Skip to content

Thân Dậu niên lai kiến thái bình p.2

02/04/2009

Còn câu 9: "Lục thất niên gian" (Thời gian sáu bảy), dùng cách cọng 6 với 7 lại thành 13 mà suy luận rằng Nguyễn Ánh sau 13 năm khởi binh đánh Tây sơn thành công và mang lại thái bình cho Việt Nam như ý nghĩa của câu 10: "Thiên hạ thái bình" (Toàn dân thái bình) cũng chưa rõ ràng lắm. Tuy Nguyễn Ánh cất quân đánh nhà Tây Sơn từ năm 1789 cho mãi đến năm 1802 mới hoàn toàn chiến thắng, vị chi là 13 năm; song nếu tính lúc Nguyễn Ánh từ Xiêm La về nước để khởi sự đánh Tây Sơn, thì thời gian lui lại một năm, tức năm 1788, nên con số 13 trở thành 14, không còn ứng với: "Lục thất niên gian" nữa. Theo lịch sử, quả đúng là sau nhà Lê, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, đưa đến trình trạng Trịnh Nguyễn phân tranh, kéo theo sự xuất hiện của nhà Tây sơn và cuối cùng là Nguyễn Ánh sau 13, 14 năm chiến đấu diệt được Tây sơn để lấy lại thiên hạ. Cách lý giải của Trần Đại Sỹ về câu 9 dựa theo lịch sử có thể chấp nhận được, song còn việc "Thiên hạ thái bình" sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi và suốt thời kỳ trị vì của ông, e rằng không xác đáng. Nguyễn Ánh nhờ Pháp giúp, nhưng dân chúng lại bị khổ vì bọn thực dân này tới mấy trăm năm, tiếp theo là ma Cộng sản, chứ có thấy thái bình chi đâu. Cho nên, theo cách nghĩ thô thiễn của tôi, hai câu sấm này phải ứng vào một sự việc nào khác, hay nói chung 2 câu sấm, từ câu 9 tới câu 10 ám chỉ những biến cố nào đó mà chúng ta chưa lý giải được, nên chi ba vị thiền sư cùng nhà địa lý chỉ giải tới câu 5 mà thôi. Còn câu 7 và 8 đã có cụ Trạng Trình nhuận bút lại trong sấm truyền của cụ.

 

Trở lại hai câu sấm Trạng Trình:

 

     "Mã đề Dương cước anh hùng tận

     Thân Dậu niên lai kiến thái bình"

 

Chúng ta thử diễn giải xem năm Dậu này có đúng là năm Ất Dậu (2005 Dương lịch) hay không? Chữ "niên lai", theo cách suy luận của tác giả Xuân Phượng trong bài viết dự thi: "Nước Mỹ và sấm Trạng Trình", còn có nghĩa là "thiên niên kỷ", cho nên năm Thân và năm Dậu trong câu sấm này được xác định là năm Giáp Thân (đã qua) và Ất Dậu (2005 Dương lịch) là hai năm của đầu niên kỷ. Để củng cố thêm cho sự suy đoán của mình, Xuân Phượng còn áp dụng lối chơi chử của cụ Trạng Trình trong chuyện quan toàn quyền Pasquier tử nạn máy bay vào câu "Mã đề Dương cước anh hùng tận" nữa. Theo tác giả, ngoài ý nghĩa bắt đầu năm Ngọ cho tới cuối năm Mùi, chữ "Anh hùng tận" còn đọc âm nghe như "Afghanistan". Còn chữ "niên lai" và "Mã đề" đọc nghe như "Millenium". Điều này cho phép tác giả kết luận các biến cố xảy ra ở hai câu sấm nói trên rơi vào thời điểm bắt đầu thiên niên kỷ, nên Thân Dậu nhất định là hai năm Giáp Thân (2004 Dương lịch) và Ất Dậu (2005 Dương lịch). Theo cái nhìn của cá nhân tôi qua sự nhận định về tình hình thế giới và Việt Nam như đã trình bày, hai năm Thân Dậu có thể đúng như sự xác nhận của tác giả. Thái bình ở đây vừa có thể là thái bình thế giới, mà cũng vừa ám chỉ hòa bình tại Việt Nam. Thái bình ở thế giới chỉ có thể ló dạng, khi nạn khủng bố và hiểm họa chiến tranh với khối Hồi giáo không còn nữa. Hòa bình Việt Nam chỉ có thể manh nha khi Cộng sản Việt Nam biến thể hoàn toàn. Muốn hoàn toàn thái bình có lẽ hết năm Dậu, chúng ta còn phải đợi thêm hai năm nữa là năm Bính Tuất (2006 Dương lịch) và Đinh Hợi (2007 Dương lịch) như hai câu sấm cũ cụ Trạng Trình đã dẫn ở trên:

 

     "Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

     Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày"

 

     Hai câu này đi sau hai câu:

 

     "Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

     Gà kia vỗ cánh chập chùng bay"

 

mà một số các nhà giải đoán sấm cho là năm Mậu Thân (1968) và Kỷ Dậu (1969). Nếu đúng như vậy thì năm Canh Tuất (1970) phải có thánh chúa xuất hiện; nhưng nhìn lại lịch sử Việt Nam đã qua, nước ta chưa có thánh chúa nào trong năm này, hoặc có, nhưng chỉ mới chào đời. Vì sấm là thiên cơ (hay nói đúng hơn là nói về thiên cơ), không có một qui lệ nhất định, thành ý và từ cho một biến cố nào đó có thể lập lại như những bài học lịch sử.   Thành thử bốn câu:

 

     "Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

     Gà kia vỗ cánh chập chùng bay

     Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

     Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày"

 

của bài sấm "Rồng nằm bể cạn" biết đâu lại ám chỉ cho bốn năm Thân, Dậu, Tuất, Hợi của thiên niên kỷ này không chừng. Nếu đúng thế thì "Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu" có thể ứng hợp với chiến tranh Iraq và tai nạn sóng thần (Tsunami) vừa mới xảy ra vào ngày 26 tháng 12 năm 2004.

—————————————————————————– 

 

Lời bàn: nếu theo dõi những sự kiện đang diễn tiến dần "nóng" lên trên Thế giới, kết hợp với các Sấm kí khác thì hai câu "Thân Dậu niên lai kiến thái bình" không thuộc về năm 2005. Sấm Trạng có đặc điểm là lập lại sự kiện lẫn thời gian, đặc biệt chữ Gà – Kê – Dậu được nhắc nhiều nhất trong các Sấm kí, ví dụ:

 

Sấm kí Nguyễn Bỉnh Khiêm và Trạng Trình:

Hầu khứ lai hợi nguyệt kì

Quốc tận dân tàn thế lực suy

國盡 民 残 势 力 衰

Khỉ đi đến kỳ (hẹn) tháng hợi

Nước hết dân tàn thế lực suy

 

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

kia vỗ cánh trập trùng bay

 

minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc

Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông

 

kêu cho khỉ dậy nhanh

Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung

 

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

 

Đầu thu gáy xôn xao

Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long

 

Giữa năm hai bảy mười ba

Lửa đâu mà đốt tám trên mây

 

 

đâu sớm gáy bên tường

Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không

 

kêu vượn hót vang lừng

Ðường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò

 

Canh niên Tân phá

Tuất Hợi phục sinh

Nhị Ngũ dư bình

Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua tứ xứ loạn đao binh

Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình 

 

Kỷ mã xu dương tẩu

Phù thăng đại minh

 

Kim khai lựu diệp

Hoàng cái xuất quí phương

 

Bạch Vân ca

Chó mừng chúa bày cục tác

Lợn ăn no thả rác nằm chơi.

 

Bài giáng bút của Trạng Trình

Khỉ hú trời Nam cá hóa rồng

kêu Nam Bắc hội Hoa Long

 

Bài giáng bút của Vân Hương thánh mẫu

Ba mầu đến độ suy vong

Khỉ về gáy, vầng hồng nổi lên

 

Khỉ về gáy oa oa

Khắp nơi lại dấy can qua kinh trời

 

Sấm Khổng Minh – Mã tiền khoá:

Tứ môn sạ tích (Tứ môn sạ khai)

Đột như kì lai

Thần nhất thanh

Kỳ đạo đại suy

Chứng viết:  dương âm dương dương âm dương tại quái vi Li

Giải viết: đương triêu chi tượng dã, tứ môn sạ tích vị vi môn hộ khai phóng, dậu niên đương kì thì, vô nhân tái tương tín kì đạo lí cố

Tạm lược dịch: cái tượng đang (còn là) sáng sớm, (mà) bốn cửa chợt nhiên (lại) mở toang ra, gọi là cửa ngõ cửa nhà (đều bị) mở bung ra (cả), (đó là) đang là thời kỳ của năm Dậu, chẳng người (nào) tin được cái đạo (vô) lý (đến) như vậy.

Dịch nghĩa:

Bốn cửa (chợt nhiên) mở toang (ra)

Thình lình mà (xông) đến

Sớm mai gáy một tiếng

Đạo ấy rất (là) suy kém

 

Thiêu Bính ca:

Hầu tử mãn hạp đào giá

Khuyển phệ Trư minh thái bình niên 

—————————————————————————–

Trước khi chấm dứt bài khảo luận này, tôi muốn nhắc tới bài "Giáng bút Kim Ô" của Bồ Tác Tuệ Trung vào năm 1944 vì có một số tiên tri liên quan đến thời điểm bây giờ. Bài giáng bút này như vầy:

 

     "Như thị ngã văn:

     Kim ô lạc địa

     Tinh đáo thanh thanh

     Xích xích kim tinh

     Đế hệ ngũ thế

     Nhị quỉ tranh phong

     Mộc mã thung dung

     Hoàng long dĩ trảm

     Hầu ngộ thanh dương

     Hắc hắc thiết vi

     Bách tính nam qui

     La sát nhập địa

     Lục trúc cao phi

     Thạc thử ký tận

     Chúng sinh đa nạn

     Nhị thập nhật minh

     Thố ngộ thanh long

     Kê Khuyển ngộ xà

     Địa Tạng tru ma

     Bách tính tôn phục

     Tứ phương qui gia

Dịch:

     Như ta nghe rằng

     Quạ vàng rơi xuống

     Sao đến xanh xanh

     Đỏ đỏ sao vàng

     Đế hệ năm đời

     Hai quỉ giành thắng

     Ngựa gỗ thong dong

     Rồng vàng bị chém

     Khỉ gặp dê xanh

     Đen đen sắt vây

     Trăm họ về nam

     La sát vô nước

     Trúc xanh bay cao

     Chuột lớn tạm hết

     Vạn vật nhiều nạn

     Ngày thứ hai mươi

     Thỏ gặp rồng xanh

     Gà chó gặp Rắn

     Địa Tạng diệt ma

     Trăm họ quí phục

     Bốn phương về nhà

 

Theo sự diễn đoán của một số đông nhân sĩ, ý nghĩa và sự ứng hợp được ghi nhận như sau:

 

     – Quạ vàng rơi xuống: Ý nói quân Nhật bại trận và rút khỏi Việt Nam

     – Sao đến xanh xanh: Ý nói Mỹ đến với cờ sao màu xanh.

     – Đỏ đỏ sao vàng: Ý nói sự thắng thế của cờ đỏ sao vàng, tức Cộng sản

     – Đế hệ năm đời: Ý nói triều Nguyễn chấm dứt ở đời thứ năm là Bảo Đại, tức Vĩnh Thụy.

     – Hai quỉ giành thắng: Ý nói Cộng sản và Pháp tranh giành Việt Nam

     – Ngựa gỗ thong dong: Ý nói chỉ năm Giáp Ngọ: 1954

     – Rồng vàng bị chém: Ý nói nước Việt Nam bị chia đôi bởi hiệp định Geneva

     – Khỉ gặp dê xanh: Ý nói ngày 20 tháng 7 năm 1954: Hiệp định Geneva được ký.

     – Đen đen sắt vây: Ý nói Cộng sản cai trị bạo tàn

     – Trăm họ về nam: Ý nói Di cư vào Nam

     – La sát vô nước: Ý nói Liên sô vào miền Bắc

     – Trúc xanh bay cao: Ý nói ông Ngô Đình Diệm chấp chánh, vì Trúc là dấu hiệu của ông.

     – Chuột lớn tạm hết: Ý nói tham nhủng chấm dứt

     – Vạn vật nhiều nạn: Ý nói vạn vật lầm than

     – Ngày thứ hai mươi: Ý nói ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta mất nưóc

     – Thỏ gặp rồng xanh: Ý nói ngày 30 tháng 4 tức 20 tháng 3 Âm lịch năm Ất mão. Tháng 3 là rồng, còn năm Mão là Thỏ.

     – Gà chó gặp Rắn: Ý nói năm 2001, 2005, 2006

     – Địa Tạng diệt ma: Ý nói Địa Tạng Bồ Tát diệt ma cộng sản

     – Trăm họ quí phục: Ý nói bá tánh tuân phục

     – Bốn phương về nhà: Ý nói người Việt hồi hương

 

Qua bài Giáng Bút này, tôi đặc biệt để ý đến bốn câu cuối cùng. Trong bốn câu này, thì câu thứ nhất xác định thời điểm của biến cố, câu thứ hai chỉ nhân vật chánh của biến cố, và hai câu cuối cùng nói lên kết quả của biến cố. Cũng như cụ Trạng Trình Nguyễn Bĩnh Khiêm, thời điểm Bồ Tát Tuệ Trung nhắc tới cũng không có thiên can đi cùng. Thời điểm này theo tác giả Nam Thiên trong tác phẩm: "Sấm ký và Giáng Bút với Việt Nam 1925-2025", là năm 2001 (Tân Tỵ), 2005 (Ất Dậu), 2006 (Bính Tuất). Rồi ông dựa thêm vào ba câu cuối của bài sấm Non Đoài:

 

     "Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu

     Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

     Tìm về quê cũ bắt ngựa tàu"

 

trong đó năm Nhâm Ngọ (2002), đoán là năm việt kiều thong thả thoải mái trở về lại Việt Nam, để xác định năm 2001 (Tân Tỵ) là năm Địa Tạng tru ma. Khi đã xác định Rắn là năm Tân Tỵ, tác giả Nam Thiên liền dùng "Gà" và "Chó" trong câu sấm để suy diễn ra ngày tháng của năm Tân Tỵ. Nếu Kê chỉ tháng thì là tháng 8 âm lịch, còn Khuyển chỉ tháng thì là tháng 9 âm lịch. Trong tháng Kê ta có hai ngày Khuyển là ngày 11 và 23; còn trong tháng Khuyển, ta có hai ngày Kê là ngày 10 và 22. Nhìn lại biến cố đã qua trong năm 2001 và 2002, chúng ta thấy sau vụ hai tòa nhà chọc trời ở Nữu ước bị máy bay khủng bố làm sập ngày 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ đã mở rộng chiến tranh chống khủng bố trên khắp thế giới mà quốc gia đầu tiên là Afghanistan. Việt Nam vào thời điểm đó chỉ có sự kiện nhà cầm quyền tiếp tục chính sách đàn áp tôn giáo và chà đạp nhân quyền, chứ chẳng có biến cố quan trọng nào khác, khả dĩ ứng nghiệm với câu sấm: "Địa Tạng tru ma". Nếu ma đây là bọn khủng bố, thì người tru diệt họ là Hoa Kỳ, là Tổng thống Bush, không phải là ngài Địa Tạng. Cho nên, câu: "Gà chó gặp Rắn", theo tôi, có thể có nghĩa là sau hai năm Gà (Dậu, 2005 Dương lịch), Chó (Tuất 2006 Dương lịch), Việt Nam sẽ hết nạn Cộng sản.    Công cuộc kiến thiết đất nước từ đó bắt đầu và kéo dài cho đến năm Rắn (Tỵ 2013 Dương lịch) thì hoàn mãn. Lúc đó Việt Nam vang danh bốn bể và nhân tài khắp nơi lủ lượt kéo về, ứng với hai câu:

 

     "Trăm họ quí phục

     Bốn phương về nhà"

 

Cách suy diễn này của tôi có lẽ hợp với lối suy diễn khác của tác giả Nam Thiên trong bài Sấm Non Đoài của cụ Trạng Trình:

 

     "Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu

     Có một đoàn xà đánh lộn nhau.

     Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng,

     Lợn kia làm quái phải sai đầu.

     Chuột nọ lăm le mong cắn tổ,

     Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu.

     Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

     Tìm về quê cũ bắt ngựa tàu"

 

Theo lối giải đoán bài sấm này thì tác giả Nam Thiên cho rằng câu: "Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu" ứng hợp với năm 2002, và vào thời điểm này dân Việt tị nạn cộng sản sẽ thong thả thoải mái trở lại quê hương. Còn "Hùm" trong câu: "Hùm ở trên rừng gầm mới dậy", tác giả Nam Thiên suy đoán là năm Canh Dần 2010, còn "ngựa" trong câu: "Tìm về quê cũ bắt ngựa tàu" là năm Giáp Ngọ 2014. Chữ "tàu" ở trong câu: "Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu" là tàu ngựa, chuồng ngựa; còn "tàu" trong câu: " Tìm về quê cũ bắt ngựa tàu" là Trung cộng. Vào thời điểm đó, tức khoảng năm 2014, chẳng những Việt Nam vang danh bốn biển mà người Việt khắp nơi còn trở về định cư, và bắt Trung cộng phải trả lại những phần đất và lãnh hải Cộng sản Bắc việt đã khiếp nhược dâng cho chúng. Đó là ý nghĩa của câu "bắt ngựa tàu". Bọn Trung cộng tuy đã được nhà nước Cộng sản Việt Nam ký hiệp định: Vịnh Bắc Bộ dâng lãnh hải cho họ với chiêu bài hợp tác đánh cá để che mắt nhân dân, vẫn chưa vừa lòng tham và ác tâm. Ngày 8 tháng 1 năm 2005 vừa qua, tàu Trung cộng đã xả súng bắn chết 9 ngư dân, làm bị thương 7, và bắt giữ 8 người, khi các ngư dân đang đánh cá trong lãnh hải của mình. Đã thế Trung cộng còn coi thường quốc tế công pháp, lật lọng vu cáo các ngư dân Việt Nam là cướp biển nữa. Sự kiện nói trên đã hun đúc trong lòng người dân Việt Nam một mối hận to lớn, và khi có cơ hội, họ sẽ đoàn kết bắt ngựa Tàu. Biến cố này chắc chắn sẽ xảy ra trong năm 2014, nếu Ngựa đây ám chỉ đúng năm Giáp Ngọ, 2014 Dương lịch.

 

Như vậy, theo cách suy diễn của tôi dựa theo bài Giáng bút Kim Ô của Tuệ Trung Thượng Sỹ thì năm Quý Tỵ 2013 Việt Nam sẽ vang danh bốn bể, còn theo lối suy diễn của tác giả Nam Thiên trong bài sấm Non Đoài của cụ Trạng Trình thì năm đó là năm Giáp Ngọ 2014, khác nhau một năm. Tuy nhiên, như chúng ta biết, ở các câu sấm và giáng bút, các Ngài thường cho hai năm đi chung với nhau, chẳng hạn như: "Mã đề, Dương cước anh hùng tận", "Thân Dậu niên lai kiến Thái bình", "Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa, ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày", v.v.. Như vậy, thời gian anh hùng tận phải kéo dài hai năm (Ngọ Mùi), thời gian kiến thái bình cũng kéo dài hai năm (Thân. Dậu), và thời gian hòa bình thịnh vượng cũng xảy ra trong hai năm (Tuất, Hợi). Cho nên thời gian Việt Nam hoàn tất công cuộc kiến tạo đất nước và vang danh bốn bể cũng sẽ xảy ra trong hai năm (Tỵ, Ngọ). Tuy nói kéo dài trong hai năm, nhưng biết đâu nó cũng mang ý nghĩa là biến cố sẽ xảy ra trong một hoặc hai năm. Thành thử 2013 hay 2014 đều đúng cả. Tùy duyên, thời điểm có thể thay đổi đôi chút, và điều này không sai với thuyết: Nghiệp quả (Karma) của đạo Phật. Mỗi chúng sinh đều mang nghiệp, nên một quốc gia, hay một thế giới đều có nghiệp riêng. Sấm là cái nhìn thấu đáo được nghiệp, và vì nghiệp thường chịu ảnh hưởng bởi duyên, nên thời gian hoặc chi tiết của sự việc có thể sai lệch đi một chút, là chuyện bình thường. Chỉ có điều tôi còn phâ n vân chưa đoán đích xác được tại sao Bồ Tát Tuệ Trung lại gọi đích danh Bồ Tát Địa Tạng làm cái công việc diệt trừ ma Cộng sản qua câu: "Địa Tạng tru ma". Hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng là vào tận địa ngục để cứu hết tất cả chúng sanh. Nếu còn một chúng sanh nào bị đau khổ trong địa ngục, Ngài nhất định sẽ không thành Phật. Như vậy bảo Ngài diệt ma thì thật không phù hợp với lòng từ bi rộng lớn của Ngài, ngoại trừ ma đây là ma chướng, là vô minh. Muốn hết khổ đau người ta phải chấm dứt vô minh, nên ý nghĩa "diệt ma" ở đây là chuyển hóa người Cộng sản, đưa họ ra khỏi địa ngục trần gian mà họ đang bơi trong đó, hơn là tiêu diệt ho. Tiêu diệt chủ thuyết họ đang tôn thờ thì đúng hơn. Các vị tu sĩ Phật giáo đang còn ở lại trong nước tranh đấu cho nhân quyền, cho tự do tôn giáo cũng giống như Địa Tạng vương Bồ Tát vào địa ngục cứu vớt chúng sanh. Việt Nam dưới ách thống trị của Cộng sản là một thứ địa ngục, nên việc ở lại Việt Nam để đấu tranh tức là vào địa ngục. Theo tôi nghĩ, đó là lý do tại sao Bồ Tát Tuệ Trung ví các ngài tu sĩ Phật giáo như Địa Tạng vương Bồ Tát. Nhìn vào công cuộc tranh đấu chống bạo quyền Cộng sản hiên nay của quý Tăng ni thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tiêu biểu là Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Tuệ Sĩ, v.v…, chúng ta không thể nào phủ nhận câu: "Địa Tạng tru ma" ám chỉ các Ngài. Nếu đúng như thế, chủ nghĩa Cộng sản sẽ tàn rụi không lâu và năm Ất Dậu này sẽ chớm thêm dấu hiệu: "Thân Dậu niên lai kiến thái bình".

 

Một bài giáng bút khác vào năm 1938, có tên là "Thiên Cơ" từ Thánh Mẫu Vân Hương, tức công chúa Liểu Hạnh, cũng có sáu câu cuối như vầy:

 

     "Quỷ ma biến hết đi đời

     Phụ nguyên trời đã định ngôi sẵn sàng

     Chó mừng tân chủ rỡ ràng

     Gần xa tấp nập lên đường hồi hương

     Long Hoa vẫn thuở biên cương

     Rồng tiên con cháu Việt thường vẻ vang"

 

Các câu khác trong bài sấm đều được chiêm nghiệm đúng với các biến cố xảy ra tại Việt Nam. Quỷ Tây ma Cộng sẽ bị tru diệt hoàn toàn như bài giáng bút của Tuệ Trung Thượng sĩ xác định, và một vị khai sáng kỷ nguyên mới xuất hiện mang lại hòa bình cho đất nước. Nếu ghép chữ "Phụ" và chữ "Nguyên" lại thì thành "Nguyễn", cho nên theo cách người ta suy đoán, vị thánh nhân đó có thể là người mang họ Nguyễn. Năm Tuất (2006 Dương lịch) là năm "mừng tân chủ" để sau đó "gần xa tấp nập lên đường hồi hương. Hai chữ Long Hoa có thể chỉ hội Long Hoa xét tội định công để chỉ còn có một số nhỏ hiền nhân dưới cõi trần này trước khi tiến tới thời Thượng Ngươn Thánh Đức, mà cũng có nghĩa là thời kỳ thanh bình, âu ca. Con cháu Việt sẽ vang danh bốn bể. Sấm của Nostradamus cũng tiên đoán điều này đồng thời xác quyết một vị khai sáng kỷ nguyên sẽ ra đời, và vị này có thể là ngươi Việt Nam qua mấy câu:

 

     "Trong số những người bị lưu đầy ra các đảo,

     Có một người sinh ra tại Hai Cái Răng ở vùng Vịnh:

     Họ sẽ chết đói, cây cối bị tuốt trụi lá.

     Đối với họ, đây là vị vua mơí, đạo luật mới rèn luyện họ."

 

Tóm lại, qua các câu sấm và các bài giáng bút, một kỷ nguyên mới sẽ được tạo dựng trên hoàn cầu, hoặc chỉ trên đất nước Việt Nam của chúng ta trong một tương lai gần đây. Vì lời Sấm và cơ bút bí hiểm, không có thiên can đi kèm với địa chi để xác định thời gian rõ ràng, nên sự chuẩn xác của các biến cố ở những thời điểm trình bày trong bài viết hoàn toàn dựa theo sự suy đoán và chiêm nghiệm của các bật thức giả Đông Tây. Cho dù kết quả như thế nào, chúng ta cũng thấy được điều này: Mọi sự việc đều vô thường (Chư hành vô thường) và mọi kết quả đều cấu thành trong tương quan nhân quả. Không có một sự vinh quang nào mà không có lúc cáo chung, cũng như không có địa ngục nào mở cửa mãi mãi. Với hạnh nguyện cao cả cứu độ tất cả chúng sinh, bồ Tát Địa Tạng nhất định sẽ là người khép lại cánh cửa địa ngục trước khi Ngài nhập Niết Bàn, thành Phật. Sấm ký, cơ bút không phải là những giáo điều cứng ngắt với những biến cố hoặc thời gian cố định vì bên cạnh Nhân quả, chúng ta còn có Nhân Duyên. Một cái nhân (như hạt giống) sẽ chóng sinh ra quả (như cây trái) nếu đầy đủ duyên (như đất, nước, phân bón), hoặc có thể chậm sinh hay tàn rụi, nếu thiếu duyên. Định luật này là định luật chung của vũ trụ (universal law), chứ không phải riêng gì của Phật giáo. Hiểu được luật đó, chúng ta mới không thất vọng khi thấy kết quả của sấm ký và cơ bút, khi chiêm nghiệm, có vài thay đổi. Chúng ta là những người đứng dưới đất phóng tầm nhìn về phía xa, không thể thấy biết hết được tất cả sự vật phần vì giới hạn của thị giác, phần vì sự che khuất của các vật chướng ngại. Các cao nhân lưu lại sấm ký hoặc giáng bút là những thánh nhân, ví như người đứng trên đỉnh núi cao, lại có thêm thị lực siêu việt nên các Ngài có thể thấy xa và cái thấy của các Ngài không bị giới hạn. Những cái thấy của các Ngài lưu lại cho chúng ta không ngoài ý nghĩa khuyến tu và tạo dựng niềm tin cùng hy vọng cho những ai muốn học hỏi. Nó không phải là dị đoan mà là nghệ thuật. Mong tất cả chúng ta nhìn nó và hiểu nó bằng cái nhìn và tâm trí mang đầy nghệ thuật. "Thân Dậu niên lai" có "kiến thái bình" hay không, cũng là câu hỏi đầy nghệ thuật mà người đóng tuồng cũng như khán giả đều góp phần và trách nhiệm.

 

Xuân Đấu

One Comment
  1. Nguyễn minh permalink

    Đúng thật là di lặc bồ tát còn rất lâu mới hạ sanh thành phật.
    Nhưng cũng sẽ có một vị thánh nhân xuất thế để cứu nhân độ thế.
    Nam mô a di đà phật

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: