, có lợi. Còn hành động mà không hợp với chính đạo thì có hại. Nếu xem Mạc Đăng Dung là người cướp ngôi nhà Lê, dâng đất cho địch, và cởi trần tự trói đầu hàng địch theo cách nhìn của sử gia Trần Trọng Kim, thì có thể coi như nghịch với chính đạo. Nếu nhân cách của Mạc Đăng Dung đúng như vậy thì rất hợp với quẻ "Thiên Lôi Vô Vọng"; song các nhà khảo cứu như Lê Văn Hòe, và sử gia hiện đại như Phạm Văn Sơn, tác giả Việt sử Toàn thư, đã chứng minh ngược lại, xem Mạc Đăng Dung như một vị anh hùng, không có hành động đê hèn như cụ Trần Trọng Kim mô tả trong bộ sử: "Việt Nam Sử lược" của cụ. Nếu thế thì nhà Mạc phải lẫy lừng chứ có lý đâu lại đầu hàng nhà Minh như vậy. Tóm lại, theo tôi, câu 7 với ý nghĩa: "Mặt trời xuất từ phương Đông" cũng vẫn chưa đủ yếu tố kết luận đó là nhà Mạc, dù sự kết luận này không sai với biến cố lịch sử đã qua. Câu 8: "Đoài cung ẩn tinh" (Phương Tây có ngôi sao ẩn) cũng vậy. Chỉ với ý nghĩa của quẻ "Đoài" trấn phương Tây, chủ tịnh, mà lý giải là nhà Tây sơn dấy lên, quả thật cũng chưa thuyết phục được tôi về ý nghĩa của câu sấm đó. Lý do tôi chưa hoàn toàn hiểu thấu cách lý giải của Trần Đại Sỹ trong hai câu 7 và 8 nêu trên là vì sự kiện này. Có một số nhà sưu tầm sấm ký liệt hai câu:

 

     "Chấn cung xuất Nhật

     Đoài cung vẫn tinh"

 

Chứ không phải: "Đoài cung ẩn tinh" là của cụ Trạng Trình. "Vẫn" có nghĩa là sa xuống, còn "Ẩn" có nghĩa là dấu kín, không xuất hiện. Người ta luận giải hai câu này dựa theo ý nghĩa của cung Chấn trong kinh Dịch chỉ về người trên, để nói Nguyễn Nhạc, anh Nguyễn Huệ dấy nghiệp. Còn câu kế: "Đoài cung vẫn tinh" ám chỉ nhà Tây sơn xuất hiện như cách lý giải của Trần Đại Sỹ. Cách giải này nghe hợp lý hơn. Cả hai câu chỉ nhằm nói về nhà Tây Sơn, chứ không chen nhà Mạc trong đó. Ngoài ra, sấm Trạng Trình ở đoạn khác cũng có mấy câu như sau:

 

     "Bao giờ Trúc mọc qua sông

     Mặt Trời sẽ lại đỏ hồng non Tây

     Đoài cung một sớm đổi thay

     Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn

     Đầu cha lộn xuống thân con

     Mười bốn năm tròn hết số thì thôi"

 

Mấy câu này có nhắc tới Đoài cung, Chấn cung và Mặt Trời đỏ hồng non Tây, dược lý giải đại khái như vầy: Câu đầu ứng với việc Tôn sĩ Nghị khi đến Thăng Long đã cho quân sĩ lập một chiếc cầu nối bằng tre ngang sông Hồng. Câu 2 ứng với việc Tây Sơn Nguyễn Huệ lên làm vua sau khi dẹp được quân Thanh. Câu 3 ứng với việc vua Quang Trung mất sớm, sau hai năm làm vua. Câu 4 ứng với việc Nguyễn Nhạc thổ huyết mà thác\ Cung Đoài theo kinh Dịch chỉ kẻ dưới, nên ứng cho Nguyễn Huệ, vai em; còn cung Chấn chỉ kẻ trên, ứng cho Nguyễn nhạc, vai anh, thật hợp với Chấn cung và Đoài cung của hai câu sấm Cổ Pháp. Câu thứ 5 chỉ tên vua Quang Trung và Cảnh Thịnh. Chiết tự chữ "Quang" có chữ "Tiều" ở trên và chữ "Cảnh" có chữ Tiều" ở dưới, nên sấm mới nói: đầu cha lộn xuống chân con. Còn câu 6 ứng với cơ đồ nhà Tây Sơn chỉ kéo dài được 14 năm. Tóm lại, hai câu 7 và 8 của bài sấm Cổ Pháp, hoặc bài sấm của cụ Trạng Trình với chữ "vẫn" thay cho chữ "ẩn", ám chỉ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, nghe hợp lý với tôi hơn là nhà Mạc và nhà Tây Sơn theo như cách lý giải của Trần Đại Sỹ.

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: