Skip to content

THÔI BỐI ĐỒ từ Dân Quốc đến về sau

24/08/2010

  • Dân Quốc 38 năm sau: từ 40 đến 59 (sau thời Mao cho tới nay và thời gian sắp tới, rất quan trọng có dịch nghĩa từ đồ hình)
40 第四十象 癸卯 巽下艮上 谶曰:一二三四 无土有主

小小天罡 垂拱而治

颂曰:一口东来气太骄 脚下无履首无毛

若逢木子冰霜涣 生我者猴死我雕

金圣叹:「此象有一李姓,能服东夷,而不能图长治久安之策,卒至旋治旋乱,有兽活禽死之意也。」〈此似指国民党迁台

Đệ tứ thập tượng: Quý Mão – Tốn Hạ – Cấn Thượng – Cổ

Sấm viết: nhất nhị tam tứ, vô thổ hữu chủ, tiểu tiểu Thiên Cương, thùy củng nhi trì

Tụng viết: nhất khẩu đông lai khí thái kiêu, cước hạ vô lí thủ vô mao, nhược phùng mộc tử băng sương hoán, sanh ngã giả hầu tử ngã điêu

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất lí tính, năng phục đông di, nhi bất năng đồ trường trì cửu an chi sách, tốt chí toàn trì toàn loạn, hữu thú hoạt cầm tử chi ý dã thử tự chỉ Quốc Dân Đảng thiên thai

Lược dịch:

Sấm viết: một hai ba bốn, đất ở không có chủ, sao Thiên Cương bé nhỏ, cung kính cúi đầu mà sửa trị.

Tụng viết: một cửa (khẩu) to lớn ở phía đông qua lại, dưới chân chẳng có giầy dép đầu không tóc, nếu như giống (mầm) cây gỗ gặp (được) băng sương tan rã, (như) con khỉ đã chết, ấy là ta sống lại (mà) trở thành con chim diều hâu kên kên.

Kim Thánh Thán: tượng này có một tánh lý, có tài (khả) năng chế phục (qui phục) Đông di (Nhật Bản), mà không có khả năng mưu đồ trường trị (trị vì lâu dài), sách lược yên bình lâu dài. Lính tốt (lính quèn) quay trở lại (thì) rối loạn, (mạng người) chết (như) loài chim thú vậy, ấy là chỉ Quốc Dân đảng vậy. (thời kỳ Nhật Bản – Tưởng – Mao)

41 第四一象 甲辰 离下离上 离谶曰:天地晦盲 草木繁殖

阴阳反背 上土下日

颂曰:帽儿须戴血无头 手弄乾坤何日休

九十九年成大错 称王只合在秦州

金圣叹:「此象一武士握兵权,致肇地覆天翻之祸,或一白姓者平之。〈此指毛泽东所行各种运动,九十九合成是廿八年,与毛在位期相合。秦州即陕西省,延安亦在陕西。帽儿 戴是说扣帽子。

Đệ tứ nhất tượng : Giáp thần Li hạ Li thượng Li

Sấm viết: thiên địa hối manh, thảo mộc phồn thực, âm dương phản bối, thượng thổ hạ nhật

Tụng viết: mạo nhân tu đái huyết vô đầu, thủ lộng Kiền Khôn hà nhật hưu, cửu thập cửu niên thành đại thác, xưng vương chích hợp tại Tần Châu

Kim Thánh Thán: thử tượng nhất vũ sĩ ác binh quyền, trí triệu địa phúc thiên phiên chi họa, hoặc nhất bạch tính giả bình chi, (thử chỉ Mao Trạch Đông sở hành các chủng vận động, cửu thập cửu hợp thành thị nhập bát niên, dữ Mao tại vị kì tương hợp, Tần Châu tức Thiểm Tây tỉnh, duyên an diệc tại Thiểm Tây, mạo nhân đái thị thuyết khấu mạo tử

Lược dịch:

Sấm viết: trời đất tối tăm mờ mịt, cây cỏ cây cỏ đầy rẫy (hoang vu tiêu điều cây cỏ mọc hoang đầy rẫy), âm dương quay lưng đối nhau, mặt trời ở dưới mặt đất.

Tụng viết: người đội mũ râu quai nón (có) tâm huyết sắt máu, không ai đứng trên được, tài giỏi bỡn cợt cả Kiền Khôn mà sao ngày lại tốt lành, chín mười chín năm thành lầm lẫn lớn, chỉ một mình xưng vua ở tại Tần Châu.

Kim Thánh Thán: tượng này là một võ sĩ nắm bình quyến, suy cho cùng là nơi chốn bắt đầu gây ra cái hoạ tự nhiên lập lại, hoặc ấy là một thời bày ra trăm họ được bình trị chăng ? (đó là ám chỉ nơi mà Mao Trạch Đông vận động các phong trào quần chúng, chín mười phong trào đảng phái qui tụ về một thành lập nên làm một trong 28 năm đều là do Mao tập hợp thành, Tần Châu tức là tỉnh Thiểm Tây, cuộc khởi tạo sự nghiệp của Mao cũng ở Thiểm Tây, người đội mũ chính là Mao Trạch Đông vậy

42 第四二象 乙巳 艮下离上 旅谶曰:美人自西来 朝中日渐安

长弓在地 危而不危

颂曰:西方女子琵琶仙 皎皎衣裳色更鲜

此时浑迹匿朝市 闹乱君臣百万般

金圣叹:「此象疑一女子当国,服色尚白,大权独揽,几危社稷,发现或在卯年,此始乱之兆也

Đệ tứ nhị tượng: Ất Tị Cấn hạ Li thượng Lữ

Sấm viết: mĩ nhân tự tây lai, triêu trung nhật tiệm an, trường cung tại địa, nguy nhi bất nguy

Tụng viết: tây phương nữ tử tỳ bà tiên. kiểu kiểu y thường sắc canh tiên, thử thì hồn tích nặc triêu thị, nháo loạn quân thần bách vạn bàn

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất nữ tử đương quốc, phục sắc thượng bạch, đại quyền độc lãm, kỉ nguy xã tắc, phát hiện hoặc tại Mão niên, thử thủy loạn chi triệu dã.

Lược dịch:

Sấm viết: Người đẹp đến từ phía Tây, ngày giữa sớm mai dần dần yên định, bề dài đo tại đất, nguy nhưng mà chẳng nguy (hoặc cao ngất ngưởng tưởng nguy hiểm nhưng chưa hẳn là nguy hiểm).

Tụng viết: Con gái phương Tây (ôm cây) đàn Tỳ bà (đẹp như) tiên, đổi thay quần áo sạch sẽ lại (càng) thêm tươi tốt (Giang Thanh diễn viên sân khấu điện ảnh ?), ấy thời ẩn dấu vết vẩn đục từ sớm (như) ở chợ búa, vua tôi (bàn cãi) quanh co ầm ỹ nháo nhào rối loạn (đại ý là nhìn bề ngoài áo quần sạch sẽ đẹp đẽ tốt tươi đấy, nhưng ẩn dấu bên trong lẫn lộn sạch đẹp bẩn xấu như các loại ở chợ đã được che dấu sớm từ trước rồi).

Kim Thánh Thán: tượng này nghi ngờ có một nữ nhân đảm đương việc nước, áo mặc màu trắng ở trên, nắm chiếm lấy một mình quyền thế, làm nguy nan cho xã tắc, phát hiện ra ở năm Mão, ấy là cái triệu chứng mới bắt đầu loạn vậy. (thời Giang Thanh mới bắt đầu được Mao sủng ái ?)

43 第四三象 丙午 巽下离上 鼎谶曰:君非君 臣非臣

始艰危 终克定

颂曰:黑兔走入青龙穴 欲尽不尽不可说

唯有外边根树上 三十年中子孙结

金圣叹:「此象疑前象女子乱国未终,君臣出狩,有一杰出之人为之底定,然必在三十年後

Đệ tứ tam tượng: Bính Ngọ Tốn hạ Li thượng Đỉnh

Sấm viết: quân phi quân, thần phi thần, thủy gian nguy, chung khắc định

Tụng viết: hắc thỏ tẩu nhập thanh long huyệt, dục tẫn bất tẫn bất khả thuyết, duy hữu ngoại biên căn thụ thượng, tam thập niên trung tử tôn kết

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi tiền tượng nữ tử loạn quốc vị chung, quân thần xuất thú, hữu nhất kiệt xuất chi nhân vi chi để định, nhiên tất tại tam thập niên hậu

Lược dịch:

Sấm viết: vua chẳng ra vua, tôi chẳng phải là tôi tớ, thời gian đầu gian nan nguy khốn, sau được yên định.

Tụng viết: con thỏ đen chạy vào hang rồng xanh (Đặng Tiểu Bình ẩn trốn chờ thời cơ ?), tham muốn hết sức chẳng còn có thể nói gì được nữa (tứ nhân bang).

Kim Thánh Thán: tượng này là nghi ngờ nữ nhân (quẻ) trước là người làm cho đất nước rối loạn, vua tôi ra ngoài, có một người kiệt xuất đến làm cho yên ổn, như thế ắt hẳn ở tại 30 năm sau đó.

44 第四四象 丁未 坎下离上 未谶曰:日月丽天 群阴慑服

百灵来朝 双羽四足

颂曰:而今中国有圣人 虽非豪杰也周成

四夷重译称天子 否极泰来九国春

金圣叹:「此象乃圣人复生,四夷来朝之兆,一大治也。

Đệ tứ tứ tượng: Đinh vị Khảm hạ Li thượng Vị Tế

Sấm viết: nhật nguyệt lệ thiên, quần âm nhiếp phục, bách linh lai triêu, song vũ tứ túc

Tụng viết: nhi kim Trung Quốc hữu thánh nhân, tuy phi hào kiệt dã chu thành, tứ di trọng dịch xưng thiên tử, phủ cực thái lai cửu quốc xuân

Kim Thánh Thán: thử tượng nãi thánh nhân phục sanh, tứ di lai triêu chi triệu, nhất đại trì dã

Lược dịch:

Sấm viết: Mặt trời mặt trăng sáng đẹp ở trên bầu trời, bè lũ đen tối sợ hãi khiếp phục, hàng trăm sinh linh lại về chầu, hai lông vũ bốn chân.

Tụng viết: Mà nay Trung Quốc có thánh nhân, cho dầu chẳng phải là hào kiệt làm cho thành trọn vẹn, bốn bên (các nước chung quanh) coi trọng xem như là ông vua (của nước Trung Hoa), bĩ cực lại được thái lai đất nước như mùa xuân đẹp.

Kim Thánh Thán: tượng này là thánh nhân sinh lại, là điềmbốn bên vui vẻ quay trở lại, tất cả đều được sửa trị vậy.

45 第四五象 戊申 坎下艮上 蒙谶曰:
有客西来 至东而止

木火金水 洗此大耻

颂曰:
炎运宏开世界同 金乌隐匿白洋中

从此不敢称雄长 兵气全消运已终

金圣叹:「此象于太平之世复见兵戎,当在海洋之上,自此之後,更臻盛世矣。」

Đệ tứ ngũ tượng: Mậu Thân Khảm hạ Cấn thượng Mông

Sấm viết: hữu khách tây lai, chí đông nhi chỉ, mộc hỏa kim thủy, tẩy thử đại sỉ

Tụng viết: viêm vận hoành khai thế giới đồng, kim ô ẩn nặc bạch dương trung, tòng thử bất cảm xưng hùng trường, binh khí toàn tiêu vận dĩ chung

Kim Thánh Thán: thử tượng vu thái bình chi thế phục kiến binh nhung, đương tại hải dương chi thượng, tự thử chi hậu, canh trăn thịnh thế hĩ.

Lược dịch:

Sấm viết: Có khách đến từ hướng Tây, ở tận cùng phía Đông, mộc hoả kim thuỷ, ấy thời nhẵn nhụi sạch sẽ (hết cái) nhục lớn.

Tụng viết: vận số to lớn mở ra ở phương Nam thế giới cùng nhau, mặt trời ẩn trốn ở bên trong biển trắng, đi theo vậy mà chẳng dám xứng đáng là tài giỏi khoẻ mạnh, binh khí tan rã xong hết vận số kết thúc.

Kim Thánh Thán: tượng này là thời thái bình (đi qua lại thấy) trở lại áo giáp binh khí, đang ở tại trên biển (căng thẳng eo biển Trung Hoa – Đài Loan ?), bởi vì là sau đó, thay đổi là thời thịnh vượng (Trung Hoa tăng cường quân sự).

46 第四六象 己酉 坎下巽上 谶曰:
黯黯阴霾 杀不用刀

万人不死 一人难逃

颂曰:
有一军人身带弓 只言我是白头翁

东边门 伏金剑 勇士後门入帝宫

金圣叹:「此象疑君王昏 ,一勇士仗义兴兵为民请命,故曰万人不死一人难逃

Đệ tứ lục tượng: Kỷ Dậu Khảm hạ Tốn thượng Hoán

Sấm viết: ảm ảm âm mai, sát bất dụng đao, vạn nhân bất tử, nhất nhân nan đào

Tụng viết: hữu nhất quân nhân thân đái cung, chích ngôn ngã thị bạch đầu ông,     đông biên môn, phục kim kiếm, dũng sĩ hậu môn nhập đế cung

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi quân vương hôn, nhất dũng sĩ trượng nghĩa hưng binh, vi dân thỉnh mệnh, cố viết vạn nhân bất tử nhất nhân nan đào.

Lược dịch:

Sấm viết: Đen tối ảm đạm mịt mù, giết chết mà chẳng dùng đến gươm đao, muôn người chẳng chết, một người cũng khó mà trốn được.

Tụng viết: Có một người lính đeo cung tên trên người, chỉ nói ta là ông đầu bạc, bên ngoài cửa phía Đông, dấu gươm sắt, dũng sĩ ở cửa sau vào cung điện của nhà vua.

Kim Thánh Thán: tượng này nghi ngờ là quân vương hôn ám tối tăm, một dũng sĩ vì nghĩa khí động binh lính, vì dân mà truyền lệnh, cớ sao lại viết rằng muôn người chẳng chết một người cũng khó mà trốn chạy được ?.

47 第四七象 庚戍 坎下乾上 谶曰:
偃武修文 紫薇星明

匹夫有责 一言为君

颂曰:
无王无帝定乾坤 来自田间第一人

好把旧书多读到 义言一出见英明

金圣叹:「此象有贤君下士,豪杰来归之兆,盖辅助得人,而帝不居德,王不居功,蒸蒸然有无为而治之盛。此一治也

Đệ tứ thất tượng: Canh thú Khảm hạ Kiền thượng

Sấm viết: yển vũ tu văn, tử vi tinh minh, thất phu hữu trách, nhất ngôn vi quân

Tụng viết: vô vương vô đế định Kiền Khôn, lai tự điền gian đệ nhất nhân, hảo bả cựu thư đa độc đáo, nghĩa ngôn nhất xuất kiến anh minh.

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu hiền quân hạ sĩ, hào kiệt lai quy chi triệu, cái phụ trợ đắc nhân, nhi đế bất cư đức, vương bất cư công, chưng chưng nhiên hữu vô vi nhi trì chi thịnh, thử nhất trì dã. Nghỉ. Như yển vũ tu văn 偃武修文  nghỉ việc võ sửa việc văn.

Lược dịch:

Sấm viết: nghỉ việc võ sửa trị việc văn, sao Tử Vi sáng sủa, người đàn ông có trách nhiệm gánh nhận, một lời làm vua.

Tụng viết: Không vua chúa chẳng đế vương xếp đặt Kiền Khôn (Trời Đất), đến từ đồng ruộng (là) người hạng nhất, yêu thích giữ lấy sách cũ nhiều độc đáo, ý nghĩa lời nói ra thấy thật là sáng suốt.

Kim Thánh Thán: tượng này có vua hiền tôi giỏi ở bên dưới, là điềm hào kiệt quay trở về, được người che chở phò trợ, vậy mà vua chẳng ở đức độ, vì sao vương hầu chẳng (vì) việc công, một lũ một bọn như thế làm sao có được thịnh vượng ?, ấy vậy cần phải sửa trị vậy.

48 第四八象 辛亥 离下乾上 同人谶曰:
卯午之间 厥象维离

八牛牵动 雍雍熙熙

颂曰:
水火既济人民吉 手持金戈不杀贼

五十年中一将臣 青青草自田间出

金圣叹:「此象疑一朱姓与一苗姓争朝纲,而朱姓有以德服人之化,龙蛇相斗,想在辰巳之年,其建都或在南方

Đệ tứ bát tượng: Tân Hợi Li hạ Kiền thượng Đồng Nhân

Sấm viết: Mão Ngọ chi gian, quyết tượng duy li, bát ngưu khiên động, ung ung hi hi

Tụng viết: Thủy Hỏa Kí Tể nhân dân cát, thủ trì kim qua bất sát tặc, ngũ thập niên trung nhất tương thần, thanh thanh thảo tự điền gian xuất

Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất chu tính dữ nhất miêu tính tranh triêu cương, nhi chu tính hữu dĩ đức phục nhân chi hóa, long xà tương đấu, tưởng tại thần Tị chi niên, kì kiến đô hoặc tại Nam phương.

Lược dịch:

Sấm viết: vào khoảng Mão Ngọ, hiện trạng khởi lên ràng buộc bám dính lấy, co kéo  tám trâu, hoà hợp vui vẻ.

Tụng viết: Thủy Hỏa Kí Tể nhân dân tốt, tay cầm nắm vũ khí chẳng giết giặc, trong năm mươi năm rồi sẽ có một bày tôi, cỏ cây sinh ra xanh ngát một khoảng ruộng.

Kim Thánh Thán: tượng này ngờ rằng một người họ Chu là một mầm mống tranh giành trong triều cương, vậy mà họ Chu có đức độ cảm phục được lòng người, rồng rắn đánh nhau, nhớ lại ở năm Tị, dựng lên kinh đô hoặc ở phương Nam.

49 第四九象 壬子 坤下坤上 坤谶曰:
山谷少人口 欲剿失其巢

帝王称弟兄 纷纷是英豪

颂曰:
一个或人口内啼 分南分北分东西

六爻占尽文明见 棋布星罗日月

金圣叹:「久分必合,久合必分,理数然也,然有文明之象,当不如割据者之纷扰也

Đệ tứ cửu tượng: Nhâm tử Khôn hạ Khôn thượng Khôn

Sấm viết: sơn cốc thiểu nhân khẩu, dục tiễu thất kì sào, đế vương xưng đệ huynh, phân phân thị anh hào.

Tụng viết: nhất cá hoặc nhân khẩu nội đề, phân Nam phân Bắc phân Đông Tây, lục hào chiêm tẫn văn minh kiến, kì bố tinh la Nhật Nguyệt

Kim Thánh Thán: cửu phân tất hợp, cửu hợp tất phân, lí sổ nhiên dã, nhiên hữu văn minh chi tượng, đương bất như cát cư giả chi phân nhiễu dã

Tạm dịch:

Sấm viết: hang núi ít người, tham muốn ăn hớt mất luôn cả tổ chim (tham quá bắt lấy cả tổ chim làm tuyệt giống), đế vương xưng anh em (mỗi địa phương là một ông vua con), rối bời anh hùng hào kiệt (người nào cũng tự xưng là tài giỏi).

Tụng viết: một cái (gì đó) hoặc một ngừơi kêu khóc ở bên trong (lòng dân đau xót uất hận ở bên trong), chia Nam chia Bắc chia Đông Tây (chia rẽ trầm trọng), xem (bói) hết thảy cả sáu hào thấy được nền văn minh (mới ló rạng), la liệt cờ vải trăng sao mặt trời.

Kim Thánh Thán: chia ra lâu ắt hẳn (có ngày) hợp lại, hợp lâu (rồi) ắt hẳn (có ngày sẽ phải) phân chia ra, lí số tự nhiên (nó là) như vậy (đấy), hiện tượng này (phân chia ra, cửu hợp tất phân …) có như thế (mới) là sự văn minh, cảnh huống (hiện nay) đang chẳng phải là tốt, cái ấy (hiện tượng ấy, cát cứ địa phương), (hiện nay) là ngổn ngang rối loạn nhũng nhiễu.

Lời bàn: Hiện tượng đồ hình 49 nói chính là thời kỳ của CS Trung Quốc khi Mao Trạch Đông chiếm trọn thống lĩnh toàn cõi Hoa Lục, thực thi chính sách CS tham lam tàn bạo khiến cả trăm triệu người chết trực tiếp hay gián tiếp, khiến cho lòng người dân khắp Hoa Lục phân tán rối loạn ngổn ngang phát sinh ra mọi tệ nạn, suy đồi đạo đức đến tột cùng ở khắp các nơi, và ở mọi nơi ở mỗi tỉnh, mỗi quận, mỗi phường, xã, thôn là một ông vua con nhũng nhiễu cát cứ tự đặt luật riêng, hàng ngàn sứ quân chứ không như thời Xuân Thu chiến Quốc Lục quốc, Tam Quốc … đúng thực trạng của các nước CS như TQ và VN hiện nay, TU ra lệnh địa phương chẳng tuân theo, ỷ dựa vào thẻ Đảng CS mà không tuân theo pháp luật, luật lệnh của TU ban ra nhưng dưới chẳng thi hành “hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc”…

50 第五十象 癸丑 震下坤上 谶曰:
水火相战 时穷则变

贞下起元 兽贵人贱

颂曰:
虎头人遇虎头年 白米盈仓不值钱

豺狼结队街中走 拨尽风云始见天

金圣叹:「此象遇寅年遭大乱,君昏臣暴,下民无生息之日,又一乱也

Đệ ngũ thập tượng: Quý Sửu Chấn hạ Khôn thượng Phục

Sấm viết: Thủy Hỏa tương chiến, thì cùng tắc biến, trinh hạ khởi nguyên, thú quý nhân tiện

Tụng viết: hổ đầu nhân ngộ hổ đầu niên, bạch mễ doanh thương bất trị tiễn, sài lang kết đội nhai trung tẩu, bát tẫn phong vân thủy kiến thiên

Kim Thánh Thán: thử tượng ngộ Dần niên tao đại loạn, quân hôn thần bạo, hạ dân vô sanh tức chi nhật, hựu nhất loạn dã

Lược dịch:

Sấm viết: nước lửa đánh nhau, thời (đã tới lúc) cùng cực ắt sẽ biến dạng, dưới chính đính mới đầu khởi lên, loài cầm thú thì quỳ loài người thì hèn mọn.

Tụng viết: người đầu hổ gặp đầu năm hổ, gạo trắng đầy bao chẳng cầm nắm được tiền, loài lang sói kết thành bầy chạy giữa bốn bên (nơi nào cũng thấy loài lang sói), gió mây (làm u ám) hết sạch mới thấy được trời xanh.

Kim Thánh Thán: tượng hình này năm Dần gặp nạn lớn, vua hôn ám bầy tôi tàn bạo, dân ở dưới hàng ngày sống khó thở (bị áp bức uất ức nghẹn ngào đến khó thở), lại sẽ có một sự rối loạn (trong xã hội) vậy.

51 第五一象 甲寅 下坤上 谶曰:
阴阳和 化以正

坤顺而感 後见尧舜

颂曰:
谁云女子尚刚强 坤德居然感四方

重见中天新气象 卜年一六寿而康

金圣叹:「此象乃明君得贤后之助,化行国内,重见升平,又一治也。卜年一六,或在位七十年

Đệ ngũ nhất tượng: Giáp Dần Đoái hạ Khôn thượng Lâm

Sấm viết: âm dương hòa, hóa dĩ chánh, khôn thuận nhi cảm, hậu kiến Nghiêu Thuấn

Tụng viết: thùy vân nữ tử thượng cương cường, khôn đức cư nhiên cảm tứ phương, trọng kiến trung thiên tân khí tượng, bặc niên nhất lục thọ nhi khang.

Kim Thánh Thán: thử tượng nãi minh quân đắc hiền hậu chi trợ, hóa hành quốc nội, trọng kiến thăng bình, hựu nhất trì dã, bặc niên nhất lục, hoặc tại vị thất thập niên

Lược ldịch:

Sấm viết: Âm Dương hoà, biến hoá thành chánh đáng, nhu thuận mà cảm hoá, sau thấy được vua Nghiêu Thuấn.

Tụng viết: rằng ai là người đàn bà con còn cứng rắn mạnh mẽ, đức của nhu hoà như thế cảm thông được bốn phương, hình tượng mới được xem trọng giữa bầu trời, bói thử yên được lâu trong một sáu năm.

Kim Thánh Thán: tượng hình này là vua hiền được vợ giỏi trợ giúp, thi hành chuyển hoá trong nước, coi trọng sự công bằng, lại có một sự sửa chữa vậy, bói thử một sáu năm, hoặc là ở địa vị bẩy mươi năm.

52 第五二象 乙卯 乾下坤上 泰谶曰:
慧星乍见 不利东北

踽踽何之 瞻彼乐国

颂曰:
枪一点现东方 吴楚依然有帝王

门外客来终不久 乾坤再造在角亢

金圣叹:此象主东北被夷人所扰,有迁都南方之兆. 角亢南极也。其後有明君出,驱逐外人,再度升平

Đệ ngũ nhị tượng: Ất Mão Kiền hạ Khôn thượng Thái

Sấm viết: Tuệ tinh sạ kiến, bất lợi Đông Bắc, củ củ hà chi, chiêm bỉ nhạc quốc

Tụng viết: thương nhất điểm hiện Đông phương, Ngô Sở y nhiên hữu đế vương    môn ngoại khách lai chung bất cửu, Kiền Khôn tái tạo tại Giác Kháng

Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Đông Bắc bị di nhân sở nhiễu, hữu thiên đô Nam phương chi triệu, Giác Kháng Nam cực dã, kì hậu hữu minh quân xuất, khu trục ngoại nhân, tái độ thăng bình

Lược dịch:

Sấm viết: chợt thấy sao Tuệ, chẳng lợi (ich nơi) Đông Bắc, lủi thủi một mình làm chi ?, nhìn xem nước bên cạnh vui thích.

Tụng viết: một ngôi sao chổi nhỏ bé hiện ra ở phương Đông, Ngô Sở vẫn cứ như cũ có được đế vương, khách đến ngoài cửa chẳng lâu sau, Kiền Khôn tạo lại (nơi ngôi sao) Giác (Giốc) Kháng (Cang).

Kim Thánh Thán: tượng này chủ nơi Đông Bắc bị người (nước) bên cạnh quấy rối, có triệu chứng dời kinh đô về phương Nam, sao Giác Kháng ở cực Nam vậy, về sau có vua sáng xuất hiện, xua đuổi người ngoài, làm cho được yên bình.

Các nhà Thiên Văn Học chia bầu trời ra 4 hướng : Đông Tây Nam Bắc . Mỗi hướng gồm có 7 chùm sao . Hay là 4 hướng x 7 chùm sao = 28 chùm sao . Ngày nay chúng ta thường gọi là Nhị Thập Bát Tú

Bảy chòm sao hợp lại thành một phương trời và được biểu tượng thành một con vật có mầu sắc theo sự phối thuộc của ngũ hành- Phương Bắc là con rùa đen gọi là Hoa Cái (Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích).

– Phương Tây là con hổ trắng gọi là Bạch Hổ (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm).

– Phương Nam là con phượng đỏ gọi là Phượng Các (Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn).

– Phương Đông là con rồng xanh, gọi là Thanh Long (Giốc, Cang, Đê, Phòng Tâm Vĩ, Cơ).

http://knolstuff.com/profiles/blog/show?id=1781665%3ABlogPost%3A54631

53 第五三象 丙辰 乾下震上 大壮谶曰:
关中天子 礼贤下士

顺天休命 半老有子

颂曰:
一个孝子自西来 手握乾纲天下安

域中两见旌旗美 前人不及後人才

金圣叹:「此象有一秦姓名孝者,登极关中,控制南北,或以秦为国号,此一治也

Đệ ngũ tam tượng: Bính thần Kiền hạ Chấn thượng Đại Tráng

Sấm viết: quan trung thiên tử, lễ hiền hạ sĩ, thuận thiên hưu mệnh, bán lão hữu tử

Tụng viết: nhất cá hiếu tử tự tây lai, thủ ác kiền cương thiên hạ an, vực trung lưỡng kiến tinh kì mĩ, tiền nhân bất cập hậu nhân tài

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất Tần tính danh hiếu giả, đăng cực quan trung, khống chế Nam Bắc, hoặc dĩ tần vi quốc hào, thử nhất trì dã

Lược dịch:

Sấm viết: vua ở Quan Trung (ở nơi giữa cửa), lấy lễ hiền với kẻ sĩ ở dưới, thuận lòng trời sai khiến mệnh lệnh, đến gần già mới có con.

Tụng viết: có một đứa con hiếu nghĩa đến từ phía Tây, cầm nắm lấy kỷ cương thiên hạ yên lành, bờ cõi cờ quạt cả hai thấy đẹp đẽ, người thời trước chẳng theo kịp được sự tài giỏi của người thời sau.

Kim Thánh Thán: tượng này có một tên họ Tần hiếu thảo vậy, lên cao ở Quan Trung (chính giữa, đứng đầu ngôi chính giữa …), cầm nắm cai quản Nam Bắc, hoặc là lấy pháp chế (từ thời) nhà Tần làm pháp chế (cai trị nước coi như là) quốc bảo.

54 第五四象 丁巳 乾下谶曰:
磊磊落落 残棋一局

啄息苟安    虽笑亦哭

颂曰:
不分牛鼠与牛羊 去毛存悺称强

寰中自有真龙出 九曲黄河水不黄

金圣叹:「此象有实去名存之兆,或为周末时,号令不行,尚颁止朔:亦久合必分之徵也

Đệ ngũ tứ tượng: Đinh Tị Kiền hạ Đoái thượng

Sấm viết: lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức cẩu an, tuy tiếu diệc khốc

Tụng viết: bất phân ngưu thử dữ ngưu dương, khứ mao tồn (cách 革 – hưởng thượng 尚饗 ) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc:diệc cửu hợp tất phân chi trưng dã

Tạm dịch: tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, trác tức 啄 息 (than thở, thở ngắn thở dài từng cơn, thở phào ra …) tạm yên, tuy cười lại khóc.

Chẳng chia ra trâu (với) chuột cùng với (hay là) trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn ? (cách革: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng 享: hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) –  thượng hưởng (ngõ hầu mới được hưởng mà) xưng (là) mạnh, trong cõi giữa tự có chân long (thánh quân) xuất hiện, chín khúc hoàng hà nước chẳng vàng.

Tượng này có điềm báo chứng thực là bỏ danh (xưng, hiệu …) để tồn tại, hoặc là thời kỳ mạt 末 (cuối cùng)  gây nên khắp nơi, hiệu lệnh ban ra chẳng (nơi nào chịu) thi hành, trên mới ban ra ngừng lại (đình chỉ), chứng cớ là ấy (bởi vì) hợp lâu ắt hẳn (có ngày phải) phân chia ra.

Đại loạn bình 大乱平, tứ di phục 四夷服, xưng huynh đệ 称兄弟, lục thất quốc 六七国”

Bản đồ Trung Quốc nếu phân chia ra

55 第五五象 戊午 乾下坎上谶曰:
惧则生戒 无远勿届

水边有女 对日自拜

颂曰:
觊觎神器终无用 翼翼小心有臣众

转危为安见节义 未必河山是我送

金圣叹:「此象有一石姓或刘姓一统中原,有一姓汝者谋篡夺之,幸有大臣尽忠王室,戒谨惕励,一切外侮不灭自灭,虽乱而亦治也。

Đệ ngũ ngũ tượng: Mậu Ngọ Kiền hạ Khảm thượng

Sấm viết: cụ tắc sanh giới,  vô viễn vật giới, thủy biên hữu nữ* , đối nhật tự bái

Tụng viết: kí du thần khí chung vô dụng, dực* dực tiểu tâm* hữu thần chúng, chuyển nguy* vi an kiến tiết nghĩa, vị tất hà sơn thị ngã tống

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất Thạch tính hoặc Lưu tính nhất thống trung nguyên, hữu nhất tính nhữ giả mưu soán đoạt chi, hạnh hữu đại thần tẫn trung vương thất*, giới cẩn dịch lệ, nhất thiết ngoại vũ bất diệt tự diệt, tuy loạn nhi diệc trì dã

Lược dịch:

Sấm viết: sợ phép tắc pháp luật (nên) sinh ra phòng bị, chẳng xa chớ (nên) đến, ven (bờ) nước có (con) gái, đối (diện) mặt trời (mà) lạy.

Tụng viết: (cho dầu có cầu) mong (hay là mong ước) thần (thánh) (rồi) sau (cũng) chẳng (có) tác dụng (hay công dụng gì cả), tâm nhỏ (hoặc là: lòng khinh thường, tâm hẹp hòi mà ôm ấp) che chở (cho) bầy tôi mọi người, (vì) tiết nghĩa (nên) chuyển nguy làm (nên) yên ổn, chưa hẳn (là) sông núi (đã) ấy đưa (tới) (hay là trở về) cho ta.

Kim Thánh Thán: tượng này có một danh tánh họ Lưu hoặc là họ Thạch (tập) hợp lại (được) ở giữa (nước, quốc gia), (rồi) có một tên (người khác) người ấy mưu mô soán đoạt (tranh dành quyền lực), may (mắn là) có đại thần hết lòng trung (thành với) nhà vua, đề phòng cẩn thận (cố) gắng (hết) sức, hết thẩy (sự) khinh thường (lấn áp) bên ngoài không tan rã (cũng bị) tự tan mất, tuy loạn mà lại (vẫn được cai)  trị (họ Lưu hay họ Thạch ngồi lại được, tại chức không bị truất phế).

 

Đồ hình này là để tiếp diễn đồ hình 54 “thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt 末 thì, hào lệnh bất hành”. Một bản Thôi Bối đồ khác bổ xung những chữ bị mất.

sấm viết lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức cẩu an, tuy tiếu diệc khốc.

tụng viếtbất phân ngưu thử dữ ngưu dương, khứ mao tồn (cách 革 – thượng hưởng 尚饗) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng

Tạm dịch:

Sấm viết: tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, trác tức (than thở, thở ngắn thở dài từng cơn, thở phào ra …) tạm yên, tuy cười lại khóc.

Tụng viết: Chẳng chia ra trâu (với) chuột cùng với (hay là) trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn? (cách 革: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng 享: hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) – thượng hưởng 尚饗(ngõ hầu mới được hưởng mà) xưng (là) mạnh (cường quốc), trong cõi giữa tự có chân long (thánh quân) xuất hiện, chín khúc hoàng hà nước chẳng vàng.

“lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức (thở phào ra) cẩu an (tạm yên), tuy tiếu diệc khốc”.

Câu sấm này rất hay: tưởng như là chủ nghĩa CS lỗi lạc tài ba hơn người, nhưng rồi một cuộc cờ tàn (sự tan rã của khối CS), CS TQ và VN mới “đổi mới” biến chế CN CS theo CN CS/TB biến hoá từ CS chuyên chính vô sản thành độc tài CS lai TB, và trở thành chủ nghĩa vỏ CS ruột tư bản, nhưng vẫn phải dựa vào chủ thuyết CS để giữ lấy vị trí dộc tôn để được “cẩu 苟 an” tạm yên và được “thượng hưởng 尚饗” (ngõ hầu mới được hưởng thụ đủ mọi thứ), nhưng câu “tuy tiếu diệc khốc” mới thực là thấm thía tình cảnh của CS TQ hiện nay (mất phương hướng, lý tưởng), bế tắc hoàn toàn nên sẽ phải đi tới “thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt 末 thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc:diệc cửu hợp 久 tất phân chi trưng dã”. Đã tới thời kỳ cuối cùng rồi (nên phải phân rã mỗi vùng tự trị tự rã trả về cho các dân tộc như trước khi bị xâm chiếm).

Từ đồ hình 54 để hiểu phần tiếp diễn của đồ hình số 55:

“cụ 懼 tắc 则 sanh giới 戒”.

Thực thi pháp luật (độc tài) quá tàn ác nên các vùng (bị xâm chiếm) sợ hãi giới hạn, phòng bị, “cẩu 苟 an” (bị đè nén, nhưng bên trong rối loạn ngầm) đưa tới cảnh báo là.

“vô viễn vật 勿 giới 屆” ở những nơi xa (các nước khác) đừng nên tới (du lịch), vì đang tàng ẩn một mối nguy cơ ngầm rất lớn (nguy cơ phân rã rối loạn) đến nối người đàn bà phải chắp tay cầu trời “thủy biên hữu nữ, đối nhật tự 自 bái”.

Mà cho dù có “kí du 覬覦 thần khí 器 chung vô dụng” ((cho dầu có)(cầu) mong (hay là mong ước) thần (thánh) (rồi) sau (cũng) chẳng (có) tác dụng (hay công dụng gì cả), việc rối loạn phân rã rồi cũng sẽ phải đến.

Khi sự phân rã ra rồi thì sẽ có người họ Lưu hay họ Thạch mới thống nhất một khối dân tộc nào đó về vùng trung nguyên (chữ trung nguyên 中原: khoảng giữa của nước TQ chứ không phải là cả nước Trung Quốc).

Người họ Lưu hay Thạch này (không phải là thánh nhân hay thánh quân để thống nhất lại được toàn bộ lại TQ) vì có tiểu tâm mà muốn (hoài bão) ôm mọi người (thống nhất lại TQ), nhưng rồi lại có người khác tranh dành quyền lực (nơi trung nguyên của họ Lưu hay Thạch), các nơi khác dòm ngó và dự định chiếm lấy vùng trung nguyên, mà họ Lưu hay họ Thạch đã tập hợp số người chiếm lấy được vùng trung nguyên làm nước mới thành lập sau khi bị phân rã, nhờ có những người vì tiết nghĩa (đại thần) hết lòng phò trợ nên các nơi khác bỏ ý định chiếm lấy trung nguyên “nhất thiết ngoại vũ 侮 bất diệt tự diệt”, cho nên tuy còn rối loạn nhưng nước mới thành lập vẫn giữ được “tuy loạn nhi diệc trì dã”. Giữ lại dược nhưng “vị tất hà 河 sơn thị 是 ngã tống 送” chưa hẳn (là) sông núi ấy (đất nước TQ trước khi phân rã) đưa (tới) (hay là trở về) cho ta (TQ cũ).

Trong đồ hình này có điểm lạ so với các đồ hình khác vì có những chữ : Nữ là nữ nhân mà cũng là sao Nữ, dực là cánh chim, che chở, giúp … mà cũng là sao Dực, tâm là tim, giữa … cũng là sao Tâm, nguy là cao ngất, nguy nan và cũng là sao Nguy đều ở trong nhị thập bát tú.

56 第五六象 己未 坤下坎上 比谶曰:
飞者非鸟 潜者非鱼

战不在兵 造化游戏

颂曰:
海疆万里尽云烟 上迄云霄下及泉

金母木公工幻弄 干戈未接祸连天

金圣叹:「此象军用火,即乱不在兵之意。颂云,海疆万里,则战争之烈,不仅在於中国 也。

Đệ ngũ lục tượng: Kỷ vị Khôn hạ Khảm thượng Bỉ

Sấm viết: phi giả phi điểu, tiềm giả phi ngư, chiến bất tại binh, tạo hóa du hí

Tụng viết: hải cương vạn lí tẫn vân yên, thượng hất vân tiêu hạ cập tuyền, kim mẫu mộc công công huyễn lộng, kiền (can) qua vị tiếp họa liên thiên

Kim Thánh Thán: thử tượng quân dụng hỏa, tức loạn bất tại binh chi ý, tụng vân, hải cương vạn lí, tắc chiến tranh chi liệt , bất cận tại vu Trung Quốc dã

Tạm dịch:

Sấm viết: cái đó (ấy) bay (được mà) chẳng phải (là con) chim (hoả tiễn, phi tiễn, phi cơ …), cái đó (ấy) ngầm ẩn dấu (bơi lặn được trong nước mà) chẳng phải (là con) cá (tầu ngầm, thuỷ ngư …) chiến tranh chẳng ở tại binh (lính), tạo hoá (trời đất) rong chơi đùa giỡn.

Tụng viết: (từ) vạn dặm bờ (cõi trên) biển hết thẩy (tất cả đều) đầy khói lửa mù mịt, (từ) khoảng mây cao trên trời (cho) đến (tận) dưới suối nguồn (trong rừng) (khói lửa mù mịt từ trên trời dưới biển cho đến ở sâu trong rừng), cha gỗ mẹ sắt khéo làm nên sự huyễn lộng (khoa học kỹ thuật đã đến trình độ vô cùng tối tân hiện đại, làm ra những điều tưởng giả mà lại như thật, cứ như tưởng đùa mà hoá ra là thật).

Kim Thánh Thán: hình tượng này là quân lính dùng lửa (vũ khí), ý tức là loạn (giặc giã) không ở tại binh lính (đánh nhau không dùng đến binh lính cận chiến), ca tụng rằng: vạn dặm ngoài biển (biên giới, hải giới), chiến tranh thời rất ác liệt (dữ dội), chẳng (đánh cận chiến) ở tại (trên đất) Trung Quốc vậy. (chiến tranh xẩy ra bằng vũ khí hiện đại, từ nơi ở xa đánh tới, dùng phi cơ, phi tiễn, tầu ngầm, tầu chiến… để đánh vào trận địa chiến trên đất nước Trung Quốc, chứ không dùng binh lính để đánh cận chiến vào nước Trung Quốc) .

57 第五七象 庚申 谶曰:
物极必反 以毒制毒

三尺童子 四夷讋服

颂曰:
坎离相克见天倪 天使斯人弭杀机

不信奇才产吴越 重洋从此戢兵师

金圣叹:「此象言吴越之间有一童子,能出奇制胜,将燎原之火扑灭净尽,而厄运自此终矣,又一治也

Đệ ngũ thất tượng: Canh Thân Đoái hạ Đoái thượng Đoái

Sấm viết: vật cực tất phản, dĩ độc chế độc, tam xích đồng tử, tứ di triệp phục

Tụng viết: Khảm Li tương khắc kiến thiên nghê, thiên sử tư nhân nhị sát ky, bất tín kì tài sản Ngô Việt, trọng dương tòng thử tập binh sư

Kim Thánh Thán: thử tượng ngôn Ngô Việt chi gian hữu nhất đồng tử, năng xuất kì chế  thắng, tương liệu nguyên chi hỏa phác diệt tịnh tẫn, nhi ách vận tự thử chung hĩ, hựu nhất trì dã

Tạm dịch

Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) để chế ngự ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích 赤 còn có nghĩa là sắc đỏ, phương Nam), bốn bên sợ (mà) bội phục.

Tụng viết: Trong cõi bầu trời bé nhỏ (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến Người ấy (Thánh nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là Người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí.

Kim Thánh Thán: cảnh tượng này nói ở trong khoảng (đất nước của) Ngô – Việt có một người con trai, có tài năng kì lạ làm ra được (bãi binh, buông vũ khí), coi như là nguồn gốc của lửa bốc cháy (chiến tranh) (được dập tắt) tan mất (các nơi) hoàn toàn tĩnh lặng (được thanh bình), thời vận khốn ách khổ sở bèn tự nhiên mà kết thúc vậy, lại cùng (nhau) sửa chữa (xây dựng lại đất nước).

Chú thích:

Nước Ngô – Việt: Các nước Việt nho nhỏ ở Hán Đông tan rã, nhưng lại nổi lên hai nước cùng dòng tộc Việt khác rất nổi tiếng thời Đông Châu cũng gọi là thời Xuân Thu hay Chiến Quốc, đó là nước Ngô và nước Việt.

Nước Ngô ở vào tỉnh Giang Tô ngày nay. Vua nước Ngô lúc đó là Thọ Mông. Một phản tướng của nước Sở là Khuất Vu chạy trốn qua nước Tấn nên tộc đảng bị vua Sở đem chém hết. Khuất Vu tức giận, đổi tên là Vu Thần, bày mưu cho vua nước Tấn là Tấn Cảnh Công sang giao hiếu với nước Ngô, dạy cho nước Ngô về binh pháp, chế tạo vũ khí để mượn tay nước Ngô đánh phá nước Sở. Vu Thần lại cho con là Hồ Dung sang làm quan ở nước Ngô. Từ đó nước Ngô hùng mạnh lên, chiếm các nước Việt Hán Đông của nước Sở.

Nước Ngô nổi tiếng về tài đúc kiếm. Thanh kiếm Can Tương và Mạc Gia rất nổi tiếng được sử Tàu nói đến nhiều. Vì có tài luyện kim, đúc kiếm, chế tạo vũ khí nên kho vũ khí rất dồi dào. Nước Ngô lại được phản tướng nước Sở là Ngũ Viên tự là Ngũ Tử Tư sang đầu, rèn luyện quân binh rất hùng mạnh. Nước Ngô lại được thêm Tôn Vũ là người Việt nước Ngô. Tôn Vũ là một chiến lược gia, viết bộ Binh Thư, thường được biết dưới tên “Tôn Ngô Binh Pháp” nổi tiếng cho đến ngày nay các nhà quân sự vẫn còn áp dụng. Có thể nói nước Ngô là nước mạnh nhất thời đó. Ngũ Tử Tư vì muốn báo thù vua Sở nên xúi vua Ngô đánh nước Sở. Vua Ngô là Hạp Lư đem quân đánh Sở, vào chiếm kinh đô nước Sở là Dĩnh Đô, vua Sở phải bỏ chạy. Vua Ngô Hạp Lư lập con vua Sở là công tử Thắng làm vua rồi rút quân về. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua nước Ngô, thế lực bao trùm cả các nước chư hầu nhà Châu. Ngô Phù Sai triệu tập các nước chư hầu nhà Châu để xưng Bá thay cho nước Tấn. Đây là lần đầu tiên một nước Việt tộc đã làm bá chủ các nước Hoa tộc và sau đó một nước Việt tộc khác là U Việt của Câu Tiển lên làm bá chủ thay Phù Sai.

Phía dưới nước Ngô, có nước Việt tức U Việt, nay là tỉnh Chiết Giang. Vua nước Việt là Dõan Thường chăm lo sửa sang triều chính, dùng người hiền lương, thương mến dân nên nước mỗi ngày mỗi cường thịnh. Vua nước Ngô là Dư Sái thấy thế đâm lo lắng sai tướng sang đánh nước Việt, bắt được tướng Việt là Tôn Nhân đem về chặt chân sai giữ thuyền vua. Một hôm Dư Sái ngự chơi thuyền, uống rượu say rồi ngủ quên. Tôn Nhân cởi thanh gươm của Dư Sái, đâm Dư Sái chết. Bọn nội thị xúm lại giết Tôn Nhân. Từ đó giữa nước Ngô và nước Việt có mối thù khiến hai nước cùng chung dòng giống Việt này gây chiến muốn tiêu diệt lẫn nhau.

Nước Việt cũng rất giỏi nghề luyện kim đúc kiếm, đúc đồng pha. Tương truyền vua nước Việt có 5 thanh kiếm quý do kiếm sư Âu Gia Tử luyện ra. Vua Ngô là Thọ Mông nghe tiếng muốn lấy nên vua Việt phải dâng 3 thanh kiếm, đó là các thanh Ngư Trường, Ban Dĩnh và Trạm Lư.

58 第五八象 辛酉 坎下上 困谶曰:
大乱平 四夷服

称兄弟 六七国

颂曰:
烽烟净尽海无波 称王称帝又统和

犹有煞星隐西北 未能遍唱太平歌

金圣叹:「此象有四夷来王,海不扬波之兆。惜乎西北一隅尚未平靖,犹有遗憾,又一治 也

Đệ ngũ bát tượng: Tân Dậu Khảm hạ Đoái thượng Khốn

Sấm viết: đại loạn bình, tứ di phục, xưng huynh đệ, lục thất quốc

Tụng viết: phong yên tịnh tẫn hải vô ba, xưng vương xưng đế hựu thống hòa, do hữu sát tinh ẩn Tây Bắc, vị năng biến xướng thái bình ca

Kim Thánh Thán: thử tượng hữu tứ di lai vương, hải bất dương ba chi triệu, tích hồ Tây Bắc nhất ngung thượng vị bình tĩnh, do hữu di hám, hựu nhất trì dã

Tạm dịch

Sấm viết: loạn lớn được yên bình, bốn bên vui lòng nghe theo, cùng nhau xưng danh là anh em, (Trung Hoa chia ra làm) sáu bẩy nước (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Hán ….).

Tụng viết: biển lặng sóng khói lửa tan mất, hết thẩy (mọi nơi) đều được yên tĩnh, (các nước tự) xưng danh vua chúa (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Hán … chia ra tự lập nền chính trị riêng) tất cả lại cùng nhau (sống) hoà thuận, bởi vì sát tinh lui ẩn về phương  Tây Bắc, khắp nơi ca hát bài ca thái bình.

Kim Thánh Thán: tượng này lại có bốn bên làm vua, có điềm báo biển cả chẳng còn nổi lên sóng dữ, tiếc là đất ngoài nơi phương Bắc còn chưa được bằng phẳng yên tĩnh, còn có sự  hối tiếc, lại phải sửa trị một lần nữa vậy.

59 第五九象 壬戍 艮下上 咸谶曰:
无城无府 无尔无我

天下一家 治臻大化

颂曰:
一人为大世界福 手执签筒拔去竹

红黄黑白不分明 东南西北尽和睦

金圣叹:「此乃大同之象,人生其际,饮和食德,当不知若何愉快也。惜乎其数已终,其或反本归原,还於混噩欤。」〈此象乃说是天下大同,地球上再无国家与政府。人种经大混种,使肤色混同,世上再无不同肤色之种族

Đệ ngũ cửu tượng: Nhâm thú Cấn hạ Đoái thượng Hàm

Sấm viết: vô thành vô phủ, vô nhĩ vô ngã, thiên hạ nhất gia, trì trăn đại hóa

Tụng viết: nhất nhân vi đại thế giới phúc, thủ chấp thiêm đồng bạt khứ trúc, hồng hoàng hắc bạch bất phân minh, Đông Nam Tây Bắc tẫn hòa mục.

Kim Thánh Thán: thử nãi đại đồng chi tượng, nhân sanh kì tế, ẩm hòa thực đức, đương bất tri nhược hà du khoái dã, tích hồ kì sổ dĩ chung, kì hoặc phản bổn quy nguyên, hoàn vu hỗn ngạc dư, thử tượng nãi thuyết thị thiên hạ đại đồng, địa cầu thượng tái vô quốc gia dữ chánh phủ, nhân chủng kinh đại hỗn chủng, sử phu sắc hỗn đồng, thế thượng tái vô bất đồng phu sắc chi chủng tộc

Tạm dịch

Sấm viết: không còn thành trì, không còn quan phủ (ẩn nghĩa là không còn chất chứa oán hận nhau nữa), không (cái này) là của anh hay của tôi, trên dưới một nhà (thế giới đại đồng), sửa chữa trừng trị (những điều sai trái) (tự) cảm hoá to lớn (ở bên trong mọi người).

Tụng viết: một người (mà) làm cho thế giới to lớn này được hướng phúc, nắm tay nhau cùng ký kết (hoà ước, thoả thuận, tương trợ …), (mọi sắc tộc) da đỏ vàng đen trắng chẳng chia rẽ (không còn kì thị sắc tộc nữa), Đông Nam Tây Bắc (các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc) hết lòng sống cùng nhau hoà thuận thân tín kính trọng lẫn nhau.

Kim Thánh Thán: tượng này là hình tượng hoà vui cùng nhau, mọi người cùng sống giao tiếp với nhau (hoà ái), ăn uống thuận hoà cùng (sống) nhau đức độ (không tranh giành quyền lợi), đang (ở trong thời này) chẳng biết được sao (những người ở trong thời đó) lại được hưởng vui vẻ sung sướng (đến) như vậy ?, tiếc vậy (tiếc quá) đã hết số rồi, lại ngờ (rằng) phản bản (thể) (để) quay trở về nguồn gốc (cũ), trở lại ở (thời) (mà trời đất còn) hỗn độn (chưa phân chia ra) thật đáng là kinh ngạc vậy thay !.

Tượng này nói rằng thiên hạ đại đồng, trên trái dất (này) lại (trở về thời mà) chẳng có quốc gia cùng chánh phủ (cai trị) (giống như ở trên niết bàn, thiên đường hay thiên giới vậy), con người trải qua (thời kì) đại hỗn tạp chủng tộc, khiến cho mọi mầu da sắc tộc cùng hỗn hợp đồng nhất với nhau, trên thế gian này lại trở về (thời kì nguyên thuỷ) (chẳng còn phân biệt) màu da sắc tộc (với nhau nữa).

60 第六十象 癸亥 坤下上 萃谶曰:
一阴一阳 无始无终

终者自终 始者自始

颂曰:
茫茫天数此中求 世道兴衰不自由

万万千千说不尽 不如推背去归休

金圣叹:「一人在前,一人在後,有往无来,无独有偶,以此殿图,其寓意至深远焉。无象之象胜於有象。我以不解解之,著者有知当亦许可。」

Đệ lục thập tượng: Quý Hợi Khôn hạ Đoái thượng Tụy

Sấm viết: nhất âm nhất dương, vô thủy vô chung, chung giả tự chung, thủy giả tự thủy

Tụng viết: mang mang thiên sổ thử trung cầu, thế đạo hưng suy bất tự do, vạn vạn thiên thiên thuyết bất tẫn, bất như thôi bối khứ quy hưu

Kim Thánh Thán: nhất nhân tại tiền, nhất nhân tại hậu, hữu vãng vô lai, vô độc hữu ngẫu, dĩ thử điện đồ, kì ngụ ý chí thâm viễn yên, vô tượng chi tượng thắng vu hữu tượng, ngã dĩ bất giải giải chi, trứ giả hữu tri đương diệc hứa khả.

Tạm dịch

Sấm viết: một âm một dương, chẳng trước không sau, sau lại tự nhiên sau, trước lại tự nhiên trước.

Tụng viết: số (vận của) trời (thật là) mênh mông ấy thế (mà lại) tìm (trở về) sự quân bình, đạo lí của (trần) thế thịnh suy chẳng bởi tự nhiên do (mình làm ra) (mà là đạo lí của trời đất tự nhiên là như vậy), muôn ngàn lời nói chẳng (diễn tả) ra được hết, chẳng bằng (như) thôi bối (đẩy vai nhau) đi (rồi) về (lại) nghỉ ngơi.

Kim Thánh Thán: một người đàng trước một người sau, có đi chẳng lại, chẳng đơn có đôi, lấy thế (làm thành) đồ hình, lại ngụ ý rất thâm sâu xa vậy, chẳng tượng hình (mà lại) thành ra hình tượng, có được ở nơi hình tượng, ta chẳng thể giải thích (được hết thấu đáo) vậy, (Thôi Bối Đồ) trứ danh (như vậy) ấy thế (mà) (người) đang (thời) có biết (đến thì cũng chỉ nói) … ừ (cũng tạm) được !!!

61 第六十一象 歲星逆讖曰:
歲星逆行
諸事不吉
一二九六
換課為宜頌曰:

Đệ lục thập nhất tượng Tuế tinh nghịch hành

Sấm viết: Tuế tinh nghịch hành, chư sự bất cát, nhất nhị cửu lục, hoán khóa vi nghi (Tuế tinh “sao Thái Tuế – Mộc tinh” đi ngược, mọi việc chẳng tốt, một hai chín sáu, quẻ thay đổi nên mới gây ra như vậy – )

One Comment
  1. ảo ảnh permalink

    sấm của Lưu Bá Ôn tương đồng với tiên tri trong sấm Trạng Trình đến kinh ngạc.Trước tiên là sự thay đổi đế chế hiện thời từ thời điểm 2012-2032…sau đó trung hoa được chia làm 06 quốc gia rồi mới hoà hợp..cũng như nước việt tạm chia 02 miền sau lại thống nhất hoà hợp lâu dài.

    “..Bao giờ động đất chuyển trời….Bấy giờ Thánh sẽ nên trai anh hùng..” rồi tới ..” kí mã khu dương tẩu ..phù Kê thăng Đại Minh..”.Từ Nam tới Bắc.Núi đồi đến đồng bằng.Rừng xuống biển.Nông thôn vào thành thị.Tất cả đều động Đất.1000 năm Thăng lon:sông Hồng cạn nước! thời của Long đã tận.Tới thời của Phụng,Thánh Nhân xuất hiện.Bình minh thời đại mới bắt đầu!Khí hậu bốn mùa thay đổi.Sấm sét đánh vỡ bầu trời.Sắp tới xuất hiện “ngũ tinh liên châu “-ấy tượng Hoàng Đế.. xuất! lại nhớ ” đế xuất hồ chấn”.Cũng phải thôi..” Trời chuyển – Đất chuyển – Nhân tất chuyển..”
    Còn nhớ quốc khánh lúc 14 giờ ngày 02/09/1945: cứ theo thời gian ấy mà lập quẻ dịch: có trên hỏa dưới hỏa tức chữ VIÊM(bệnh}-> quẻ biến:trên thủy ,dưới thủy.trên tả mà dưới cũng tả.Hai thủy khắc quẻ gốc hai hoả.Thủy(tiền) thịnh tức hoả(đức)mờ,tâm(đức)mờ nên tâm loạn.Tâm loạn nhân tất loạn!
    Loạn! chỉ chúng sinh phải lầm than!đây cũng là ” nghiệp chướng ” cuối cùng con dân nước Việt vậy!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: