Skip to content

THIÊU BÍNH CA

27/08/2010

THIÊU BÍNH CA

và Dự ngôn trên bia đá của Lưu Bá Ôn tại núi Thái Bạch tỉnh Thiểm Tây,

胡人至此亡久矣 四大八方有文星

品物咸亨一样形 琴瑟和谐成古道

早晚皇帝又中兴 五百年间出圣君

圣君尚问真人出 周流天下贤良辅

气运南方出将臣 圣人能化乱渊源

八面夷人进贡临 宫女勤耕望夜月

乾坤有象重黄金 北方胡虏害生灵

更令南军诛灭形 匠马单骑安外国

众将揖让留三星 三元复转气运开

大修文武圣主裁 上下三元无倒置

衣冠&# 25991; ୰ 9;一齐来 七元无错又三元

大开文风考对联 猴子满盒鸡逃架

犬吠猪鸣太平年 文武全才一戊丁

流离散乱皆逃民 爱民如子亲兄弟

创立新君修旧京 千言万语知虚实

留与苍生作证盟

这里一看便知中269;将会成为超级大 国 而且伟人将出

参考资料:

THIÊU BÍNH CA

燒 餅 歌

Thiêu Bính ca là một thể loại tiên tri rất khó hiểu, bởi viết theo cách chiết tự để gọi họ tên nhân vật, sự kiện, lý do … cho một triều đại thịnh suy trị loạn tồn vong …, như gọi họ vua nhà Minh mà viết là : thụ thượng quải khúc xích  樹 上 掛 曲 尺 đó là chữ Chu  朱, giải : trên cây treo thước cong, vì chữ thụ thượng là trên cây, chữ chu  朱 có chữ mộc  木 là cây gỗ, quải 掛 là treo, khúc xích 尺 là thước cong, tức là có treo thước cong ở trên chữ mộc 木 đó là chữ chu 朱, hoặc như tên vua cuối cùng nhà Minh là Sùng Trinh 崇 楨 lại gọi là : tổ tôn sơn thượng bối y hành  (lược bớt chữ Nho), vì chữ Sùng có chữ sơn ở trên chữ tôn, chữ Trinh  có chữ y  ở bên chữ bối  và có chữ thượng ở trên …… .Tất cả các tên vua, nhân vật thời đại, sự kiện … đều dùng cách thức cầu kỳ hóc hiểm như vậy.

Vì cố giảm lược tránh quá dài, chỉ đặc biệt chú ý đến hai quẻ :

Hỏa Phong Đỉnh : lưỡng hỏa sơ hưng định thái bình.

Hỏa Sơn Lữ : Ngân hà Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh.

Nghĩa là: quẻ Hỏa Phong Đỉnh: hai hỏa mới (lên) hưng thịnh thái bình. Quẻ Hỏa Sơn Lữ: sao Chức Nữ sông Ngân Hà nhường (ngôi cho) sao Ngưu Tinh, câu này liên quan đến những câu trong Sấm Trạng nói về Ngưu Tinh:

Khi Lý Thường Kiệt xác quyết: “Nam quốc sơn hà … tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (1076) thì có thể hiểu Thiên thư là bản đồ chiêm tinh ghi rõ biên giới nước Đại Việt” Theo sách Thiên quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi Sửu … (trích theo Việt Sử Tiêu Án ).

Qua hai câu tiên tri của Thiêu Bính ca Lưu Bá Ôn thì ông đã nhìn thấy sao Chức Nữ là chủ mệnh tinh của dân tộc Hoa – Hán đã nhường ngôi cho sao chủ mệnh tinh Khiên Ngưu của dân tộc Bách Việt, mà điển hình là dòng giống Lạc Việt còn lại hiện nay chưa bị đồng hoá (văn hoá, tập quán, xã hội …) triệt để như những người Bách Việt khác ở trên đất Trung Hoa

Nam Việt hữu Ngưu Tinh …

Ngưu tinh tụ Bảo giang ….

Các nhà Thiên Văn Học chia bầu trời ra 4 hướng : Đông Tây Nam Bắc . Mỗi hướng gồm có 7 chùm sao . Hay là 4 hướng x 7 chùm sao = 28 chùm sao . Ngày nay chúng ta thường gọi là Nhị Thập Bát Tú

Bảy chòm sao hợp lại thành một phương trời và được biểu tượng thành một con vật có mầu sắc theo sự phối thuộc của ngũ hành.

– Phương Bắc là con rùa đen gọi là Hoa Cái (Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích).

– Phương Tây là con hổ trắng gọi là Bạch Hổ (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm).

– Phương Nam là con phượng đỏ gọi là Phượng Các (Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn).

– Phương Đông là con rồng xanh, gọi là Thanh Long (Giốc, Cang, Đê, Phòng Tâm Vĩ, Cơ).

Phương Bắc – Hoa Cái

Đẩu Mộc Giải : Cua

Ngưu Kim Ngưu : Trâu

Nữ Thổ Bức : Dơi

Hư Nhật Thử : Chuột

Nguy Nguyệt Yến : Én

Thất Hoả Trư : Lợn

Bích Thuỷ Du : Dím

Hai câu trên sau câu Hỏa tinh lai hạ giới  đã ám chỉ nghĩa hẹp là Mao Trạch Đông lên lãnh đạo cuộc C.M đỏ (lửa đỏ, máu đỏ …), còn nghĩa rộng là chủ nghĩa CS phát triển (Hỏa tinh quân) trên toàn thế giới, đem máu lửa đỏ xuống trần gian.

Nên hai quẻ Đỉnh và Lữ là nói đến thời gian sau thi chủ nghĩa CS (sao Hỏa Tinh) sụp đổ trên toàn thế giới và tiên đoán về giai đoạn sau thời của Mao Trạch Đông (sao Hỏa Tinh mờ dần từ khi Mao Trạch Đông bị bệnh rồi chêt).

Hỏa đức tinh quân lai hạ giới

Kim diện lâu đài tận Bính Đinh

Nhất cá Hồ tử đại tướng quân

Án kiếm trì mã sát tình hình

Trừ bạo khử hoạn nhân đa ái

Vĩnh hưởng cửu châu kim mãn doanh

Lược dịch :

Sao hỏa tinh giáng thế

Khiến cho điện các lâu đài mọi nơi đều lửa đỏ (Bính Đinh)

Một gã Hồ tử đại tướng quân

Cắp gươm ruổi ngựa xem xét tình hình

Trừ bạo khử hoạn nhiều người thương mến

Hưởng thụ lâu dài vàng đầy rương

Giải luận :

Một gã Hồ tử 鬍子, chữ Hồ này có nghĩa là lông, râu mặt, râu quai nón là ám chỉ Mao Trạch Đông (mao là lông, râu, tóc) thời mới xuất hiện, được dân chúng (lúc đầu mê lầm mà) yêu mến, tin tưởng đi theo làm cuộc C.M đỏ khiến cho sự máu lửa (Hỏa tinh) ghê gớm chưa từng có ở TQ, các di sản cổ xưa như đền đài miếu mạo chùa chiền .. đã bị đốt phá rất nhiều (Kim diện lâu đài tận Bính Đinh).

Đoạn cuối cùng của Thiêu Binh ca lại cực kỳ đặc biệt và quan trọng hơn nữa từ câu Tứ lục bát phương quan Văn Tinh …, bởi vì từ khi sao Hỏa Tinh mờ đi rồi sẽ biến mất (sao Hỏa Tinh mờ dần từ khi Mao Trạch Đông bị bệnh rồi chêt) thì sao Văn Tinh xuất hiện dần dần sáng tỏ khiến toàn cầu nhân loại quan vọng quan chiêm, đó là Vận hội mới của thời sao Văn Tinh (Thánh Nhân) bắt đầu mở ra, Thánh Nhân xuất hiện đó là khí vận của phương Nam (Ngân hà Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh), và cũng là khí vận của Thánh Nhân (sao Văn Xương) xuất hiện (Tứ lục bát phương quan Văn Tinh). Sấm Trạng:

Năm Giáp Tý vẻ Khuê (Văn Xương) đã rạng …

Nếu nói về thời gian sao Hỏa tinh lu mờ (C.N C.S), sao Văn Tinh đã rạng thì năm Giáp Tý có thể là năm 1984 là những năm khởi đầu của sự lối loạn trong khối C.S L.X dẫn đến sụp đổ C.N C.S trên toàn thế giới.

Hai câu này để kết luận:

Hầu tử mãn hạp Kê đào giá

Khuyển phệ Trư minh thái bình niên

Đó là thời gian kinh hoàng của nhân loại trước khi Thánh Nhân xuất hiện cứu vớt nhân loại

Khổng Minh Mả tiền khoá:

Chửng hoạn cứu nạn

Duy thị Thánh Nhân …

Thiêu Bính ca:

Khí vận Nam phương xuất tướng thần

Thánh Nhân năng hóa loạn uyên nguyên …

Thôi Bối đồ:

Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) để chế ngự ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích 赤 còn có nghĩa là sắc đỏ, phương Nam), bốn bên sợ (mà) bội phục.

Tụng viết: Trong bầu trời nhỏ bé (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến Người ấy (Thánh nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là Người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí.

 

Sấm Trạng:

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỡ tổ chập chùng bay

 

Và rất nhiều câu Sấm Trạng nói về Thánh Nhân xuất hiện để cứu đời. Hai câu rất chú ý trong Sấm Trạng là:

Song thiên nhật rạng sáng soi

Thánh nhân chẳng biết, thì coi cho tường …

Hữu xương hồ nhân thập

Hữu sí hồ song thiên

Hai mặt trời trên đất Việt

Dự ngôn trên bia đá của Lưu Bá Ôn tại núi Thái Bạch tỉnh Thiểm Tây

Hồ nhân chí thử vong cửu hĩ

Tứ lục bát phương quan Văn Tinh

Phẩm vật hàm hanh nhất dạng hình

Cầm sắt hòa hài thành cổ đạo

Tả hưng đế hựu trung hưng

Ngũ bách niên gian xuất Thánh Quân

Thánh Quân thượng vấn Chân Nhân xuất

Chu lưu thiên hạ hiền lương phụ

Khí vận Nam phương xuất Tướng Thần

Thánh Nhân năng hóa loạn uyên nguyên

Bát diện di nhân tiến cống lâm

Cung nữ cần canh vọng dạ nguyệt

Kiền Khôn hữu tượng trọng hoàng kim

Bắc phương hồ lỗ hại sanh linh

Canh lệnh Nam quân tru diệt hình

Tượng mã đan kị an ngoại quốc

Chúng tương ấp nhượng lưu tam tinh

Tam nguyên phục chuyển khí vận khai

Đại tu văn vũ thánh chủ tài

Thượng hạ tam nguyên vô đảo trí

Y quan văn vật nhất tề lai

Thất nguyên vô thác hựu tam nguyên

Đại khai văn phong khảo đối liên

Hầu tử mãn hạp Kê đào giá

Khuyển phệ Trư minh thái bình niên

Văn vũ toàn tài ngộ Mậu Đinh (戊 丁 : 成 thành)

Huyết lâm thiên lý vạn dân đào

Ái dân như tử thân huynh đệ

Sang lập tân quân tu cựu kinh

Thiên ngôn vạn ngữ tri hư thật

Lưu dữ thương sanh tác chứng minh.

Lời dịch giả:

Lịch sử Trung Quốc trải qua nhiều triều đại vua chúa, mỗi một triều đại đều có người tu Đạo, nên đã có một số dự ngôn để lại đời sau, như bài thơ dự ngôn của Bộ Khư Đại Sư đời nhà Từ, “Bài đẩy lưng” của Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cang đời nhà Đường (bên cạnh Lý Thái Dân). “Mã tiền khóa” của Khổng Minh thời kỳ chiến quốc. “Mai hoa thơ” củaThiện Ung đời nhà Tống. Bài “Bánh Chiên Ca” của Lưu Bá Ôn đời nhà Minh (bên cạnh Chu Nguyên Chương).

Đến hôm nay thì tất cả dự ngôn ấy đã có người giải ra rất chính xác với chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Người tu Đạo không cầu danh lợi nên những gì họ để lại đời sau chắc chắn không phải khoe tài, có lẽ chỉ nhằm mục đích cảnh tỉnh đời sau là sự việc trên đời đều đã có sự sắp xếp của Trời. Tất cả bài đều nhắc đến cùng một việc là đừng nên bỏ lỡ việc lớn nhứt ở trên đời sẽ xảy ra. Hôm nay có lẽ tất cả những Thần ấy đều có mặt tại đây để nắm giữ cơ hội cuối cùng này. Bài dưới đây là một bài khác của Lưu Bá Ôn đã phát hiện ở trên bia đá, tạm dịch nghĩa nên chắc chắn không chính xác, chỉ để hiểu sơ đại ý bài thơ.

Thiên có nhãn, Địa có nhãn, người người cũng có một đôi nhãn. Thiên cũng lật, Địa cũng lật, tiêu diêu tự tại lạc vô biên. Kẻ nghèo một vạn lưu một ngàn, kẻ giàu một vạn lưu hai ba. Giàu nghèo nếu không hồi tâm chuyển, nhìn xem ngày chết ở nhãn tiền(trước mắt).

Bình địa không có ngũ cốc trồng. Cẩn phòng tứ phương tuyệt khói người. Nếu hỏi ôn dịch hà thời hiện, nên xem giữa tháng 9 tháng 10 mùa đông. Người làm việc thiện thì được thấy, người làm việc ác không được xem. Trên đời có người hành đại thiện, lây bởi kiếp này thật không đáng.

Còn có mười sầu ở trước mắt.

Nhứt sầu thiên hạ loạn khắp nơi. Nhị sầu đông tây người đói chết. Tam sầu hồ rộng bị đại nạn. Tứ sầu các tỉnh khởi lang khói. Ngũ sầu nhân dân không an nhiên. Lục sầu mùa đông giữa tháng chín tháng mười. Thất sầu có cơm không người ăn. Bát sầu có người không áo mặc. Cửu sầu thi thể không người liệm. Thập sầu khó qua năm heo chuột. Nếu được qua khỏi đại kiếp niên, mới tính là thế gian bất lão tiên.

Dù cho là thiết La Hán làm bằng đồng, khó qua mùng mười ba tháng bảy. Cho dù bạn là Kim Cang Thiết La Hán, trừ phi thiện mới được bảo tồn. Cẩn phòng người người khó khăn qua. Ngãi qua thiên phiên năm Rồng Rắn. Ấu nhi giống như Chu Hồng Võ, Tứ Xuyên còn khổ hơn Hán Trung.

Sư tử gầm như Lôi, hơn hẳn trăm cọp hung. Tây giác hiện ra đuôi, bình địa gặp mãnh dược. Nếu hỏi thái bình niên, dựng cầu nghinh tân chủ. Thượng nguyên giáp tử đến, Người người ha ha tiếu. Hỏi bạn cười cái gì? Nghinh tiếp tân địa chủ. Trên quản đất ba tất, tối không nạn trộm cướp. Tuy là mưu vì chủ, chủ ngồi thổ trung ương.

Nhân dân gọi chân chủ, tiền bạc là cái bửu, nhìn thấu dùng không được, nếu thật là cái bửu, lòng đất nứt không ngã.

Bảy người nhứt lộ tẩu, dụ dỗ đã vào khẩu.

Ba chấm cộng một mốc (Chữ Hán ghép lại là chữ Tâm),

Bát Vương nhị thập khẩu (Chữ Hán ghép lại thành chữ Thiện).

Người người đều hỷ cười, ai ai cũng bình an.

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: