Skip to content

Biển Đông: Kình ngư hải ngoại huyết lưu hông (4)

28/08/2009

Các tường trình trước Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ về vấn đề biển Đông


Peter Dutton, Phó Giáo sư Học viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc, ĐH Chiến Tranh Hải Quân Hoa Kỳ
Chim Cánh Cụt, X-Cafe chuyển ngữ

Thượng viện Hoa Kỳ

Điều trần tại Ủy Ban Đối ngoại về những tranh chấp về

luật chủ quyền hải phận và lãnh thổ tại Đông Á

15/7/2009

Peter Dutton, Phó Giáo sư Học viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc,

ĐH Chiến Tranh Hải Quân Hoa Kỳ

Tôi muốn cảm ơn ngài Chủ tịch và Uỷ ban đã cho tôi cơ hội ra mắt hôm nay.

Với những giải trình ngày hôm nay, tôi muốn làm rõ một số điều sau:

1. Những yêu sách mà Trung Quốc cho là hợp pháp tại biển Nam Trung Quốc (biển Đông) và những hành động mà nước này đã thực hiện tại đây thách thức những quyền lợi của hàng hải của Hoa Kỳ trong khu vực và trên toàn cầu.

2. Trung Quốc cho rằng chủ quyền của họ tại biển Nam Trung Quốc( biển Đông) là cơ bản không thể bàn cãi, và đang tiến đến việc nắm giữ để củng cố.

3. Sức mạnh hải quân Trung Quốc đang phát triển; tuy nhiên, sự phát triển về hàng hải này đúng ra chỉ được xem là sự củng cố cho việc tập trung vào chiến lược trên đất liền hơn là một lực lượng hải quân viễn chinh thực sự.

4. Hoa Kỳ nên tiếp tục đứng vững ở vị trí số 1 trên thế giới về hàng hải hiện nay để đảm bảo việc thông thương trong khu vực và trên toàn cầu cần thiết cho nền quốc phòng lẫn nền an ninh của hệ thống hàng hải quốc tế.

Bắt đầu với việc Trung Quốc chính thức khẳng định chủ quyền của mình tại biển Nam Trung Quốc (biển đông), trái ngược với những gì mà các nhà bình luận đề nghị, nhà nước Trung Quốc chưa từng khẳng định chủ quyền kiểm soát ở vùng nước của biển Nam Trung Quốc là hoàn toàn của mình. Khẳng định của Trung Quốc về quyền kiểm soát hợp pháp vùng nước ngoài biển Đông một phần dựa trên khẳng định của họ về chủ quyền trên tất cả hòn đảo tại Biển Nam Trung Quốc (biển Đông) theo luật Trung Quốc về hải phận và những vùng cận biên giới năm 1992, trong đó Trung Quốc khẳng định là có chủ quyền đối với đảo Diaoyu (Senkaku) tại biển Đông Trung Quốc và đối với quần đảo Donsha (Pratas), Xisha (Paracel), Zhongsa (Macclesfield Bank), và Nansha (Spratly)(1) tại vùng biển Nam Trung Quốc (biển Đông). Bên cạnh việc khẳng định chủ quyền của các vùng đảo trên, luật về Khu Vực Đặc Quyền Kinh Tế (EEZ) năm 1998 của Trung Quốc cho rằng “vùng đặc quyền kinh tế … mở rộng thêm 200 hải lý từ đường cơ sở từ vùng biển đã được đo”(2). Kể từ khi các đảo ở biển Nam Trung Quốc được Trung Quốc khẳng định chủ quyền, bao gồm cả đường cơ sở từ luật hải phận 1992; tác dụng của luật năm 1998 giúp khẳng định phần lớn vùng đặc quyền kinh tế quanh các đảo ấy. Vì thế, với hai luật trên,Trung Quốc đã khẳng định môt cách hữu hiệu rằng vùng EEZ của mình bao trùm gần hết biển Nam Trung Quốc (biển Đông).

Do đó, nhà nước Trung Quốc không khẳng định rằng những vùng nước này là lãnh hải, nước trong lục địa, hay nước trong vùng quần đảo hoặc bất cứ vùng nước ven biển của các quốc gia sẽ có thể nằm trong chủ quyền của cả vùng nước rộng trong vùng biển khu vực. Sự kết hợp của việc tự khẳng định chủ quyền đối với các hòn đảo ở biển Nam Trung Quốc và cách giải thích luật biển quốc tế "độc đáo" của Trung Quốc liên quan đến chủ quyền của các quốc gia ven biển nhằm giới hạn hay cấm đoán các hoạt động quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế (3), dường như là một phần kế hoạch của Trung Quốc trong việc độc quyền kiểm soát quân sự trong vùng lưỡi bò của họ. Việc kiểm soát này tương đương với việc kiểm soát các hoạt động nắm lấy chủ quyền các vùng thuộc lãnh hãi của họ.

Để hiểu được việc này cũng giống như việc chẻ đôi sợi tóc; tuy nhiên, việc hiểu được các ý định sâu rộng của Trung Quốc đối với luật quốc tế nói chung trong chính sách của họ là rất quan trọng. Trung Quốc không khẳng định chủ quyền với vùng nước ở biển Nam Trung Quốc và quyền lợi đi kèm để kiểm soát các hoạt động của quân sự nước ngoài như một đặc quyền của việc sở hữu – Trung Quốc chỉ khẳng định chủ quyền để giới hạn thậm chí ngăn cấm lực lượng quân sự nước ngoài tại những vùng nước này như là vấn đề liên quan đến quyền lợi của một quốc gia ven biển có quyền đưa ra luật lệ để quản lý khu vực Đặc quyền Kinh tế của mình, vùng này không phải là khu vực chủ quyền pháp lý đặc biệt về việc bảo trì tài nguyên và môi trường. Nếu Trung Quốc khẳng định quyền kiểm soát với các tàu quân sự bởi vì họ khẳng định chủ quyền tại biển Nam Trung Quốc, Hoa Kỳ đương nhiên phản đối ý kiến này, chủ yếu dựa trên sự thực hiển nhiên; tuy nhiên, cả hai có thể đồng ý chung về mặt pháp lý rằng chỉ trong những vùng mà họ có chủ quyền về lãnh hải, họ mới có quyền kiểm soát các hoạt động quân sự nước. Như vậy, tác động pháp luật của những tranh chấp chỉ nằm trong vùng biển Nam Trung Quốc, như với trường hợp với Libya từng tuyên bố quyền kiểm soát các hoạt động quân sự nước ngoài trong vùng Vịnh Sidra dựa trên đòi hỏi quá trớn của họ về chủ quyền trong vùng nước đó.

Điều khiến cho trường hợp của Trung Quốc quan trọng đối với quyền lợi của Hoa Kỳ là việc Trung Quốc khẳng định vùng EEZ có thể làm thay đổi các cùng EEZ khác trên toàn thế giới. Bằng việc khẳng định chủ quyền đối với vùng EEZ nói chung, nếu mà trường hợp của Trung Quốc được chấp nhận thì có thể sẽ thay đổi cách nhìn của luật hải phận quốc tế về vùng EEZ ở khắp mọi nơi. Như vậy, có thể EEZ sẽ bao trùm một phần ba đại đương thế giới, và tất nhiên một trăm phần trăm vùng bờ biển, những vùng đảo, và nhiều vùng chiến lược của thế giới và những kênh thông tin trên biển, quan điểm pháp lý của Trung Quốc đã xem thường sự quan tâm và tiềm lực hải quân Hoa Kỳ, như một sự đảm bảo chính về an ninh biển nói riêng.

Sự tự nhận về chủ quyền vùng EEZ của Trung Quốc chiếm gần hết biển nam Trung Quốc( B.Đông) đã là một vấn đề gây tranh cãi, cùng lúc đó ít nhất bốn nước khác kể cả Đài Loan cũng tự nhận chủ quyền tuyệt đối của mình tại ít nhất vài hòn đảo; tuy nhiên còn hơn thế nữa vì nhiều đảo tại đây quá nhỏ để công nhận vùng EEZ theo luật định về biển (UNCLOS) của LHQ. Tuy nhiên, thêm vào đó theo luật quốc gia của Trung Quốc và sự diễn dịch luật về hải phận quốc tế, Trung Quốc tự thừa nhận quyền hợp pháp để toàn quyền giới hạn hoặc điều chỉnh các hoạt động quân sự của lực lượng nước ngoài tại vùng EEZ và vùng tiếp giáp vùng EEZ (4). Đối với Hoa Kỳ, việc Trung Quốc tự nhận quyền hợp pháp của mình là một vấn đề thách thức và nan giải vì Trung Quốc hiện nay đang xây dựng một lực lượng hải quân mạnh, sớm hay muộn cũng sẽ hửu hiệu ngăn cản các nước láng giềng bảo vệ hải phận của mình mà phần nhiêu trong số đó là các bạn và đồng minh của Hoa Kỳ bởi vì Trung Quốc đã tăng cường sức mạnh quân sự và hải quân để phá rối các chiến dịch của lực lượng hải quân Hoa Kỳ trong và ngoài biển Nam Trung Quốc (b.Đông).

Theo quan điểm của tôi, Trung Quốc tự xem mình đang ở điểm đỉnh của quá trình nhằm chiếm thế thượng phong tại biển Nam Trung Quốc (biển Đông). Có lẽ một trong những lý do khiến Trung Quốc tăng cường hoạt động quân sự chống lại tàu chiến Hoa Kỳ tại đây là vì họ xem những cản trở trong việc khẳng định chủ quyền của họ chính là là hải quân Hoa Kỳ và ý chí chính trị của Hoa Kỳ sẽ ủng hộ việc tự do đi lại và sự khẳng định chủ quyền của bạn bè và đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực. Tôi cho rằng Trung Quốc đã xác định vấn đề thứ hai là điều trọng nhất ngăn cản họ mở rộng ảnh hưởng, nhất là trong lúc kinh tế khó khăn và lực lượng quân sự quốc gia chú trọng vào bộ binh trong cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq. Theo quan điểm của tôi, điều này là một trong những nguyên nhân khiến cho Trung Quốc tăng cường các chiến dịch gần đây để quấy rầy các chiến dịch hải quân của Hoa Kỳ trong khu vực: nếu Trung Quốc đánh giá thấp ý chí chính trị của Hoa Kỳ trong việc tiếp tục các chiến dịch hải quân tại đây, Trung Quốc không cần thách thức sức mạnh của hải quân Hoa Kỳ để đạt được mục tiêu. Trung Quốc có thể xói mòn hiệu quả của hải quân Hoa Kỳ một cách gián tiếp mà vẫn đạt được kết quả tương tự.

Thực vậy, một số nhà phân tích và học giả am hiểu đã cho rằng qua tính toán của Trung Quốc về sức mạnh của Hoa Kỳ cho thấy sự khẳng định chủ quyền một cách hung hăng của nước này tại biển Nam Trung Quốc (b.đông). Theo lối suy nghĩ này, trong nhiều thập kỷ qua Trung Quốc lợi dụng các thay đổi nhỏ có lợi cho họ trong các quá trình chuyển hoá quyền lực của địa phương trong các động thái về biển Nam Trung Quốc( b.đông)(5). Vài hành động của Trung Quốc có thể được đánh giá là mang tính cơ hội, như trận hải chiến chiếm quần đảo Trường Sa vào năm 1974 với Việt Nam Cộng Hoà khi Hoa Kỳ đang hoàn tất việc rút quân khỏi Nam Việt Nam, và tiếp tục vào năm 1976 khi Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa từ một Việt Nam vừa mới thống nhất. Sau đó vào mùa xuân 1988, khi tàu chiến Hoa Kỳ đang chú ý vào việc hộ tống bảo vệ tàu chở dầu qua eo biển Hormuz, Trung Quốc lại tiếp tục tấn công hải quân Việt Nam tại quần đảo Trường Sa và chiếm thêm nhiều đảo nữa. Cuối cùng, vào cuối năm 1994 và đầu năm 1995, khoảng 2 năm sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi căn cứ hải quân ở vịnh Subic, Trung Quốc lẳng lặng chiếm dãy đá ngầm Mischief, một đãy đá ngầm nhỏ gần đảo Palawan thuộc quyền kiểm soát của Philippine.Tàu chiến củaTrung Quốc lưu lại trong khu vực cho đến khi Trung Quốc xây xong một căn cứ quân sự nhỏ nơi đây.

Những chuyển đổi quyền lực gần đây tại biển Nam Trung Quốc (biển đông) không thể được xếp vào loại mang tính cơ hội được nữa. Chúng là kết quả của quá trình nghiên cứu, phát triển và đầu tư của Trung Quốc trong rất nhiều năm trong việc chế tạo công nghệ quân sự nhằm ngăn cản sự tiếp cận của Hoa Kỳ đối với vùng biển Đông Á. Điển hình là công trình nghiên cứu của Lyle Goldstein và William Murray cho thấy rằng Trung Quốc đang tích cực tăng cường lực lượng tàu ngầm và khả năng khai thác các khoáng sản biển(6), và nghiên cứu của Andrew Erickson và David Yang ghi nhận rằng Trung Quốc đang phát triển chương trình tên lửa đạn đạo chống tàu chiến(7). Ngoài việc thay đổi cán cân quân sự trong khu vực, các chiến dịch quân sự của Trung Quốc nhằm loại bỏ tính hợp pháp chính đáng của các hoạt động hải quân của Hoa Kỳ có vẻ như muốn thay đổi cục diện chính trị nơi đây. Sự quan sát này dựa trên học thuyết ”3 Cuộc chiến mới” của Trung Quốc. 3 cuộc chiến này là cuộc chiến hợp pháp, cuộc chiến dư luận và cuộc chiến tâm lý. Sự chú tâm của Trung Quốc đối với 3 mục tiêu này nhằm tạo lợi thế đối nội và đối ngoại chính đáng tại các vùng đảo và quyền kiểm soát các hoạt độgn quân sự của Trung Quốc tại biển nam Trung Quốc (b.Đông). Một bài viết trên báo Hải quân Nhân dân vài năm trước cũng từng nhận định rằng mục đích của một cuộc chiến pháp lý “…là để phòng ngừa xa,… tiêu diệt mọi mầm mống của vấn đề trước khi nó thực sự trỗi dậy…” để “ cung cấp sự chính danh cho một hành động quân sự,” và để “tham gia vào các cuộc tranh chấp hợp pháp” nhằm “bảo vệ chủ quyền quốc gia và lãnh thổ”(8). Do đó, những phương pháp “mới” này được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu chiến thuật mà không cần phải sử dụng bạo lực bằng cách sử dụng đòn bẩy dư luận cùng với việc đưa ra một đe dọa từ sức mạnh quân sự đang lớn mạnh của Trung Quốc.

Có vẻ như Trung Quốc đang tận dụng cơ hội để tăng cường sự giải quyết có lợi cho mình tại biển Nam Trung Quốc (b.Đông). Cuộc đối thoại song phương duy nhất hiện nay về biển Nam Trung Quốc (b.Đông) mà tôi biết dường như dậm chân tại chỗ. Uỷ ban Chỉ đạo Hợp tác Hữu nghị Việt -Trung vừa ra một thông báo sau kỳ hội nghị lần thứ hai năm 2008 là đôi bên “đồng ý giải quyết mọi tranh chấp bằng thương lượng vì hòa bình và ổn định tại biển Nam Trung Quốc.” Tuy nhiên, tuyên bố này hoàn toàn trái ngược với việc Trung Quốc luôn luôn khẳng định “chủ quyền không thể chối cãi” đối với các đảo tại biển Nam Trung Quốc, bao gồm việc mới đây vào tháng 5 2009 khi Trung Quốc ra tuyên bố tại LHQ đáp trả lại khẳng định chủ quyền của Philippines và Việt Nam(9). Nếu Trung Quốc tiếp tục không muốn công nhận bất cứ đảo nào tại đây thuộc về các nước láng giềng thì có gì để mà thương lượng. Trong tranh chấp hải phận với Nhật Bản tại biển Đông Trung Quốc, Trung Quốc có vẻ nhập nhằng trong việc Nhật kiểm soát quần đảo Senkaku, thậm chí Trung Quốc còn có những hành động khiêu khích để khẳng định chủ quyền và đợi khi vị thế của Trung Quốc lớn hơn Nhật sẽ áp đặt sự khẳng định chủ quyền này(10). Theo tôi, Trung Quốc cũng đang dùng biện pháp tương tự để khẳng định chủ quyền ở biển Nam Trung Quốc. Nếu vị thế hiện nay của họ không đủ mạnh để áp đặt chủ quyền của mình thì Trung Quốc có xu hướng đợi đến khi vị thế của mình mạnh hơn để áp đặt hơn là chấp nhận thương lượng.

Tuy nhiên, với sự can thiệp của Hoa Kỳ thì có thể khiến cho các bên ngồi lại ít nhất là để thương lương đa chiều với nhau để giải quyết va chạm và tránh sự leo thang về tranh chấp về vùng EEZ, thềm lục địa, khẳng định an ninh và quyền tiếp cận khu vực. Nội dung thảo luận Hoa Kỳ vì quyền lợi của mình nên nêu rõ rằng mình ủng hộ các giải pháp hoà bình đối với các tranh chấp lãnh thổ như đã được trình bày trong Điều luật Hành xử vùng biển Nam Trung Quốc, và chúng ta sẽ giữ lời hứa với các nước bạn và đồng minh bằng việc hỗ trợ họ nếu bị tấn công và khẳng định những sự tăng cường hoạt động quân sự và tuần tra biển của Trung Quốc là không mang tính xây dựng. Các bên cũng nên kiềm chế hành động của mình. Kết quả cuối cùng có thể là cơ hội lịch sử cho Trung Quốc để họ chứng minh việc mình phát triển quân sự chỉ nhằm mục đích hòa bình và ý định thân thiện với các nước láng giềng.

Vào điểm sau này thì đã có một số nghi ngờ, đặc biệt là ở Nhật. Thực vậy, từng có một cuộc tranh cãi nẩy lửa giữa các học giả và các phân tích gia người Trung Quốc về việc Hải quân Trung Quốc nên lớn mạnh đến đâu để nhằm phát riển khả năng “vùng nước xanh”. Tuy nhiên, theo tôi, hoàn toàn không có khả năng việc Trung Quốc đang cố gắng xây dựng hải quân để đối đầu với hải quân Hoa Kỳ trong việc thống lĩnh biển trong tương lai gần. Kết quả bắt buộc của việc quân đội Trung Quốc phát triển mạnh trong 2 thập kỷ qua, và đặc biệt là sau khi Trung Quốc gửi quân đến vịnh Aden để hỗ trợ việc chống hải tặc nơi đây, được cho là có lẽ việc xây dựng hải quân của Trung Quốc có thể che dấu ý định của mình để một ngày nào đó vượt cả việc xây dựng khu vực phòng thủ Đông Á để thách thức vị thế độc tôn của Hoa Kỳ trên thế giới. Tuy nhiên, theo tôi, sự tiến triển này sẽ khó có khả năng xảy ra vì 3 lý do.

Thứ nhất, Trung Quốc sẽ không xây dựng một lực lượng hải quân viễn chinh lớn bởi vì không phải là một lợi ích địa lý cho một nước mạnh về lục địa lại đi tập trung quá nhiều nguồn lực để kiểm soát đường hàng hải quốc tế, đặc biệt khi lực lượng hải quân hùng mạnh đã có sẵn và cung cấp dịch vụ miễn phí(11). Thứ hai, nhiều nước cho rằng Trung Quốc đã gặp quá nhiều thách thức về kinh tế, chính trị và xã hội và chúng sẽ tranh giành nguồn lực và sự quan tâm chính trị trong suốt thời gian còn lại của thế kỷ này nên Trung Quốc không thể có điều kiện để chịu thêm áp lực (12). Qua những quan sát trên, tôi xin thêm vào một điểm nữa là lý do khiến tôi không cho rằng Trung Quốc đang trởthành một sức mạnh về hàng hải: nếu Trung Quốc có ý định phát triển sức mạnh hải quân để thách thức Hoa Kỳ ngoài biển Đông và Nam Trung Quốc, dấu hiệu nổi bật của ý định này sẽ là sự thay đổi trong quan điểm về luật biển quốc tế từ việc cấm tiếp cận sang tiếp cận, bởi vì khả năng để kiểm soát và sử dụng hỏa lực hải quân mà không có sự cho phép của luật quốc tế sẽ là sự đầu tư xa xỉ mà không có ích lợi thực tế. Như vậy, nghịch lý thay, vì quyền lợi của mình, Hoa Kỳ nên chấp nhận sự cọ xát giữa các luồng quan điểm khác nhau về luật biển quốc tế như một cái giá có thể chấp nhận được của việc tách những quyền lợi căn bản của một quyền lực lục địa mạnh ra khỏi một quyền lực hàng hải mạnh.

Điều đó không phải để nói rằng Hoa Kỳ không nên làm giảm giá trị hoặc quan điểm của mình dưới bất kỳ hình thức nào khi đề cập đến luật tiếp cận hải phận quốc tế cho những việc liên quan đến hòa bình và an ninh thế giới hoặc những sứ mạng liên quan đến an ninh biển tư những đe doạ bất thường. Tuy quan điểm về luật biển của Mỹ được đồng thuận bởi 140/157 thành viên của UNCLOS, phần còn lại đồng thuận với Trung Quốc trên một hay nhiều phương diện rằng những nước ven biển có quyền giới hạn các hoạt động quân sự của lực lượng nước ngoài, chúng ta không nên ỷ lại vào tình trạng hiện tại. Thực vậy, quan điểm củaTrung Quốc đã lôi kéo được khá nhiều sự đồng thuận, kể cả một số nước láng giềng. Tuy chính phủ của Philippines, Indonesia và một số nước trong vùng vẫn chấp nhận quan điểm cho phép hoạt động quân sự tự do trong vùng EEZ; nhưng, đại diện của những nước này cũng bày tỏ sự ủng hộ ngầm với quan điểm củaTrung Quốc, lý do hợp lý nhất là họ muốn cầm chân việc phát triển của hải quân Trung Quốc nơi đây. Điều này cho ta thấy những cộng sự của ta tại khu vực Châu Á cũng cảm nhận được sự chuyển động về quyền lực tại biển Nam Trung Quốc và họ cần nhiều sự quan tâm của ta hơn hiện nay rằng Hoa Kỳ vẫn thực hiện đầy đủ các cam kết về an ninh khu vực và vẫn duy trì một lực lược hải quân hùng hậu trong vùng.

Bảo vệ những quy ước truyền thống về các hoạt động quân sự bằng việc duy trì cam kết để vượt trội về sức mạnh hải quân toàn cầu sẽ có những kết quả quan trọng cho vùng Đông Á và hơn thế nữa. Một vành đai chống tiếp cận đang được phát triển xuyên vùng đất Nam Á từ biển Arabian đến biển Nhật Bản. Trong số khoảng mười quốc gia đang chính thức giữ nguyên quan điểm pháp lý đối chọi với quyền tự do vốn có về hoạt động quân sự trong và ngoài vùng EEZ, các nước tập trung trong khu vực dọc theo vùng duyên hải Nam Á đang đóng chiếm giữ các tuyến cáp thông tin vô cùng quan trọng của thế giới. Trong khu vực này, các nước Iran, Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Burma, Malaysia, Trung Quốc, Bắc Hàn đều thực hiện việc kiểm soát đối với lực lượng quân sự nước ngoài tại vùng EEZ. Việt Nam cũng có thể được xếp vào danh sách này; tuy nhiên, nước này đã tự vẽ đường cơ sở lớn hơn thay vì khẳng định quyền kiểm soát vùng EEZ như là một phương pháp chống xâm nhập. Đây là một bổ xung bên cạnh những chấp thuận ngầm cho quan điểm chống thâm nhập thỉnh thoảng được đưa ra bởi một số học giả và quan chức của một số quốc gia trong khu vực đã không nêu ra ở đây. Trong số các quốc gia đó, vài nước cũng đã xây dựng được lực lượng hải quân đáng kể trong khu vực trong khi một số nước khác đang cố gắng sở hữu khả năng hạt nhân hoặc những công nghệ chống xâm nhập giống như Trung Quốc để tăng trọng lượng cho quan điểm pháp lý của họ.

Để chống lại những quan ngại về việc chống xâm nhập của những nước ven biển này, Hoa Kỳ cần đặt trọng tâm việc giới thiệu và trình bày những lợi ích an ninh biển có thể có từ tiềm năng hải quân mạnh cùng với với quyền được tiếp cận rộng rãi các vùng biển. Đặc biệt, Hoa Kỳ cần tìm cơ hội để cam kết với Trung Quốc và các nước khác trong vùng về các hoạt động hợp tác quốc tế để ổn định vùng biển khỏi các bất ổn truyền thống và không truyền thống. Thêm nữa, vì Trung Quốc ngày càng muốn đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn đầu thế giới, bằng chứng rõ ràng là Trung Quốc với những nỗ lực tham gia lực lượng giữ hòa bình, hợp tác bình đẳng với Trung Quốc rất có lợi về nhiều mặt cho mối quan hệ chung (13). Việc mời tàu chiến Trung Quốc tham gia vào các chiến dịch giữ an ninh hàng hải – thậm chí khi ta vẫn đang bất đồng về quan điểm chủ quyền – nên trở thành một kế hoạch định hướng. Đạt một mục tiêu chung về hàng hải bằng cách làm việc trong cùng một khu vực chung hoặc riêng trong khi thực hiện các tác vụ khác nhau như đã thấy trong các chiến dịch ở vịnh Aden hiện tại đáng được nghiên cứu kỹ hơn như một chuẩn mực của hợp tác trong tương lai ở trên biển giữa các phe phái không nhất thiết phải có sự đồng thuận hoàn toàn.

Thực ra, việc Trung Quốc quyết định tham gia vào các chiến dịch chống hải tặc tại vịnh Aden mở ra một cơ hội đáng khuyến khích cho việc hợp tác hải quân để mang lại trật tự và ổn định cần thiết cho một cơ chế hoạt động tốt toàn cầu, nơi mà tình trang kinh tế và sức mạnh chính trị mà các nước chính dựa vào. Thêm vào đó, những chiến dịch như vậy cho phép Trung Quốc tham gia trong việc cung cấp “hàng hóa toàn cầu” từ những chiến dịch hải quân nhân đạo và thuộc về an ninh được ủng hộ bởi những can thiệp hợp lý, tiếp cận có định hướng của luật biển quốc tế.

Một điểm cuối về quan hệ hợp tác Trung Quốc – Hoa Kỳ trên biển: vì biển đông và biển nam Trung Quốc đều mang tính chiến lược quan trọng cho cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, và vì vậy sẽ có thể tiếp tục những va chạm; nếu họ hoạt động xa hơn vùng duyên hải biển Đông Á thì khả năng hợp tác giữa hải quân hai bên sẽ dễ thực hiện hơn. Thách thức đối với Hoa Kỳ trong việc quan hệ với Trung Quốc là giữ được ảnh hưởng tại Đông Á mà vẫn thúc đẩy quá trình hợp tác toàn cầu. Trung Quốc khao khát muốn đóng vai trò của một quyền lực có trách nhiệm trên thế giới và song song với việc họ sẵn sàng cam kết các nhiệm vụ an ninh, dù không phải trên hình thức hợp tác trực tiếp với hải quân của Hoa Kỳ hoặc của các nước khác tại vịnh Aden, vẫn cho thấy những cơ hội như thế trong tương lai sẽ xảy ra và chúng nên được chào đón nồng nhiệt. Trung Quốc càng hợp tác với Hoa Kỳ nhiều giống như các quốc gia có cùng ý tưởng đó tại Đông Á, thì càng có nhiều cơ hội cho các yếu tố tin tưởng cần thiết để cân bằng mối quan hệ Trung Quốc – Hoa Kỳ tại Đông Á. Các cơ hội cho việc hợp tác tại Đông Á như cứu trợ nhân đạo hoặc ngăn cản dịch bệnh, Trung Quốc nên được chào đón như môt cộng sự. Các tàu bệnh viện mới của Trung Quốc có thể mang lại các cơ hội cho việc này, việc hợp tác của các tàu bệnh viện của Hoa kỳ và Trung Quốc nên được cân nhắc để mang lại nhiều lợi ích của y tế hiện đại đến cho các vùng kém phát triển ở Đông Nam Á. Cuối cùng, những hoạt động như thế này sẽ mang lại yếu tố tin tưởng cần thiết, dựa trên việc tăng cường tiếp xúc về quân sự, sẽ mang lại sự ổn định chiến lược cần thiết mà các bên đều mong muốn.

Tóm lại, hai hành động thể hiện vai trò dẫn đầu quan trọng mà Hoa Kỳ lúc này nên làm để thực hiện việc tự do định vị, một sự quan trọng chiến thuật đối với an ninh Hoa Kỳ là trước hết cần khẳng định lại vị trí của chúng ta là những người ủng hộ cho quyền xâm nhập dựa trên luật biển quốc tế. Trong một thời gian quá dài, chúng ta đã bỏ qua mục tiêu quan trọng này đối với an ninh Hoa Kỳ. Chúng ta đã ỷ lại vào lập luận rằng những quyền lợi theo quan điểm của chúng ta là tất nhiên và trông đợi những nước khác cảm thấy có lý để được thuyết phục bởi quan điểm của chúng ta, hoặc chúng ta đã đơn thuần dựa trên sức mạnh quốc gia để thực hiện những mục tiêu về hải phận mà ta quan tâm mà không để ý đến những các nước khác nghĩ gì. Tuy nhiên, ngày này thậm chí không có một sự thống nhất về quan điểm trong chính sách về biển trong các cơ quan chính phủ. Chính phủ liên bang sẽ có lợi từ một chính sách về biển thống nhất, và từ chính sách đó, đề ra một kế hoạch thông tin chiến lược và hiệu quả để giải thích những lợi ích và sức mạnh quan điểm của Hoa Kỳ trên biển.

Thứ hai, kể tứ tháng 10/2007, hải quân Hoa Kỳ đang hoạt động dưới một chiến lược trên biển trong đó phản ảnh quan hệ hợp tác toàn cầu như là một trong những nền tảng quan trọng trong an ninh hàng hải toàn cầu để chống lại các mối đe dọa truyền thống lẫn không truyền thống. Như Amiral Willard từng đề cập gần đây,” từng trạng không phe phái hiện thời của chúng ta ràng buộc” trong việc tạo dựng mối quan hệ cộng tác để đạt được an ninh trong và ngoài nước. Như Đô đốc Willard đã tường trình rằng "vị trí không theo phe nhóm của chúng ta đã ngăn cản" chúng ta thành lập những nhóm hợp tác để đạt được nền an ninh quốc gia và thế giới. Đô đốc Willard cũng cho rằng UNCLOS đóng vai trò quan trọng bởi vì nó cung cấp một quy chế mạnh mẽ cho các hoạt động chống lại các mối nguy hại truyền thống lẫn không truyền thống trêm toàn cầu. Vì những lý do này, tôi cũng bổ xung rằng việc Trung Quốc liên tục quảng bá quan điểm chống xâm nhập – và các khán giả lắng nghe thông điệp này đang lan ra các khu vực quan trọng của thế giới – điều này nhắc chúng ta không nên ỷ lại khả năng tự do định vị cho các mục đích quân sự mà chúng ta đang sử dụng. Trung Quốc đang khẳng định vai trò lãnh đạo của trong những vấn đề như thế này trong Hội Đồng. Ngược lại, Hoa Kỳ thì không. Một thẩm phán Trung Quốc đang ngồi ở Tòa án Luật biển Quốc tế. Hòa toàn không có thẩm phán Mỹ. Khi các thương lượng về việc thay đổi điều luật diễn ra, Trung Quốc có một ghế ở đó và sẽ bỏ phiếu còn Hoa Kỳ thì không. Để cải thiện vị trí lãnh đạo thế giới của ta, theo tôi Hoa Kỳ nên tham gia với 157 nước khác hiện đang là thành viên của Hội đồng LHQ về Luật biển trong khi có cơ hội sớm nhất có thể.

Tóm lại, luật biển quốc tế rất quan trọng và Hoa Kỳ cần lưu ý để bảo đảm các quyền lợi của chúng ta được bảo vệ trong vấn đề xâm nhập trong luật biển. Tuy nhiên sức mạnh sẽ có hiệu lực hơn là lời nói. Theo tôi, việc bảo vệ sức mạnh hàng hải chúng ta không bị xoá sạch thì rất quan trọng với an ninh quốc gia của nước ta lẫn các nước khác. Quyền lực đang thay đổi tại Đông Á, không phải cân bằng mà là chuyển đổi. Cơ hội tốt nhất của Mỹ để giữ hòa bình tại khu vực là tỏ thái độ kính trọng với vị thế mới trong vùng củaTrung Quốc bằng cách chìa tay ra để hợp tác về mặt hàng hải. Tuy nhiên, để đạt được những gì ta, các bạn bè và đồng minh quan tâm, ta phải giữ ưu thế vượt trội về sức mạnh hàng hải.

Chú thích:

(1): Luật về biển của CHNDTH và vùng tiếp giáp , 25/2/1992(2): Luật về về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của CHNDTH, 26/7/1992

(3): Peter Dutton, phúc trình trước hội đồng kinh tế an ninh Trung Quốc – Hoa Kỳ: http://www.uscc.gov/hearings/2009hearings/written_testimonies/09_06_11_wrts/09_06_11_dutton_statement.pdf.

(4): Khảo sát và xem xét luật của CHNDTH, 29/8/2002, và các quy định của CHNDTH về quản lý của nước ngoài liên quan đến Nghiên cứu khoa học biển, 1/10/1996 . Đối với một độc quyền của quan điểm của Trung Quốc trên luật pháp lý cho các quốc gia ven biển để hạn chế các hoạt động quân sự nước ngoài trong EEZ, xem Ren Xiaofeng và Cheng Xizhong, Quan điểm của Trung Quốc , 29 Chính sách biển(2005), trang 139

(5): Bonnie S. Glaser and Lyle Morris, nhận xét của Trung Quốc về sự suy giảm của Hoa Kỳ, Tổ chức Jamestown, 9/7/2009; và Richard Fisher, Jr., Cuộc chiến mới ở biển Nam Trung Quốc: Trung Quốc đã ranh ma hơn, Trung tâm định hướng và chiến lược, 28/6/2008(6): Goldstein Lyle và Murray William, những con rồng Dưới mặt biển, Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc, An ninh quốc tế, Vol. 28., No. 4, Xuân 2004, pp. 161-196

(7): Andrew S. Erickson và David D. Yang, bên rìa của một người thay đổi cuộc chơi , Những việc Viện Hải quân Hoa Kỳ đạt được,1/5/ 2009

(8): Jin Hongbing, Cuộc chiến hợp pháp: công cụ sắc bén mài giũa các cơ hội để tận dụng các sáng kiến, People’s Navy( Renmin Haijun, ở Trung Quốc), 29/6/2006

(9): Brian McCarten, Khuấy động vùng nước tại quần đảo Spratly, Asian Sentinal, 4/2/2008; và Trung Quốc nói rằng các nước láng giềng nên tránh xa khỏi các đảo đang tranh chấp, Reuters 12/5/2009

(10): Xiongdu, Trung Quốc bắt đầu thí nghiệm an toàn tại biển Đông Trung Quốc, CCTV, 3/7/2008

(11): Robert s Ross, The Geography of the Peace: East Asia in the 21st Century, An ninh quốc tế, Vol 23, No 4, Xuân 1999, pp 81-118(12): Susan Shirk, Fragile Superpower: How China‟s Internal Politics Could Derail its Peaceful Rise, Oxford University Press (2007)

(13): Peter Duton, Charting A Course: U.S.-China Cooperation at Sea, An ninh Trung Quốc, 3/2009

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: