Skip to content

Biển Đông: Kình ngư hải ngoại huyết lưu hông (2)

23/08/2009

AN NINH KHU VỰC

Điều trần của Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher đặc trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_scher_170809.html 15/7/2009

Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng
trước Tiểu ban các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương , Uỷ ban Đối ngoại, Thượng viện Mỹ
Các vấn đề biển đảo và tranh chấp chủ quyền ở Đông Á

Thưa
Chủ tọa, xin cảm ơn vì đã mời tôi đến Tiểu ban để điều trần về các
tranh chấp lãnh hải và chủ quyền. Đây là những vấn đề trọng tâm trong
cán cân an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương và cũng là những vấn đề
mà chúng tôi ở Bộ Quốc phòng đang theo dõi chặt chẽ. Tôi đánh giá cao sự
quan tâm liên tục của Tiểu ban đối với chủ đề quan trọng này và mong
rằng chúng ta sẽ còn tiếp tục thảo luận về những diễn biến xung quanh
chủ đề này.

Trong bài phát biểu ngày 30/5/2009 tại Hội nghị Quốc
phòng thường niên tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Sing-ga-po, Bộ
trưởng Quốc phòng Robert Gate đã khái quát những thay đổi đáng chú ý
trong môi trường an ninh châu Á kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Cụ
thể hơn, trong khi ca ngợi người dân châu Á giờ đây đã có mức sống cao
hơn và giàu có hơn, Bộ trưởng Gates nhấn mạnh tương quan giữa sự ổn định
và thịnh vượng về kinh tế – một trong những đặc điểm chủ chốt của môi
trường an ninh châu Á trong giai đoạn này. Khu vực châu Á-Thái Bình
Dương trong hai thập kỷ qua nhìn chung là hoà bình và ổn định. Sự ổn
định này góp phần mang lợi ích cho tất cả các bên.

Dù có sự ổn
định, song một trong những nhân tố mà chúng ta thấy có khả năng thách
thức môi trường an ninh khu vực, đồng thời là chủ đề của buổi điều trần
ngày hôm nay, là một loạt tranh chấp lãnh thổ dai dẳng, đặc biệt là
tranh chấp biển đảo ở Đông Nam Á và Biển Hoa Nam giữa một số quốc gia
trong khu vực. Trong những năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến căng
thẳng và mâu thuẫn gia tăng về những tranh chấp này. Điều đó đi ngược
lại tinh thần chủ đạo là hòa bình và hợp tác nhằm tìm kiếm các giải pháp
ngoại giao cho vấn đề này như được nêu trong Tuyên bố về Ứng xử của các
bên ở Biển Nam Trung Hoa năm 2002.

Tranh chấp gia tăng xuất phát
từ nhiều nguyên nhân: nhu cầu về dầu khí gia tăng khiến các bên tranh
chấp quan tâm hơn nữa về đảm bảo quyền đối với các nguồn lợi; các quốc
gia trong khu vực quan tâm hơn tới các đòi hỏi chủ quyền khi việc nộp
đơn xin mở rộng thềm lục địa theo Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc
chuẩn bị hết hạn vào tháng 5/2009; chủ nghĩa dân tộc gia tăng khiến
chính phủ và nhân dân các nước càng nhạy cảm trước sự coi nhẹ và xâm
phạm về lãnh thổ và chủ quyền. Bên cạnh đó, khả năng quân sự đang gia
tăng của Trung Quốc đã trở thành yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần và nội
dung cuộc đối thoại về các tranh chấp biển đảo trong khu vực.

Khi
phân tích các hoạt động của Trung Quốc trên biển, tôi nghĩ cần có sự
tách biệt giữa việc các tàu hải quân Mỹ bị cản trở ở gần Trung Quốc và
cách tiếp cận của Trung Quốc đối với những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Hoa
Nam nói chung. Mặc dù phải có sự phân biệt rõ như vậy, song cơ sở để Mỹ
đưa ra phản ứng đều giống nhau.

Việc các tàu cá của Trung Quốc
quấy rối các tàu hải quân Mỹ khi đang tiến hành các hoạt động quân sự
thường lệ và hợp pháp ở Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc xảy ra năm
nay là một điểm tối trong quan hệ Trung – Mỹ. Tuy nhiên, tôi cũng xin
nhấn mạnh là kể từ tháng Năm đến nay chưa có thêm vụ tàu cá mang cờ
Trung Quốc nào quấy rối các tàu hải quân Mỹ.

Mặc dù bất cứ vụ va
chạm trên biển nào cũng đều đáng lo ngại, song số vụ va chạm giảm dần
sau một sự kiện cụ thể cho thấy cam kết của lãnh đạo hai nước là giải
quyết những vấn đề này một cách hoà bình và thông qua con đường ngoại
giao.

Bộ Quốc phòng coi hành vi của Trung Quốc trong Vùng Đặc
quyền Kinh tế của nước này và rộng hơn trong khu vực Biển Hoa Nam – mà
Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với phần lớn khu vực này – là dựa trên
hai cơ sở.

Thứ nhất, Trung Quốc có ý đồ chiến lược trong việc
khẳng định chủ quyền đối với phần lớn vùng Biển Hoa Nam. Điều này chủ
yếu thể hiện trên lĩnh vực chính trị và kinh tế, như đồng nghiệp của tôi
ở Bộ Ngoại giao vừa trình bày chi tiết, nhưng đủ để nói rằng Trung Quốc
chủ động phản đối bất cứ hoạt động nào của các bên khác nhằm khẳng định
những đòi hỏi về chủ quyền của họ. Việt Nam, Đài Loan, Phi-líp-pin,
Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây đều đòi hỏi chủ quyền đối với các
phần khác nhau ở Biển Hoa Nam; những đòi hỏi này xung đột với nhau, đặc
biệt những khu vực xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ
hai, để củng cố ảnh hưởng chính trị và chiến lược đang gia tăng ở khu
vực này, Trung Quốc đã và sẽ tiếp tục tăng cường vị thế quân sự ở Biển
Hoa Nam. Ví dụ, khi Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc nâng cấp các
công trình ở đảo Hải Nam, chúng ta thấy có sự liên hệ trực tiếp với tư
thế chủ động của Trung Quốc khi phản ứng trước các hoạt động của Mỹ trên
biển và trên không phận.

Hiểu được ý đồ chiến lược của Trung
Quốc không có nghĩa là Bộ Quốc phòng chấp nhận cách Trung Quốc khẳng
định vị thế trong khu vực. Chúng ta phản đối mạnh mẽ hành vi khiến sự an
toàn của các tàu của chúng ta bị đặt vào tình thế rủi ro và hành vi đó
là sự vi phạm rõ ràng các chuẩn mực quốc tế về hành vi ứng xử ở vùng
biển quốc tế bên ngoài vùng lãnh hải. Bộ Quốc phòng sẽ tiếp tục sử dụng
tất cả các kênh để truyền đạt quan điểm này tới những người đồng nhiệm
của chúng ta ở Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Cụ thể, tại cơ
chế Tham vấn Quốc phòng gần đây tổ chức ngày 23-24/6 tại Bắc Kinh, chủ
đề này đã được đưa vào chương trình nghị sự. Hai bên nhất trí tổ chức
một hội nghị đặc biệt theo các điều khoản của Thoả thuận Tham khảo Quân
sự trên biển Mỹ-Trung (MMCA, 1998) trong những tuần tới để xem xét cách
thức thúc đẩy tiến trình này, tăng cường thông tin liên lạc, giảm khả
năng xảy ra va chạm hoặc tai nạn giữa lực lượng hai nước khi hoạt đồng
gần nhau.

Hơn thế nữa, chúng ta phản đối bất kỳ nỗ lực của quốc
gia nào nhằm hạn chế các quyền tự do trên biển khơi trong phạm vi các
khu vực đặc quyền kinh tế. Luật tập quán Quốc tế, như ghi nhận tại điều
58, 87 trong Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp Quốc, đảm bảo tất cả
các quốc gia đều có quyền hoạt động trong khu vực đặc quyền kinh tế; tự
do hàng hải và tự do hàng không trên các vùng biển khơi và các hình thức
sử dụng đại dương truyền thống liên quan tới các quyền tự do này. Kể từ
khi Công ước Luật biển 1982 ra đời, quan điểm của Mỹ là các quyền hàng
hải và các quyền tự do hàng hải áp dụng trong vùng đặc quyền kinh tế, về
định tính và định lượng, đều giống với các quyền tự do áp dụng ở vùng
biển khơi. Chúng ta ghi nhận rằng gần 40% vùng biển thế giới thuộc phạm
vi vùng đặc quyền kinh tế kéo dài 200 hải lý, do vậy, vì nền kinh tế
toàn cầu và vì hoà bình và an ninh quốc tế, chúng ta cần phải khẳng định
và duy trì mạnh mẽ các quyền tự do và quyền hàng hải trong vùng đặc
quyền kinh tế.

Như đã đề cập ở trên, hoạt động quân sự của chúng
ta trong khu vực là hoạt động thường xuyên và phù hợp với luật tập quán
quốc tế như ghi nhận trong Công ước Luật biển 1982. Chúng ta đã kiên trì
khẳng định chính sách cơ bản đối với các đòi hỏi mâu thuẫn nhau ở Biển
Hoa Nam – mà mới đây nhất là ở Đối thoại Shang-ri La tháng 5/2009 khi Bộ
trưởng Gates khẳng định rằng Mỹ không đứng về bên nào trong các tranh
chấp chủ quyền và ủng hộ một giải pháp hoà bình bảo vệ quyền tự do hàng
hải. Trong bài phát biểu tại cơ chế đối thoại này, Bộ trưởng Gates khẳng
định “dù là trên biển, trên không trung, trên vũ trụ hay không gian
mạng, những không gian chung của thế giới là những vùng mà ở đó chúng ta
phải hợp tác, ở đó chúng ta phải tuân thủ pháp quyền và các cơ chế khác
giúp duy trì hoà bình khu vực.”

Bộ trưởng Gates nói: “chúng tôi
ủng hộ sự cởi mở, phản đối sự độc quyền, và ủng hộ việc cùng sử dụng các
không gian chung một cách có trách nhiệm nhằm duy trì và thúc đẩy sự
thịnh vượng chung.” Mỹ có lợi ích trong việc duy trì các tuyến hàng hải
mở, tránh bị kéo vào các xung đột khu vực; ủng hộ tìm kiếm một giải pháp
cho tranh chấp lãnh thổ thông qua cơ chế đa phương, tránh thói quen tạo
tiền lệ; và bảo vệ uy tín của Mỹ ở Đông Nam Á.

Để hỗ trợ các mục
tiêu chiến lược của chúng ta, Bộ Quốc phòng đã khởi động một chiến lược
theo nhiều hướng: 1) thể hiện rõ bằng lời nói và hành động cho thấy các
lực lượng Mỹ tiếp tục hiện diện và là lực lượng quân sự có ưu thế vượt
trội trong khu vực; 2) cân nhắc và xác định các đòi hỏi về quyền tự do
hàng hải của các tàu hải quân Mỹ; 3) xây dựng quan hệ an ninh chặt chẽ
hơn với các đối tác trong khu vực, cả ở cấp độ chính sách và thông qua
các cơ chế đối thoại chiến lược, lẫn cấp độ triển khai thông qua xây
dựng năng lực cho đối tác, đặc biệt về lĩnh vực an ninh biển, và 4) củng
cố các cơ chế quan hệ quân sự-ngoại giao đã có với Trung Quốc nhằm cải
thiện thông tin liên lạc và giảm bớt rủi ro về tính toán sai.

Hiện
diện về quân sự có lẽ là bộ phận quan trọng nhất trong thành tố đầu
tiên của chính sách đề cập ở trên. Ở khía cạnh này, thì căn cứ quân sự ở
Guam được coi là cái neo vĩnh viễn cho sự hiện diện của Mỹ trong khu
vực và củng cố vị thế “cường quốc khu vực” của chúng ta. Chúng tôi tin
rằng điều này sẽ có tác dụng ổn định các chính sách và chiến lược của
các bên đòi hỏi chủ quyền ở Biển Hoa Nam. Nếu chúng ta thực hiện một
chính sách khác tức là Mỹ rút khỏi khu vực và tạo khoảng trống quyền
lực, điều đó sẽ khiến những quốc gia yếu kém nhất trong số các bên sẽ
không còn chút không gian chiến lược nào để hoạt động.

Về thành
tố thứ hai trong chiến lược của chúng ta, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của
Mỹ sẽ tiếp tục khẳng định các quyền tự do hàng hải trong khu vực. Bộ Tư
lệnh Thái Bình Dương sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động ở Biển Hoa
Nam; tuân thủ nghiêm ngặt luật tập quán quốc tế ghi nhận trong Công ước
Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Hoạt động của Mỹ sẽ được điều chỉnh bởi lợi
ích của chúng ta trong khu vực và mong muốn duy trì an ninh và ổn định
trên toàn bộ Tây Thái Bình Dương.

Thành tố thứ ba trong chiến
lược của chúng ta tập trung vào việc mở rộng và củng cố các chương trình
ngoại giao quốc phòng và xây dựng năng lực trong khu vực như những nỗ
lực hỗ trợ quan trọng nhằm ngăn chặn không cho căng thẳng ở Biển Hoa Nam
phát triển thành mối đe doạ đối với các lợi ích của Mỹ. Để đạt mục tiêu
đó, gần đây chúng ta đã thiết lập cơ chế đối thoại chính sách quốc
phòng cấp cao với Việt Nam và Ma-lai-xi-a, bổ sung cho các cơ chế tham
vấn vốn đã rất mạnh của chúng ta với Phi-líp-pin, Thái Lan, và
In-đô-nê-xi-a. Thông qua hàng loạt hoạt động hợp tác an ninh từ hội thảo
đến tập trận đa phương chúng ta đang giúp các quốc gia trong khu vực
vượt qua các trở ngại lâu đời về lịch sử và văn hoá vốn cản trở nỗ lực
hợp tác an ninh đa phương.

Cuối cùng, chúng ta cần củng cố các cơ
chế đã có nhằm lôi kéo Trung Quốc thảo luận về vấn đề này và các vấn đề
an ninh khác, trong đó có Cơ chế Tham vấn Quốc phòng Mỹ-Trung, Cơ chế
Phối hợp Chính sách Quốc phòng Mỹ-Trung, Thỏa thuận Tham khảo các vấn đề
quân sự trên biển Mỹ-Trung. Các cơ chế này là kênh thông tin liên lạc
mở và liên tục để xây dựng lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau hơn
nữa, để thảo luận thẳng thắn về những bất đồng, tăng cường hiểu biết và
áp dụng các tiêu chuẩn về an toàn và các nguyên tắc hoạt động cơ bản
nhằm tăng cường an toàn cho các thuỷ thủ và phi công của tất cả các quốc
gia trong khu vực.

Tất cả những nỗ lực này đều nhằm giảm thiểu
biến động. Chúng tôi tin rằng các bên tranh chấp ở Biển Đông sẽ đánh giá
Mỹ là nhân tố giúp ổn định trong khu vực. Mặc dù chúng ta không đề xuất
làm trung gian hay hoà giải xung đột, nhưng sự hiện diện của chúng ta
mang lại cảm giác ổn định và mở ra không gian cho các bên tranh chấp
nhằm tìm kiếm các biện pháp chính trị giải quyết những vấn đề này.

Tôi rất sẵn lòng trả lời các câu hỏi của quý vị.

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: