Skip to content

SẤM TRẠNG TRÌNH và CƠ BÚT

30/08/2010

Ba bài Sấm Trạng Trình chữ Nho ít được biết đến, những lời tiên đoán trùng ý với những nhà Tiên tri khác trên thế giới trong thời gian sắp tới.

BÀI THỨ NHẤT

Phi đĩnh lăng vân vị túc kì

飛 艇 夌 雲 未 足 奇

Thần cơ tại ngã thế nan khuy

神 机 在 我 世 难 窺

Tây dương tẩu Bắc hoàn vô lộ

西 洋 走 北 还 無 路

Việt điểu sào Nam lạc hữu chi

越 鳥 巢 南 樂 有 枝

Thủy phún thành băng kinh Nhật Bản

水 噴 成 冰 驚 日 本

Phong thừa phá lãng tẩu Hoa Kỳ

風 乘 破 浪 走 華 旗

Phá điền tự kiến văn minh hội

破 田 自 見 文 明 會

Tất ốc bồng môn lạc đức huy

篳 屋 蓬 门 樂 德 辉

Lược dịch nghĩa:

Con chuồn chuồn bay lấn mây chưa đủ (thấy làm) lạ

(Ám chỉ phi cơ, trực thăng, phi thuyền, hoả tiễn … các loại)

Thần cơ ở (nơi) Ta, (người) đời khó mà nhìn thấy

(Ý nói về Thần cơ cũng là Thiên cơ, chỉ khi hiện ra sự kiện người đời mới thấy rõ).

Tây dương chạy (về) phương Bắc, mà (cũng) không có đường (để chạy)

(Tây dương bao gồm các người nước ngoài, da trắng Âu Mỹ …)

Chim Việt làm tổ (ở) phương Nam vui có cành (có nơi đậu, trú ẩn)

(Ám chỉ tuy bão lụt, thiên tai, chiến tranh … nhưng nước Việt vẫn được yên ổn, có nơi ẩn trú an toàn hoặc ít bị ảnh hưởng)

Nước phun (lên) thành băng (làm) kinh hãi (nước) Nhật Bản

(Động đất làm thành sóng thần, bão lụt, nạn hồng thủy … tàn phá khốc liệt kinh hoàng ở nước Nhật)

Sóng gió (nổi lên) phá vỡ (mọi thứ) đuổi (nước) Hoa Kỳ chạy

(Động đất, sóng thần, bão tố cuồng phong … tàn phá nước Mỹ phải chạy trốn)

Phá điền (破 田) tự thấy (vận) hội văn minh (mới xuất hiện)

Nhà tranh vách trúc cùng vui trong trong đức sáng ấy

(Hoặc vì chiến tranh làm ra thiên tai, động đất, bão lụt … tai họa xẩy ra trên toàn cầu, nhân loại tang thương vô kể, rồi sau đó mới xuất hiện ra một nền văn minh thịnh vượng đạo đức mới trên thế giới, con người dù giầu hay nghèo cũng được hạnh phúc vui vẻ …).

BÀI THỨ HAI

Bài này do Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc vào bát nhang bằng đồng thau để cúng bên Tổ Ngoại của Cụ Trạng, có lẽ Cụ đã có dụng ý nên dùng bát nhang đúc bị méo, trên bát nhang có khắc 16 câu chữ Nho Sấm ký tiên tri về khoảng 400 năm sau này (lịch sổ sổ bách niên), có Thầy Nhân Thập và Song Thiên sẽ là thời cực thịnh (hữu xương hữu xí).

Điều kỳ bí là bát nhang mà Cụ Trạng nói nó méo rồi lại tròn và bể vỡ rồi lại lành lặn trở lại, thì ra năm 1953 nó bị bom đạn phá vỡ, cháu chắt của Cụ đem ra Hải Phòng thuê tiệm Tầu chuyên làm nghề đúc đồ kim khí hàn gắn lại như cũ và nắn lư nhang cho tròn lại, đúng như lời Cụ đã tiên đoán trước. Nhờ có người bạn ở Hải Phòng chép lại được bài thơ trên nhờ người quen đem về Hà Nội cho và ghi chép lại để truyền cho đời sau.

Hiếu tư dĩ phụng tiên

孝 思 以 奉 先

Vị viên nguyện phục viên

未 圓 願 圓 復

Sinh tam tam thế hậu

生 三 三 世 後

Lịch sổ sổ bách niên

歷 數 數 百 年

Thế bát phùng khuyết liệt

世 八 逢 缺 烈

Chu ngũ phục viên toàn

周 五 復 圓 全

Hữu xương hồ nhân thập

右 昌 乎 人 十

Hữu sí hồ song thiên

右 熾 乎 雙 天

Nội ngoại phi nhị chí

內 外非 二 志

Chung thuỷ như nhất nhiên

終 始 如 一然

Long xà yên đắc ngộ

龍 蛇 安 得 遇

Đĩnh xuất tử tôn hiền

挺 出 子 孫 賢

Thiên cơ bất cảm tiết

天 机 不 敢 泄

Bất đắc bất ngôn yên

不 得 不 言 焉

Lư hương cung vu Tổ

香 供 于 祖

Hiện long phi tại thiên

現 龍 飛 在 天

Lược dịch nghĩa:

Vì hiếu đạo, để nhớ đến phụng thờ Tổ Tiên

Chưa tròn (vì còn bị méo), nhưng nguyện sẽ được tròn trở lại

Sinh ra ba ba (ba mươi ba ?) đời sau

Trải qua vài trăm năm (đếm tới vài ba trăm năm sau, tức là khoảng bốn trăm năm sau)

Đời tám gặp bể vỡ (chưa rõ đời tám là gì, hoặc đời nào bị vỡ bể lư hương)

Trọn năm (5) lại vẹn tròn (trọn vẹn, chu toàn 5 ? lại được vẹn toàn tròn trở lại, chưa rõ ý của câu này)

Có được sự hưng thịnh ở (thầy) Nhân Thập vậy (sau đó, khi được vẹn toàn 5 ? thì đến thời của Nhân Thập thì sẽ được hưng thịnh)

Có sáng rực rỡ ở trên bầu trời (nghĩa đen là cháy sáng mạnh mẽ trên bầu trời, nhưng có thể là nghĩa khác vì trên là thầy Nhân Thập, dưới là Song Thiên)

Bên nội, ngoại lòng chẳng chia làm hai (thời cụ Trạng là Trịnh Nguyễn phân tranh Dàng Trong Đang Ngoài, sau là Nam Bắc phân tranh, cuối cùng chẳng chia hai trước sau như rồi sẽ là một – thống nhất hai miềm Nam Bắc)

Trước sau như một thế thôi

Rồng rắn yên được gặp (chữ long xà ám chỉ bậc phi thường)

Sinh ra con cháu vượt trội hiền tài

Cơ Trời chẳng dám tiết lộ (thời cơ ở nơi trời không dám tiết lộ)

Đừng (nói) chẳng được (nên) phải nói ra vậy

Lư hương để thờ cúng Tổ Tiên

Rồng hiện bay ở trời

BÀI THỨ BA

Hầu khứ kê lai hợi nguyệt kì

猴 去 雞 來 亥 月 期

Quốc tận dân tàn thế lực suy

國 盡 民 残 势 力 衰

Huyết chiến đê đầu nhân huyết chiến

血 戰 低 頭 人 血 戰

Quốc quân hãm nịch quốc quân nguy

國 君 陷 溺 國 君 危

Nhân nhân giai dĩ Chu vi Tống

人 人 皆 以 周 爲 宋

Phong nghĩ tung hoành thị mạc vi

蜂 蟻 縱 橫 是 莫 爲

Thượng đảo hạ huyền nhân vô thủ

上 倒 下 懸 人 無 首

Kham tiếu không huyền đoạn thất ki

堪 笑 空 懸 断 失 期

Lược dịch nghĩa:

Khỉ đi gà đến kỳ (hẹn)tháng hợi

Nước hết dân tàn thế lực suy

Huyết chiến cắm đầu vào huyết chiến

Quốc quân chìm hãm quốc quân nguy

Người người đều lấy (nhà) Chu làm (nhà) Tống

(Ý nói là mọi người đều nhẫm lẫn, nhà Chu mở ra một vận hội mới, một thời thịnh trị văn minh, còn nhà Tống yếu kém lại đi về hướng hủ nho, hủ lậu, suy đồi … làm mất nước)

Ong kiến tung hoành làm được chi ?

Đảo lộn dưới trên đầu chẳng có

Nực cười treo lửng … mất thời cơ.

Một ngày thu năm Nhâm Dần (1542) đang tựa án đọc sách, chợt thấy mây ngũ sắc hiện ra, Trạng liền gieo quẻ bói xem thời vận nước nhà, lúc ấy đời vua thịnh trị nhất triều Mạc là Mạc Đăng Doanh mới mất, Trạng bốc được quẻ Càn, động hào Sơ cửu, liền đoán :

Liên Mậu, Kỷ, Canh, Tân

Can qua sinh sác biến

Nghĩa là loạn liên tiếp vào năm Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi (1548 – 1549 – 1550 – 1551), rồi cụ lại giảng tiếp cho học trò là Trương Thời Cử rằng :

Bốc đắc Càn thuần quái

Sơ cửu thoái tiềm long

Ngã bát thế chi hậu

Binh qua khởi trùng trùng

Ngưu tinh tụ Bảo giang

Đại nhân cư chính trung

Dịch nghĩa :

Bói được quẻ thuần Càn

Hào sơ cửu rồng lui ẩn

Tám đời sau ta

Binh biến khởi trùng trùng

Sao Ngưu tụ Sông Quí

Đại nhân ở chính giữa

(Có bản chép câu 5 là: Tinh tụ Bảo giang thượng nghĩa là Sao tụ trên Sông Quí ).

Bài này chính là chìa khóa để mở mật ngữ và ẩn nghĩa trong toàn bộ Sấm Trạng Trình, một bài Sấm không ai phủ nhận được giá trị chân xác may mắn được truyền lại, trong khi tập Sấm đã bị tam sao thất bản, thêu dệt thêm bớt qua 500 năm.

Bói được quẻ Càn (Trời), thấy rồng lui ẩn, hồng vận chân chúa chưa xuất hiện, tám đời sau, khoảng 1735 khi Tiến sĩ Vũ Khâm Lân tới thăm hậu duệ đời thứ 7 và thứ 8 của Trạng Trình tại chính nền nhà xưa, đúng là thời loạn liên tiếp giữa các phe Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn … Cho tới triều Nguyễn Gia Long cũng chỉ được hơn 60 năm lại bị Thực dân xâm lăng, mà trong 60 năm đó, loạn lạc vẫn liên miên tại miền Bắc bộ (riêng hai đời Minh Mệnh, Thiệu Trị 1820 – 1847 đã có tới 250 vụ loạn), cho tới thập niên 1980 mới tạm gọi là yên ổn. Phải đợi tới khi sao Ngưu, chủ tinh của bậc đại nhân xuất hiện trên Bảo giang thì đất nước mới lại phục hưng, đại hồng vận non sông mới rực rỡ.

Trích VSSL – LVV

BÀI CƠ BÚT CỦA CÔNG CHÚA LIỄU HẠNH

(Chúa Liễu giáng cơ bút)

http://www.dunglac.org/upload/book/f__1191226894.htm

Hoành sơn một dải ra vào,

Cuốc kêu vọng đế, cáo gào giả vương.

Cung trăng đã sẵn trời dương

Giang sơn lại mở một trường xuân thu.

Tên đâu ba mũi phục thù,

Khen cho Khắc Dụng bày trò cho con.

Ngọn cờ phất phới đầu non.

Thạch Thành mèo lại bon bon chạy về.

Dặm đường lai láng máu dê.

Con quay ngả trắng ba que cuộc tàn.

Trời Nam vận ở Viêm bang

Chân nhân đâu đến những phường thầy tăng;

Đồng dao lại có câu rằng:

Non xanh mà mọc trắng răng mới kỳ

Bây giờ quét sạch thử ly.

Ai ơi nhớ lấy thiên ky kẻo lầm.

Đương khi sấm sét ầm ầm.

Ấy là khí số để găm trị bình.

Vũ phu mà bức thư sinh.

Long ô chấp cả mấy anh Thuỷ Hoàng.

Nực cười cho lũ bàng quan.

Cờ tàn mà lại tính đường đẩy xe.

Thôi thôi mặc lũ thằng hề.

Gió mây ta lại đi về gió mây.

BÀI GIÁNG BÚT CỦA VÂN HƯƠNG THÁNH MẪU

(Tại Đền Ngọc Sơn, Hà Nội 1938.)

http://www.thienlybuutoa.org/Misc/CoBut-LieuHanhCongChua.htm

Thiên cơ chẳng dám nói ra

Có duyên đã gặp thì ta đãi lòng

Ba mầu đến độ suy vong

Khỉ về Gà gáy, vầng hồng nổi lên

Cúc vàng rót chén rượu tiên

Uống mà xem lũ đảo điên luân thường

Mèo lùi Cáo nắm kỷ cương

Tương tàn cốt nhục nhiễu nhương lạ kỳ

Nhân gian mấy độ hợp ly

Đồng hoang nhuộm máu kinh kỳ tả tơi

Quỉ Ma giao chiến khắp nơi

Quỉ ở trên trời, Ma ở dưới hang

Cỏ cây non nước điêu tàn

Quỉ nọ ra hàng, Ma ấy mới thôi

Vẩy Rồng tạm tách làm đôi

Bóng câu in dấu muôn đời nhuốc nhơ

Kể từ đôi ngũ nằm chờ

Thầy Tu mở nước bấy giờ mới hay

Chẳng qua cũng giống Quỉ Tây

Ma tàn Quỉ hết đến ngày Long-Hoa

Khỉ về Gà gáy oa oa

Khắp nơi lại dấy can qua kinh trời

Quỉ Ma đến lúc đi đời

Phụ Nguyên Trời đã định ngôi sẵn sàng

Chó mừng tân chủ rõ ràng

Bốn phương tấp nập lên đàng hồi hương

Long Hoa muôn thuở biên cương

Việt Thường con cháu Tiên Rồng vẻ vang.

Lời bàn: Phụ Nguyên 阝元: họ Nguyễn 阮 này là ám chỉ họ Nguyễn Gia Long Nguyễn Ánh mở đầu triều đại nhà Nguyễn, và nói về Nguyễn Bảo Đại cuối cùng của họ Nguyễn đã chấm dứt.

Phụ Nguyên 阝元 : họ Nguyễn 阮 tức là vị Thánh ở núi Tản Viên, đức Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn thuộc đời Hùng Vương thứ 18.

Nguyên Phụ ấy thực ở  rày Tào Khê …

Nguyên Phụ trời đã định ngôi sẵn sàng …

Chữ Khỉ, Gà và Chó được nhắc rất nhiều trong Sấm Trạng, có thể là xác định thời gian Thánh Chúa, Thánh Quân, Vị Lãnh Đạo đất nước ra đời (xuất thế) hoặc chào đời (mới sinh), có họ khác với vị Thánh Nhân mà trong những bài tiên tri của Mã Tiền khóa, Thôi Bối đồ và Thiêu Bính ca nhắc tới vị Thánh Nhân này.

1. Vị Thánh Nhân này mở ra hội Long Hoa cho toàn thế giới, Thánh Nhân có tài phép siêu việt siêu quần xuất chúng khác với vị Thánh Quân :

Thánh nhân năng hóa loạn uyên nguyên (Thiêu Bính ca) …

Ngũ bách niên gian xuất Thánh Quân

Thánh Quân (vua) thượng vấn Chân Nhân (Thánh Nhân) xuất

Chửng hoạn cứu nạn (Mã Tiền khóa)

Thị duy Thánh Nhân …

Đệ ngũ thất tượng: Canh Thân Đoái hạ Đoái thượng Đoái (Thôi Bối đồ)

Sấm viết: vật cực tất phản, dĩ độc chế độc, tam xích 尺 đồng tử, tứ di triệp phục

Tụng viết: Khảm Li tương khắc kiến thiên nghê, thiên sử tư nhân nhị sát ky, bất tín kì tài sản Ngô Việt, trọng dương tòng thử tập binh sư

Kim Thánh Thán: thử tượng ngôn Ngô Việt chi gian hữu nhất đồng tử, năng xuất kì chế thắng, tương liệu nguyên chi hỏa phác diệt tịnh tẫn, nhi ách vận tự thử chung hĩ, hựu nhất trì dã

Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) (để chế ngự) ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích 赤 còn có nghĩa là sắc đỏ phương Nam, tam xích đồng tử, xích tử :  赤子  con đỏ.), bốn bên sợ (mà) bội phục.

Tụng viết: Trong bầu trời nhỏ bé (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến người ấy (Thánh Nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí.

Kim Thánh Thán: cảnh tượng này nói ở trong khoảng (đất nước của) Ngô – Việt có một người con trai (Thánh Nhân), có tài năng kì lạ làm ra được (bãi binh, buông vũ khí), coi như là nguồn gốc của lửa bốc cháy (chiến tranh) (được dập tắt) tan mất (các nơi) hoàn toàn tĩnh lặng (được thanh bình), thời vận khốn ách khổ sở bèn tự nhiên mà kết thúc vậy, lại cùng (nhau) sửa chữa (xây dựng lại đất nước).

2. Còn vị Thánh Quân thì mở ra vận hội mới cho nước Việt Nam

Thầy Nhân Thập : trước đây các vị tiền bối đã giải đoán là chữ Tản  傘 vì có chữ Nhân  人 và 4 chữ Nhân nhỏ với chữ Thập 十 thành chữ Tản 傘, nhưng sao lại gọi là Thầy ?, ba chữ Thầy Nhân Thập đọc và viết theo pháp âm chữ Nho là Thập Nhân Tử 十人子 (chữ Tử còn gọi là Thầy như Lão Tử, Trang tử, Khổng Tử …), vậy chữ Thập Nhân Tử còn có nghĩa là chữ Lí 李 (họ Lý). Đây có thể là họ của vị Thánh Quân và thời gian vị Vua này xuất hiện là ở chữ Phá Điền.

Phá Điền : còn là một ẩn ngữ chưa rõ là thời gian nào để có vị Lãnh đạo đất nước ra đời hay xuất thế để xây dựng lại nước Việt Nam. Chữ Phá Điền này là nói về thời gian vị Vua, Thánh Chúa, Thánh Quân xuất hiện

Phá điền Thiên tử giáng trần …

Phá điền tự kiến văn minh hội

Chó vẫn đuôi mừng Thánh Chúa (vua Thánh, Thánh Quân, Minh Quân …)

Chó mừng tân Chúa rõ ràng …

Có Thầy Nhân Thập đi về

Tả hữu phù trì cây cỏ làm binh …

Lục thất nguyệt gian : là thời gian mà Thánh Nhân xuất hiện để giúp đời mở ra hội Long Hoa trên toàn thế giới.

BỒ TÁT TUỆ TRUNG – ÐÔNG A TRÚC LÂM YÊN TỬ

Sáng Tổ ( Phóng Cuồng Hòa Thượng) Bài Giáng Bút – 1944

Bồ Tát Tuệ Trung là con cuả đức Trần Hưng Ðạo, trước khi đi tu ngài từng làm đại tướng trong trận chiến chống quân Mông. Miếu thờ ngài rất linh thiêng , năm 1944 vì nước nhà loạn lạc nên một số nhân sĩ lên miếu ngài hỏi thăm việc nước. Ðây là bài thơ (sấm) ngài đã giáng bút truyền cho:

Như thị ngã văn: Như ta nghe rằng

Kim ô lạc địa: Quạ vàng rơi xuống (quạ vàng – mặt trờì – cờ Nhật thua trận)

Tinh đáo thanh thanh: Sao đến xanh xanh (Cờ Mỹ sao trên nền xanh – Mỹ đến VN)

Xích xích kim tinh: Ðỏ đỏ sao vàng (Cờ đỏ sao vàng)

Ðế hệ ngũ thế: Ðế hệ năm đời (Đời thứ năm triều Nguyễn Bảo Ðại chấm dứt)

Nhị quỉ tranh phong: Hai quỉ giành thắng (Chiến tranh Pháp – Cộng)

Mộc mã ung dung: Ngựa gổ thong dong (Năm Giáp Ngọ 1954 còn thong thả dễ dàng)

Hoàng Long dĩ trảm: Rồng vàng bị chém (Chia đôi đất nước)

Hầu ngộ thanh dương: Khỉ gặp dê xanh (Năm Ất Mùi tháng Thân 7-1955 )

Hắc hắc thiết vi:  Ðen đen sắt vây (Mầu đen –  Khảm,  miền Bắc màn sắt bao quanh đen tối)

Bách tính Nam quy: Trăm họ về Nam

La sát nhập địa:  La sát vào đất (Quỷ La sát vào đất)

Lục trúc cao phi: Trúc xanh bay cao (Biểu tượng cầm quyền NĐD bay đi)

Thạc thử kí tận: Chuột lớn đã hết (NVT tứ trụ 4 Tí – đã hết)

Chúng sinh đa nạn: Chúng sinh nhiều tai nạn (1975)

Nhị  thập nhật minh: Ngày thứ hai mươi

Thố ngộ thanh long: Thỏ gặp rồng xanh

Kê khuyển ngộ xà: Gà chó gặp rắn

Ðịa Tạng tru ma:  Ðịa Tạng bồ tát diệt ma

Bách tính tôn phục: Trăm họ quy phục

Tứ phương qui gia: Bốn phương về nhà


1,090 Comments
  1. chinhkie permalink

    sưu tầm

    Đường phố Sài Gòn ngày 13 tháng 5 năm 1975.
    AFP photo
    Từ ngày 30.04.1975, khi cầm tờ giấy bạc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, người dân Sài gòn, một Thủ đô từng có mỹ danh Hòn ngọc Viễn đông, mang một nỗi buồn mất mát : Đồng tiền Việt Nam Cộng hòa sẽ đi vào dĩ vãng… Việc ‘đổi tiền’ bị đảng Cộng sản đưa vào ngữ vựng ‘cách mạng’ khủng bố người dân Việt như một nỗi kinh hoàng vì đây là một vụ cướp bằng luật do nhà nước ban hành.
    Đổi tiền ngày 22.9.1975
    Ngày 20.09.1975, bỗng nhiên có tin từ Ban Điều hành ngân hàng Đại Á cho nhân viên biết là không nên về sớm (lúc đó, tại ngân hàng thương mại, chúng tôi không còn bao nhiêu việc để làm) hầu chờ lệnh Ngân hàng Quốc gia… Quá 12 giờ, các nhân viên kế toán được yêu cầu có mặt tại chi nhánh Việt Nam Thương tín Đa kao lúc 12 giờ hôm 21.09.1975 để đi nhận việc mới. Nhận việc ngày Chúa nhật là một điều lạ ? Nhưng chúng tôi tự vấn an nhau ‘Thời cách mạng mà!’.
    Đúng giờ định, chúng tôi có mặt đầy đủ nhưng chỉ gặp nhân viên bảo vệ chi nhánh. Ông cho biết chỉ nhận lịnh đón chúng tôi vào chờ mà thôi… Chờ mãi đến gần 15 giờ, đề tài để trò chuyện cũng đã cạn, chúng tôi kéo nhau đi ăn ‘bánh cuốn Tây Hồ’… Từ khoảng 17 giờ, có thể người dân ngửi được mùi ‘biến cố tiền tệ’ sắp bùng nổ : người ta ăn uống tới tấp, nhiều người sẵn sàng trả giá để mua hàng với giá cao khó tưởng tượng. Tiếp theo, đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền. Thể thức :
    – Hối suất : 500 đồng Việt Nam Cộng hòa = 1 đồng Cộng hòa Miền Nam Việt Nam;
    – Mỗi gia đình chỉ được đổi 100.000 đồng cũ ra thành 200 đồng mới để tiêu dùng thường nhật. Phần còn lại, Nhà nước giữ lại…
    Lúc 6 giờ ngày Đổi tiền, chiến dịch bắt đầu : một xe nhà binh GMC đến đón chúng tôi có ‘đồng chí’ Phường ủy Phường Trần Quang Khải, Quận nhất, đi kèm. Nói chuyện với chúng tôi, ông kể lể công thống nhất đất nước của Đảng và hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho toàn dân. Thấy tôi mỉm cười, ông đưa ‘thẻ vàng’ cảnh cáo : không tin Đảng.
    Sau đó, nhóm ‘ngân hàng’ chúng tôi bị chia mỗi người đến một Bàn (đơn vị phụ trách Đổi tiền) để nhận nhiệm vụ Kế toán. Bàn, nơi tôi đến đặt tại một nhà mà chủ đã vượt biên ở đường Nguyễn Văn Thạch. Sau đó, một đồng chí mặc kaki, mang dép râu với nón cối tới và tự giới thiệu là y sĩ bộ đội, Bàn trưởng. Tiếp đến, hai công chức Ngân khố để làm Thủ quỹ : một tiền cũ và một tiền mới. Bàn trưởng, tính tình hiền hậu, mở lời nhờ chúng tôi giúp anh hoàn thành công tác và, vì anh không rõ qui định về Tờ khai gia đình ở Sài gòn thế nào, nên nhờ chúng tôi xem dùm. Anh ‘cử’ tôi làm Thư ký giữ và phát đơn.
    Cuối cùng, những ấn phẩm và tiền mới có những trị giá khác nhau cũng được chở tới. Đúng 11 giờ, Bàn Đổi tiền mở cửa tiếp các khách hàng ‘miễn cưỡng’, tôi cảm thấy bị cưỡng bách phải nhận Tờ khai gia đình, xem, trả lại kèm hai mẫu đơn và xin nộp lại khi đã khai xong với số tiền mặt cũ.
    Trong số những đồng bào đến đây, tôi tiếp Giáo sư H.T.S, Thầy cũ đã dạy ở Đại học Luật khoa Sàigòn. Ông giải thích nhà ông ở Làng Đại học bị ‘lấy’ và đưa Tờ khai gia đình cho tôi. Không thể để người bị ‘cướp’ bị đến hai lần, tôi nhận văn kiện và nói : ‘Thầy để tôi lo.’ Bao nhiêu đó đủ để nhận biết nhau. Tôi trả hồ sơ cho ông và nói đủ lớn để Bàn trưởng nghe : « Tờ khai gia đình của Thầy có ghi ‘Tạm trú’. Như vậy ‘được rồi và sau khi khai xong, Thầy sớm nộp lại. Chào Thầy ». Cười và bắt tay nhau. Trong số khách đó, có những người đến xin đơn về khai và, sau khi, nghe theo bàn tán thế nào, trở lại xin đơn khác… Thôi thì tiền của người ta (họ không phải là kẻ ‘chấp hữu vô căn’… mà chỉ là nạn nhân chế độ) nên tôi cứ để cho chủ gia đình tự quyết định theo ý.
    Khi đồng bào trở lại nộp đơn, tôi đọc xét và ghi sổ kế toán, tiền cũ được Thủ quỹ tiền cũ nhận, đếm đúng với số khai, cắt góc tờ giấy bạc và lưu lại. Sau đó, Thủ quỹ tiền mới giao những tờ giấy bạc mới cho khách và Bàn trưởng ký chung cuộc và trao một bản đơn cho đương sự. Bản kia trao cho tôi để lưu. Xong cho một gia đình. Có vài gia đình thắc mắc, vì nghe các du kích dạy bảo ‘cộng sản sẽ san bằng giàu nghèo’, sao không được lãnh 200 đồng tiền mới như nhà trước. Tôi chỉ trả lời : không có chỉ thị. Thật nghèo mà tin cộng sản !
    Các lãnh đạo cao cấp, tại Hà nội, hình như đã không thể thẩm lượng số tiền đang lưu hành tại Việt Nam Cộng hòa cũ, nơi nền kinh tế phồn thịnh hơn Miền Bắc cộng sản nhiều vì, sau ngày 30.04.1975, hàng loạt hàng hóa và vàng bạc từ Sài gòn đã được chở về Hà Nội, kể cả 16 tấn vàng mà ‘người cộng sản’ phao tin ông Nguyễn Văn Thiệu đã chở đi khỏi nước. Cuộc đổi tiền đã kéo dài ba ngày và chỉ mới thanh toán cho mỗi gia đình 200 đồng tiền mới mà thôi.
    Xin ghi thêm những điều biết được khi đọc Việt Báo ngày 04.10.2006.
    « Ngay sau khi Cộng quân tiến chiếm Sài gòn trưa ngày 30.04.1975, Ban Quân quản các ngân hàng đã tiếp thu Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và các ngân hàng khác ‘với tiền, vàng còn nguyên vẹn là một chuyện ngoạn mục. Việc xử lý sau đó còn ngoạn mục hơn Ừ. Đó là lời ông Lữ Minh Châu, Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài gòn – Gia định, người tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của chế độ cũ. Ngoài ra, ông Châu còn xác nhận : Về … 16 tấn vàng vẫn còn nguyên vẹn trong kho của ngân hàng Ừ. Về tiền, ông cho biết : « Toàn bộ tiền và vàng dự trữ trong ngân hàng chúng ta tiếp quản nguyên vẹn cùng với đầy đủ hồ sơ sổ sách. Theo thống kê thì khối lượng tiền trong lưu thông thời điểm đó là 615 tỉ, gồm tiền mặt trong lưu thông 440 tỉ, còn lại nằm trong tài khoản tiền gửi.
    Sau khi tiếp quản, tài sản thuộc Ngân hàng Quốc gia được bàn giao toàn bộ cho Ngân hàng Trung ương Chính phủ Cách mạng lâm thời, mang tên Ngân hàng quốc gia miền Nam, do ông Trần Dương làm Thống đốc ». Theo Wikipedia, khi kiểm kê tiếp thu, trong kho hầm sắt Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có 1.234 thoi vàng và một số tiền cổ bằng vàng, tức hơn 16 tấn. Đó là tài sản quý kim và tiền tệ của nước Việt Nam Cộng hoà. Sau đó, đến phiên tiền tệ của người dân được cướp đi bởi các cuộc Đổi tiền.
    Tuy nhiên, khi ông cho biết ‘Trong kho dự trữ còn có 125 tỉ tiền in theo kiểu mới chưa phát hành, riêng số giấy bạc này được lệnh phải thiêu hủy, vì đó là số giấy bạc mà chính quyền Sài Gòn chuẩn bị để đổi tiền’. Từ ‘đổi tiền’ mà ông nói ở đây không cùng nghĩa vì đó là những tờ giấy bạc có mệnh giá lớn được in chờ ngày phát hành. Ngày phát hành được cơ quan thẫm quyền loan báo trước và, đến ngày đó, Viện phát hành giao lượng giấy bạc này cho các ngân hàng hay những ngân khố để chi trả cho người thụ hưởng hợp pháp đúng định giá. Đồng thời, Viện này cũng có thể chỉ định thu hồi các loại tiền khác để tiêu hủy.
    Ngày 25.09.1975, nhân viên tất cả các Bàn đổi tiền được tập họp về vũ trường Maxime cũ để tổng kết. Nhân dịp này, Bí thư Thành ủy khen chiến dịch ‘Đổi tiền’ đã đạt thành quả tốt đẹp hơn cả chiến dịch Hồ Chí Minh (chiếm Miền Nam) vì khi thảo luận chiến dịch này, Bộ Chính trị nắm vững quân số và phương tiện, nhưng khi ‘Đổi Tiền’ thì họ không có đủ số nhân sự động viên cũng như số lượng tiền cũ và công việc. Sau đó, tôi đã làm công tác thống kê.
    Các vị ‘đỉnh cao trí tuệ’ muốn có những số liệu tiền mặt của những gia đình mà gia trưởng là các sĩ quan hay công chức đang ‘đi cải tạo’, nhưng khi lập bảng Thống kê, vì các ông đang vắng mặt, các bà đã đứng đơn xin đổi tiền và chỉ ghi nghề nghiệp mình đang làm hay nội trợ. Nhờ đó, tôi cảm thấy nhẹ nhàng… Sau đó, theo Wikipedia, từ đầu năm 1976, các gia đình có tiền đổi được phép rút 30 đồng mới mỗi tháng, nhưng đến tháng 12/1976 thì trương mục được khóa lại.
    Đổi tiền ngày 03/5/1978
    Sau khi thống nhất Việt Nam năm 1976, đảng Lao động Việt quyết định xã hội chủ nghĩa hóa nền kinh tế thị trường, theo nghị quyết khóa III, xóa bỏ tư sản thương mại và dân tộc, xây dựng hợp tác xã,… Kỳ Đổi tiền 1978 được quyết định bởi Thủ tướng bởi sắc lệnh số 88 CP ngày 25.04.1978 và khai triển ngày 03.05.1978. Theo đó tiền tệ hiện lưu hành tại hai miền Nam Bắc hết giá trị giao hoán và những ai đang sở hữu tiền cũ này phải đem đổi lấy tiền mới.
    Dân thị thành được đổi tối đa:
    – 100 đồng cho mỗi hộ 1 người;
    – 200 đồng cho mỗi hộ 2 người;
    – Hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người;
    – Tối đa cho mọi hộ thành phố bất kể số người là 500 đồng.
    Dân quê được phép đổi theo ngạch sau:
    – 100 đồng cho mỗi hộ 2 người ;
    – Hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người;
    – Tối đa cho mọi hộ dưới quê bất kể số người là 300 đồng.
    Số tiền đang có trên mức tối đa phải khai nộp và ký thác vào ngân hàng. Khi cần dùng có lý do chính đáng thì tiền đó có thể rút ra. Một điều buộc nữa là trương chủ phải chứng minh số tiền này là tiền kiếm được bằng sức lao động chân chính.
    Đang làm việc tại Phòng Tiền tệ Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, tôi tham gia Kiểm tra Tồn quỹ các cơ quan nhà nước tại Thành phố, đặt tại lầu 10 Ngân hàng Thành phố. Tổ (đơn vị kiểm tra) gồm một Tổ trưởng (tại Tổ chúng tôi: một lãnh đạo Ngân hàng Kiến thiết, vui tính và biết điều), một công an cấp tá giáo điều và chúng tôi hai kế toán.
    Cơ quan đầu tiên mà Tổ kiểm tra tiếp là Trường đại học Y khoa. Sổ sách kế toán và tồn quỹ phù hợp qui định Ngân hàng Thành phố, nhưng hơi cao. Lý do mà mọi người điều biết : Tiền mặt không được giữ tại cơ quan quá định mức, nhưng khi cần thì Ngân hàng không có đủ để cung ứng. Sau đó, khi làm việc với một đơn vị quân báo và tìm thấy những số tiền mặt được dùng để chi trả cho việc may quân phục đen. Tổ trưởng đặt câu hỏi và được trả lời là để giả lính Khmer đỏ và xâm nhập và Cam bốt. Lúc đó, Khmer đỏ thỉnh thoảng tấn công Việt Nam và giết người Việt và Việt Nam chuẩn bị đánh vào Cam bốt năm 1979.
    Cơ quan mà việc kiểm tra kéo dài và khó khăn nhứt là Trường Đảng, đặt tại Trường Bộ binh Thủ đức cũ. Khi tiến hành kiểm tra, vài thành viên Trường Đảng đã đưa cao tay cho thấy họ có súng…
    Sau một ngày làm việc không kết quả, hôm sau, trước khi bắt đầu, Trưởng đoàn cho biết : tối hôm qua, Đảng ủy Trường đã họp và quyết định nói thật…
    Khi kiểm tra sổ kế toán, tôi thấy ngay có nhiều trang không có số cộng từ trên xuống không có, nhưng có số mang sang trang sau. Tôi hỏi tại sao như vậy ? Trong khi một cô kế toán ‘sếp’ đang cố gắng giải thích thì cô kế toán kia nhỏ nhẹ ‘ba em đi học tập’ khiến tôi nghĩ đến tình chiến hữu (dù là quân nhân, cảnh sát hay công chức cũng phụng sự Tổ Quốc Việt Nam Cộng hòa). Do đó, tôi khuyên hai cô phải làm thế nào để đúng, nhưng rồi xếp sổ lại. Cơ quan ‘Khám Chí hoà’ cũng có những vi phạm, nên giờ cơm trưa, Tổ trưởng và Trung tá công an được mời về ăn. Buổi chiều, sau khi làm Biên bản kiểm tra tồn quỹ, trong khi tôi đánh máy năm bản, Trưởng đoàn nhà tù mời các thành viên Tổ uống bia. Tôi từ chối. Mang bia đến, nhưng không có ly, nên phải đến nhà bếp mượn để uống khiến thành viên các Tổ khác biết. Rồi vì ghen ghét không được uống bia, nên họ đã họp toàn thể các Tổ để tố quê nhau…
    Đổi tiền ngày 14.9.1985
    Ngày 12-9-1985, báo Tuổi Trẻ đăng tại trang nhất: ‘Bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của gian thương’và đã viết: ‘Với sự tăng cường hiệu lực của bộ máy chuyên chính vô sản mọi hậu quả tin đồn phải được thanh toán triệt để’. Thế rồi, sáng 14.09.1985, hệ thống loa phóng thanh đường phố loan tin Đổi Tiền. Đó là sự khác biệt giữa biện pháp do cộng sản chủ trương và những sự Đổi Tiền ở những nước dân chủ mà chúng ta đã xem khi bắt đầu bài này. Trước cướp đó, Phan Văn Khải, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Phan Văn Khải viết báo biện luận ‘Đổi tiền là vì lợi ích của nhân dân lao động’.
    Vì đang hành nghề cho doanh nghiệp tư nhân, nên tôi không bị buộc phải tham gia Đổi tiền lần này.

  2. chinhkie permalink

    Nước Mỹ sẽ có nội loạn, nên cơ hội khó có được như 2 thế chiến trước… cho dù thế nào đi nữa thì NGÀY HỎI TỘI CHÚNG, chúng sẽ vỡ tổ chập chùng bay thì VN tất nhiên sẽ:

    MỪNG ĐỜI GẶP LÚC HIỂN VINH REO HÒ…

  3. chinhkie permalink

    Bổ túc:

    tổng thống Putin rất muốn khôi phục LIÊN XÔ nhưng câu 9 trong NA HUM chương 1 đã khẳng định: “Ðứa nghịch thù sẽ không chỗi dậy hai lần”… cho dù có hợp tác quân sự đông đảo để tấn công HOA KỲ, DO THÁI, CHÂU ÂU như Ezêkiel chương 38 và 39 đã nói… nhưng cuối cùng lực lượng trù bị của HOA KỲ sẽ đẩy lui 2 tên này là NGA VÀ TRUNG CỘNG lúc 2 tên này tưởng thắng được rồi quay qua hôi của… ngoài ra chúng còn BẮN GIẾT LẪN NHAU khi tranh ăn, lấy của vơ vét chiến lợi phẩm…

    9 Các ngươi mưu định gì chống lại Yavê?
    Chính Người, Ðấng ra tay tận diệt.

    Ðứa nghịch thù sẽ không chỗi dậy hai lần.

  4. chinhkie permalink

    Chào Bác tieuhan!

    Bác nói không sai… Kinh Thánh mà em nói là của dân Israel (Dothái) Tất cả những điều mà em đã viết lên đây là Huyền nhiệm vô cùng … sấm trạng rất huyền nhiệm nhưng nó giới hạn và cô đọng, những điều sấm Trạng đã nói chỉ là 1 phần rất nhỏ so với KInh Thánh… tất nhiên CHỦ ĐỀ sấm Trạng vẫn luôn là KIM CHỈ NAM của trang nhà SẤM… Kinh Thánh nhất là phần Cựu Ước nó bao gồm rất nhiều thứ, trong đó có sấm Trạng Trình… sấm Trạng có thể nghiệm bàn ít nhiều, nhưng Kinh Thánh phải được mặc khải của TRỜI mới có thể hiểu, thế sấm Trạng có mặc khải không? Tất nhiên là có với cụ Trạng Trình rồi… QUYỂN VÀNG MỞ THẤY SẤM TRỜI… nhưng ngoài vấn đề được trời Mặc khải… cụ Trạng đã đưa vấn đề mặc khải vào khoa LÝ SỐ HỌC dịch học và thái ất nên con cháu có thể nghiệm bàn, dự đoán… còn mặc khải chính thức là lời trực tiếp của TRỜI thì phải dứt khoát, không thể nghiệm bàn như LÝ SỐ HỌC được… nghĩa là chgỉ người nào được SOI TỎ cho biết thì mới có thể hiểu biết, còn người nghe hay đọc lại thì cũng chỉ có người nào trời cho nghe thì mới nghe và hiểu được… thí dụ sách tiên tri NA HUM nói về nước (NGA) thời LIÊN XÔ CHƯƠNG 1 ĐẾN CHƯƠNG 3 VỚI SỰ sự ra đi của SƯ TỬ ĐỰC và sự ở lại của sư tử con và sư tử cái chẳng ai làm gì chúng (theo bản dịch của LM Nguyễn Thế Thuấn) có ai hiểu ý nghĩa nó là gì không?
    – Chắc chắn là không, nếu TRỜI không soi tỏ cho biết, hiểu…
    – Xin dẫn chứng và giải thích những chỗ không thể ai cũng giải được nếu không có ơn trên như sau:

    * Tiên Tri NA HUM chương 1

    “… 7 Yavê tốt lành với những ai trông vào Người.
    (Người là) đồn trú trong ngày quẫn bách.
    Yavê biết những ai nương ẩn bên Người.

    8 Cả khi nước lụt tràn qua, phường ấy loạn với Người,
    Người ra tay tận diệt.
    Người tróc nã địch thù Người đến tận tối tăm.
    9 Các ngươi mưu định gì chống lại Yavê?
    Chính Người, Ðấng ra tay tận diệt.
    Ðứa nghịch thù sẽ không chỗi dậy hai lần.

    2b Yavê báo oán trên quân nghịch của Người,
    Người cưu hờn với các kẻ thù Người.
    10 Phải, chúng sẽ vướng phải bụi gai như thể túy lúy rượu nồng;
    như rạ, chúng sẽ bị thiêu, tận tuyệt.

    11 Chính tự nơi ngươi đã phát xuất đứa mưu mô sự dữ chống lại Yavê,
    kẻ ôm những ý định vô loài.
    12 Yavê phán thế này: Cho đi chúng có kiện toàn, có đông đảo,
    chúng cũng sẽ bị chặt phăng, và biến mất.
    Nếu Ta đã tàn nhẫn với ngươi,
    Ta sẽ không còn tàn nhẫn với ngươi nữa.
    13 Bây giờ Ta sẽ đập tan ách nó đè nặng trên ngươi,
    các thừng chão nó, Ta sẽ bứt tung.
    14 Về ngươi, Yavê ra lệnh: Ngươi sẽ tiệt nòi, không kẻ đội tên.
    Nơi nhà thần linh ngươi thờ,
    Ta sẽ vất đi tượng chạm với tượng đúc.
    Mồ mả ngươi, Ta làm thành đồ ô nhục…”

    + Giải thích đây là đoạn KInh Thánh nói về LIÊN XÔ nay là LIÊN BANG NGA đã và đang phản loạn chống Thiên Chúa Đấng Tạo Dựng Trời Đất muôn loài… (Năm 1917) NGA XÔ ra đời với thuyết duy vật, vô thần dẫn loài người vào TỐI TĂM tội lỗi, bạo động khủng bố, tiêu diệt tôn giáo… nhất là Kytô giáo… câu 9 cho thấy rõ Nga Xô năm 1990- 1991 đã tan rã mặc dù quỷ kế của Gópbachóp giả vờ, nhưng ông Trời cho nó tan thật… bây giờ không thể chỗi dậy… câu 11 nói về LÊ NIN đã đẻ ra triết thuyết DUY VẬT VÔ THẦN. câu 14 nói về TƯỢNG của LÊ NIN đã bị vất đi, mồ mả thành đồ ô nhục… hay chương 2 nói về sự tan rã của NGA XÔ và sự còn lại đến cuối thời của TRUNG CỘNG và các nước CS như VN,Lào, Cam-pu-chia, Cuba, Bắc Hàn vv

    + Câu 12 nói SƯ TỬ cha ra đi có nghĩa là sự sụp đổ LIÊN XÔ năm 1990- 1991… chỉ còn SƯ TỬ MẸ là TRUNG CỘNG, sư tử con là các nước đã nói trên…

    NA HUM chương 2

    12 Ðâu rồi ở sư tử? hang của hùm tơ?
    Nơi mà khi sư tử cha ra đi, thì sư tử cái,
    sư tử con ở lại, chẳng ai nào khuấy nhiễu.

    13 Sư tử cha xé mồi cho con thỏa thích,
    và bóp cổ mồi đãi bà sư tử.
    Hang nó, nó chất đầy mồi! Ổ nó ứ những thịt săn.

    14 Này Ta chống lại ngươi! – Sấm của Yavê các cơ binh –
    Xe trận của ngươi, Ta sẽ thiêu thành mây khói.
    Các hùm tơ của ngươi, gươm sẽ làm cỏ.
    Ta sẽ phăng đi khỏi đất, mồi ngươi đã bắt.
    Thiên hạ sẽ không còn nghe tiếng các sứ thần của ngươi…”

    + *+ Hoặc là chương 3 nói về dân đồng minh với NGA đông như châu chấu

    15 Ngay ở đó, lửa sẽ ngốn ngươi, gươm sẽ phanh thây ngươi,
    nó sẽ ngốn ngươi như bọ rầy, cho đi ngươi đông đảo như bọ rầy,
    cho đi ngươi đông đảo như châu châu, quân inh ngã ngục tan tác trên (đất Mỹ và Israel)
    và tin đồn về NGA sẽ sụp đổ trong thời gian tới làm mọi người vỗ tay vui mùng vì tội ác khôn cùng của CS NGA…

    18 Các mục tử ngươi đã thiếp ngủ, hỡi vua Assur.
    Các quyền thần của ngươi an giấc.
    Quân binh ngươi tan tác trên các núi non, không ai chiêu tập.
    19 Ðòn hằn trên ngươi vô phương thuyên giảm,
    thương tích của ngươi, một vố tử vong.
    Tin đồn về ngươi, ai ai nghe được sẽ vỗ tay.
    Bởi chưng ai không kinh nghiệm cái ác khôn cùng của ngươi?

    + Nếu đọc chương 7 của tiên tri MICA chúng tha thấy Đức Chúa Trời vach tội của cán bộ, quan quyền của CSVN tại TÒA ÁN vv rất là xấu xa đáng khinh bỉ như sau:

    * TIÊN TRI MICA

    – Chương 07 –

    “Một xã hội đảo điên”

    1 Khốn thân tôi! Vì tôi lâm cảnh hái trái mùa hè,
    vào lúc mót quả mùa nho.
    Không một chùm nho nào ăn!
    Không một thường tân, họng những ước ao!
    2 Người nhân đức đã biến khỏi xứ.
    Kẻ lành không còn nữa giữa người phàm.
    Chúng hết thảy rình mò đổ máu.
    Căng lưới, chúng săn diệt lẫn nhau.
    3 Ðể làm dữ thì bàn tay chúng thiện nghệ.
    Quan quyền, lẫn thẩm phán, chỉ đòi công.
    Kẻ lớn phán quyết theo cái ước mơ họng mình.
    Khốn nạn, chúng làm méo mó lẽ công!

    .4 Kẻ tốt lành nhất trong bọn cũng như cà cuốc
    và người lương thiện hơn cả cũng là giậu gai.

    “Ngày hỏi tội chúng,” ngày những người canh đã báo đến nơi.
    Bấy giờ sẽ là tán loạn cho chúng

    5 Chớ tin bạn hữu, chớ cậy vào kẻ thâm giao.
    Ngay với kẻ cùng ngươi chăn gối bên lòng,
    ngươi cũng hãy canh chừng cửa miệng.

    6 Vì con dám miệt thị cha,
    con gái dấy lên chống lại mẹ,
    nàng dâu chống lại mẹ chồng,
    kẻ thù của người ta, chính người nhà của mình.
    7 Phần tôi, tôi ngóng rình Yavê.
    Tôi trông cậy vào Thiên Chúa tế độ của tôi.
    Người sẽ nhậm lời tôi, Thiên Chúa của tôi!”

    – Chúng ta thấy (câu 4) rất khớp rất siêu vời mà chúng ta có nằm mơ cũng không bao giờ NGỜ ĐƯỢC RẰNG Kinh Thánh của Kytô giáo sao lại rất nhiều trùng ý với sấm Trạng Trinh chứ?

    “Khỉ nọ ôm con ngồi khác mếu (2016)
    Gà kia vỡ tổ chập chùng bay…” (2017)…

    + Câu 4… là câu NGÀY HỎI TỘI CHÚNG…

    “… 4 Kẻ tốt lành nhất trong bọn cũng như cà cuốc
    và người lương thiện hơn cả cũng là giậu gai.

    *** Ngày hỏi tội chúng,” ngày những người CANH đã báo đến nơi.
    Bấy giờ sẽ là Tán Loạn cho chúng

    + Còn 1 điều nữa về Trung Cộng xâm lược VN từ “lộ liễu cho đến lén lút” và sẽ phải thất bại, việc này liên quan tới mấy cái thuỷ điện mà TUNG CỦA xây dựng khoảng trên dưới 10 năm về trước, với sự HẠN HÁN, mất mùa, nhiễm mặn, BÒ BÊ, CHIÊN DÊ biến khỏi chuông vv khắp nước, cách riêng là ở miền Trung, miền Tây. Nam Bộ VN..

    *** Tiên Tri HABACÚC

    “… 16 Tôi nghe, và bụng dạ nao nao.
    Tiếng vọng lại làm môi tôi bằm bặp.
    Sâu quảng ăn thấu xương.
    Chân đi, bước lạng choạng.
    Tôi yên đợi ngày khốn đốn,
    ngày sắp rạng trên dân xâm lược chúng tôi.

    17 Bởi chưng vả hết đơm hoa, vườn nho không sinh trái.
    Cảm lăm vào mùa trái trăng cũng dối.
    Ðồng áng chẳng đem lại gì ăn.
    Chiên dê biến mất khỏi ràn. Trong chuồng bò bê cũng sạch.

    18 Phần tôi, tôi muốn nhảy mừng trong Ðức Yavê.
    Hoan hỉ trong Thiên Chúa tế độ của tôi.
    19 Yavê Ðức Chúa là sức mạnh tôi.
    Người cho chân tôi lanh tợ hươu nai;
    trên các đỉnh cao, người cho tôi bước.

    Phần nhạc trưởng. Có họa đàn…”

    *** Năm tới có lẽ HẠN HÁN CÒN DỮ DỘI HƠN rất nhiều…

    – Đấy, đấy… nếu không được soi dẫn thì đọc vào Kinh Thánh thì mau ngán lắm vì nó có vẻ mơ hồ xa vời đâu đẩu, đâu đâu… sấm Trạng thì khác, nếu hiểu được thì rất thích, nhưng không hiểu vẫn thích như thường, vì nó là thể thơ VÈ nghe rất vui rất hay…

  5. Nông phu permalink

    Hắc hắc thiết vi
    Bách tính nam quy.

    Niên nhị hắc, nguyệt nhị hắc khiến nhân sinh bước vào một thế cục mới, chăm họ sẽ lâm vào cảnh binh hỏa.

    Lưỡng biên bàn ngạt tùy nhất khối
    Thủ túc chánh vương tam lương tự.
    Nhất tự tam nhân đồng
    Nguyệt vô thủy vô hỏa.

    Là vế trên và vế dưới tên của một họ trong các họ ở việt nam ta, đây là một điểm tôi mới phát hiện, các bác thử nc xem.

  6. tieuhan permalink

    Chào các bác!

    Bạn chinhkie dạo này sưu tầm ở đâu nhiều tài liệu lạ quá, sấm kỹ đã làm loạn đầu óc rồi, nay ngồi đọc những bài viết của bạn lại càng mờ mịt. Hóa ra trên thế giới này nước nào cũng có nhà tiên tri.

    Ông Trump đắc cử là một tín hiệu tốt với thế cục thế giới và nước ta. Hãy nhìn lại chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai nước Mỹ đứng ngoài cuộc, chỉ tới khi thế giới kêu cứu thì họ mới nhẩy vào giải quyết tàn cuộc và chia phần. Lần này cũng vậy Ông Trump sẽ khiến cho nước mỹ thu tay lại, tạo điều kiện cho nhiều thế lực khác bung ra. Khối ung nhọt Trung quốc sẽ được dịp vỡ ra khi không còn bị áp chế. Chỉ khi trật tự thế giới được thiết lập lại thì Việt nam ta mới có cơ hội quật ngược trở lại, từ vị thế của chư hầu mà vươn lên thượng thiên.

  7. chinhkie permalink

    TIÊN TRI YSAYA

    – Chương 47 –

    Vận mạt của Babylon

    1 Xuống đi! Mà ngồi trên tro bụi, hỡi trinh nữ, con gái Babel!
    Hãy ngồi bệt dưới đất, chứ còn đâu ngai báu, hỡi con cái Kanđê.
    vì không còn ai nữa gọi ngươi là kiều diễm, xa hoa.
    2 Hãy lấy cối xay xay bột, hãy lật trần bím tóc,
    hãy vén tà áo và phơi đùi ra mà lội qua sông.
    3 Mặc cho sự trần truồng lộ liễu và cái hổ nhục bị phơi bày.
    Ta sẽ phục thù, không dung tha một người nào.
    4 Ðấng cứu chuộc chúng ta, Yavê các cơ binh là Danh Người,
    Ðấng Thánh của Israel.
    5 Im đi mà ngồi xuống, hay chui vào bóng tối, hỡi con gái Kanđê,
    vì thiên hạ sẽ không bao giờ còn gọi ngươi là nữ hoàng trăm nước.
    6 Ta đã thịnh nộ với dân Ta,

    Ta đã xử với cơ nghiệp Ta như đồ dung tục,
    nên Ta đã phó chúng trong tay ngươi.
    Nhưng ngươi không mảy may thương xót chúng,
    trên người già lão, ngươi đã đè quá nặng ách ngươi.

    7 Ngươi nói: “Cho đến muôn đời ta sẽ là bà chúa mãi mãi”.
    Ngươi đã chẳng bận tâm về các điều ấy,
    chẳng hề nhớ đến vận cùng ra sao.

    8 Vậy bây giờ hãy nghe đây, con người dật lạc,
    chễm chệ vô tư, ngươi tự nhủ trong lòng:
    “Ta, chứ chẳng còn ai khác nữa!

    Không bao giờ ta sẽ là thân góa bụa, hay số phận tiệt nòi không con!
    9 Nhưng thình lình, nội trong một ngày, cả hai điều sẽ đến cho ngươi:
    Con chết, mẹ góa. Cả hai cái họa dồn dập trên ngươi,
    cho dù ngươi lắm phù phép, và cao tay thần chú.
    10 Vững dạ trong độc ác, ngươi nói: “Không ai thấy ta”.
    Khôn ngoan hiểu biết của ngươi làm ngươi quay cuồng,
    ngươi tự nhủ trong lòng: “Ta, chứ chẳng còn ai khác nữa!”

    11 Cho nên họa sẽ ập đến trên ngươi mà ngươi không tường ấn quyết,
    đại biến giáng xuống trên ngươi mà ngươi không tài giải hết.
    Bất ngờ sẽ đến cho ngươi, tai họa ngươi chưa hề biết.

    12 Hãy thử đứng vững với thần chú của ngươi,
    với bao phù phép của ngươi,
    mà ngươi đã ra công luyện từ hồi còn thơ.
    Biết đâu ngươi sẽ có phương giúp ích cho mình,
    biết đâu ngươi sẽ còn có thể thét oai.

    13 Ngươi kiệt quệ vì bao mưu lược!
    Thì thiên văn địa lý, những thầy chiêm tinh,
    hãy trì chí ra công cứu lấy mạng ngươi!
    Chúng thường (rút quẻ) hàng tháng
    mà thông báo những điều phải đến cho ngươi.

    14 Này chúng chỉ như rơm rạ, lửa sẽ thiêu chúng!
    Chúng sẽ vô phương giựt mạng chúng khỏi sức hỏa hào!
    Ðó không phải là than để sưởi, hay bếp lửa để mà ngồi bên.
    15 Chúng với ngươi là thế!
    Những kẻ ngươi đã dày công giao dịch từ lúc còn thơ.
    Mỗi người mỗi ngả, chúng phân tán, không ai (ra tay) cứu giúp ngươi.

    * Nói về Mỹ thì các lời tiên tri nhiều lắm, nói về NGA cũng hơi nhiều… chẳng hạn Assur là 1 nước thuộc vùng Babylon cổ nay thuộc vùng Tây Á nhưng nó là tên ám chỉ nước NGA ngày nay tiên tri Êzzêkiel đã nói đó là dân vùng CỰC BẮC ngày nay tên Assur là NGA sẽ cùng các dân đông đảo vùng cực Bắc và Trung Cộng sẽ đánh Hoa Kỳ và Dothái đánh Châu Âu, nhưng NGA trong tiên tri NA HUM là dân ĐỎ tróng Ysaya chương 14 dưới đây sẽ bị ngã gục tại ISRAEL như Ezêkiel đã nói…

    + Trên Assur (Ysaya chương 14 câu 24-27)

    24 Yavê các cơ binh đã thề rằng: Hẳn vậy! Ta nghĩ sao,
    sự việc đã như thế, như Ta mưu định, sự việc sẽ thành!
    25 Là: Ðánh gục Assur trên đất của Ta, và trên các núi non của Ta,
    Ta sẽ chà đạp nó. Ách nó sẽ luột khỏi mình chúng,
    gánh của nó sẽ luột khỏi vai chúng.
    26 Ðó là mưu định đã định trên toàn cõi đất,
    đó là tay đã giương lên trên toàn thể các dân.
    27 Khi Yavê các cơ binh đã mưu định, ai nào dám cãi?
    Khi tay Người đã giương, ai nào sẽ co lại?

  8. chinhkie permalink

    Chương 13 nói trên thuộc sách TIÊN TRI ISAYA
    nói về HOA KỲ

    – Chương 14 – (Ysaya)

    Israel hết cảnh tù đày

    1 Phải, Yavê sẽ chạnh thương Yacob, Người vẫn quyết chọn lấy Israel; Người sẽ cho chúng an cư nơi đất tổ. Kiều cư sẽ cùng chúng liên kết, họ sẽ hợp đoàn với nhà Yacob. 2 Các dân sẽ lãnh lấy chúng đưa về cố hương. Nơi thửa đất của Yavê, họ sẽ là sở hữu của nhà Israel, sung làm tôi trai tớ gái. Chúng sẽ bắt tù những kẻ bắt tù chúng, chúng sẽ thống trị trên những người đốc công.

    Bạo chúa mạt kiếp
    3 Sẽ xảy ra là vào ngày Yavê cho ngươi nhàn rỗi, thoát nỗi truân chuyên tao loạn, thoát khỏi lao công cực nhọc đè trên ngươi, 4 ngươi sẽ ngâm lên bài ca diễu cợt này trên vua Babel; và ngươi sẽ nói:
    Sao, tên đốc công đã xong đời, đã xong cái trò khủng bố?

    5 Yavê đã bẻ gãy roi của lũ ác ôn, gậy của những bạo chúa,
    6 kẻ đã tức khùng đánh đập các dân, những trận đòn không ngớt,
    và đã nổi nóng đàn áp các nước, cuộc đàn áp không lơi.

    7 Cả cõi đất nghỉ ngơi yên hàn, người người phở lở reo vui.
    8 Về ngươi, cả những trắc điệp cũng vui,
    những hương bách tùng Liban: “Từ khi ngươi nằm xuống,
    tiều phu không còn lên đốn chúng ta!”
    9 Người làm âm phủ bên dưới lao xao khi đón ngươi vào.
    Vì ngươi, nó phải lay tỉnh các hồn ma bóng quế,
    hết thảy đều là những tên đầu sỏ khi còn trên đất;
    nó bắt đứng dậy khỏi ngai tất cả vua chúa các nước.
    10 Hết thảy họ lên tiếng nói cùng ngươi:
    “Cả ngươi nữa cũng hằng bạc nhược như ta, và cùng ta giống hệt.
    11 Kiêu uy của ngươi đã giáng đáy âm ti,
    cuốn theo tiếng sắt vang lừng của ngươi.
    Dưới ngươi trải đệm đàn giòi, và cẩm bào là lớp bọ.

    12 Làm sao ngươi đã từ trời sa xuống,
    hỡi Sao mai, con của hừng đông?
    Ngươi đã ngã rạp đất, ngươi đã làm liểng xiểng các nước?

    13 Người đã từng nhủ đáy lòng: “Ta sẽ lên trời,
    trên các vì sao của Thiên Chúa, ta sẽ bắc ngai ta,
    ta sẽ ngự trên núi Tao phùng, nơi bồng lai cực bắc.

    14 Ta sẽ lên chót vót tầng mây, ta sẽ đồng hàng với Thượng Ðế”.
    15 Thế mà ngươi đã bị xô nhào xuống âm phủ, tận đáy hố sâu.
    16 Những kẻ thấy ngưoơi đều trố mắt, họ đều chú ý đến ngươi:
    “Phải chăng đó là con người đã làm chấn động thiên hạ,
    và các nước ngả nghiêng?
    17 Ðã biến dương gian thành sa mạc, đã triệt hạ bao thành trên đất,
    và hễ bắt tù ai, đã không hề thả về nhà?
    18 Tất cả vua chúa các nước, đều nằm xuống trong vinh dự hết thảy,
    ai có nhà nấy.
    19 Còn ngươi bị vất phơi thây, không mồ, như mầm giống ghê tởm,
    phủ dưới những xác chết gươm đâm, như một thây ma bị chà,
    họ được hạ xuống bàn đá huyệt sâu.
    20 Ngươi sẽ không được sum vầy với họ trong mồ,
    vì ngươi đã làm lụn bại xứ sở ngươi, và tàn sát dân ngươi.
    Dòng giống ác nhân muôn đời sẽ không được nhắc đến.
    21 Hãy chuẩn bị tru di con cái nó, vì tội ác cha ông.
    Chúng sẽ không chỗi dậy chiếm đất và lan khắp dương gian”.

    22 Ta sẽ chỗi dậy chống lại chúng, sấm của Yavê các cơ binh, Ta sẽ tiểu trừ Babel, tên cũng như số sót, cả tông giòng hậu duệ, sấm của Yavê. 23 Ta sẽ biến nó thành lãnh thổ bầy nhím, những cái ao sình; khua chổi tảo thanh, Ta quét sạch nó, sấm của Yavê các cơ binh.

  9. chinhkie permalink

    Chuáng ta có thể đọc Đaniel với các chương 2 đến 4 sẽ hiểu về HOA KỲ hiện nay vv,,,

  10. chinhkie permalink

    Tổ phụ ISRAEL hay Yacob có 12 người con trong đó con cả là Ruben có con cháu là ông yÔEL là cha của GOG và con út của Yacob là Benyamin, Benyamin có 10 người con trong đó có 1 người tên là ROS là sắc dân chính của NGA tiếng Nga là Россия, chuyển tự là Rossiya.Tên gọi Rossiya có nguồn gốc từ Rus, một quốc gia thời Trung Cổ có dân cư chủ yếu là người Đông Slav. Tuy nhiên, bản thân tên gọi này chỉ xuất hiện nhiều trong thời kỳ lịch sử sau này, và các cư dân của quốc gia này gọi đất nước của mình là “Русская Земля” (russkaya zemlya) và nó có thể được dịch thành “Xứ của người Rus'” (Wiki).
    – sau này tiếng Anh đọc ROS hay Rus là Russia., như vậy dân tộc chính của NGA có nguồn gốc từ tor phụ Israel (Yacob)… Ấy thế mà thời sau cùng này con cháu ông với con cháu của NÔÊ là –
    – Yaphet là 1 trong 3 người con của Nôê…

    Con cái của yaphet: Gomer, Magog, Maday, Yavan, Tubal, Môsek, Tiras. 3 Con cái của Gomer: Askênaz, Riphat, Togarmah… mấy ông này sau LỤT HỒNG THỦY đã di cư lên vùng CỰC BẮC ngày nay là nước NGA sau nhiều ngàn năm con cháu của Yacob là GOG và ROS hay RUS cũng đã đến NGA, vì thế ,ới có chuyện trái tai gai mắt như hiện nay…

    – Chương 39 –

    “… 1 Phần ngươi, hỡi con người, hãy tuyên sấm trên Gog, ngươi sẽ nói: Ðức Chúa Yavê phán thế này: Này Ta có chuyện với ngươi, hỡi Gog, đại lãnh tụ của Mêshek và Tubal. 2 Ta sẽ bắt ngươi quày lại. Ta sẽ dắt ngươi đi, triệu ngươi lên từ vùng cực bắc. Ta sẽ đem ngươi đến đánh núi non của Israel. 3 Ta sẽ đập gẫy cung nỏ nơi tay trái ngươi. Ta sẽ giựt xuống các mũi tên nơi tay phải ngươi. 4 Trên núi non Israel, ngươi sẽ ngã gục, ngươi và tất cả binh đội của ngươi,cùng những dân đông đảo đi với ngươi. Ta sẽ thí ngươi làm mồi cho mãnh cầm và chim chóc hết thảy cùng dã thú. 5 Trên mặt đồng trống, ngươi sẽ ngã gục. Quả thế, chính Ta đã phán, — sấm của Ðức Chúa Yavê.
    6 Ta sẽ phóng lửa trên Magog, trên những kẻ ở yên hàn trên các đảo. Và chúng sẽ biết Ta là Yavê. 7 Ở giữa Israel, Ta sẽ cho biết Danh thánh của Ta. Ta sẽ không còn để Danh thánh Ta ra ô tục nữa. Các dân tộc sẽ biết Ta là Yavê, Ðấng thánh trong Israel. 8 Này, điều ấy sẽ đến và sẽ thành sự! – sấm của Ðức Chúa Yavê – Ðó là ngày Ta đã nói…”

    (Tiên Tri Đaniel tt)

  11. chinhkie permalink

    Nước NGA ở BẮC CỰC và đồng minh của NGA sẽ đánh Israel và HOA Kỳ…

    – Chương 38 –

    Gog xông đánh, Israel khôi phục

    1 Xảy có lời Yavê đến với tôi rằng: 2 Con người hỡi, hãy quay mặt hướng về phía Gog ở xứ Magog, đại lãnh tụ của Mêshek và Tubal. Ngươi hãy tuyên sấm trên nó. 3 Ngươi sẽ nói: Ðức Chúa Yavê phán thế này: Này Ta có chuyện với ngươi, hỡi Gog, đại lãnh tụ của Mêshek và Tubal. 4 Ta sẽ bắt ngươi quày lại. Ta sẽ tra móc vào hàm ngươi. Ta sẽ cho ngươi xuất chinh với tất cả đạo binh của ngươi: Chiến mã và kỵ binh, hết thảy đều ăn vận bảnh bao, một lực lượng hùng hậu với lá chắn và khiên mộc, hết thảy đều quen nghề binh đao. 5 Batư, Kush, và Put (cùng đi) với chúng, hết thảy (đều chỉnh tề) khiên mộc mũ chiến. 6 Gomer và tất cả binh đội, Bet-Togarma mãi vùng cực Bắc với tất cả binh đội. Với ngươi có những dân đông đảo. 7 Hãy sẵn sàng, hãy chuẩn bị, ngươi và tất cả lực lượng ngươi đã chiêu mộ được bên ngươi. Ngươi sẽ túc trực đó cho Ta. 8 Sau bao nhiêu ngày, ngươi sẽ được mộ. Vào buổi niên cùng thế tận, ngươi sẽ đến trong một xứ mà dân đã được phục hồi khỏi nạn binh đao, đã được thâu họp lại từ biết bao nhiêu dân nước trên núi non của Israel, (núi non) đã là tàn tích lâu đời, (một dân) đã được kéo ra khỏi các dân; và hết thảy chúng đang ở yên hàn. 9 Ngươi sẽ tiến lên như vũ bão. Ngươi sẽ đến như đám mây làm rợp cả xứ, ngươi và tất cả binh đội cùng những dân đông đảo với ngươi.

    10 Ðức Chúa Yavê phán thế này: Sẽ xảy ra là trong ngày ấy: Tự lòng ngươi sẽ xảy ra những ý nghĩ! Ngươi sẽ mưu mô chước độc. 11 Ngươi nói: “Ta sẽ tiến lên đánh một xứ bỏ ngỏ. Ta sẽ xông vào những kẻ hiếu hòa, hết thảy đều đang ở yên hàn, không tường lũy, những người không có then cài cửa đóng. 12 Ðể đánh cướp, để bóc lột, để tra tay trên những tàn tích đã nên trù mật, trên một dân đã được đoàn tụ từ các dân tộc, (trên một dân) đã gầy lại được súc vật và của cải; trên những người ở chính rốn của thế giới”. 13 Saba và Ðơđan, những con buôn Tarsis, và tất cả các thương gia của nó sẽ nói với ngươi: “Phải chăng ngài đến để đánh cướp? Phải chăng là để bóc lột mà ngài đã chiêu binh mộ tướng? Ðể chở đi bạc vàng? Ðể bắt lấy súc vật và của cải? Ðể thu chiến phẩm lớn lao?”

    14 Cho nên hãy tuyên sấm, hỡi con người, mà nói với Gog: Ðức Chúa Yavê phán thế này: Ngày ấy, trong khi dân Ta đang ở yên hàn, ngươi sẽ không chỗi dậy đó sao? 15 Ngươi đến từ nơi ngươi, từ vùng cực bắc, ngươi và những dân đông đảo với ngươi. Hết thảy đều phi ngựa! Một lực lượng hùng hậu, một đạo binh lớn. 16 Ngươi tiến lên đánh Israel dân Ta, như đám mây làm rợp cả xứ. Sự sẽ xảy ra vào buổi niên cùng thế tận, Ta để ngươi đến đánh xứ của Ta, ngõ hầu các dân tộc biết Ta, hỡi Gog, khi nơi ngươi, Ta hiển thánh mình Ta trước mắt chúng.

    17 Ðức Chúa Yavê phán thế này: Lại không phải chính về ngươi mà Ta đã phán vào những ngày trước kia, qua miệng các tôi tớ Ta là các tiên tri của Israel đó sao? Họ đã tuyên sấm vào những ngày ấy [năm ấy] là Ta sẽ cho ngươi đến đánh chúng. 18 Sẽ xảy ra là trong những ngày ấy, ngày Gog đến trên thửa đất của Israel, — sấm của Ðức Chúa Yavê – phẫn nộ của Ta sẽ xông lên mũi Ta. 19 Trong sự phẫn ghen, trong lửa chấn nộ của Ta, Ta nói: Ðã hẳn ngày ấy sẽ có động đất dữ dội trên thửa đất của Israel. 20 Trước nhan Ta, (hết thảy) đều run khiếp: Cá biển, chim trời, dã thú, tất cả rắn rít bò trên đất, và loài người hết thảy trên mặt đất. Núi non sập xuống. Những rẫy triền đồi vỡ lở. Mọi thành lũy lăn nhào xuống đất. 21 Ta sẽ gọi cả khối kinh khiếp chống lại nó – sấm của Ðức Chúa Yavê – gươm đứa này chĩa vào đứa khác. 22 Ta sẽ đương đầu với nó bằng ôn dịch và máu đổ. Ta sẽ giáng xuống mưa như thác đổ cùng mưa đá, lửa và diêm sinh, trên nó, trên binh đội của nó, trên những dân đông đảo đi với nó. 23 Ta sẽ cho thấy, Ta lớn lao thánh đức thế nào! Trước mặt những dân đông đảo, Ta sẽ tỏ mình. Và chúng sẽ biết Ta là Yavê.”
    (Ezêkiel 38)

    Chú ý: GOG = Gogbachop = Mikhail Gorbachev… ông sinh năm 1931… tại NGA.

    + Nguồn gốc của Mikhail Gorbachev có từ thời Tổ Phụ của dân ISRAEL như sau:
    – Israel tên cũ là Yacob là tổ phụ của dân Dothái (Israel)

    con cả của Israel là Ruben con hay cháu của Ruben là Yôel ông Yôel là 1 vị vương công của nhóm Ruben, trong số con của ông Yôel có 1 người tên là GOG sách Ký sự 1 chương 5 câu 4…Yôel đã bị vua Assur bắt đi đày… lưu lạc thế nào mà lên tới BẮC CỰC ngày nay thuộc nước NGA…

    Trong chương 38 và 39 nói đến lãnh tụ GOG và dân ở vùng CỰC BẮC sẽ cùng với các dân đông đảo sẽ tiến đánh ISRAEL câu 8, và đánh HOA KỲ câu 10-12. Israel là dân đã được đoàn tụ lại từ tàn tích lâu đời, còn HOA KỲ là dân chỉ có 1 cuộc chiến NAM BẮC sau đó là thống nhất đất nước đến nay… HOA KỲ hầu hết người dân không CỬA ĐÓN,G THEN CÀI vv

    (Chương 39 tt)

  12. chinhkie permalink

    V
    18 Ích gì hình tượng, để thợ chạm tạc ra nó?
    (Ích gì) tượng đúc với sấm điêu ngoa?
    Ðể kẻ nắn ra hình lại đặt cậy trông vào nó,
    mà làm ra những tà thần câm họng!
    19 Khốn cho kẻ nói với súc gỗ: “Xin hãy thức dậy!”
    với hòn đá câm: “Xin hãy tỉnh giấc!”
    (Nó mà tuyên sấm được sao?)
    Nó được dát vàng nạm bạc,
    nhưng tuyệt nhiên trong nó không hơi khí nào!
    20 Yavê ngự trong Ðền thánh của Người:
    Cả hoàn vũ: Im đi trước nhan Người!

  13. chinhkie permalink

    IV
    15 Khốn cho kẻ đổ rượu cho đồng loại sống,
    cho kẻ pha thêm thuốc độc cho người ta say,
    ngõ hầu có thể dòm cái lõa lồ của họ!
    16 Ngươi đã ứa nhục chứ không phải vinh.
    Uống đi! cả ngươi nữa, mà hở buồi ra.
    Chén tay phải Yavê sẽ xoay vần qua ngươi,
    và nhục nhằn rợp mắt vinh quang ngươi!
    17 Quả thế, tàn bạo trên Liban sẽ phủ trùm lên ngươi,
    và thú vật ngươi đã cướp sẽ làm ngươi tán đảm,
    vì tội ngươi đã đổ máu người,
    và ngươi tàn bạo khắp xứ và đô thị – trên tất cả dân cư trên đó!

  14. chinhkie permalink

    III
    12 Khốn cho kẻ xây thành trên (xương) máu,
    dựng đô thị bằng phi nghĩa!
    13 Các điều ấy há không phải từ Yavê các cơ binh mà đến đó sao?
    Khiến các dân vất vả (để làm mồi) lửa
    và các nước mệt thân cho cái hão không?
    14 Quả thế đất sẽ đầy sự biết vinh quang của Ðức Yavê.
    Như nước phủ tràn biển cả.

  15. chinhkie permalink

    Năm lời nguyền rủa
    I
    Khốn cho kẻ làm giàu với của không phải của mình
    (Cho đến bao giờ?)
    Cho kẻ quàng lấy gánh nặng của cầm!
    7 Há các chủ nợ của ngươi bỗng chốc lại không chỗi dậy,
    và những kẻ dằn mặt ngươi sực tỉnh?
    Và ngươi sẽ làm mồi cho chúng xâu xé.
    8 Bởi ngươi đã bóc lột nhiều quốc gia,
    thì các dân khác hết thảy sẽ bóc lột ngươi,
    vì tội ngươi đổ máu người,
    vì ngươi tàn bạo khắp xứ và đô thị, trên tất cả dân cư trong đó.

  16. chinhkie permalink

    II. Nguyền Rủa Bạo Quyền

    Nhập đề
    5 Phải, tiền bạc tệ bạc là bao!
    Người kiêu túng xốn xang, bành cổ họng ra như âm phủ.
    Nó như tử thần, chẳng bao giờ no.
    Nó vơ lấy cho mình mọi quốc gia.
    Nó thu về mình mọi dân tộc.
    6 Nhưng các dân này hết thảy há lại không cất lời ví von trào phúng,
    hay câu đố mà nhạo nó sao? Và chúng sẽ nói:

  17. chinhkie permalink

    + Nước MỸ đã phản loạn chống Chúa Trời ra mặt…..

    13 Mắt Người quá trong sạch, để có thể yên nhìn sự dữ.
    Cảnh lao đao, làm sao người trông thấy nổi!
    Vậy nhân sao, Người yên nhìn phường phản loạn?
    (Nhân sao) người lại làm thinh,
    khi kẻ dữ nuốt chửng người lành hơn nó?
    14 Người xử với loài người như với cá biển,
    như sâu họ không ai làm chủ.

    15 Bằng lưỡi câu, nó giựt chúng lên cả đám,
    nó lùa chúng vào lưới, nó thu lấy bỏ nơm.
    Và thế là nó vui mừng phở lở.

    16 Bởi thế nó tế cho lưới, nó huân yên cho nơm,
    vì nhờ đó, nó có phần màu mỡ, và cao lương mỹ vị.
    17 Bởi thế nó không ngừng tuốt gươm.
    Luôn (tay) chém giết người ta không chút chạnh thương? (Habacuc 1/13-17)

  18. chinhkie permalink

    + Kanđu là tên cũ của nước BABILON cũ bây giờ là Irâc…
    Nước Mỹ là BABILON mới các sách cựu Ước liên quan tới Mỹ được nói đến trong sách Ezêkiel, Đaniel, cách riêng là Habacuc vv… vì vậy danh Kanđu TRONG sách Habacuc ám chỉ đến HOA KỲ… dâm trào llộng khinh thường VUA CHÚA chính là HOA KỲ…
    – phụng hoàng hay Ưng ám chủ Mỹ

    * Lời than II: Tàn bạo của kẻ áp chế
    12 Há không phải Người, Ðấng có từ thuở trước kia, lạy Yavê,
    Thiên Chúa của tôi, Ðấng thánh của tôi, Người không thể chết?
    Lạy Yavê, Người đã đặt nó ra để thi hành công lý,
    và để sửa phạt, Người đã thiết lập nó, ôi! Ðá tảng! (Habacuc 1/12)

    – Nước Mỹ thành lập năm 1776… đồng đôla 1 đô có hình kim tự tháp 1 mắt ở dưới có ghi số năm,
    Nước Mỹ được thành lập để thi hành CÔNG LÝ và TRỪNG PHẠT THẾ GIỚI là do Chúa Trời đã tiền định như câu 12 Habacuc đã nói… thực tế Mỹ vẫn làm như vậy nhưng bây giờ Mỹ đã đi sai Thánh Ý của Chúa Trời Tạo Hóa trời đất muôn loài nên Chúa Trời 3 Ngôi nói chung cách riêng Ngôi Hai Thiên Vhúa là ĐÁ TẢNG YÊSU đã và đang bắt MỸ trở về nước duy yếu trong thời gian tới đây, có thể là từ năm 2000 và 2001 nước Mỹ đã thực sự đi xuống, rõ nét hơn là năm 2008 KINH TẾ SỤP ĐỔ và ông OBAMA lên làm tổng thống đã đem đói nghèo và hốn loạn cho nước Mỹ nhiều hơn nữa…
    Nước Mỹ khi xưa thì khác nhưng ít nhất từ thế chiến 2 trở lại đây, nước Mỹ thực sự đã biến chất ngày càng nhiều và đã gây ra chiến tranh, cụ thế là gây chiến tranh bằng cách bán vũ khí… về luân thường đạo lý xuống cấp như cho ĐỒNG TÍNH, PHÁ THAI trong thời (cờ lơn tơn) nhất là Ô BÀ MÁ thì khỏi nói… thành phần đảng DÂN CHỦ thân cộng (chính trị) của bà cờ lơn tơn cùng đồng bọn thời thập niên 1960 sau này đi đêm với CS nhất là TUNG CỦA… gần đây ÔBÀMÁ cùng đồng bọn đã ngấm ngầm tài trợ ISIS giết rất nhiều tín đồ Ky tô… tiền tiền đổ ra đầu tư nước ngoài các DỰ ÁN gì đó không minh bạch tuồn vào túi ai? Giống VN mấy ông đã bày ra nhiều DỰ ÁN để bỏ túi riêng?

  19. chinhkie permalink

    Trump lên nước Mỹ phân hóa suy yếu …

    Nước Mỹ sẽ suy yếu chia 5 xẻ 7 như Nga và Tầu Cộng

    + Kinh Thánh Cựu Ước nói gì về Mỹ trong sách tiên tri Habacu?

    “…,6 Quả thế, này Ta cho quân Kanđu chỗi dậy, một dân hung tàn, tấn tốc.
    Nó tung hoành ngang dọc trên đất,
    để chiếm lấy gia cư không phải của mình.
    7 (Một dân) đáng ghê, đáng sợ!
    Lẽ công, nó tự biện, hãnh diện, nó tự gầy.
    8 Ngựa nó lanh hơn hổ báo, lanh lợi hơn sói chiều hôm.
    Kị mã của nó phóng tới, kị mã của nó từ phương xa lại,
    bay như phụng hoàng vụt bắt mồi.
    9 Cả đám chúng kéo đến tha hồ tàn bạo,
    đằng đằng sát khí như trận gió hanh;
    Nó lùa tù binh nhiều như cát (biển).
    10 Dân ấy trào lộng trên đầu vua chúa,
    vương hầu làm trò nó diễu cợt.
    Nó cười khỉnh thành trì.
    Nó gom đất bụi mà chiếm lấy.
    11 Bấy giờ như gió, nó đổi chiều, nó đi qua.
    Nó đã tôn làm thần linh sức mạnh của mình…” (Habacuc chương 1 câu 6 – 11)

    + Kanđu là tên cũ của nước BABILON cũ bây giờ là Irâc…
    Nước Mỹ là BABILON mới các sách cựu Ước liên quan tới Mỹ được nói đến trong sách Ezêkiel, Đaniel, cách riêng là Habacuc vv… vì vậy danh Kanđu TRONG sách Habacuc ám chỉ đến HOA KỲ… dâm trào llộng khinh thường VUA CHÚA chính là HOA KỲ…
    – phụng hoàng hay Ưng ám chủ Mỹ

  20. chinhkie permalink

    BƯỚC MỸ HIỆN NAY LÀ TRUNG TÂM PHIẾN LOẠN CHỐNG LẠI THIÊN CHÚA TẠO HÓA vì thế nó đã đến ngày suy tàn CHIA 5 XẺ 7 (52 tiểu bang chỉ còn lại chừng 6 hay 7 tiểu bang còn đạo đức…

    – Chương 51 –

    Yavê Chúa Trời chống lại Babylon = chống HOA KỲ

    1 Yavê phán thế này:
    Này Ta sẽ cho nổi dậy chướng khí tru diệt trên Babel và dân cư “Trung tâm phiến loạn với Ta”.
    2 Ta sẽ sai đến Babel những tay rê lúa
    chúng sẽ rê, chúng phá sạch đất nó
    khi chúng hạ trại vây quanh đánh nó trong ngày tai họa.
    3 Người trương cung đừng có nới tay,
    kẻ mặc giáp trụ cũng đừng lơi sức, trai tráng của nó, đừng tha,
    trên tất cả đạo binh của nó, hãy ra án hiến phù!
    4 Tử sĩ ngã gục lăn lóc khắp xứ Kanđu,
    và những đứa chết đâm, nơi các phố phường của nó.
    5 Ðất chúng dẫy đầy tội vạ trước mặt Ðấng Thánh của Israel.
    Nhưng Israel và Yuđa không lâm phải góa
    mất Thiên Chúa của chúng, Yavê các cơ binh.
    6 Trốn đi khỏi giữa Babel, (mỗi người hãy lo thoát mạng)
    đừng để mình tử thương vạ lây với nó,
    vì đây là thời báo thù của Yavê, lúc Người trả nó rạch ròi công bình.
    7 Babel là chiếc chén vàng trong tay Yavê,
    nó đã làm cho cả thiên hạ say túy lúy:
    Các dân tộc đã uống rượu của nó, bởi thế các dân tộc đã hóa điên!
    8 Thình lình Babel lăn xuống và vỡ tan tành: Hãy rú lên khóc nó,
    hãy lấy dầu bóp cơn đau của nó, họa chăng nói sẽ được lành.
    “9 Chúng tôi đã cố chữa lành Babel, nhưng nó không lành!
    Thôi kệ nó! Ta đi, ai về quê nấy”
    Vì án của nó đã đụng thấu trời, và bốc cao lên đến tầng mây.
    10 Yavê đã tỏ ra chính nghĩa của ta; đến nào! Ở Sion ta hãy thuật lại
    công việc của Yavê, Thiên Chúa ta (thờ).
    11 Hãy vót tên, hãy nhét đầy bao!
    Yavê đã thức tỉnh khí khái các vua Mêđi, vì để chống lại Babel, Người đã lập kế để hủy diệt nó, vì đây là cuộc báo thù của Ðức Yavê, cuộc báo thù cho Ðền thờ của Người.
    12 Bên tường Babel, hãy nêu cờ hiệu; hãy tăng cường điếm canh,
    hãy cắt quân canh, hãy dàn sẵn đội mai phục, vì Yavê đã lập kế,
    Người sẽ thi hành điều Người đã phán về dân cư Babel.
    13 Ngươi ở bên làn nước lớn, ngươi lắm kho nhiều của,
    nhưng vận cùng của ngươi đã đến, đoản mệnh mất rồi!
    14 Yavê các cơ binh đã thề trên mạng của Người:
    Nơi ngươi, Ta sẽ dồn ngươi đầy như châu chấu
    và chúng sẽ xướng hồ khoan mà đánh ngươi!
    15 Ðấng ra sức mạnh làm nên cõi đất,
    khôn ngoan, Người kê vững dương gian,
    trí hiểu của Người đã căng tầng trời.
    16 Người lên tiếng, nước trên trời gầm vang,
    Người cho mây tự mút cùng cõi đất ùn lên,
    Người làm sấm chớp dọn mưa,
    Người kéo gió ra từ trong kho của Người.
    17 Mọi người đều là cục súc vô tri,
    các thợ kim hoàn xấu hổ với tượng thần (làm ra),
    tượng đúc của nó, một trò lừa dối, trong đó không có hơi thở.
    18 Chúng là khí gió, một trò lố bịch,
    thời chúng bị hỏi tội, chúng sẽ diệt vong.
    19 Nhưng không thế “Phần của Yacob”, Người đã nắn cả càn khôn
    và Israel là chi tộc cơ nghiệp của Người.
    Yavê các cơ binh là Danh Người.

    Babel: Vai trò và tội vạ
    20 Ngươi là cái búa Ta dùng, một lợi khí chiến tranh,
    Ta đã dùng ngươi để đập tan các dân tộc,
    Ta đã dùng người để hủy diệt các nước.
    21 Ta đã dùng ngươi để đập tan ngựa với kỵ sĩ,
    Ta đã dùng ngươi để đập tan xe với người đánh xe,
    22 Ta đã dùng ngươi để đập tan đàn ông, đàn bà,
    Ta đã dùng ngươi để đập tan già với trẻ,
    Ta đã dùng ngươi để đập tan trai tráng với gái tân,
    23 Ta đã dùng ngươi để đập tan mục đồng với đàn thú,
    Ta đã dùng ngươi để đập tan thợ cày với bò kéo,
    Ta đã dùng ngươi để đập tan tổng trấn và khâm sai!
    24 Nhưng trước mặt các ngươi,
    Ta sẽ hoàn trả lại cho Babel và dân cư Kanđu,
    tất cả sự dữ chúng đã làm ở Sion – sấm của Yavê –
    25 Này Ta chống lại ngươi, hỡi núi tru diệt – sấm của Yavê —
    kẻ đã tru diệt cả thiên hạ; Ta giương tay chống lại ngươi,
    từ trên các đá tảng, Ta sẽ vần ngươi xuống,
    Ta sẽ biến ngươi thành núi hỏa hào,
    26 khiến từ nơi ngươi không sao moi được
    một viên đá góc, hay một viên đá móng,
    vì ngươi sẽ là hoang địa muôn đời – sấm của Yavê!
    27 Trong xứ hãy nêu cờ hiệu, hãy thổi loa giữa các dân,
    để đánh nó, hãy chuẩn bị các dân, hãy hiệu triệu các nước,
    — Ararat, Minni, Askênaz – hãy đặt thư lại trưng binh,
    hãy phóc lên ngựa, (một đàn) đông nghịt như châu chấu!
    28 Ðể đánh nó, hãy chuẩn bị các dân,
    các vua Mêđi, các tổng trấn và quan lại cùng toàn xứ dưới quyền.
    29 Ðất run lên đòi cơn giãy dụa,
    khi mưu định của Yavê về Babel đã ứng nghiệm,
    là biến đất Babel nên điều kinh rởn, xứ không người ở.
    30 Anh hùng Babel đã thôi chiến đấu, chúng ngồi yên trong đồn,
    sức dũng cảm của chúng đã cạn, chúng hóa nên một bầy nhi nữ.
    Ðịch đã đốt nhà, đập gãy các then cổng.
    31 Tay sai chạy đón tay sai, kẻ đem tin đón gặp kẻ đem tin
    để báo cho vua Babel biết: Mọi phía thành đã thất thủ,
    32 các lối băng qua bị chiếm, các vọng canh bị đốt cháy,
    và quân ra trận tiền thì hoảng hốt.
    33 Vì Yavê các cơ binh, Thiên Chúa của Israel phán thế này:
    Nữ tử Babel nên như sân phơi vào kỳ người ta bện lại,
    chỉ còn ít nữa: Vụ mùa sẽ được đem về đó.

    Yavê rửa hận cho Yêrusalem
    34 Nabukôđônôsor, vua Babel, đã ăn thịt, rán mỡ tôi,
    rồi nó đã gạt qua bên như cái đĩa không, như thuồng luồng,
    nó đã nuốt chửng tôi, tôi có gì ngon, nó đã nhét đầy bụng nó.
    35 Dân ở Sion hãy nói:
    “Ước gì hung bạo xương thịt tôi chịu trút xuống Babel”,
    và Yêrusalem hãy nói:
    “Ước gì máu tôi đổ xuống đầu dân ở Kanđu!”
    36 Cho nên Yavê phán thế này:
    Này Ta sẽ tranh tụng cho quyền lợi ngươi,
    Ta sẽ đảm nhận mối thù của ngươi, Ta sẽ tát biển của nó,
    và mạch suối của nó, Ta sẽ làm khô.
    37 Babylon sẽ thành đống đá vụn, ổ của sài lang,
    một điều kinh rợn, bắt thiên hạ phải huýt gió, xứ không người ở!
    38 Cùng nhau, chúng gầm lên như đàn sư tử,
    chúng gầm vang như bầy sư tử non.
    39 Chúng đang hăng tiết, Ta chuốc rượu nồng,
    Ta cho chúng say choáng váng, cho chung lăn ngủ,
    giấc ngủ ngàn thu, không bao giờ còn trở dậy – sấm của Yavê.
    40 Ta dẫn chúng xuống lò sát sinh, như bầy chiên con,
    như những cừu đực, như đàn dê tơ.

    Ai ca cho Babylon
    41 Làm sao Sêsak đã bị hạ, và vinh dự của cả hoàn vũ đã bị bắt?
    Làm sao nó đã nên đồ kinh rợn, Babel (ngất nghểu) giữa muôn dân?
    42 Biển đã tràn vào Babel, sóng đã gầm vang bủa lên nó!
    43 Các thành của nó đã nên đồ kinh rợn, đất hạn hán,
    một chốn hoang giao, xứ tuyệt nhiên không ai ở,
    và không phàm nhân nào lui tới.

    Bel và Babel
    44 Ta sẽ hỏi tội Bel ở Babel; điều nó nuốt, Ta sẽ móc khỏi miệng,
    các dân tộc sẽ không còn tuôn đến với nó
    và cả tường thành Babel cũng sẽ sập đổ!
    45 Hãy ra khỏi giữa nó, hỡi dân Ta, mỗi người hãy lo thoát mạng,
    trước cơn giận hỏa hào của Ðức Yavê!
    46 Ðừng để mình ra mềm lòng, đừng sợ những tin đồn đại trong xứ,
    năm nay đồn thổi thế này, sang năm đồn thổi thế khác,
    hung bạo hoành hành trong xứ, và bạo chúa kế tiếp bạo chúa.
    47 Cho nên này sẽ đến những ngày Ta hỏi tội các thần tượng Babel,
    và tất cả xứ nó sẽ phải xấu hổ,
    và tất cả những tử sĩ sẽ ngã gục trong lòng nó.
    48 Bấy giờ trên Babel, trời đất cất tiếng reo hò,
    cùng với tất cả mọi sự trong trời đất,
    vì từ Bắc phương sẽ đến, những kẻ tàn phá nó – sấm của Yavê.
    49 Vì các kẻ tử nạn của Israel, Babel sẽ ngã gục, cũng như vì Babel,
    các kẻ tử nạn trên toàn cõi đất đã ngã gục!
    50 Hỡi những kẻ đã thoát chết vì gươm,
    từ nơi xa vời hay nhớ đến Yavê,
    và Yêrusalem hãy là mối canh cánh bên lòng các ngươi!
    “– 51 Chúng tôi xấu hổ phải nghe tin về những ô nhục,
    thẹn thuồng trùm mặt chúng tôi: Vì dân nước khác đã đến
    đánh vào các điện thờ Nhà của Yavê”.
    52 — Cho nên, này sẽ đến những ngày — sấm của Yavê,
    Ta sẽ hỏi tội các thần tượng của nó
    và trên toàn xứ nó, quân chết đâm sẽ rên xiết.
    53 Cho dù Babel leo thấu trời, cho dù nó dựng đài uy lực cao chót vót,
    Ta ra lịnh và quân tàn phá sẽ vào – sấm của Yavê.
    54 Từ Babel, có tiếng kêu la, một sự đổ vỡ lớn lao vọng từ xứ Kanđu,
    55 Vì Yavê tàn phá Babel:
    Người đã bóp tiếng oang oang của nó chết nghỉm,
    cho dù sóng của nó gầm vang như thủy triều, và vang dậy om sòm!
    56 Vì kẻ tàn phá đến đánh Babel, anh hùng của nó đều bị bắt,
    cung nỏ của nó gãy tan, vì Yavê là Thiên Chúa báo phục,
    Người sẽ báo trả rạch ròi.
    57 Các vương công cùng hạng khôn ngoan,
    tổng trấn, quan lại với anh hùng của nó,
    Ta sẽ làm cho say, khiến chúng sẽ lăn ngủ giấc ngủ ngàn thu,
    không bao giờ còn trở dậy.
    — Sấm của Ðức Vua, Yavê các cơ binh là Danh Người.
    58 Yavê các cơ binh phán thế này:
    Tường lũy Babel, (kinh thành) rộng lớn sẽ bị đàn phẳng,
    những cổng cao ngất của nó sẽ bị lửa thiêu.
    Thế đó, các dân vất vả cho cái hư không,
    và các nước mệt thân cho mồi lửa…….

    * Vì thế ai khôn thì mau chạy khỏi HOA KỲ dân nào về dân ấy… VN tuy còn bất công xấu xa tội lỗi nhưng thời điểm này dân ta cố nén cố nhịn tìm cách dần dần trở về cố quốc cho dù hiện nay nó đã và đang biến tướng…

  21. chinhkie permalink

    (Liên quan tới HOA KỲ? = BABEL = BABYLON )

    TIÊN TRI YÊRÊMIA….

    – Chương 50 –

    Về Babylon

    1 Lời Yavê đã phán về Babel và đất Kanđu, qua trung gian tiên tri Yêrêmya:

    Babel vong quốc – Israel hồi hương
    2 Hãy loan đi trong các nước, hãy truyền tin, hãy phất cờ làm hiệu,
    hãy thông báo, đừng giấu diếm, hãy nói lên: Babel đã bị hạ!
    Bel phải hổ ngươi, Mơrôđak tán đảm.
    (Các hình nhân của nó phải hổ thẹn, các đồ xú uế của nó tán đảm!)
    3 Vì có dân tộc từ Bắc lên đánh nó,
    mà làm cho xứ nó nên điều kinh rợn, và nơi nó sẽ không còn ai ở,
    người và vật đều bỏ chạy ra đi!
    4 Vào những ngày ấy, vào thời ấy, — sấm của Yavê —
    con cái Israel sẽ đến (chúng làm một với con cái Yuđa),
    chúng sẽ vừa đi vừa khóc mà tìm kiếm Thiên Chúa chúng (thờ).
    5 Chúng sẽ hỏi đường về Sion, mặt hướng về phía đó:
    “Ðến nào? Ta sẽ khắn khít với Yavê
    trong một giao ước vĩnh tồn không quên!”
    6 Dân Ta là chiên thất lạc, các mục tử đã dẫn chúng sai đường,
    để chúng lạc mất trên các núi non,
    chúng đã đi qua hết núi đến đồi, chúng đã quên ràn của chúng.
    7 Ai gặp chúng thì làm thịt.
    Nghịch thù chúng phân bua: “Chúng tôi có tội lệ gì.
    Chính bởi chúng đã lỗi đạo với Ðức Yavê,
    bãi cỏ nhân nghĩa và là mối trông cậy của cha ông chúng”.
    8 Hãy trốn khỏi Babel, thoát đất Kanđu.
    Ra đi! Làm như cừu đực đi trước chiên dê!
    9 Vì này Ta sắp thúc đại hội các dân, những dân hùng hậu vùng dậy,
    đi lên đánh lại Babel, từ đất Bắc, chúng sẽ dàn trận đánh nó,
    và từ phía đó, nó sẽ bị hạ: Các mũi tên của chúng,
    (mũi tên) của anh hùng bách thắng không hề trở về tay không.
    10 Kanđu sẽ làm mồi cướp,
    mọi người cướp của nơi nó sẽ được no đã – sấm của Yavê.
    11 Cứ vui nhộn, cứ truy hoan, hỡi quân đánh cướp cơ đồ của Ta.
    Cứ tung tăng như bê giữa cỏ xanh, cứ hí lên như bầy ngựa giống.
    12 Mẹ các ngươi xấu hổ thẹn thuồng,
    đứa đẻ ra các ngươi mang lấy ô nhục! Ðó kìa đồ mạt giữa muôn dân:
    (Chỉ còn là) sa mạc, đất hạn hán, một chốn hoang giao!
    13 Vì bởi cơn giận của Ðức Yavê, nó sẽ không còn người ở,
    toàn cõi chỉ là hoang địa.
    Phàm ai qua lại bên cạnh Babel đều phải rởn mình,
    mà huýt gió trước tất cả những vết đòn của nó.
    14 Hãy dàn trận đánh Babel tứ phía, tất cả những người trương cung;
    nhắm nó mà bắn, đừng tiếc mũi tên, vì nói đã mắc tội với Yavê!
    15 Tứ phía hãy hò xung phong, nó đã giơ tay hàng; lũy đã nhào,
    tường đã sập, vì đó là cuộc báo thù của Yavê!
    Hãy báo thù trên nó, nó đã xử làm sao, hãy xử lại thế!
    16 Hãy tiễu trừ khỏi Babel người gieo giống
    và kẻ cầm liềm vào mùa gặt hái! Trước gươm bạo tàn,
    ai nấy quay về dân mình, ai nấy trốn chạy về với xứ sở.
    17 Israel là con chiên phiêu dạt, bị bầy sư tử xua đi.
    Trước tiên nó bị vua Assur làm thịt và người sau hết đã róc xương nó là Nabukôđônôsor, vua Babel. 18 Cho nên Yavê các cơ binh, Thiên Chúa của Israel phán thế này: Này Ta sẽ hỏi tội vua Babel và xứ sở nó như Ta đã hỏi tội vua Assur.
    19 Ta sẽ đưa Israel về đồng cỏ của nó,
    nó sẽ được chăn nuôi ở Karmel, ở Bashan,
    trên núi Ephraim và ở Galaađ, nó sẽ được no nê thỏa dạ.
    20 Vào những ngày ấy, vào thời ấy, sấm của Yavê,
    tội của Israel, có tìm cũng sẽ không ra,
    lỗi lầm của Yuđa, có kiếm cũng sẽ không gặp,
    vì Ta sẽ tha thứ cho những ai Ta chừa sót lại.

    Tin Babel bị hạ báo về Sion
    21 (Kìa) đất Mơrataim, hãy lên đánh nó và cả dân cư Pơqođ;
    hãy đâm chém, ra án hiến phù trên cả hậu duệ — sấm của Yavê,
    hãy thi hành mọi điều Ta truyền dạy.
    22 Tiếng giặc giã ầm ầm khắp xứ, và đổ vỡ lớn lao!
    23 Làm sao nó đã tan tành từng mảnh, búa bổ cả thiên hạ?
    Làm sao nó đã nên đồ kinh rởn, Babel ngất nghểu trên các nước?
    24 Ta đã đặt tròng cho ngươi, hỡi Babel, và ngươi đã mắc mà không ngờ;
    ngươi đã sa chân và bị thộp, vì ngươi đã dám khiêu chiến với Yavê!
    25 Yavê đã mở kho vũ khí,
    Người đã tung ra giáp binh thịnh nộ của Người,
    vì Ðức Chúa Yavê các cơ binh có việc trong đất Kanđu.
    “26 Hãy xông vào nó, (tất cả) không được trừ ai, hãy mở hết các vựa!
    Hãy chất đống cả lên mà ra án hiến phù,
    không được chừa sót lại mảy may.
    27 Hãy đâm chém tất cả các bò tơ, chúng hãy vào lò sát sinh!
    Khốn cho chúng, vì ngày của chúng đến nơi,
    thời chúng bị hỏi tội!”
    28 Tiếng người chạy trốn, tẩu thoát khỏi đất Babel,
    để loan báo ở Sion cuộc báo thù của Yavê Thiên Chúa chúng ta,
    cuộc báo thù cho Ðền thờ của Người.

    Tội lộng lược của Babel
    29 Hãy triệu tập thiện xạ đánh Babel, tất cả những người trương cung!
    Hãy hạ trại vây quanh nó, đừng để cho đứa nào thoát được!
    Hãy oán trả rạch ròi xứng với việc nó làm,
    nó đã xử làm sao, hãy xử lại hoàn toàn như thế,
    vì nó đã lộng lược với Yavê, Ðấng Thánh của Israel!
    30 Cho nên trai tráng nó ngã gục nơi công trường,
    và hết thảy quân binh tử thương trong ngày ấy – sấm của Yavê.
    31 Này Ta chống lại ngươi, đồ lộng lược
    — sấm của Ðức Chúa Yavê các cơ binh —
    vì ngày của ngươi đến nơi, thời Ta hỏi tội ngươi.
    32 Ðồ lộng lược đã trượt ngã lăn nhào, mà không người nâng dậy.
    Ta sẽ đốt cháy các thành của nó,
    và lửa sẽ thiêu rụi tất cả xung quanh.

    Israel được giải phóng
    33 Yavê các cơ binh phán thế này:
    Chúng đã bị áp bức, con cái Israel làm một với con cái Yuđa;
    những kẻ đày ải chúng, nắm chặt lấy chúng, không chịu buông ra.
    34 Nhưng Ðấng chuộc chúng cường mạnh,
    — Yavê các cơ binh là Danh Người.
    Người sẽ tranh tụng cho quyền lợi chúng,
    để đem lại an lạc cho cõi đất và làm cho dân cư Babel rụng rời.
    35 Gươm chống lại quân Kanđu – sấm của Yavê – và dân cư Babel,
    chống lại các vương công và hạng khôn ngoan của nó!
    36 Gươm chống lại các thầy chiêm bốc của nó cho chúng hóa điên!
    Gươm chống lại các anh hùng của nó, cho chúng tán đảm!
    37 Gươm chống lại tất cả các dân ô hợp giữa nó,
    cho chúng hóa thành nữ nhi!
    Gươm chống lại các kho tàng của nó, cho chúng thành mồi cướp!
    38 Gươm chống lại sông ngòi của nó, cho chúng cạn khô!
    vì nó là xứ của thần tượng, và chúng mê say ngáo ộp.
    39 Cho nên nơi nó, cáo tinh ở với soi tinh;
    nơi nó đà điểu làm nhà, mãi mãi nơi nó sẽ không ai đến lập cư,
    cho đến đời đời không người lưu trú.
    40 Như khi Thiên Chúa lật nhào
    Sôđôm, Gômôra và các thành lân cận – sấm của Yavê —
    Tại đó sẽ không ai đến lập cư, không phàm nhân nào lưu ngụ.

    Dân phương Bắc và sư tử Yorđan
    41 Này một dân từ phương Bắc đến,
    từ địa cực sẽ chỗi dậy một nước lớn và những vua hùng cường.
    42 Chúng cầm cung nỏ câu liêm, chúng độc ác không biết xót thương,
    tiếng chúng ầm vang như biển động, trên mình ngựa chúng cưỡi.
    Ai nấy đều trang bị để xung trận, đánh vào ngươi, hỡi nữ tử Babel!
    43 Vua Babel nghe tin về chúng, tay đã rã rời,
    bồi hồi níu lấy nó, cái đau quặn ruột như thiếu phụ trở dạ sinh.
    44 Này như sư tử từ bụi rậm Yorđan,
    phóc lên đồng cỏ bốn mùa xanh tươi.
    Cũng vậy trong chốc lát, Ta sẽ làm cho chúng xéo đi.
    Kẻ nào Ta chọn, Ta sẽ đặt cai trị trên nó! Vì nào có ai như Ta?
    Hay ai nào sẽ hẹn Ta ra tòa?
    Mục tử nào đứng vững được trước nhan Ta?
    45 Cho nên hãy nghe kế hoạch Yavê đã trù,
    mưu định Người đã nghiền ngẫm về đất Kanđu:
    Phải, ngay cả những chiên nhỏ cũng sẽ bị tha đi,
    phải, ngay đồng cỏ chúng ăn cũng phải rởn mình vì chúng.
    46 Tiếng Babel ngã xuống làm rung thiên hạ,
    tiếng vang nghe dội nơi các nước!

  22. 5-2=3

  23. thientrungnhan permalink

    Phi và Mã Lai đang khuynh Bắc. Trump lên nước Mỹ phân hóa suy yếu khuynh hướng “thiên khuynh Bắc” càng nhiều.

  24. eapple68 permalink

    Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc co nghĩa là Nhật Bản nhận lại quần đảo Kurin từ Nga ,Nhật sẽ nghiêng về Nga khi Nga có chiến tranh với phương Tây,nếu Trumpt thắng cử nghĩa là Mỹ suy yếu không bao bọc nổi chi phi quoc phòng cho các nước ,đồng thời Trung Quốc lấn lướt ở thế trên thì lúc đó thiên hạ đai loạn vì lúc đó các nước đối nghịch muốn phân chia lại quyền lực trên thế giới

  25. chinhkie permalink

    Trong bài nói về Con Rôngd Đỏ Trung Quốc bị xô nhào xuống đất théo (Khải Huyền chương 12 câu 1-18) chinhkie đã nói đến các nước chư hầu quỷ sứ của Trung Quốc là:

    1) Campuchia
    2) Lào
    3) Thái Lan

    – Bài đọc dưới đây của diễn đàn “CHÂN TRỜI MỚI” dưới đây ngoài việc nói đến tên tổng thống khát máu phản bội Duterte của nước Philippines diễn đàn này cũng có cùng quan điểm với chinhke, khi nói về tên CHỦ NGHĨA CƠ HỘI LÀ: “THÁI LAN”… Thái Lan muốn phục thù trận RẠCH GIÁ thời vua QUANG TRUNG năm xưa đây mà…!…!…!…
    – Muôn sinh BA CỐC cầm quân dấy loàn là thế…!…

    * CHÂN TRỜI MỚI***

    Điều gì đang xảy ra với các đồng minh Đông Nam Á của Mỹ?

    Greg Raymond, , East Asia Forum, 18/10/2016 – Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng – Nghiên Cứu Quốc Tế

    Thực Hiện Bureau CTM Media – Á Châu – 02/11/20163

    Chia sẻ Facebook Tweet

    TT Barack Obama – TT Rodrigo Duterte

    Nguồn: Greg Raymond, What’s wrong with the United States’ Southeast Asian allies?, East Asia Forum, 18/10/2016.
    Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

    Hành động của Philippines và Thái Lan hiện nay không giống với những gì mà các đồng minh hiệp ước của Mỹ nên làm. Dù Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte dường như là một trường hợp cá biệt, nhưng tư tưởng chống Mỹ của ông ta chỉ là một phần mới nhất trong sự bất ổn của quan hệ Mỹ – Philippines. Quan hệ Mỹ – Thái cũng đã xấu đi kể từ cuộc đảo chính quân sự năm 2014, và dường như người Thái còn đang có ý định thắt chặt quan hệ quân sự với Trung Quốc. Nhưng bất đồng của hai nước này với Mỹ không nhất thiết có nghĩa là họ muốn thay đổi nguyên trạng ở châu Á.

    Việc Duterte lên nắm quyền đã khiến quan hệ liên minh giữa Mỹ và Philippines rơi vào tình trạng hỗn loạn. Vị Tổng thống có phần cực đoan này đã đưa ra các tuyên bố chính sách nảy lửa, trong đó bao gồm khả năng kết thúc các cuộc tuần tra chung trên biển với Mỹ, cũng như chấm dứt sự hiện diện của Lực lượng Đặc nhiệm Mỹ ở Mindanao. Những điều này, cùng với việc Duterte đáp trả kịch liệt những chỉ trích từ Mỹ về chiến dịch chống ma túy, tất cả đều báo hiệu rắc rối nghiêm trọng trong quan hệ hai nước. Duterte dập tắt mọi hy vọng rằng đất nước của ông sẽ tiếp tục xích lại gần Mỹ hơn trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông.

    Cựu Thủ TYingluck Shinawatra
    Cựu Thủ TYingluck Shinawatra
    Tương tự, quan hệ Thái Lan – Mỹ cũng đã bất ổn từ năm 2014, khi giới tinh hoa Thái liên tục bày tỏ sự thất vọng đối với chính sách của Mỹ. Sau cuộc đảo chính tháng 5/2014, đã có nhiều người giận dữ khi Mỹ lên án việc lật đổ chính phủ Yingluck và hạ cấp hợp tác quân sự. Kể từ đó, quan hệ giữa hai bên được đánh dấu bởi việc chỉ trích lẫn nhau, nhất là khi các quan chức Mỹ chỉ trích Thái Lan về các vấn đề nhân quyền.

    Cùng lúc đó, Thái Lan dường như đang gần gũi hơn với Trung Quốc. Hai nước đã tiến hành các cuộc tập trận chung mới, và hải quân Thái cũng đã công bố kế hoạch mua tàu ngầm của Trung Quốc. Quyết định gần đây của Thái Lan nhằm trục xuất các nhà hoạt động người Uighur, một dân tộc thiểu số ở miền Tây Trung Quốc đang đòi ly khai, và ngăn chặn nhà hoạt động nổi tiếng người Hồng Kông Joshua Wong nhập cảnh, là những bằng chứng cho thấy họ đang nghiêng về phía Trung Quốc.

    Cả Thái Lan và Philippines đều sợ các cường quốc sẽ can thiệp vào chính trị trong nước hoặc vào các vấn đề an ninh nội bộ của mình. Trong khi hầu hết các nước phương Tây chỉ coi chỉ trích từ bên ngoài là một sự khó chịu, thì đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nó có thể được hiểu là nhằm gây mất ổn định, bao gồm cả việc hỗ trợ cho lực lượng đối lập.

    Quan điểm an ninh như vậy khiến các nước này hạn chế các giá trị tự do. Đó là lý do tại sao các khái niệm như nhân quyền và pháp quyền có thể được hiểu khác nhau. Ví dụ, quyền được xem là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội là một trong những quyền mà người Thái Lan và Philippines có lẽ sẽ khá sẵn sàng bỏ qua nếu họ cảm thấy có đe dọa về an ninh. Các ví dụ nổi bật là chiến dịch chống ma túy của cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra và bây giờ là cuộc trấn áp của Duterte ở Philippines.

    Đối với Tổng thống Duterte, những kẻ nghiện ma túy không phải con người. (Ảnh: European)
    Đối với Tổng thống Duterte, những kẻ nghiện ma túy không phải con người. (Ảnh: European)
    Tất cả những điều kể trên có nghĩa là các nước như Philippines và Thái Lan có thể phản ứng dữ dội với những lời chỉ trích về việc thực thi nhân quyền của họ. Họ sẽ khiến cho quan hệ chính trị và ngoại giao với những cường quốc đã ‘xúc phạm’ họ trở nên rất khó khăn. Điều này bao gồm cả việc đề nghị thắt chặt quan hệ với Trung Quốc và Nga, những nước mà bản thân họ đã phi tự do nên sẽ không chỉ trích kẻ khác về nhân quyền.

    Một sự chuyển đổi trong cơ cấu quyền lực quốc tế đang thay đổi cách mà Thái Lan và Philippines cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc. Hợp tác với Mỹ cho phép tiếp cận công nghệ và đào tạo, cũng như cung cấp một lá chắn chống lại Trung Quốc, nhưng cả hai đều không muốn trở thành con rối trong tay Mỹ và Trung Quốc. Họ không muốn là nơi để Mỹ tiến hành chiến tranh ủy nhiệm, và cũng chẳng muốn Trung Quốc trở thành bá chủ. Để làm được việc này, hai nước đã thường xuyên đóng khung riêng biệt các cấu phần khác nhau trong các mối quan hệ song phương của mình.

    Ví dụ, mặc cho sự giận dữ của Duterte, một cuộc tập trận chung của không quân Mỹ và Philippines vẫn diễn ra như kế hoạch, và việc đe dọa hủy bỏ các cuộc tuần tra hàng hải Philippines-Mỹ cũng chỉ được áp dụng với những cuộc tuần tra trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, chứ không phải trong lãnh hải. Số lính Mỹ có thể bị yêu cầu rút khỏi các hoạt động chống nổi dậy ở Philippines cũng khá nhỏ. Và việc Duterte dọa sẽ mua vũ khí từ Nga và Trung Quốc là khác với Thái Lan, đó là một hành động bảo vệ chủ quyền chứ không hẳn thể hiện sự liên kết.

    Với trường hợp của Thái Lan, hiện vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy họ hay Mỹ muốn ngừng “Hổ mang Vàng” (Cobra Gold) – cuộc tập trận đa phương lớn nhất trong khu vực, bất chấp mối đe dọa từ việc thành lập “Gấu trúc Vàng (Panda Gold). Dù người Thái vẫn có một số huấn luyện quân sự với Trung Quốc, nhưng chúng diễn ra ở quy mô nhỏ hơn nhiều so với Mỹ.

    Việc phân tách quen thuộc giữa quan hệ kinh tế và quan hệ an ninh – trong đó Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế chính, còn Mỹ là đối tác an ninh được ưu tiên – dường như đang mở rộng sang lĩnh vực chính trị – an ninh, khi mà quan hệ chính trị bất ổn vẫn có thể đi kèm với quan hệ quân sự ổn định.

    Phương Tây có nghĩa vụ đạo đức phải nhắc lại lý do tại sao các nền dân chủ tự do sẽ tạo ra xã hội công bằng nhất, cũng như là những nước có khả năng cao nhất để đem đến nhân phẩm, tự do và phát triển tiềm năng con người. Nhưng Mỹ và các nước khác cũng phải nhận thức được quan điểm khác biệt của những nước Đông Nam Á. Người Thái hay người Philippines đều không muốn phải mang ơn Trung Quốc, cũng như họ không muốn phải mang ơn Mỹ vậy.

    ***

    +++ chinhkie thấy 2 lão Phi Te Te và Xiêm Thạch sin đều là những tên theo chủ nghĩa cơ hội… đã hợp tác thì phải rõ ràng ngay từ đầu, còn không thì ngay từ đầu đừng đưa quân đội Hoa Kỳ, vào nước mình, đừng hợp tác làm ăn mọi mặt với Hoa Kỳ… những nước BỐ LÁ này còn đáng khinh hơn thanmgừ MIÊN và thằng sa ngộ tịnh thâm vạn tượng là LÀO nữa… đúng là các thiên thần là mấy tên CHƯ HẦU này đáng khinh chê nguyền rủa đời đời sẽ bị dư luận quốc tế phê phán, mặc dù chinhkie cũng chẳng ưa gì Hoa Kỳ, nhưng thấy mấy tên này chúng nó CƠ HỘI và quá GIAN ÁC nên buộc phải viết mấy giòng gửi NHÀ SẤM…

    * Khải Huyền (12/7)
    – 7 Và đã xảy ra đại chiến trên trời. Mikael và các Thiên thần của Ngài giao chiến với con Rồng; và con Rồng và các Thiên thần phe nó nghinh chiến. 8 Nhưng nó không có sức cự lại; chỗ của chúng không còn gặp thấy trên trời. 9 Và nó bị xô nhào xuống, con Rồng lớn, con rắn thái sơ, gọi là Quỉ, là Satan, kẻ mê hoặc toàn thể thiên hạ. Nó đã bị xô nhào xuống đất, và các Thiên thần phe nó cũng bị xô nhào xuống làm một với nó…

  26. chinhkie permalink

    “Thề Không Phản Bội Quê Hương”

    Một cánh tay đưa lên
    Hàng ngàn cánh tay đưa lên
    Hàng vạn cánh tay đưa lên
    Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính
    Đập phá tan mưu toan, đầu hàng cái quân xâm lăng
    Hoà bình phải trong vinh quang
    Đền công lao bao máu xương hùng anh

    Nào đứng lên bên nhau
    Nào cùng sát vai bên nhau
    Thề nguyền với vung tay cao
    Quyết đấu tranh đến khi nào đạt thành mong ước
    Vận nước trong tay ta
    Là quyền của quân dân ta
    Tình đoàn kết quê hương ta
    Chận âm mưu chia cắt thêm sơn hà

    ĐK:
    Quyết chiến Thề quyết chiến ! Quyết chiến!
    Quyết không cần hoà bình đen tối
    Chẳng liên hiệp ngồi chung quân bán nước vong nô

    Quyết chiến Thề quyết chiến ! Quyết chiến!
    Đánh cho cùng dù mình phải chết
    Để mai này về sau con cháu ta sống còn

    Vận nước đang vươn lên
    Hàng ngàn chiến công chưa quên
    Hàng vạn xác quân vong nô
    đã chứng minh cho sức mạnh hào hùng quân dân

    Thề chớ bao lui chân.
    Ngồi cùng với quân xâm lăng
    Ta thà chết chớ không hề lui

    Quyết không hề phản bội quê hương (2)

    Hà TĩnhThích Trang
    17 Tháng 10 lúc 14:12 •
    Thơ Nghệ: NHẮN CON
    Khoan gọi điện hỏi tiền con nả
    Ở nhà ta lụt xóa hết cả rồi
    Mấy bựa ni cha đứng ngồi nỏ được
    Mệ bay còn trách ngược, trách xuôi.
    Nhà có một con bò vừa mới nuôi
    Mà để nác cuốn xuôi theo dòng lụt
    Mấy cấy chạc cha treo mà hấn tụt
    Bò chết rồi rành hẩng hụt con ơi.
    Và đến tháng còn tiền lời tiền lãi
    Cha vò đầu tính mại vẫn chưa xong
    Cả gia tài điền sản hấn đi tong
    Lấy chi để bay học hành thi cử.
    Hay là để cha vô đi làm thử
    Hoặc thợ hồ, hay bảo vệ, công nhân.
    Miễn là có việc mần con ạ
    Làm tích góp để rồi về mà trả.
    Tiền ngân hàng, tiền đóng học cho bay
    Cha nhẩm tính đầu ngón tay rồi đó
    Cứ một tháng cụng được vài ba tạ ló
    Chớ ở nhà thì khó lắm con ơi.
    Thôi con nha, cha nghỉ ngơi một tý
    Có chi thì cha gọi lại bay sau
    Mà tau dặn khoan hỏi tiền nơi mệ
    Cứ từ từ mặc kệ để cha lo.

    GIẢI SẤM TRẠNG TRÌNH: FORMOSA, CÁ CHẾT VÀ BƯỚC NGOẶT CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM
    Tác giả: Người Kỳ Anh•Chủ đề: : Cá Chết Formosa
    Người Kỳ Anh – Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam-Bắc triều (Lê-Mạc phân tranh) cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Sau khi đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi (1535) và làm quan dưới triều Mạc, ông được phong tước Trình Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Người đời coi ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm ký được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là Sấm Trạng Trình.

    Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn gọi là “Sấm Trạng Trình” là những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm (từ năm 1509 đến khoảng năm 2019). Đây là những dự báo thiên tài, hợp lý, tùy thời, tự cường, hướng thiện và lạc quan theo lẽ tự nhiên “thuận thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả”. “Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa” (lời Nguyễn Thiếp – danh sĩ thời Lê mạt). “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (lời Chu Xán- sứ giả của triều Thanh). Sấm ký, giai thoại và giải đoán chứa đựng nhiều thú vị về một trí tuệ bậc Thầy kỳ tài muôn thuở, nặng lòng yêu nước thương dân và sâu sắc hiếm thấy.Khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh từ đó ông tinh thông về lý học, tướng số… Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa. Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình Quốc công. Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố xảy ra đến 500 năm sau, được dân gian truyền tụng và suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam.

    Sấm ký ở bản A có 262 câu, gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký”. Đây là bản trích ở bộ “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) của Trịnh Văn Thanh – Sài Gòn – 1966. Ngoài bản A còn có ít nhất ba dị bản về sấm Trạng Trình. Tài liệu liên quan hiện có 20 văn bản, trong đó 7 bản là tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội (trước đây là Viện Viễn Đông Bác Cổ) và Thư viện Quốc gia Hà Nội và 13 tựa sách quốc ngữ về sấm Trạng Trình xuất bản từ năm 1948 đến nay. Bản tiếng quốc ngữ phát hiện sớm nhất có lẽ là Bạch Vân Am thi văn tập in trong Quốc Học Tùng Thư năm 1930 mà hiện nay vẫn chưa tìm được.

    Sấm ký gắn với những giai thoại và sự thật lịch sử. Nhiều nội dung trong sấm ký hiện đã được giải mã, chứng minh tính đúng đắn của những quy luật- dự đoán học trong Kinh Dịch và Thái Ất thần kinh”. Đến nay đã có 36 giai thoại và sự thật lịch sử về Sấm Trạng Trình đã được giải mã.

    Trong bài này chúng tôi mang đến quý độc giả điều kì diệu của Sấm Trạng Trình từ một người đặc biệt, anhTrần Huỳnh Duy Thức (xem tiểu sử cá nhân và thông tin trên Wikipedia) và Lê Việt Kỳ Nhi (tác giả cuốn sách ”Ước mơ của Thủy”) qua 8 câu sấm nói về thời điểm hiện tại, Formosa, Cá chết và bước ngoặt của lịch sử Việt Nam:
    Khỉ hú trời Nam cá hóa rồng
    Gà kêu Nam Bắc hội hoa long
    Lần tay đếm lại năm ba chín
    Sớm thấy điềm may giống Lạc Hồng
    Chăm chỉ chờ ngày sang mậu ngũ
    Ước ao được thấy buổi Canh Thân
    Cho hay nổi sóng ba đào dậy
    Cù rống rền vang giống Lạc Hồng

    Trong Bính Thân 2016 khơi nguồn trào lưu mềm “quyền con người” và trào lưu cứng “năng lượng xanh” – (Thư 57C) từ trại giam Xuyên Mộc, 20/12/2015 anh Trần Huỳnh Duy Thức viết: ”Câu 1 ý là vận hội VN hóa rồng vào năm Thân. Nhưng là năm Thân nào? Câu 3 và câu 6 sẽ cho ta câu trả lời xác định. “Lần tay đếm” gợi cho ta hình ảnh các thầy bấm ngón tay tính lịch ngày xưa theo Thiên can và Địa chi. Để dễ hình dung, ta thay các đốt ngón tay bằng các điểm trên hai vòng tròn sau:

    Đếm xuôi là theo chiều kim đồng hồ, đếm ngược là “đếm lại”. “Lần tay đếm lại năm ba chín” ngụ ý bắt đầu từ vị trí số 5 đếm ngược lại 3 nấc trên vòng tròn Thiên can, 9 nấc trên vòng tròn Địa chi (tại vị trí 5 đếm 1 nấc). Theo hình vẽ ta sẽ gặp Bính trên vòng tròn Thiên can và gặp Thân trên vòng tròn Địa chi. Như vậy câu 3 cho ta biết năm khỉ của câu 1 là năm Bính Thân. Nhưng là Bính Thân nào vì cứ 60 năm sẽ lặp lại một Bính Thân.

    Câu 6 cho ta lời giải: “ước ao được thấy buổi Canh Thân”. Mấy anh chị lật cuốn lịch bỏ túi 2016, xem ngày đầu tiên của năm Bính Thân – tức là ngày Tết Nguyên đán sắp tới là ngày gì theo Thiên can – Địa chi? Đó chính là ngày Canh Thân – ngày mùng 1 tháng Giêng Bính Thân 2016 . Anh Năm thử mở lịch vạn niên trên máy tính và cố tìm xem có bao nhiêu năm Bính Thân bắt đầu bằng ngày Canh Thân? Anh sẽ không tìm thấy năm nào khác ngoài Bính Thân 2016 đâu.

    Như vậy đoạn sấm này khẳng định vận hội hóa rồng của dân tộc Lạc Hồng bắt đầu từ năm sau. Bản thân từ “canh thân” cũng có một ý nghĩa như vậy. Canh là cải cách, thay đổi; canh tân là đổi mới. Thân là tự chủ, tự mình đủ sức. Ngày xưa một ông vua tiếp nhận quyền lực nhà nước từ người nhiếp chính hoặc lấy lại quyền của mình bị người khác tiếm thì gọi là “thân chính”. Canh thân mang ý nghĩa trong vận hội này là đất nước ta sẽ đổi mới dẫn đến tự cường vững mạnh.

    Ngày đầu tiên của năm Bính Thân là ngày Canh Thân, sẽ không có năm Bính Thân thứ hai nào như vậy

    Bắt đầu vận hội chuyển mình vĩ đại là năm khỉ 2016. Bước qua năm gà Đinh Dậu 2017 nhân tài sẽ tụ hội khắp đất nước – hình ảnh của hội hoa long (câu 2). Công cuộc canh tân, kiến thiết quốc gia sẽ bùng lên nhờ vậy.

    Câu 5 diễn giải hơi dài vì liên quan đến thuật ngữ lạ là “Mậu ngũ”. Dịp khác em sẽ viết. Nhưng chung quy đó là một thời điểm tốt đẹp khác được xác định. Mậu cũng có nghĩa là tốt đẹp. Khi thời điểm này đến thì em về thôi🙂.

    Câu 7 là nói về Dòng chảy sẽ cuộn trào mãnh liệt ở VN và lan truyền ra thế giới. Các anh chị tìm hiểu nghĩa “sóng ba đào” thì hiểu rõ thôi. Câu 8 thì dễ hiểu rồi, dân tộc Lạc Hồng sẽ rất vẻ vang và có tiếng nói ảnh hưởng mạnh mẽ trên thế giới – tức là “Ngoại quốc lân bang kính phục giao”. Từ Lạc Hồng cũng chứa đựng ý nghĩa của dòng chảy mạnh mẽ dẫn đến an lạc như em đã giải thích trong thư 27A. Tên dân tộc mình được gửi gắm một sứ mạng đặc biệt trong vận hội này đối với nhân loại. Rảnh thì đọc lại thư 26Aem viết cho mấy anh chị tháng 8 năm ngoái, cả nhà sẽ thấy những gì em phân tích về Dòng chảy so với bây giờ như thế nào.

    Nhìn vào thời cuộc cũng đủ thấy những sự thay đổi to lớn sắp tới. Một khi chân lý phát triển đã bừng sáng trong con người rồi thì chẳng có gì ngăn cản nổi sự chuyển mình của dân tộc. Gieo những hạt giống đầu tiên trong bão táp đầy khó khăn còn không ngăn nổi. Giờ hàng triệu mầm chồi đã nảy và đang lớn nhanh thành những rừng tùng bách. Những ánh lửa được truyền giữa trời đêm bão bùng giờ trở thành nguồn sáng cho những hạt mầm trồi lên. Đất nước mình sẽ sáng bừng và xanh ngắt thôi. Khi ta hiểu được quy luật phát triển của Trời Đất thì nhìn rõ được tiến trình tất yếu, không quá phức tạp. Ta biết phải làm gì để phát triển, không phải quá vất vả, hao tổn.”

    Nói về ngày mậu ngũ, ngày 20/3/2016 tác giả Lê Việt Kỳ Nhi viết:

    Ngày “mậu ngũ” là gì?
    Mậu ngũ nói theo thiên can địa chi âm dương ngũ hành, mậu ngũ thuộc dương thổ và dương hoả. Hoả sinh thổ – Cái ác bị đốt huỷ xuống thành đất cho muôn vật sinh trưởng
    Trong năm 2016 có 6 ngày mậu ngũ, sau đó phải đến 80 năm sau mới có lại cùng những ngày này. Và không phải năm nào cũng có ngày mậu ngũ.

    Năm nay ngày thứ nhất đã qua và rơi vào 6 tháng 2 DL nhưng ÂL lại thuộc 28 tháng chạp Ất mùi (2015) nên nếu tính đúng thì chỉ có 5 ngày mậu ngũ của năm Bính thân (lại số 5)
    5 ngày còn lại là sẽ vào DL tháng 4, tháng 6, tháng 8, 10 và 12. Trong năm ngày này có một ngày là sinh nhật của nhi. Mậu ngũ tháng 12 không tính nữa. Đối chiếu với Sấm Trạng – Phá điền là từ đầu khỉ và tới cuối thu, chỉ 4 giai đoạn mậu ngũ thôi vì tháng 10 DL là tháng chín ÂL tức cuối mùa thu. Anh Trần Huỳnh Duy Thức trở về vào ngày mậu ngũ nào chưa biết, nhưng nếu đúng mậu ngũ sinh nhật của nhi thì sẽ rất vui🙂

    Trong 5 lần mậu ngũ này những cái thuộc thể chế hiện tại sẽ chia ra và bị huỷ diệt dần chuẩn bị cho sự hồi sinh của đất nước. Mỗi lần mậu ngũ sẽ đánh dấu một chuyển biến lớn.
    Chúng ta hãy mạnh dạn cùng tranh đấu cho sự thay đổi. Cùng nắm tay nhau vun lại dải đất quê hương được sớm ngày nở hoa. Ngày mậu ngũ gần nhất là đầu tháng tư. Xin tất cả hãy chờ đón xem.

    Ngày 06.04, là ngày mậu ngũ thứ 2 trong năm bính thân. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị miễn nhiệm, sự lãnh đạo tham nhũng của ông kết thúc và bước qua một giai đoạn mới. Giai đoạn mới này là giai đoạn “vượn nọ leo cành cho sỉ bóng” (Sấm Trạng Trình câu 404) – Năm nay vừa là năm Bính Thân, ông Trọng lại tuổi Giáp Thân, trong câu này “vượn nọ” là nói cho ông, “leo cành” là lên chức Tổng bí thư, “sỉ bóng” là cách nói khác của sảy bóng, sảy là rớt, là hư. Vậy ông có lên thì cũng sẽ xuống.

    Giải Sấm tiếp xin trích câu trong Thư 59C của anh Trần Huỳnh Duy Thức:
    “….ĐCSTQ cũng đang chạy đua với thời cuộc. Họ phải hoàn tất những lời hứa ngông cuồng vào trước dịp kỷ niệm 100 năm ĐCSTQ, không làm được thì họ sẽ bị sụp đổ và tan rã.”
    Kỷ niệm 100 năm ĐCSTQ là trước 2020 (ĐCSTQ thành lập tháng 7 năm 1921 nhưng trên thực tế là 1920. Chúng ta lại có nghe qua Hiệp định Hội nghị Thành Đô, năm 2020 Việt Nam biến thành khu tự trị của TQ. Có hay không có thì câu 470, 471 Sấm ghi:
    Ma vương sát đại quỷ
    Hoàng thiên tru ma vương

    Ma vương ở đây là ĐCSTQ, đại quỷ là ĐCSVN. Hai câu Sấm muốn nói ĐCSTQ sẽ xóa ĐCSVN, nhưng Trời cao (Hoàng thiên) sẽ diệt ĐCSTQ.
    Khá là khớp với hai câu 403,404:
    “Có một đàn xà đánh lộn nhau
    vượn nọ leo cành cho sỉ bóng.

    Anh Thức ghi trong thư 59C về quyền lực của Tập Cận Bình.
    Khởi trích: “Đời sống chính trị của TQ hiện nay chắc chắn là chứa nhiều nguy cơ, không phẳng lặng như bề mặt mà Tập Cận Bình nhìn thấy. Chưa nói đến các lực lượng cạnh tranh quyền lực với ông ta”
    Tập Cận Bình sinh năm 1953, tuổi con rắn, ông đại diện cho đàn xà đó. Vượn nọ như nhi đã nói là chỉ cho ông Trọng, leo cành lên chủ tịch đjai diện VN thì cũng sảy bóng – vì ma vương tranh giành quyền lực nhưng lại sát đại quỷ. Vượn nọ lại nói chỉ trong năm Bính Thân này thôi thì ĐCS sẽ “sỉ bóng”

    Quyền con Người là mấu chốt để VN được dân chủ, Sự gan dạ được thể hiện là sức dân sẽ mang lại thay đổi.

    Kết thúc lần giải sấm này lại xin trích thư 59C của anh Thức :
    “Sức dân đang dâng lên mạnh hơn bao giờ hết để hướng công cuộc đổi mới tiến theo Dòng chảy của thời đại và thuận theo tiến trình tất yếu của lịch sử.”

    Ai chưa mạnh mẽ xin hãy mạnh mẽ lên không thì chẳng còn kịp để góp sức vào sự thay đổi của đất nước !

    Tiếp dưới đây giải duy nhất 1 câu: “Ngựa kia đủng đỉnh bước về Tàu”. Câu này ứng với một vài người, và nó mang ý nghĩa cả tốt và xấu. Trong lần này, Nhi muốn nói đến ý nghĩa ứng cho tân thủ tướng.

    Tân thủ tướng tuổi Giáp ngọ (1954) – ông lên vào đúng sau ngày mậu ngũ 6 tháng 4. Và cũng là thời điểm quyết định để Việt Nam độc lập hay lệ thuộc Trung Quốc. Nhiệm kỳ của ông rơi vào thời điểm cuối của hiệp định Hội nghị Thành Đô. Câu Sấm này nói lên lập trường rất rõ của phe chính phủ hiện tại. Những điều diễn ra nếu thấy là chống đối TQ thì đó chỉ là diễn kịch để che mắt người dân.

    Sau cùng ….đây là trường hợp đặc biệt ngoại lệ …. Nhi không bao giờ coi tướng công khai một ai cả … nhất là khi tướng hông tốt ..người ta sẽ oán giận mình. Tuy nhiên, vì có liên hệ đến đất nước, nhi đành phá lệ và chấp nhận những điều không hay ….

    Thường người có tướng đầu nhọn (vòm hói) kết hợp mắt hẹp và thần sắc như thủ tướng là tướng tham vọng mà xu nịnh và bất chính, thêm vào tướng đứng đàn bà nghiêng đầu (*) là chỉ đưa đất nước này xuống vực sâu. Dân tộc đang đau thương lại sẽ đau thương thêm. Người đứng đầu một đất nước cho thấy mạt vận đau thương đang tới. Sấm khớp với tướng số vậy.

    Đoạn Sấm sau này ứng từ đầu năm khỉ – Bính thân năm nay cho đến sang năm. Chúng ta nếu thấy chưa có gì là vì những việc đó không xảy ra trước cửa nhà mình, nhưng báo cũng đã đưa tin tháng 3 TQ đưa binh dày đặc đảo Phú Lâm, đưa tàu chiến mạnh nhất ra Biển Đông tập trận (1,2) ứng với câu 76 – “tin sứ chèo thuyền lại sang”:
    76 – Đầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang
    77 – Bở mồ hôi Bắc giang tái mã
    78 – Giữa hai xuân bỗng phá tổ long
    79 – Quốc trung kinh dụng cáo không
    80 – Giữa năm giả lại kiểm hung mùa màng
    81 – Gà đâu sớm gáy bên tường
    82 – Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
    83 – Thủy binh cờ phất vầng hồng
    84 – Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng
    85 – Đứng hiên ngang đố ai biết trước
    86 – ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?
    87 – Ai còn khoe trí khoe năng
    88 – Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi
    Trước khi có sự thay đổi sang thịnh thì phải trải qua cực suy … dân Việt tiếp tục lơ ngơ và thờ ơ thì đất nước không có thịnh mà chỉ có suy rồi vong theo đảng CSVN. Dân tộc Việt không có anh hùng, đang bị đảng CS đè đầu không dám ngóc lên, đã không dám thì phải vong theo họ mà “chết dưới tay TQ”.

    11.05.2016 Nói thêm về Mậu Ngũ
    Mậu có nhiều nghĩa. Giờ đây giải theo nghĩa này: Mậu là tốt đẹp, tươi tốt, nhưng cũng có một nghĩa mà chúng ta sẽ ngạc nhiên….

    Ảnh: nghĩa chữ mậu. Từ điển hán Việt, trang 644, NXB Thế Giới, 2007

    Nghĩa hai : hợp chất hóa học (C5H6) *
    Ngũ có nhiều nghĩa tuỳ âm. Ở đây sẽ giải là năm (5). Còn những nghĩa khác …bao giờ đến lúc sẽ giải.
    Ngũ là 5 vậy cái gì năm? Là tháng 5.

    Chúng ta có thể từ đó hiểu là tháng 5 tốt đẹp, hào khí của dân tộc nở rộ từ tháng này. Cũng đồng thời ĐCSVN rơi vào thời gian cực suy, mất lòng dân. Biểu tình bắt đầu từ ngày 1 tháng 5, sẽ kéo dài đến hết tháng 5, qua tháng 6, đến lần mậu ngũ thứ 3, là đỉnh điểm của thời cuộc. Đến mùa thu có chuyển biến hết các mậu ngũ còn lại của năm Bính Thân.

    Nghĩa 2 – chúng ta thấy đoạn SẤM ghi:
    Khỉ hú trời Nam cá hoá rồng,
    Gà kêu Nam Bắc hội Hoa Long,
    Lần tay đếm lại Năm Ba Chín,
    Mới thấy điềm may giống Lạc Hồng.
    Chăm chỉ chờ ngày sang Mậu Ngũ,
    Ước ao đặng thấy buổi Canh Thân,
    Cho hay bốn bể ba đào dậy,
    Cù rống kêu vang giống Lạc Hồng.

    “Chờ ngày sang mậu ngũ” – vậy có phải chăng là cụ Trạng biết được năm nay tháng năm có sự kiện liên can hóa chất hay không?

    Xin lưu ý … đoạn Sấm ghi sóng gió nổi dậy từ biển (bốn bể ba đào dậy). Ba đào đã dậy, cá chết, biển chết, môi trường bị hủy diệt chứ không còn là sự đe dọa! Từ những sự kiện sóng gió này giống Lạc Hồng mới “cù rống kêu vang” được. Dòng dõi Lạc Hồng này sẽ không thể diệt vong mà sẽ đứng lên đáp lời sông núi vậy.

    Bạn sẽ càng ngạc nhiên hơn khi biết công ty thép là công ty con của công ty chính là Formosa plastics mà c5H6 lại là hóa chất liên quan nhựa.

    Wikipedia tiếng Việt: Cyclopentan được sử dụng để sản xuất các loại nhựa tổng hợp và keo dán cao su. Tiếng Anh:https://en.wikipedia.org/wiki/Cyclopentadiene

    Ý nghĩa của Mậu ngũ …vẫn còn chưa nói hết ..xin chờ lần sau giải tiếp. Có rất nhiều huyền cơ trong hai chữ mậu ngũ này. Xin đón đọc.🙂

    24.05.2016 Lần này xin giải trước hai câu 119, 120
    Hễ nhân kiến đã dời đất cũ
    thì phụ nguyên mới chỗ (trổ) binh ra
    Câu đầu …Bởi là văn Nôm nên cũng không có gì nhiều để giải. chỉ còn hai chữ nhân kiến nữa thôi.

    Nghĩa thứ nhất: Kiến đây nghĩa là kiến lập, hình thành. Nhân là nhân quyền. Hễ quyền con người đã được thấy, được phổ biến từ nơi không ý thức đến đã ý thức –

    Nghĩa 2: khi thấy Người đã được chuyển đi khỏi chỗ cũ . Nghĩa này có nhiều bạn đã giải🙂

    Tiếp theo câu 120: ” thì phụ nguyên mới trổ binh ra ”

    Phụ nghĩa là dồi dào, nhiều. nguyên là đứng đầu, như nói nguyên thủ, nguyên soái (tướng đứng đầu).
    ở đây ý nghĩa là các thủ lĩnh các nhóm, hội, đảng mới sẽ liên kết cũng ra binh.

    Phụ nguyên cũng có nghĩa là ruồng bỏ nguồn gốc như nói nguyên quán (xem hình dưới) – vậy ai bán nước quên nguồn gốc Lạc hồng là lý do để bị toàn dân ra binh chống lại.

    Nguyên cũng nghĩa nguồn nước. Không trách nhiệm bỏ rơi để các nguồn nước bị ô nhiễm cũng nghĩa là phụ nguyên. Các nghĩa trên đây đều hợp với tình hình hiện tại. Vậy Sấm ứng ngay bây giờ rồi vậy.

    Vài dự đoán tương lai gần:
    Đối chiếu với đoạn sấm : 245.
    Vạn dân chịu thửa âu sầu
    Kể dư đôi ngũ mới hầu khoan cho
    Cấy cày thu đãi thời mùa
    Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai
    Nhân ra cận duyệt viễn lai

    Kể dư đôi ngũ là thời gian sau lần mậu ngũ thứ 2, có thể là 3, là 4 thì mới “khoan”
    chữ khoan này là khoan dung, là dễ thở hơn, không bị xiết. ứng với từ lần mậu ngũ thứ 2 cho đến cuối thu.

    Phá ruộng tức là phá điền, là lúc thiên tử (là mọi người trong thời đại dân chủ) xuất hiện.
    Nhân ra – vừa nói người thủ lĩnh ra thì người gần thì vui mừng (cận duyệt) người ở xa thì tìm đến (viễn lai)

    Giờ đây đã chuẩn bị sang lần mậu ngũ thứ ba và trong 5 lần mậu ngũ năm nay chỉ duy có lần mậu ngũ thứ ba rơi vào ngày 5 (ngũ), đó cũng là móc cho sự chuyển biến. Xin mọi người theo dõi để kịp chuẩn bị cho thời cơ. Nước Việt ở trong tay của mỗi người dân Việt. Chớ để một nhóm người biến đất nước thành tan hoang, mặc cho ngoại bang giày xéo rồi thu tóm như thế thì còn nơi nào để thờ phượng Tổ tiên, để nói cho con cháu nghe về đất nước của mình ???? Dẫu bé mọn thế nào cũng phải vươn vai mà gánh lấy trách nhiệm bảo vệ giang sơn, nam phụ lão ấu chớ phân biệt vậy !

    15.07.2016 Không biết các bạn có còn nhớ Sấm Trạng Trình được bắt đầu như thế nào không? Đó là câu:
    Vừa năm Canh Tý xuân đầu
    Thanh nhàn ngồi tựa long câu nghĩ đời.
    Canh Tý là năm 1540, ở năm Canh tý này cụ Trạng “nghĩ đời” mà thấy năm Canh Tý của 480 năm sau. Tức là năm 2020, năm 2020 là năm vong của “triều đại” Cộng Sản tính theo luật lục thất thập gian mà cụ đã viết trong Sấm. Không có gì là ngẫu nhiên cả, chỉ vì chúng ta không thấy được sợi giây liên thông của sự việc nên bảo là ngẫu nhiên.

    Chúng ta thấy hiện tại ĐSCVN đã mất lòng dân phải giữ địa vị bằng bạo lực và đủ cách định hướng dư luận v.v… nhưng chắc chắn rằng tất cả những gì đang xảy ra và sẽ xảy ra chẳng thể cứu được để ĐCSVN có thể tiếp tục tồn tại.

    Từ năm Canh tý 1540 tính đến 500 năm sau là năm 2040 thì ứng với câu: Hồng Lam ngũ bách nghinh thiên hạ, Hưng tổ diên trường ức vạn xuân. (Việt Nam sẽ hưng thịnh là điểm giao thoa giữa đông và tây, (chữ nghinh thiên hạ nghĩa là đón các quốc gia). Ba năm sau khi ĐCSVN bị diệt vong Việt Nam bước vào vận 9 (2023 -2043) là thời vận của sự bắt đầu xây dựng và phát triển đến rạng danh.
    Bổn phận của bạn hiện tại là gì nếu không là kéo sập ĐCS để cho bạn, con cháu bạn chuẩn bị xây dựng lại VN ? Thời thế đang khiến chúng ta phải như vậy khi là con dân của một đất nước đang lâm nguy biển chết rừng bị tàn phá. Không phải là chất thải của Formosa đều đem thải ra biển và đem chôn trong rừng hay sao?

    Để nhá Sấm cho kỳ sau …Nhi sẽ bật mí cho các bạn biết từ đâu mà tính ra được ĐSCVN tận vào năm 2020 theo luật lục thất thập phân (hay lục thất nguyệt gian)

    Bạn có biết đường đi lên đền thờ Lạc Long Quân có bao nhiêu bậc thang không? Là 296 bậc. Dựa theo đây mà “kẻ gan anh tài” Trần Huỳnh Duy Thức nghĩ ra luật lục thất thập phân. Không lãnh bản án 16 năm tù mới lạ. Trong Sấm có câu:
    Kể từ đời Lạc Long Quân,
    Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
    Chính là đầu mối cho chúng ta tính ra để biết nhưng không phải ai cũng biết. 296 bậc thang này nếu chia cho 13 [6 (lục) +7 (thất) = 13] là một đơn vị thì chúng ta có 22 đơn vị 13, cộng thêm một đơn vị thập phân (10). 22 x 13 = 286 + 10 = 296.

    Chúng ta lại nghĩ đó là sự ngẫu nhiên … vì sao một người sinh ra hơn 500 năm trước lại biết được đường đi lên đền thờ Lạc Long Quân có 296 bậc thang để viết ra được câu Sấm cho người hơn 500 năm sau dựa vào mà giải ?? Ngẫu nhiên đến lạ lùng phải không bạn?🙂

    Cũng cứ xoay vần đắp đổi như vậy mà tính ra ĐCSVN sẽ tồn tại 75 năm tức là 5 gian lục thất thập phân (13 x 5 = 65 + 10) có nghĩa là đến năm 2020 tận tính từ năm chính thức nắm quyền 1945.

    Trong thời gian bốn năm này … nếu nhân dân muốn không phải nhọc sức để xây dựng lại tất cả thì ắt hẳn phải biết ngăn chặn những tàn phá họ gây ra trước sự cáo chung. Đó là việc của người khôn mà …. Dân Việt đâu có ngu đâu nhỉ?🙂

    Trên Trần Đông Chấn Blog của anh Trần Huỳnh Duy Thức, bài Kỷ Sửu và Vận Hội mới của Việt Nam viết về ”Luật lục thất thập phân:

    Ngay cả sự tồn vong của các triều đại cũng tuân theo một quy luật. Những ai đọc qua sấm Trạng Trình đều có thể thấy rằng cụm từ lục thất, lục thất gian hay lục thất nguyệt gian được lặp lại nhiều lần trong các câu thơ sấm. Đó là một quy luật tồn vong của các triều đại được thiên tài Nguyễn Bỉnh Khiêm mô hình hóa thành một cách tính toán đơn giản. Một gian lục thất (6+7) là 13 năm, một nguyệt gian hay một gian thập phân là 10 năm (đây là cách ẩn dụ của Trạng Trình, ngày xưa theo âm lịch, 1 tuần trăng – nguyệt là 10 ngày). Hãy xem xét 3 triều đại liền kề nhau từ Hậu Lê, Tây Sơn và Nguyễn.

    Nhà Hậu Lê do Lê Lợi sáng lập năm 1428 và kết thúc hoàn toàn vào năm 1789 sau khi Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh và bị Quang Trung Nguyễn Huệ đánh tan. Tổng cộng tồn tại 361 năm, tương đương với 27 gian lục thất (27 x 13 = 351 năm) cộng thêm 1 gian thập phân (351 + 10 = 361 năm). 27 gian lục thất từ năm thành lập, tức rơi vào năm 1779 (1428 + 351), đây là năm đánh dấu sự suy vong của triều đại nhà hậu Lê vì năm đó Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn. Nhà Hậu Lê đã suy yếu từ cả trăm năm trước, có thời gian bị nhà Mạc lật đổ, sau đó khôi phục lại và dẫn đến hình thành triều Lê Trung Hưng với chúa Trịnh đàng Ngoài chúa Nguyễn đàng Trong. Dù vậy danh nghĩa nhà Lê vẫn ngự trị trong lòng dân chúng nên cho dù nắm mọi quyền bính trong triều đình Bắc Hà nhưng các đời chúa Trịnh không bao giờ dám xưng đế vì sợ mất lòng dân. Ngay cả ở đàng Trong, dù hùng cứ một phương nhưng các chúa Nguyễn vẫn tôn nhà Lê là thiên tử. Nhưng vào năm 1779, một triều đại mới ra đời dám xưng đế và không chịu bất kỳ ảnh hưởng và quyền lực nào của triều Lê. Và đúng 10 năm sau đó, chính nhà Tây Sơn đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Hậu Lê. Tóm lại, nhà Hậu Lê sinh năm 1428, vong năm 1779 (sau sinh 27 gian lục thất) và tận năm 1789 (sau vong thêm một gian thập phân nữa).

    Nhà Tây Sơn được khởi sự bởi 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Khởi nghĩa vào năm 1771, đến năm Mậu Tuất 1778 thì Tây Sơn đã làm chủ gần một nửa đất nước, từ Quảng Nam đến Hà Tiên. Vào cuối năm Mậu Tuất (tức đầu năm 1779) thì Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, đóng đô tại Qui Nhơn và lấy hiệu là Thái Đức, chính thức khai sinh ra triều đại Tây Sơn. Triều đại này đã có nhiều chiến công hiển hách chống ngoại xâm nhưng đã không dàn xếp được tranh giành trong nội bộ gia đình nên chỉ đúng 1 gian lục thất sau đó (1779 + 13), tức năm 1792, đã bước vào suy vong. Cùng năm đó Nguyễn Ánh đã chiếm lại gần hết phần đất miền Nam và tiến đánh thành Qui Nhơn, còn vua Quang Trung Nguyễn Huệ – người đứng đầu triều đình Tây Sơn lúc đó thì đột ngột qua đời. Và đúng 10 năm (1 gian thập phân) sau đó, tức năm 1802, Nguyễn Ánh đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn, bắt sống vua Cảnh Thịnh Quang Toản, chấm dứt triều đại Tây Sơn tồn tại 23 năm. Tóm lại nhà Tây Sơn sinh năm 1779, vong năm 1792 (sau sinh 1 gian lục thất) và tận năm 1802 (sau vong thêm 1 gian thập phân nữa).

    Cùng năm đó, triều Nguyễn được thành lập bởi Nguyễn Ánh, lấy hiệu Gia Long. Dù bị Pháp xâm chiếm năm 1858 nhưng triều Nguyễn vẫn tồn tại song song với chính quyền bảo hộ thực dân thêm gần 100 năm nữa. Hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại bị chính quyền Cách mạng tháng 8 lật đổ vào năm 1945, đúng bằng 11 gian lục thất sau năm sinh (1802 + 11 x 13 = 1945). Nhưng đây mới chỉ là năm vong của nhà Nguyễn. Sau khi giả chấp nhận làm cố vấn Vĩnh Thụy cho chủ tịch Hồ Chí Minh một thời gian ngắn thì Bảo Đại bỏ trốn rồi theo chân pháp về miền Nam thành lập Quốc gia Việt Nam và giữ chức quốc trưởng. Đến năm 1955 quốc trưởng Bảo Đại bị thủ tướng Ngô Đình Diệm truất phế bằng một cuộc trưng cầu dân ý, mất hoàn toàn quyền lực, thành dân thường và bắt đầu cuộc sống lưu vong bên Pháp. Như vậy triều Nguyễn tồn tại 153 năm, bắt đầu sinh vào 1802, vong năm 1945 (sau sinh 11 gian lục thất) và tận năm 1955 (sau vong thêm 1 gian thập phân nữa).

    Tự do và dân chủ

    Số gian lục thất cũng có quy luật để tính toán. Với triều đại Cộng sản do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập năm 1945, số gian lục thất là 5, 2010 là năm vong, 2020 là năm tận. Cũng chẳng cần hiểu biết luật lục thất thập phân, chỉ cần phân tích biện chứng tình hình, bối cảnh chung, đánh giá những động lực bên trong và bên ngoài, nhận thức của những người cầm chèo cầm lái, … thì cũng có thể nhận ra được những biến động từ nay đến 2010. Đó cũng không nằm ngoài quy luật nhân quả. Xét cho cùng, không ai đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản trên toàn cầu nếu nó tốt và phù hợp với quy luật tất yếu. Nó suy vong là bởi chính nó. Sự xuất hiện những tác nhân bên ngoài cũng chỉ là kết quả theo quy luật từ cái nhân bên trong tạo ra. Các tác nhân bên ngoài sẽ tôn tạo hay hủy diệt cái bên trong cũng là do cái nhân sinh ra từ bên trong đó. Triều đại Cộng sản Việt Nam sẽ suy vong nhanh chóng là tất yếu không thể cản lại được bởi chính những sai lầm của nó.

    Điều nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam cần quan tâm trên hết lúc này là một thời đại mới sẽ hình thành như thế nào, chúng ta có nắm bắt được vận hội mới để tham gia kiến tạo hòa bình và ổn định cho toàn thế giới, qua đó tận dụng cơ hội để phát triển thịnh vượng bền vững hay không. Điều đó tùy thuộc hoàn toàn vào ước nguyện bây giờ của chúng ta. Nếu chúng ta lại rơi vào cái bẫy của nghèo đói hoặc của sự tham lam mà mong ước một xã hội thế nào cũng được miễn có thể kiếm tiền nhiều hơn thì lịch sử đã chứng minh rằng chúng ta sẽ không đi được đến đó. Nhưng nếu chúng ta mong cầu tự do; mong được có đầy đủ quyền con người mà tạo hóa dành cho chúng ta; kiên quyết nắm lấy quyền quyết định vận mệnh chính trị của dân tộc mình bằng lá phiếu của mình để lựa chọn những thành phần ưu tú nhất lãnh đạo đất nước thì chúng ta sẽ có tất cả.”

    10.05.2016 Nhi đang tự mình vì vui mà bị mất ngủ, vì thấy Sấm đã ứng một cách kỳ diệu. Thôi thì cứ phá lệ giải một kỳ đặc biệt này để cho DLV và đảng viên nào có đọc thì mất ngủ chung với mình cho vui🙂
    Chúng ta cùng nhìn lại bài Sấm này nhé.
    Khỉ hú trời Nam cá hóa rồng,
    Gà kêu Nam Bắc hội Hoa Long,
    Lần tay đếm lại Năm Ba Chín,
    Mới thấy điềm may giống Lạc Hồng.
    Chăm chỉ chờ ngày sang Mậu Ngũ,
    Ước ao đặng thấy buổi Canh Thân,
    Cho hay bốn bể ba đào dậy,
    Cù rống kêu vang giống Lạc Hồng.

    Câu đầu nói cho chúng ta biết đó là vào năm Thân (khỉ), trời Nam là nói cho nước Việt nam mình. Cá hóa rồng nghĩa là từ sự kiện cá mà dân tộc Việt hóa rồng. Hay nói đúng hơn là trở lại đúng nghĩa của dòng giống Rồng của mình. Và nghĩa bóng của câu này lại muốn ám chỉ câu chuyện cá chép hóa rồng ẩn dụ cho sự can đảm phải vượt được vũ môn thì mới hóa rồng được.

    Trở lại nói về chữ cá. Nhìn lại từ bắt đầu chuẩn bị bước sang năm nay, trước ngày mậu ngũ thứ nhất (6.02) cá ở miền Tây chết hàng loạt lên hơn ngàn tấn.

    Ảnh màn hình Zing.vn

    Sang đến mậu ngũ thứ 2 đúng ngay ngày mậu ngũ 06.04 cá ở Vũng Áng chết.

    Ảnh màn hình Wikipedia

    Đến mậu ngũ thứ 3 ngày 5.06 vừa là ngày Môi Trường Thế giới vừa là ngày biểu tình ở Hà Nội Sài Gòn.

    Đến tháng 8 mậu ngũ thứ 4, dòng lưu hải chuyển hướng từ Nam lên Bắc.

    Kỳ Anh từ vụ cá đã đứng lên, ngày 2/10

    Cũng vào thời điểm mậu ngũ thứ 5 sau khi dòng lưu hải chuyển hướng, trong đầu tháng 10 này cá chết ở Hồ Tây.

    Cho thấy cả năm Thân này tất cả liên can vụ CÁ. Dân Việt từ vụ Cá mà xóa bỏ chế độ quay về với nguồn cội dòng giống Rồng của mình. Nếu không sống ngay thời hiện tại, mấy ai biết được dòng chữ Cá hóa Rồng này không phải là một câu văn ẩn dụ bình thường.

    Tiếp câu 2, Gà kêu Nam Bắc hội Hoa Long,

    Là nói sang năm Đinh Dậu (2017) Vn sẽ có hội Hoa Long. Vậy Hoa long là gì ?
    Hoa là tinh hoa, (xin xem ảnh nghĩa chữ hoa thứ 3), nên hội Hoa Long là hội gồm những tinh hoa của giòng giống Rồng này cả từ Nam ra Bắc. Theo cách nói của anh Trần Huỳnh Duy Thức là ” Liên minh Dân tộc” .

    Nghĩa chữ Hoa, từ điển Hán Việt, trang 399, NXB Thế giới, 2007

    Câu ba nghĩa là gì ?
    Lần tay đếm lại năm ba chín

    Đây là cách tính theo thiên can địa chi. Thiên can là gồm: Giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý.
    Chữ năm trong câu này chỉ có nghĩa là năm (niên), không phải số. Vậy là năm nào đây ?🙂
    Thiên can đếm đến ba là Bính.
    Địa chi gồm : tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ mùi, thân, dậu, tuất, hợi – đếm địa chi đến chín thì là Thân.

    Vậy nên câu này cho biết là năm Bính Thân. Bính thân nào thì câu 5,6 có cho biết. Từ trong thảm họa về môi trường “mới thấy điềm may (của) giống Lạc Hồng” là ý nghĩa câu kế (câu 4).

    Câu 5: Chăm chỉ chờ ngày sang mậu ngũ
    Bắt đầu đoạn này lặp lại ý nghĩa đoạn trên để xác định năm bính thân nào là THỜI CƠ “cá hóa rồng”. Khuyên chúng ta chăm chỉ (tranh đấu) sang ngày mậu ngũ, tức là qua hết 5 giai đoạn mậu ngũ từ đầu năm đến hết ngày 2.10 là ngày 03.10.

    Câu 5 : theo ước ao, sẽ được thấy từ buổi canh thân. Canh thân là ngay ngày tết năm bính thân (08.02) nay rơi vào ngày Canh thân. Từ câu 5 đến hết bài nội dung muốn nói từ năm nay do sóng gió (ba đào) khắp nơi dân tộc sẽ vực dậy làm vang danh giống Lạc Hồng.

    Vậy cho nên đoạn Sấm này chính là nói về THỜI CƠ. Nếu không muốn CÁ chết thì phải hóa Rồng.
    Kỳ Giải Sấm đặc biệt xin dừng ở đây…. Cụ Trạng dùng ẩn dụ thật hay, để thấy rằng, chúng ta muốn hóa Rồng, phải vượt Vũ Môn như tích cá hóa rồng, vũ môn là cửa ải gió to sóng dữ. Còn thực tế với chúng ta là cửa ải vũ lực, bạo lực của nhà cầm quyền. Nhưng tất nhiên bất bạo động và có số đông sẽ có thể chiến thắng.

    Ngay thời khắc lịch sử hiện tại này, chúng ta chỉ có thể chọn bằng mọi cách phải để dân tộc Sống và bảo vệ đất nước. Dân tộc chết, cá nhân chúng ta cũng chẳng sống được, nếu có sống, là sống nhục.
    Xin hãy biết THỜI CƠ đã đến, bỏ hết sợ hãi để tranh đấu mà thôi !!!

    ——
    Sao chép xin ghi nguồn Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Việt Kỳ Nhi và dẫn link nguồn của Người Kỳ Anh – Hội Đồng Hương Kỳ Anh
    Người Kỳ Anh

  27. Thầy_Bói_Online permalink

    Hôm nay ngày 11 tháng 10 năm 2016. Hàn Quốc đã triệu đại sứ TQ lên để làm rõ vụ đâm tàu tuần tra của Hàn Quốc. Vậy là quân cờ cuối cùng là Hàn Quốc đã lộ diện. Cách đây vài tuần TBO tôi đã cung cấp danh tính các quân cờ trên biển Đông nhưng các bác chẳng chịu chơi mà nửa tin nửa ngờ, nhưng nay đã rõ ràng rồi. Các bác thử bày lên bàn cờ chơi thử xem. Bao giờ bí cờ thì tìm người giải.

  28. chinhkie permalink

    (SƯU TẦM) cưck hay…

    Lê Chánh Hoài‎ đến Tam Huynh
    9 giờ • Eden Prairie, Minnesota, Hoa Kỳ •

    “Sấm Trạng Trình” nói gì về sự sụp đổ của nhà Sản?

    1- Phụ nữ, mỗi tháng, họ hành kinh 1 lần. Cộng sản, cứ 5 năm, Đại hội Đảng 1 đận. Đận sau, bao giờ cũng hoành tráng hơn, so với đận trước. Kể cả, cái bánh vẽ. Chỉ có mỗi 1 thứ, không bao giờ thay đổi. Đó là, “Báo cáo Chính trị của Đại hội”. Báo cáo nào, rồi cũng vẫn “kiên định chủ nghĩa Mác – Lê”. Kèm theo tí dưa góp, “Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Xem lắm, thấy nhàm. Nhàm đến mức, Báo cáo Chính trị của Đại hội này, chỉ cần sửa vài từ, là có thể, dùng cho Đại hội sau. Đến kì hành kinh, à quên, đến kì Đại hội Đảng các cấp, chỉ có mỗi một vấn đề khiến người ta tò mò: Dân Việt, sẽ bị kẻ nào cai trị trong 5 năm tới. Và, sau bao lâu nữa, chúng sẽ giúp Việt nam, soán được cái ngôi đội sổ của thiên hạ.
    Đại hội lần thứ 12 vừa rồi, chẳng phải là ngoại lệ. Phần lớn thời gian của nó, được dùng cho việc đấu đá và tranh giành ngôi vị. Đó là kì Đại hội, chỉ của riêng 2 ông: Phú Trọng và Tấn Dũng. Trước khi bước vào Đại hội, nhiều người bán nhà, để đặt cửa Tấn Dũng. Chẳng phải, họ yêu quí ông ta. Chỉ vì, thế và lực của ông ta, quá mạnh. Chỉ những kẻ xổng chuồng ở trại “Tâm thần Trâu quỳ” ra, mới cổ vũ cho Phú Trọng. Một cái anh chàng, văn dốt – võ nhát. Cả đời, chỉ biết đánh võ mồm. Nói gì, cũng sai – làm gì, cũng hỏng. Sức thì yếu – tuổi lại phá khung.
    Kết cục, đảo lộn hoàn toàn. Phi lí, đến mức cùng cực. Sau Đại hội, ối kẻ bị vỡ tim mà chết.
    Giải thích cho cái sự thành công của Phú Trọng, thiên hạ, đưa ra 3 giả thuyết: Một là, mả bố nhà Phú Trọng, táng được vào Hàm Rồng – Hai là, Phú Trọng giả “lú”. Nhưng thật ra, ông ta thông minh tuyệt đỉnh – Ba là, Trung cộng chống lưng và thổi đít ông lên.
    Ai cũng cố sống – cố chết, bảo vệ cho bằng được, cái quan điểm riêng của mình. Thế nên, những cuộc tranh luận về đề tài đó, không bao giờ chấm dứt và bất phân thắng bại.
    Cho đến 1 ngày đẹp trời, hiền triết Nguyễn Khắc Mai, đưa ra 1 đôi câu đối (đồn rằng, đó là sấm của Trạng Trình). Bấy giờ, thiên hạ mới ngã ngửa người: Tất cả, là mệnh Trời và sự sụp đổ của nhà Sản, không những chỉ là tất yếu, mà nó còn xảy ra trong 1 tương lai hết sức gần. Nguyên văn, đôi câu đối:

    秉 燭 無 明 光 自 滅
    重 銀 薄 福 產 必 亡

    Bỉnh chúc vô minh quang tự diệt.
    Trọng ngân bạc phúc sản tất vong.

    Dịch đôi câu đối này, theo cái nghĩa thông thường, nhiều người đã làm. Mình không dám, “vẽ rắn – thêm chân”. Chỉ xin, được nói đôi ba điều, về cái ẩn ý đằng sau của nó:
    – Vế thứ nhất: Ai cũng biết, khi dầu hết – bấc sẽ tàn. Ngọn đèn nào, cũng tắt. Bóng đêm, sẽ ập tới.
    CNCS, cũng vậy. Giờ đây, nó đã phá sản hoàn toàn, về mặt Lý luận. “Kinh tế thị trường”, thì được pha với “định hướng XHCN”. Để, làm thành 1 nồi lẩu thập cẩm. Mà mùi vị của nó, khắm vô cùng. Đổ đi, thì tiếc. Còn ăn vào, bụng sẽ trương phềnh lên. Chế độ “người bóc lột người” của cái bon Thực dân – Phong kiến thối nát, đã bị đập tan. Thế vào đó, cũng vẫn chỉ là chế độ “người bóc lột người”. Có điều, tỉ lần, độc ác và man rợ hơn. Một ông Vua, bị đánh đổ. Thế vào đó, là cả 1 lũ ngợm người. Chúng làm “Vua tập thể”… Nói tất cả những thứ đó, chỉ để minh chứng 1 điều: Nguồn nhiên liệu, để giúp thắp sáng lên cái lí tưởng CS, đã không còn.
    Lãnh đạo CS, toàn những kẻ không có Tâm – chẳng đủ Tầm. Bởi thế, chẳng thể đưa được cái mớ Lí thuyết ma mọi CS vào thực tiễn: Bấc, đã bị thối.
    Bấc thối, không thể dẫn dầu. Đã thế, dầu cặn lại còn bị pha trôn với rất nhiều nước lã. Ngọn đèn CS, vẫn còn cháy, đã là 1 kì công của Tạo hóa. Nhưng cái sự leo lét của nó, chắc cũng chẳng còn kéo dài được bao lâu. Bởi, ở phía chân trời, cơn báo táp Dân chủ đã xuất hiện và đang sầm sập kéo về. Sinh khí tràn trề, sẽ quét sạch bầu không khí ô nhiễm và hắc ám. Ngày tàn của Đảng CS, đã đến.
    – Vế thứ 2: Những người Cộng sản, sinh ra trong nghèo khó và thất học. Do đó, không hiểu Đạo lý. Chúng luôn tối mắt – tối mũi trước đồng tiền. Chỉ cần có tiền, dẫu có phải hủy diệt môi trường – dẫu có phải hủy hoại giống nòi – dẫu có phải thiêu rụi cả non sông gấm vóc Việt nam, chúng cũng chẳng từ. Ngày đêm, chúng chỉ ngồi nghĩ ra những mưu ma – chước quỷ. Cốt sao, cướp sạch được mọi thứ của thiên hạ. Từ Chính quyền – của nổi – của chìm – thuế má, cho tới quyền của con người. Tàn ác và man dại, còn hơn cả bầy cầm thú.
    Của phi nghĩa, chẳng bền – Bọn bạc phúc, sao có thể ổn cố được. Bởi thế, tương lai của nhà Sản, đã được Trạng Trình đóng đinh trong có mỗi 1 chữ. Đó là, “vong”.
    2- Có lần, một độc giả hỏi mình: “Bác nói, chế độ CS, nhất định sẽ sụp đổ. Nhưng liệu bác có nói được, khi nào thì nó sụp đổ hay không?”. Mình thưa với bác ấy: “Chế độ CS, chúng hoàn toàn đi ngược với tất cả những qui luật của Tự nhiên và Xã hội. Bởi vậy, sự sụp đổ của nó, là 1 điều chắc chắn. Tôi không phải là nhà Tiên tri. Bởi thế, không thể biết được chính xác, bao giờ thì nó sẽ sụp đổ. Nhưng có một vĩ nhân, sống cách đây trên 5 trăm năm, đã đưa ra dự đoán về sự kiện này. Mời bác, tìm đọc đôi câu đối của Trạng Trình. Nó đang được lan truyền rất nhanh, trong các tầng lớp Nhân dân. Khảo cổ – nghiệm kim, người ta đều thấy: Trạng Trình, liệu việc như Thần. Nếu lần này cũng ứng nghiệm, thì nhà Sản, không sống sót được qua khóa 12”. Bác ấy hỏi: “Tại sao?”. Xin thưa:
    Câu sấm này của Trạng Trình, chứa ẩn 1 điều hết sức kì diệu: Có đủ mặt, cả tứ trụ Triều đình nhà Sản: Quang – Trọng – Ngân – Phúc. Ở đó, không có 1 chữ nào, có tên là Dũng cả. Từ cái chi tiết này, có thể khẳng định: Kì vừa rồi, Dũng trượt. Chẳng phải, vì ông ta kém cạnh Phú Trọng. Dũng trượt, là do mệnh Trời.
    Còn cái câu “sản tất vong”, có thể hiểu là: Khi lãnh đạo chủ chốt của nhà Sản, hội tụ đủ cả 4 nhân vật có tên trong đôi vế đó, thời khắc cáo chung của nó, đã đến. Sợ thiên hạ chưa tin, Trạng Trình, còn nhấn kép vào cái sự kiện này. Bằng cách, hai chữ cuối của 2 vế: bên này, ông để chữ “diệt” – bên kia, ông để chữ “vong”. Ngụ ý, chạy đằng nào, chúng mày cũng phải chết.
    Bác ấy, chẳng chịu: “Đó chỉ là sự suy diễn, sao có thể đáng tin. Thực tế, Đảng CS, đang ở trong thời kì mạnh nhất. Nó không thể đổ sập, trong một vài năm tới được”. Mình thưa lại:
    – Tất cả mọi triệu chứng, đều cho thấy: Ngày mà Đảng CS Việt nam, sẽ nằm đúng vị trí của nó, ở trong cái đống rác của Lịch sử, đã kề cận lắm rồi. Thiên ương và Nhân tai, đang diễn ra hết sức dồn dập và hết sức nghiêm trọng. Kinh tế, suy thoái – Dân chúng, bất an – Cán bộ, biến chất. Giữa thanh thiên – bạch nhật, chúng thản nhiên vác dao – vác súng, xông vào tận trụ sở làm việc, để thanh toán lẫn nhau. Cái độc ác và cái giả dối, đang trắng trợn lên ngôi. Trong khi, Đảng CS cầm quyền, vô kế khả thi, để dẫn dắt Đất nước, thoát ra ngoài những cuộc khủng hoảng đó. Không những thế, họ còn cố tình làm cho nó trầm trọng thêm. Cùng 1 lúc, họ gây thù – chuốc oán với dân chúng, thông qua việc bóp nghẹt Tự do – Dân chủ và mưu sinh của họ. Đồng thời, gây thù – chuốc oán với chính những cộng sự của mình, thông qua chiêu bài “chống tham nhũng”. Mà thực tế, chỉ là tranh quyền – đoạt vị và thâu tóm tiền bạc của nhau. Cả Xã hội, đã đến lúc loạn hết cả lên. Mọi thứ, đã nằm ngoài tầm kiểm soát của Đảng.
    Đảng CS Việt nam, đã vỡ trận.
    Thiên – Địa – Nhân, đã cùng đặt thời gian. Để, đếm ngược.
    3- Đến đây, lại xuất hiện 1 câu hỏi nan giải. Nếu, Trạng Trình đã biết trước, sẽ có 1 thế lực đủ mạnh, để lật nhào được chế độ CS. Thì, ông dự đoán: ai sẽ là “người cầm cái”, trong cái gọi là cuộc Cách mạng ấy?
    – Chế độ CS, đã dùng bạo lực, để cướp Chính quyền. Đó là 1 sự thực, không thể chối cãi. “Sinh nghề – tử nghiệp”. Chúng sẽ chết, trong bạo lực. Điều đó, vô nghi. Bạo lực này, có thể, xuất phát từ quần chúng. Cũng có thể, được sinh ra, ngay trong nội bộ của chúng. Hoặc, đồng thời cả hai nhân tố đó. Không có chuyện, chúng chết, do quân đội nước ngoài đổ bộ vào và tiêu diệt chúng. Như, sự việc đã từng xảy ra, ở Campuchia hoặc Iraq.
    Suốt bảy chục năm có dư, phải sống dưới ách cai trị tàn bạo của CS. Người dân Việt nam, đã quá hiểu bộ mặt thật của chúng. Chúng đàn áp người dân, khiến họ không thể mở miệng – không thể ngóc đầu. Chúng bóc lột họ, đến tận xương – tận tủy. Ai cũng căm ghét chúng và ai cũng muốn tiễn chúng, về với cái Tổ tiên Mác – Lê nhà chúng nó. Tuy vậy, họ vẫn chưa tập hợp được, trong một cái Mặt trận rộng rãi, có tổ chức chặt chẽ và có sự chỉ huy thống nhất. Do đó, dẫu có đông, cũng không mạnh. Họ, lại chưa được luyện tập, một cách thường xuyên. Quan trọng nhất, họ vẫn sợ CS. Họ biết, chúng rất tàn bạo. Nói theo cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng sẵn sàng, “tắm tất cả những cuộc xuống đường của Nhân dân ta, trong bể máu”. Do đó, sẽ là ảo tưởng, nếu nghĩ rằng: những cuộc xuống đường một cách ôn hòa và lẻ tẻ như hiện nay, có thể lật đổ được chế độ CS.
    Nguyễn Phú Trọng, quá hiểu điều đó. Ông biết, cái Đảng đểu của ông, rồi sẽ bị đổ. Bởi chính những thế lực, nằm ngay trong nội bộ của nó. Chính vì vậy, ông phải nhanh chóng thâu tóm quyền lực. Để tự mình, giữ được cái thể chế thối nát này, ít nhất, cho đến hết cái thế kỉ thứ 21. Hệ quả, tất cả những thế lực trong Đảng, dám cả gan ngáng chân ông, đều phải bị tiêu diệt. Nhưng, đó chỉ là sự giãy giụa trong cơn tuyệt vọng của 1 kẻ cuồng tín và giáo điều.
    Xưa – nay, có ai “bẻ nạng – chống Trời” mà đã thành công?
    a- Binh pháp Tôn tử, có câu: 主孰有道. Chủ thục hữu Đạo. Nghĩa là, bên nào có chính nghĩa, bên đó có nhiều cơ hội để giành phần thắng.
    Trong cuộc đấu đá nội bộ lần này, tất cả các phe phái, đều không vì quyền lợi của Nhân dân và của Đất nước. Do đó, chúng không được sự ủng hộ của Nhân dân. Tuy nhiên, cái phe bảo thủ của Phú Trọng, luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê, cộng với xu thế ngả Tàu, sẽ làm mất lòng dân nhiều hơn. Chỉ cần, phe kia tung ra được bằng chứng khả tín. Phe bảo thủ, khó lòng mà chống đỡ. Chuyện đó, nào có khó gì. Bằng chứng, đầy. Mật ước Thành đô, chẳng hạn.
    Đó là lí do thứ nhất, khiến phe Trọng tất bại.
    b- Muốn “đội đá – vá trời”, trước hết. phải kiểm đếm lực lượng. Chí ít, trong tay phải có đủ cả 2 thứ, đó là quân và tiền. Đây toàn là những thứ, mà Trọng không có.
    Thân, là Bí thư Quân ủy Trung ương, cộng thêm, tay đàn em thân tín nắm Bộ Quốc phòng. Điều đó, hoàn toàn không đồng nghĩa với việc, đã nắm chắc Quân cán. Ai “lương tướng” – ai “bẩn tướng”, Trọng sao biết được. Mảng kinh tế, xưa nay, cũng lại do Dũng nắm. Những tử huyệt của nó, nằm ở đâu, Dũng biết. Muốn phá Trong, dễ ợt. “Trong tay sẵn có đồng tiền/ Nói quấy nói quá, chúng nghe rầm rầm”.
    Trong cái cuộc chiến sinh – tử này, Trọng chỉ nắm chắc trong tay, có đúng 1 thứ. Đó là, bọn Tuyên giáo. Bọn này, mồm cá ngão. Cả đời, chỉ biết ăn tục và nói phét. “Tiếng hát” của chúng, dẫu có hay, cũng chẳng thể “làm cho giặc điếc tai”. Có thực, mới vực được Đạo.
    Đó là lí do thứ hai, khiến phe Trọng nhất định bại.
    c- Sách Lục thao, thiên Quân thế chép rằng: 无恐惧,无犹豫。用兵之害,犹豫最大. Vô khủng cụ, vô do dự. Dụng binh chi hại, do dự tối đại. Tạm dịch: Không được sợ sệt, không được do dự. Trong tất cả những tai hại của việc dụng binh, do dự đứng đầu.
    Khốn nỗi, đây lại là sở trường của Trọng. Muốn diệt chuột, nhưng ông ta lại sợ vỡ bình. Chống tham nhũng, lúc thế yếu, chỉ muốn dùng vũ khí phê bình và tự phê bình. Khi đã “lên hương”, lại ti toe, muốn dùng đại bác và hỏa tiễn xuyên lục địa. Kế hay – mẹo hiểm, dẫu có bày ra với những thằng cha ba phải và nhút nhát, phỏng có ích gì. Viên Thiệu, há chẳng phải tấm gương tày liếp đó sao? Tầm như Trọng, diệt ruồi cũng khó. Sao dám uống thuốc liều, để cưỡi lên lưng cọp.
    Đó là lí do thứ 3 khiến phe Trọng tất bại.
    d- “Yếu, đừng đứng ra trước gió”. Vừa mới ốm dây, đang còn phải ăn trả bữa. Thế mà, Trọng dám cả gan vác đinh ba, bổ cùng 1 lúc vào cả ba bốn con cọp. Ông muốn: loại Quang – sờ đít Thăng – xách tai Hoàng và mục tiêu cuối cùng, tóm gáy cừu thù Tấn Dũng.
    Trong câu Sấm của Trạng Trình, xin độc giả, hãy để ý kĩ đến 1 điểm khác thường: Tứ trụ, được chia ra làm 2 mảng và cho vào cả 2 vế. Có điều, 2 mảng ấy, không quân bình. Quang được tách ra, để đứng riêng ở 1 vế. Ba tay còn lại, chung nhau 1 cái chuồng. Trong cái chuồng ấy, Trọng và Ngân dính với nhau, làm thành 1 cặp đôi hoàn chỉnh. Bỏ chữ Trọng, chữ Ngân ở đây, chẳng có ý nghĩa gì và ngược lại. Riêng Phúc, hình như, chưa được sự tín nhiệm tuyết đối. Do đó, tuy là đồng bọn và được đồng sàng. Nhưng quan hệ với đôi kia, vẫn bị lép vế và chỉ được đứng ở hạng chầu rìa.
    Một khi, đã là câu đối, 2 cái vế của nó, phải đối nhau chan chat. Từ cái logic hình thức đó, mà suy ra rằng: Quang, hoàn toàn đối nghịch với 3 tay kia. Thực tế diễn ra, cũng gần đúng như vậy. Chỉ cần, xét trên vài luận điểm:
    – Trong phiên tòa xét xử Dương Chí Dũng, ông ta khai ra những chi tiết, có liên quan tới Trần Đại Quang. Những chi tiết này, hoàn toàn bất lợi cho ngài Chủ tịch. Bởi thế, ngay lập tức, Chí Dũng đã bị quan tòa bịt miệng. Tuy vậy, không hiểu sao, cái Video clip ấy, lại bị rò rỉ ra bên ngoài. Phiên tòa ấy, chỉ có 2 loại người được vào: Công an và Tuyên giáo. Lộ ra ngoài, chẳng có loại thứ 3. Công an, dẫu cho ăn gan hùm, cũng không dám tố Thủ trưởng của mình. Do đó, có thể kết luận, 1 cách hết sức chắc chắn: Chính bọn Tuyên giáo lẻo mép, đã cố tình tiết lộ chi tiết này. Tuyên giáo, là con đẻ của đứa nào và tại sao, chúng lại làm như thế? Câu trả lời, xin nhường cho độc giả.
    – Cái màn kia, tuy đê hèn và hiểm độc. Nhưng chưa đủ sức, đánh gục được Đại Quang. Lý do, tướng Phạm Quý Ngọ, nhân chứng duy nhất trong vụ này, “đang sống, bỗng đột ngột, chuyển sang từ trần”. Người chết, hết chuyện. Nghi án, đã được đóng lại vĩnh viễn. Cay cú, Trọng bày keo khác. Ông cho ban hành riêng, cái Thông báo số 13- TB/TW. Thông báo này, xác quyết: “Tuổi của đảng viên, xác định theo tuổi khai trong hồ sơ lý lịch gốc”. Đến nước này, Đại Quang hết đỡ. Quá lứa – nhỡ thì. Chỉ một hai năm nữa, Quang sẽ phải “ô tô ma tích”, cắp đít về hưu. Cùng với vết nhơ, khai man Lí lịch. Trong khi, Trọng lại có “miễn chiến bài”, về cái chuyện tuổi tác. Chưa kể đến chuyện, Trọng còn lần mò, để chen chân ngồi vào Đảng ủy Công an Trung ương. Chút quyền lực cuối cùng của Quang, cũng chẳng còn. Ông ta, trở thành dạng “hữu danh – vô thực”. Phú Trọng, quá giỏi. Ép Quang, hơn ép giò. Quang đã về rồi, khác gì, con rắn mới lột. Đánh kiểu gì, chẳng chết. Hai tay còn lại, không ai đủ trình và chẳng ai dám mơ, tới cái chân Tổng Bí thư. Trọng, “đành” phải lỗi hẹn, để ôm trọng trách hết khóa. Đó là lí do cơ bản nhất, khiến Trọng phải loại cho bằng được Đại Quang. Để, giữ vững ngôi vị, “tay tham nhũng quyền lực số một của Việt nam”.
    – Tất nhiên, Đại Quang có thể khoanh tay, ngồi chờ người ta nện mình hay không, lại là chuyện khác. Xét về trình độ và bản lĩnh, ông ta, đều vượt trội, so với cái tay gà mờ Phú Trọng. Con người kín đáo và chuyên làm nghề An ninh như ông ta, một khi đã hành động, ít khi, để lại dấu vết. Trịnh Xuân Thanh, chỉ là khúc nhạc dạo đầu. Kịch hay, đang còn ở phía trước.
    Nguyễn Tấn Dũng, cũng là tay sừng sỏ có tiếng. Ông ta, đã từng, làm cho Trọng phải nức nở trước bàn dân thiên hạ. Bây giờ, mất sạch quyền hành. “Hổ xuống đồng bằng, bị chó khinh”. Đòn thù, nếu có giáng xuống ông ta, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng còn Đinh La Thăng, ông ta có tội tình gì, khiến cho Phú Trọng phải lao tâm – khổ tứ? Câu trả lời, hết sức đơn giản: Đây là tay tham nhũng và làm thất thoát rất nhiều tiền bạc của Nhân dân và Đất nước. Quan trọng hơn, y rất giàu. “Đánh con – kể tội”. Dân, thì được hả lòng. Còn phe bảo thủ, thu tiền về cả mớ. “Nhất tiễn – song điểu”. Ngu gì, mà không làm.
    Xưa, Võ Tòng ở bên Tàu, là 1 dũng sĩ. Cùng bất đắc dĩ, mới phải đánh nhau tay không, với chỉ 1 con hổ. Nay, thư sinh Phú Trọng, dám tay không, xông vào giữa đàn hổ. Ngưỡng mộ, vô cùng.
    Đó là lí do thứ 4, khiến phe Trọng tất bại.
    Chừng ấy thứ, cũng thừa đủ, để Phú Trọng thân bại – danh liệt. Kể thêm nữa, làm gì. Chỉ biết rằng, cuộc giải phẫu mới bắt đầu. Nhưng mọi thứ, đã rối tinh – rối mù. Còn nội bộ, đã hoảng loạn hết cả lên. Bởi, đố tìm thấy ông cán bộ CS nào, liêm khiết. Các phe phái, đã buộc phải phân hóa – đã buộc phải co cụm – đã buộc phải sắm sửa khí giới và tất cả nín thở, đợi Trọng, sờ đến phao câu của mình.
    “Long tranh – hổ đấu” lần này, sẽ phơi bày tất cả những cái thối tha của cái Đảng CS đểu. Kết thúc cuộc chiến, ngôi nhà CS, sẽ bị phá tan hoang. Kẻ thắng cuộc, không thể dựng lại thể chế CS được nữa. “Đắm đò – giặt mẹt”. Họ sẽ phải lưu tên mình trong Lịch sử, bằng cách khác. Tỷ như, cách mà Yeltsin đã làm ở nước Nga, hoặc cách mà Thein Sein vĩ đại đã làm ở Miến điện. Bởi, chỉ có dùng cách đó, sự mất mát của họ, mới không nhiều. Nếu không muốn nói, là ngược lại. Người đó, không thể là Phú Trọng, Vậy, Trạng Trình nhắm ai?
    4- Đọc đến câu “Quang tự diệt”, chắc chẳng có ai hiểu 1 cách thô thiển rằng: Nếu bị Trọng ép, Quang sẽ “học tập và làm theo tấm gương” của xạ thủ Đỗ Cường Minh. Không, ngàn vạn lần, không có chuyện đó.
    Con tắc kè hoa, khi gặp nạn. Giữa cái sống và cái chết đang cận kề, nó chọn cách làm rụng đuôi của mình và tháo chạy. Những đối thủ của Trọng, cũng thế. Khi bị dồn vào tử địa, họ chỉ có 2 cách lựa chọn: Một là, bị Trọng khai trừ ra khỏi Đảng và bị điệu ra Tòa án của Trọng. Hai là, tự đoạn tuyệt với cái Lý tưởng CS đểu của mình và quay về với Nhân dân. Khôn ngoan, không ai chọn phương án một.
    Do đó, lời Sấm của Trạng Trình, phải hiểu là: Nếu bị ép vào tử địa, Đại Quang, sẽ chọn phương án 2. Sau đó, tập hợp lực lượng, để dọn dẹp sạch sẽ cái bãi rác, có tên là CS. Mở đường và đảm bảo cho cái lộ trình Dân chủ hóa ở Việt nam, được diễn ra trong Hòa bình. Máu của con dân Đất Việt, sẽ bị đổ ra 1 cách ít nhất. Còn ông, sẽ ghi tên mình vào Lịch sử, như một “Thein Sein của Việt nam”.
    5- Đến đây, bác độc giả cười rũ rượi: “Đó là câu chuyện hoang đường và nhảm nhí nhất, mà trong đời, tôi đã nghe được”. Mình thản nhiên:
    – Lịch sử, đã ghi nhận những chuyện hoang đường và nhảm nhí, còn hơn thế nhiều. Chỉ xin, nêu vài dẫn chứng:
    Cho đến cuối những năm 80 của thế kỉ trước, ai nói rằng: “Liên xô, thành trì của phe XHCN, sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 1991”, người đó, chắc chắn, bị coi là kẻ hoang tưởng. Trước Đại hội lần thứ 12 của Đảng CS, ai nói rẳng: “Nguyễn Phú Trọng trúng Tổng Bí thư”, người đó, chắc chắn, bị coi là kẻ thần kinh. Euro 2004, ai nói rằng: “Hy lạp, sẽ là đội vô địch”, kẻ đó, chắc chắn, sẽ bị coi là người ngoài hành tinh.
    Bác ấy đờ đẫn, như vừa bị trúng phong. Lát sau, lắp bắp hỏi: “Này, cái lão Dân già. Thiên cơ, bất khả lậu. Sao, lão cứ phèng phèng nói ra, như thế? Đã dám nói thế, sao không nói nốt: Bao giờ, thì thiên hạ thái bình?”. Mình cười: “Tôi chỉ là người hát rong. Bác và bà con, chấp làm gì. Trong bài Thử luận Sấm Trạng Trình (Trang Bùi Văn Bồng Ngày 25 – 9 – 2016), tác giả Minh Lê, đưa ra dự đoán: Thân – Dậu niên lai, kiến thái bình. Nghĩa là, nhà Sản sẽ ngắc ngoải vào năm Bính Thân (2016) và không sống được quá năm Đinh Dậu (2017) đâu. Tôi và bác, hãy ráng chờ”.

    THUYẾT ĐỊNH MỆNH ?
    * MINH LÊ
    Nhân đọc bài bàn về thuyết định mệnh của tác giả Bùi Quang Vơm, nhiều người hốt hoảng về một thế giới trong tương lai u tổi rối loạn, nhiều người bĩu môi cười khẩy về lối tuyên truyền phiến diện, tầm phào.
    Cả hai lối phản ứng đó đều không chuẩn và không nên.
    Vậy phải “hiểu” và phải “luận” thế nào cho đúng?
    Định mệnh là một khái niệm mà tất cả mọi người trưởng thành ai cũng đã nghe qua, nó nói lên rằng mỗi một kiếp người, mỗi dân tộc, mỗi thể chế đều đã xuất hiện và hình thành tại một thời khắc nào đó, phải chịu chi phối bởi điều kiện tự nhiên ở vùng lãnh thổ nó sinh ra và các ngôi sao chiếu đến và đều phải trải qua quá trình bốn bước là Sinh – Dưỡng – Bệnh – Tử… điều đó đã được ghi vào Sách Trời, không ai cưỡng lại nổi.
    Tuy vậy trong dân gian cũng truyền tụng một câu “Xưa nay Nhân định thắng Thiên đã thường” để khẳng định một điều là sự cố gắng của con người, sự phấn đấu của con người và cả sự ngu dốt có thể thay được số mệnh.
    Đó là nói về từng cá thể con người.
    Còn nói về một quốc gia, một dân tộc, một vùng lãnh thổ…., thì cũng vậy thôi, con người có thể xây dựng cho nó thịnh vượng lên và cũng có thể phá cho nó lụi tàn đi.
    Vậy lấy gì để làm thước đo, để đánh giá và báo trước sự hưng thịnh hoặc thời điểm lụi tàn của một thể chế, một vùng lãnh thổ?
    Trong bài viết của Bùi Quang Vơm , ông tập trung phân tích lời tiên báo của Nostradamus và Vanga, hai con người có khả năng thiên phú là “nhìn thấy” những hiện tượng lạ tại nhiều nơi trên thế giới và so sánh với những sự kiện khủng khiếp đã xảy ra…
    Nhưng trên thế giới này có bao nhiêu nhà tiên tri tài giỏi? Nhiều lắm, có trẻ có già, có người sống trước chúng ta mấy trăm năm và có người đang sống cùng thời đại với chúng ta, có người chỉ dựa vào giấc mơ, có người kết hợp được với các diễn biến của lịch sử
    Thứ nhất- hãy lấy nước Mỹ ra để phân tích.
    Nước Mỹ được hình thành đã hơn 240 năm, từ những con người DU CƯ, không chịu đựng nổi sự hà khắc của thể chế cũ trong những quốc gia vốn là quê hương của họ, để đến sinh cơ lập nghiệp trên một vùng đất mới hoang sơ đầy khó khăn này.
    Để trở thành một Hợp chủng quốc với 300 triệu dân có nền kinh tế và quân sự đứng đầu thế giới như hiện nay, những người Du cư phải sống, làm việc và học tập cật lực, họ còn phải chống lại sự xâm lược của thực dân Anh, một trong những kẻ thù từ “quê hương cũ” đuổi theo họ…. và hơn ai hết, họ trân trọng cuộc sống tự do dân quyền mà họ đã giành được,
    Tuyên ngôn nhân quyền của Hoa Kỳ ra đời ngày 25/9/1789 với 12 tu chính án, là cơ sở đảm bảo cho nền hiến pháp công bằng xã hội của nước Mỹ, thì cho dù vài ngày tới bà Hillary Clinton phải rời bỏ chính trường và ông Trump có giành thế thắng, thì 300 con người Mỹ vẫn không vì thế mà “mất điểm” trước thế giới điên loạn.
    Thứ hai – nói về Trung Quốc.
    Trong những năm gần đây và ngay cả hôm nay, khắp nước Trung Quốc, kể cả ở Hồng Kông và Đài Loan, người ta đang tìm đọc cuốn sách dầy 33.000 chữ của vị Luật sư nhân quyền nổi tiếng Cao Trí Thịnh viết về sự tiêu vong của ĐCSTQ vào năm 2017.
    Là một luật sư chống lại các thủ đoạn đàn áp nhân quyền của ĐCSTQ, luật sư Cao Trí Thịnh kịch liệt phản đối ĐCSTQ đàn áp Pháp Luân Công, nên ông đã bị ĐCS bỏ tù và không ngừng bị khủng bố sau khi ra tù.
    Chính những năm tháng khốn khổ đó, ông xuất hiện khả năng ngoại cảm, ông được “gặp” Thánh nhân và ông được “nghe” Ngài nói là năm 2017 thì ĐCS bị diệt vong và nước Trung hoa được hồi sinh.
    Cao Trí Thịnh kêu gọi các đảng viên CSTQ mau thoái khỏi đảng kể cả các tổ chức thanh niên, thiếu nhi có chữ cộng sản để bảo vệ sinh mạng cho mình.
    Theo thống kê sơ bộ, đến ngày 1/7/2015, TQ đã có khá nhiều đảng viên tự thoái đảng, sau khi đọc sách của Cao Trí Thịnh, người ta tranh nhau, chen nhau thoái đảng càng nhiều hơn….
    Như vậy, Cao Trí Thịnh không chỉ dựa vào “giấc mơ” báo rằng ĐCSTQ không quá 96 tuổi và vước CHNDTQ không thể quá 67 năm, mà ông đã phân tích, so sanh với thực tế, sau 4 năm Tập Cận Bình lên nắm quyền, con số lãnh đạo cấp cao của ĐCS bị “ngã ngựa” nhiều bằng 63 năm trước đó cộng lại.
    Bởi vậy, Cao Trí Thịnh khẳng định rằng khả năng ĐCSTQ tiêu vong vào năm 2017 là hiện thực.
    Thứ ba – Chuyện nhỏ mà không nhỏ tại Việt Nam.
    Dân Việt Nam, gần như ai cũng biết Thiên tài của cụ Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm.
    Cụ sinh năm 1491 mất năm 1585, thọ 94 tuổi, cụ đã để lại cho đời hàng ngàn bài thơ văn có giá trị, trong đó giá trị nhất mà đời nay rất khâm phục là 487 câu thơ trong SẤM TRẠNG TRÌNH.
    Từ lúc vua Lý Thái Tổ lên ngôi đặt tên nước là Đại Việt và dời Đô về Thăng Long, thì trải qua 3 triều Lý Trần Lê, nước ta đều có tên gọi là Đại Việt và người đầu tiên dùng hai chữ Việt Nam là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo cụ, 2 tiếng này ứng với 487 câu sấm của cụ, nói về 500 tồn tại của Việt Nam, nhưng cho đến năm 1804, sau khi vua Gia Long lên ngôi ở Phú Xuân Huế, mới đặt quốc hiệu nước ta là Việt Nam và Kinh đô Thăng Long bị giáng cấp thành Bắc Thành cho đến năm 1831 thi vua Minh Mạng đổi tên là tỉnh Hà Nội.
    Bởi vậy khi người Pháp vào chiếm Hà Nội và cụ Hoàng Diệu để lại một kỷ niệm đau buồn về “Hà thành thất thủ”. khi cụ phải treo cổ tự vẫn.
    Và rồi, đầu thế kỷ thứ 20 người Pháp xây dựng thành phố Hà Nội xinh đẹp, nhưng thật đáng tiếc, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập về Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời thì dân Việt Nam ta rơi vào cuộc chiến tranh triền miên.
    Tại sao ư?
    Tại vì: Quốc hiệu Việt Nam do vua Gia Long chính thức đặt, thuộc Hành Hỏa.
    Tên tỉnh Hà Nội, do vua Minh Mạng đặt, thuộc Hành Thủy, nhằm tầm thường hóa địa phương này so với Kinh đô Phú Xuân ( Mùa Xuân phong phú? )
    Nhưng chính quyền việt Minh cướp được chính quyền thì vô thần bất chấp, mặc cho NƯỚC và LỬA xung khắc suốt 71 năm qua. Thậm chí những người tự xưng là yêu nước đang rắp tâm dâng Tổ quốc cho giặc ngoại xâm.
    Nguy cơ nước Việt bị tiêu vong cận kề.
    Tuy vậy, gần đây bài toán
    LÝ SỐ HỌC HÀ LẠC TRONG SẤM TRẠNG TRÌNH đã được một số nhà nghiên cứu giải mã.
    Căn cứ các câu sấm:
    116- Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
    117- Chữ rằng lục thất nguyệt gian
    118- Ai mà nghĩ được mới gan anh tài.
    Người ta phát hiện cặp đôi LỤC THẤT 6+7= 13 và lấy đó làm đơn vị tồn tại của chế độ.
    Vậy, trong 71 năm, có 5 Lục Thất là 65 năm tồn tại
    Vậy 1945 + 65 = 2010 đến năm 2010 chế độ bắt đầu xuống dốc.
    Rồi đến 3 câu sấm tiếp theo
    395- Canh niên tàn phá
    396- Tuất Hợi Phục sinh
    397- Nhị ngũ dư bình.
    Người ta lấy cặp Nhị Ngũ tức 2x 5 = 10 để tính 10 trên đà suy vong, nhưng vì có cặp đôi THÂN DẬU NIÊN LAI KIẾN THÁI BÌNH thì chắc chắn đến năm Thân 2016 và 2017 chiến tranh phải hết, tức là tên Nhà nước CHXHCN Việt Nam và Thủ đô Hà Nội phải hủy bỏ để trở thành Nhà nước Đại Việt và Kinh đô Thăng Long, để câu sấm 396 đã báo đến năm 2018 và 2019 thì đất nước Đại Việt được phục sinh.
    Vậy sự kiện gì sẽ xảy ra?
    Nếu có Thần Nhân đất Cổ Loa mách bảo, ông Tổng Trọng giật mình sau giấc ngủ mê, ông tỉnh dậy tuyên bố Phục hồi tên nước Đại Việt.
    Phục hồi tên Kinh đô Thăng Long.
    Ông được dân tung hô Vạn tuế.
    Ông không còn nhớ Đảng cộng sản là quái thai gì nữa, ngoài lời ca LÝ ĐI RỒI LÝ LẠI VỀ.
    Hoặc nếu không, Bên kia phương Bắc, ĐCSTQ tiêu vong và ông sẽ được dân gọi ra hỏi tội.

    Minh Lê (Gửi ĐNT độc quyền)

  29. thientrungnhan permalink

    Quốc hiệu có trước thời nhà Nguyễn. Trong sấm Trang Trình đã có chữ Việt Nam.
    Chương Nhất
    1 – Vận lành mừng gặp tiết lành
    2 – Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu
    3 – Một câu là một nhiệm màu
    4 – Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao

    5 – Trải vì sao mây che Thái ất
    6 – Thủa cung tay xe nhật phù lên
    7 – Việt Nam khởi tổ xây nên
    8 – Lạc Long ra trị đương quyền một phương
    9 – Thịnh suy bỉ thới lẽ thường
    10 – Một thời lại một nhiễu nhương nên lề

  30. chinhkie permalink

    ĐÍNH CHÍNH
    năm 2017 mới mừng kính 100 năm Mẹ Maria hiện ra, năm nay đang chuẩn bị thôi…

  31. chinhkie permalink

    Chào Bác tieuhan!

    Bài phân tích này không biết có đúng hay không… nhưng quá thâm sâu, rất đáng để suy nghĩ…

    “Năm 2017 cũng là năm mà thế giới có biến, nhưng trước tiên chúng ta sẽ trờ đợi sự biến động vào tháng 10 âm lịch năm 2016 đã, năm nay niên 2 nhập trung cung, tháng 10 này nguyệt 2 nhập trung cung, nếu có biến động gì lớn trong năm nay sẽ diễn ra vào tháng 10”

    +Tháng 10 ÂL năm 2016 có mấy sự kiện quan trọng cần lưu ý:

    * Bầu cử tổng thống Mỹ (Hoa Kỳ)

    + Hội Thánh Thiên Chúa Giáo La Mã sẽ mừng kỷ niệm 100 NĂM Đức Mẹ Maria hiện ra tại làng quê FATIMA nước BỒ ĐÀO NHA với 3 trẻ chăn cừu.

    – Đức Mẹ hiện ra 6 lần với 3 em bé chăn cừu làng Fatima (Bồ Đào Nha) là:
    1) Lúcia dos Santos.
    2) Francisco Marto.
    3) Jacinta Marto từ ngày 13.5 tới ngày 13.10.1917.

    + Thị Kiến Của ĐGH Lêô 13 Về Một Cuộc Khủng Hoảng Đáng Sợ Đang Đe Dọa Hội Thánh Kitô Giáo.

    “,,, Ngày 13 tháng 10 năm 1884, ĐGH Lêô 13 vừa dâng Thánh Lễ xong tại một trong những nhà nguyện riêng trong điện VATICAN. Khi đứng dưới chân bàn thờ mặt ngài bỗng xám ngắt và ngài té xỉu xuống sàn, như vừa bị chứng đột qụy. Tuy nhiên sự té xỉu này không do bệnh tật gây ra. Ngài vừa được thị kiến tương lai [đen tối] của Giáo Hội mà ngài muôn vàn kính yêu. Sau mấy phút có vẻ như hôn mê ấy ngài tỉnh lại và nói với những người chung quanh rằng: “Ôi, tôi mới được cho phép chứng kiến một cảnh tượng hãi hùng khôn tả xiết!”

    Trong lúc xuất thần, Đức Thánh Cha Lêô 13 nghe thấy tiếng nói của 2 người, một giọng ồm oàm xấc láo mà ngài hiểu là của qủy satan thách thức giọng nói thứ hai, tiếng nói của Chúa Giêsu. Ngài nghe như sau: “Nếu có đủ thì giờ và quyền lực tôi sẽ đánh bại giáo hội của ông!” Chúa Giêsu hỏi nó: “Mi muốn bao nhiêu thì giờ và bao nhiêu quyền lực?” Satan đáp: “100 năm và quyền lực đối với những người phụng sự tôi!”

    Chúa Giêsu: “Mi sẽ có đủ quyền lực và thì giờ.”
    Theo những người được tiếp xúc với ĐGH Lêô 13 sau thị kiến đó thì ngài được biết là quyền lực của satan sẽ đạt đến cao độ trong thời hạn 100 năm đó. Thời hạn này là thế kỷ thứ 20.
    (Bài giảng của LM Giuse Hoàng Phúc – 100 năm: Cuộc chiến giữa Hội Thánh và Satan)
    Đức Lêô bị rúng động vì viễn tượng đạo đức và các giá trị thiêng liêng suy đồi cả trong lẫn ngoài Giáo Hội, khiến ngài soạn ra một kinh cầu nguyện mà ngài chỉ thị phải đọc sau Thánh Lễ dưới chân bàn thờ khắp nơi trong Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ. Đó là kinh kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae vẫn đọc liên tục mãi cho đến khi Giáo Hội soạn lại Thánh Lễ sau Công Đồng Vatican 2, thì bỏ đọc kinh này. [Sau này ĐTC Gioan Phaolô II khuyên giáo dân sốt sắng đọc lại kinh này. Tại Mỹ, sau Thánh Lễ buổi sáng, giáo dân thường ở lại lần chuỗi Mân Côi và đọc kinh Tổng lãnh Thiên Thần Micae của ĐTC Lêô 13. Chú thích của người dịch]. Kinh nguyện đó như sau:

    KINH TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MI-CA-E

    Lạy Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, / xin hãy bênh vực che chở cho chúng con trong chốn chiến trường/, cùng nên như thành lũy vững bền cho chúng con trông cậy / và chống trả các chước sâu độc ma qủy/. Chúng con sấp mình xuống / xin Đúc Chúa Trời ngăn cấm thần ngụy ấy./ Lạy Tổng Lãnh Thiên Thần Micae / là tướng quân cai quản cơ binh trên trời,/ kìa satan và thần dữ đang rảo khắp thiên hạ / hòng làm hư loài người chúng con, / xin người lấy phép Đức Chúa Trời mà xua đuổi chúng xuống hỏa ngục đời đời. / Amen.

    + Thị kiến của Đức Giáo Hoàng Leo 13 nói đến quỷ SATAN sẽ thử thách Đạo Thiên Chúa 100 năm nhưng cũng chính là thử thách các tôn giáo khác chứ không riêng gì Kitô Giáo…

    – 100 năm này được chính thứ bắt đầu vào năm 1917 với chủ nghĩa duy vật VÔ THẦN cách mạng tháng 10 NGA… TỪ ĐÓ ĐẾN NAY NHÂN LOẠI càng ngày càng suy thoái về ĐẠO ĐỨC… VN chúng ta cũng bị thuyết ĐỘC HẠI nhuốm mầu QUỶ DỮ ĐỎ ấy, khiến dân ta trở thành nạn nhân nước mắt khổ sầu, chiến tranh lầm than, bĩ cực không ngơi của nền đệ TAM QUỐC TẾ CỘNG SẢN do cụ HCM du nhập vào…
    + Bác tieuhan nói về sự cố có thể xẩy vào tháng 10 ÂL, chúng ta cứ bình tâm và đừng quên cầu xin ƠN TRÊN xuống đồng bào VN đang khổ đau!

  32. tieuhan permalink

    Quốc hiệu Việt nam có từ bao giờ ?

    Quốc hiệu Việt Nam (越南) chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng “Nam” có ý nghĩa “An Nam” còn “Việt” có ý nghĩa “Việt Thường”. Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ Nam Việt thời nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa lúc bấy giờ. Nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804…. nguồn từ vi.w…

    Theo mai hoa dịch số:

    Việt 5 từ quẻ tốn, nam 3 từ quẻ ly, Việt nam gọi là phong hỏa gia nhân. Vậy ai là chủ khi việt nam là gia nhân, thân phận gia nhân bao giờ thì thay đổi?

    Nếu đổi ngược lại thành Nam việt thì thành quẻ hỏa phong đỉnh, chắc nước ta sẽ thoát khỏi sự kìm kẹp về chính trị của thế lực bên ngoài.

    Năm 1945 nước ta lại một lần nữa có tên là Việt nam, kể từ đó ta hết dựa vào Nga rồi lại dựa vào tàu

    Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi xin nhà Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam (大南), ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên nhà Thanh đã không chính thức chấp thuận. Khi nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1839.

    Đại nam quẻ lôi hỏa phong, người ta chỉ sử dụng quẻ phong khi có ý đồ an cự lạc nghiệp chỉnh đốn trong nhà, yên phận làm chư hầu. Nhưng con đường phía sau quẻ phong cũng là một con đường gian nan vất vả không kém. Từ tầm nhìn cải cách, mục tiêu cải cách, cách thức thực hiện, và thời cơ thực hiện trong từng hoàn cảnh cụ thể, …. phải có đủ trí lực và kinh nghiệm mới mong bớt sai lầm trong thực hiện….Vua minh mạng không có đủ tầm để thực hiện thay đổi nên cải cách dở trừng

  33. tieuhan permalink

    tôi đang phân vân kiến giải nội dung của câu:

    Thế bát phùng khuyết liệt
    chu ngũ phục viên tuyền..

    Tính tới năm 2017 thế bát sẽ kết thúc, tuy nhiên vận khí của cs Việt cũng kết thúc theo, không đủ sức để chuyển thế cho dân tộc ta. Trong khi vận khí của Trung cộng vẫn còn khoảng 4 năm nữa, cục thế này dẫn tới việc cs Việt phải dựa dẫm hoàn toàn vào Trung cộng để tồn tại.

    Khi đó câu – chu ngũ phục viên tuyền – này phải chăng là năm năm sau nước ta mới có thời cớ để dịch thế phục hưng khi vận khí của trung cộng đã kết thúc. Như vậy 2017 + 5 = 2022

    Cách tính thì như vậy nhưng trong khoảng thời gian từ năm 2017 trở đi làm sao để lật bàn được lại là một vấn đề, so với tàu ta chỉ là một con tép không hơn.

    Tộ truyền nhị thập ngũ
    Vận khải ngũ viên trường
    Vận đáo dương hầu ách
    Chấn đoài cương bất trường
    Quần gian đạo danh tự
    Bách tính khổ tai ương
    Can qua tranh đấu khởi..

    Giữa năm con dê và năm con khỉ vừa qua phe thân tàu nên cầm quyền, đánh dấu một giai đoạn mới đó là : vận đáo dương hầu ách.

    Như vậy
    Tộ truyền nhị thập ngũ
    vận khải ngũ viên trường.

    Sấm ký khởi đầu từ hiệp định thành đô năm 1990, ta chính thức dựa dẫm vào trung cộng, sau 25 năm là năm 2015, tức năm con dê Trung cộng đã dấn thêm được một bước khi bức phe thân phương tây của ta thoái vị vào đầu năm con khỉ.

    Theo lộ trình hiện tại có thể phân thành các bước:

    1 sau khi giành được quyền lực về tay sẽ tiến hành thâu tóm quyền lực ở nơi, dẫn tới nhiều cuộc thanh toán lẫn nhau
    2. khi quyền lực đã ổn thì tiến hành thâu tóm địa bàn hoạt động, thâu tóm lợi ích, các tập đoàn kinh tế từ tw cho tới cơ sở sẽ bị tranh cướp
    3. Đem những cơ sở kinh tế của mình cướp được tiến hành liên minh với tàu, triệt để ổn định căn cơ.
    4. Phát động cuộc chiến toàn diện với phe đối nghịch.

    Chấn đoài cương bất trường
    Quần gian đạo danh tự
    Bách tính khổ tai ương
    Can quan tranh đấu khởi

    Năm 2017 cũng là năm mà thế giới có biến, nhưng trước tiên chúng ta sẽ trờ đợi sự biến động vào tháng 10 âm lịch năm 2016 đã, năm nay niên 2 nhập trung cung, tháng 10 này nguyệt 2 nhập trung cung, nếu có biến động gì lớn trong năm nay sẽ diễn ra vào tháng 10.

  34. chinhkie permalink

    (SƯU TẦM)

    TỘI ÁC…

    Năm 1956, cuộc nổi dậy của đồng bào huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, là một cuộc đấu tranh đẫm máu chống lại chính sách cai trị dã man của lãnh đạo CSVN, mà qua đó, chính sách Cải Cách Ruộng Ðất đã là nguyên nhân chính làm bùng nổ cơn phẫn nộ của người dân. Cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu bị đảng CSVN bưng bít tin tức rất kỹ vì tầm mức ảnh hưởng nguy hiểm của nó. Trong khi cuộc đấu tranh của các văn nghệ sĩ trong biến cố Nhân Văn Giai Phẩm may mắn hơn, được loan tin vào miền Nam VN thời bấy giờ, với những tư liệu lịch sử rất giá trị. Nhưng không vì thế mà cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu bị chôn vùi với nỗi oan khiên của những nạn nhân đã chết. Một số nhân chứng hiếm hoi đã kể lại, viết lại để các thế hệ tiếp nối hiểu được những gì xảy ra dưới chế độ XHCN.

    Tội ác của lãnh đạo CSVN không thể đếm bằng số người dân đã chết. Mục đích của tội ác đã đi ra khỏi giới hạn suy nghĩ của loài người.

    1- Chính sách Cải Cách Ruộng Ðất

    Lãnh đạo CSVN đã bắt đầu cuộc cải tạo nông nghiệp tại miền Bắc khi thực dân Pháp vẫn còn xâm chiếm nước ta. Hồ Chí Minh (HCM) đã ký 2 sắc luật Giảm Tô (tức giảm số thóc gạo mà nông dân phải trả cho người chủ đất) số 78/SL ngày 14/7/1949, và Sắc Luật 42/SL ngày 1/7/1951 về chính sách nông nghiệp của chính quyền kháng chiến, năm trong toàn bộ chính sách thuế khóa, gồm cả thuế công thương nghiệp, sát sinh, lâm thổ sản, xuất nhập cảng… Chính sách thuế nông nghiệp đã khởi đầu cho các chiến dịch phân mảnh định hàng các loại ruộng, bình sản lượng, bình diện tích mỗi mảng đất để làm căn bản tính thuế, sau đó tiến hành chiến dịch chống phản động, đấu tranh giảm tô kéo dài đến năm 1954, và chỉ tạm ngưng khi chiến trường Ðiện Biên Phủ bắt đầu nghiêm trọng và sau đó đưa đến Hiệp Ðịnh Geneva ký vào tháng 7/1954.

    Kế đến, lãnh đạo CSVN lại tạm ngưng chiến dịch cải cách ruộng đất tới cuối năm 1955, đầu 1956, vì (1) CSVN bận lo đón tiếp hơn 50,000 bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc, (2) Phải đối phó với phong trào di cư và cuộc biểu tình đòi di cư của người dân vùng Ba Làng (Thanh Hóa), (3) Phải che dấu phần nào thủ đoạn tàn bạo để trấn an lòng dân, che mắt các quan sát viên quốc tế của Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến và ổn định tình hình nội bộ. Giai đoạn thứ hai của cải cách ruộng đất bắt đầu từ cuối năm 1955, lãnh đạo CSVN tiếp tục phát động phong trào quần chúng qua nhiều đợt đấu tranh cải cách ruộng đất.

    Trong giai đoạn này, hình thức đấu tranh cải cách ruộng đất cũng giống như đấu tranh giảm tô, nhưng khác ở mức độ tàn bào cao hơn gấp bội và số nạn nhân cũng gia tăng do sự càn đi, quét lại và kích tỷ lệ. Ở một số nơi, như các vùng vừa tiếp thu và đồng băÀng bên bờ sông Nhị Hà chẳng hạn, CSVN tiến hành song song 2 chiến dịch đấu tranh giảm tô và cải cách ruộng đất một lượt. Ðiều cần nhấn mạnh là CSVN đã bắt chước y hệt chính sách cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, nên đã cho các cán bộ học tập kinh nghiệm nguyên văn cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu ở Hồ Nam, quê hương của Mao Trạch Ðông.

    Ở Trung Quốc, ngoài ruộng đồng bao la bát ngát, một địa chủ điển hình còn có lâu đài, dinh cơ và quân lính riêng để bảo vệ sản nghiệp, cũng như để đàn áp và bóc lột nông dân. Trong khi ở miền Bắc VN, cái mà CSVN gọi là địa chủ đại gian đại ác thường chỉ có mấy mẫu ruộng, nhưng thuộc thành phần có uy tín ở nông thôn (thường giúp đỡ người nghèo) và có thể trở thành đối tượng chống đối đảng và nhà nước.

    Trung ương đảng CSVN đã trao cuộc đấu tranh cải cách ruộng đất cho Trường Chinh lãnh đạo và Hồ Viết Thắng, Ủy viên Trung ương đảng phụ trách điều hành. Dưới trung ương có các đoàn cải cách ruộng đất cho mỗi tỉnh và dưới cấp đoàn có các đội cải cách ruộng đất cho từng xã. Các đoàn và đội đều nhận lệnh trực tiếp từ trung ương mà không cần qua Ủy ban hành chánh địa phương. Thành phần trong các đoàn, đội đều được tuyển lựa là thành phần cốt cán, bần cố nông, là đảng viên trung kiên đã chiến đấu trong quân đội.

    Càng về sau, chính sách cải cách ruộng đất càng khốc liệt bởi phần đông đội viên toàn là những người trẻ tuổi, cuồng tín, được bồi dưỡng tư tưởng đấu tranh giai cấp, căm thù thật sự. Vì thế, trong năm 1956, riêng đợt cải cách ruộng đất Ðiện Biên Phủ đã đưa số nạn nhân bị tàn sát lên đến 10.000 người.

    Ðội cải cách ruộng đất đã trở thành công cụ giết người ghê rợn của chế độ. Sự tàn sát lên cao vì chính sách kích tỷ lệ (nâng tỷ lệ) của CSVN. Thí dụ: cứ mỗi xã có 100 gia đình thì dù đủ hay không, có hay không có, đội cải cách ruộng đất của xã đó phải tìm cho ra ít nhất là 5 gia đình địa chủ (tỷ lệ 5%), nếu hơn thì càng tốt. Trong 5 gia đình này phải quy cho được 2 gia đình là cường hào ác bá để xử tử. Nếu đội không làm đủ tiêu chuẩn sẽ bị phê bình là thiếu ý thức đấu tranh giai cấp, công tác kém cỏịá Nghe một đoạn thơ tuyên truyền của thi nô Tố Hữu, ta sẽ thấy sự dã man ra sao:

    Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
    Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
    Cho Ðảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
    Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.

    Mục tiêu cuộc cải cách ruộng đất còn là cơ hội để đảng CSVN mở cuộc thanh trừng quy mô những đảng viên trong nội bộ hoặc trong hàng ngũ kháng chiến cần bị đào thải vì không thuộc thành phần vô sản, những người có thể trở thành nguy hiểm cho đảng vì đã trau dồi những kinh nghiệm đấu tranh, đã có khả năng lãnh đạo, có uy tín, nắm vững tình hình đảng, quy tụ được thế lực mạnh, và có thể phản đảng.

    Chính CSVN đã thú nhận khi có chính sách sửa sai, trong cuộc thanh trừng này có đến 23.000 đảng viên trung kiên bị chết oan, còn hàng ngàn đảng viên không trung kiên bị chết một cách đích đáng thì chưa thấy tài liệu nào của đảng công bố cả. Rất nhiều cán bộ cao cấp có công với kháng chiến cũng bị kết tội cường hào ác bá, hoặc tham gia trong các tổ chức phản động như VN Quốc Dân Ðảng chẳng hạn. Theo hồi chánh viên Nguyễn Văn Thân, kỹ sư thuộc Bộ Thủy Lợi miền Bắc, trước kia đã từng tham gia nhiều vụ cải cách ruộng đất, cho biết một cuộc đấu tố chụp mũ như sau:

    …Cuộc đấu tố điển hình nhất mà tôi được dự là lần đấu tố ông Nguyễn Văn Ðô, Bí thư huyện ủy tại Ô Cầu Giấy, ngoại thành Hà Nộị… Nạn nhân Nguyễn Văn Ðô là Bí thư huyện ủy, rất có công với kháng chiến nhưng lại bị kết tội là cường hào ác bá và có chân trong tổ chức Quốc Dân Ðảng. Chủ tịch đoàn nói rằng ông lợi dụng chức vụ của Ðảng để hoạt dộng cho Quốc Dân Ðảng. Người đứng kể tội là một nông dân trước kia đi chăn ngựa cho ông Ðô một cụ già khác lên tố về việc cướp đất ruộng nương và cô con gái của ông lên đấu tố là đã bị ông cưỡng hiếp tất cả 177 lần. Ðến khi ông Ðô được phép lên phát biểu ý kiến nhận tội, ông đã cứng cỏi trả lời: “Ông không phải là Quốc Dân Ðảng, ông chỉ làm việc cho Bác, cho kháng chiến mà thôi”. Ông trả lời cô con gái là: “Thưa bà, bà còn quên đấy, tôi đã hiếp cả mẹ bà để đẻ ra bà nữa” Câu trả lời này làm mọi người phải bật cười và làm đấu trường mất vẻ tôn nghiêm. Chủ tịch đoàn vội vàng hô khẩu hiệu “Ðả đảo tên Ðô ngoan cố” để đàn áp và che lấp tiếng nói của ông. Sau đó họ không cho ông nói tiếp. Họ nghị án và quyết định xử tử ông ngay tại chỗ. Cuộc đấu tố này kéo dài từ 5g sáng tới 13g trưa mới xong.

    Rất nhiều người thuộc thành phần trung nông (trung nông cấp thấp: vài sào (acre) đất, trung nông cấp cao: 1-3 sào và một con trâu), tiểu thương cũng bị kích lên thành địa chủ (địa chủ thường: 3-5 sào hay có khi hơn một chút, không giàu, cho mướn ruộng lấy địa tô, không có tội với nhân dân; địa chủ cường hào ác bá: 3-5 sào, có tội với nhân dân; địa chủ phản động: đảng viên VN Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, v.v…).

    Với dân số miền Bắc vào năm 1956 là khoảng 20 triệu người, có khoảng 4 triệu gia đình nông dân. Nếu chỉ có 2% gia đình nông dân bị liệt vào giai cấp cường hào địa chủ, thì số người bị giết ít nhất là 80,000 người. Chưa kể số người chết tăng lên qua chính sách kích tỷ lệ theo đúng chỉ tiêu do đảng CSVN đề ra. Sự oán hận của người dân ngày càng dâng cao ở khắp nơi.

    Nhiều vụ phục kích giết cán bộ đấu tố và những vụ chém giết giữa bần cố nông và thân nhân của người bị đấu tố đã xảy ra thường xuyên. Ngay lúc đó, nhiều biến cố chính trị đã xảy ra tại các nước CS, như Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Liên Xô yêu cầu Hồ Chí Minh thực hiện việc xét lại Hồ Chí Minh chuẩn bị kế hoạch ngừng chiến dịch đấu tố vào tháng 3/1956, nhưng chính thức ra lịnh đình chỉ mọi vụ hành quyết địa chủ vào tháng 10/1956.

    Trong Hội nghị thứ 10 Trung ương đảng, Võ Nguyên Giáp đã thay mặt đảng đọc một bản thú nhận sai lầm trong cuộc cải cách ruộng đất. Hồ Chí Minh khóc lóc và đổ cho cấp dưới thi hành chính sách quá đà, cách chức Thứ trưởng phụ trách cải cách ruộng đất của Hồ Viết Thắng để xoa dịu lòng dân. Ðảng CSVN cũng thả 12.000 đảng viên còn sống sót trong tù vì bị kết tội địa chủ, trong số này nhiều người bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành. Tuy nhiên oán thù của người dân không vì thế mà nguôi ngoai. Nhiều vụ nổi dậy, bạo động lớn nhỏ đã xảy ra sau đó, như Quỳnh Lưu (Nghệ An), Hải Phòng, Lạng Sơn… Trong thời gian này cũng có những vụ bạo động khác như những vụ thanh niên và công nhân Nam Bộ tập kết đập phá bót cảnh sát ở bờ hồ Hà Nội (cạnh ga tàu điện, đầu phố Cầu Gỗ).

    2. Cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu
    Sau cái gọi là Nghị quyết sửa sai của đảng CSVN về nhữngđợt cải cách ruộng đất đẫm máu, các nạn nhân đã tìm những cán bộ thanh toán món nợ truyền kiếp. Các đảng viên CS trung kiên được thả về từ nhà tù, được khôi phục quyền hành, khôi phục đảng tịch, liền tìm ngay các đồng chí đã tố sai để trả thù. Do đó, tình trạng xung đột, giết chóc giữa đảng viên cũ và đảng viên mới lan rộng khắp mọi nơi. Uy tín của đảng bị sụp đổ, cán bộ hoang mang, lo sợ tột độ. Ở nông thôn, các đảng viên đi họp phải mang búa theo để thảo luận với nhau.

    Những địa chủ được tha về, thấy tình trạng làng xóm bất ổn như vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình tiểu tư sản hồi kháng chiến đã trú ngụ ở nhà mình. Các bần cố nông trót nghe lời đảng tố điêu nay bị sợ rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp xích lô và đi ở thuệá Vì vậy, số dân ở Hà Nội, Nam Ðịnh đột nhiên tăng lên gấp bội và không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, ảnh hưởng đến giới công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức, dùng báo chí lên tiếng chống đảng, thì cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu đã làm đảng CSVN rất lo sợ. Toàn thể nhân dân tỉnh Nghệ An, gồm đủ mọi thành phần giai cấp ở các xã Quang Trung, Tân Nho, Diễn Tân, Vạn Kim, Diễn Ðức, Diễn Ðông, Diễn Nguyên, Minh Châu, Ðức Vinh, Hồng Thăng, Ðại Gia, Yên Trung đã mở một đại hội để tố cáo những chính sách cai trị tàn ác của chế độ. Ban tổ chức đại hội còn mời luôn cả cán bộ VC thuộc cấp tỉnh và huyện đến tham dự để chứng minh tinh thần đấu tranh cho tự do của nhân dân.

    Sau nhiều giờ thảo luận, đại hội đã đồng thanh lập bản kiến nghị nguyên văn như sau:
    – Yêu cầu trả lại cho chúng tôi những vị linh mục chánh sở và tất cả những vị giáo sĩ bị bắt bớ giam cầm.
    – Yêu cầu trả lại cho chúng tôi xác các vị linh mục đã bị hành quyết và của những vị đã bị thủ tiêụ
    – Yêu cầu trả lại những tài sản của địa phận, của thánh đường, của Ðức Mẹ đã bị chính quyền tịch thu hoăc xung công.
    – Yêu cầu đền bồi thanh danh của các giáo sĩ đã bị nhục mạ và danh dự của các giáo hữu đã bị vu khống.

    Cán bộ VC rất căm tức những lời kết án của dân chúng, lúc đầu họ nhất định không ký tên, nhưng với áp lực của hàng ngàn người, họ bắt buộc phải ký vào quyết nghị. Ban tổ chức đã gởi bản quyết nghị này đến 4 nơi: Tòa thánh La Mã (qua trung gian của Ðức Khâm sứ Dooley), Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến, Hồ Chí Minh và gởi đến chính quyền quốc gia miền Nam. Phía CSVN đã tìm đủ mọi cách ngăn chặn bản quyết nghị đến tay Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến.

    Dân chúng đã dùng ngay chính sách sửa sai của CSVN để đòi lại chồng con đã bị giết, tài sản đã bị cưỡng đoạt và đòi được di chuyển tự do vào Nam như đã cam kết trong Hiệp định Geneva.
    Giữa lúc đó, được tin chiều ngày 9/11/1956, Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến sẽ đi qua Cầu Giát để lên Hà Nội, hàng ngàn người đã kéo ra đường số một chờ đợịá Ðồng bào đã góp đơn lại giao cho 6 thanh niên đại diện đưa thựá Mấy ngàn đồng bào đã nằm ngay trên đường để chận xe lại 6 thanh niên đã đưa cho viên sĩ quan Ấn Ðộ trong Ủy Ban mấy vạn lá thư đựng trong bao bố. Viên sĩ quan này cho biết sẽ trình lại cấp trên và trả lời vào ngày thứ Bảy trong tuần.

    Sau đó, ngày 10/11/1956, khoảng 10,000 nông dân đã mở đại hội lần thứ hai tại xã Cẩm Trường để bàn thảo về ngày thứ Bảỵ Mọi người đều tỏ ra hân hoan khi biết sắp sửa từ bỏ địa ngục trần gian. Nhưng ngay lúc đó, CSVN đã điều động 2 đại đội chủ lực và một đại đội công an võ trang huyện Diên Châu về xã Cẩm Trường để giải tán đại hội nông dân. Bạo động đã xảy rạá Tiếng súng và lựu đạn nổ vang trờị Mặc dù tay không nhưng khí thế quần chúng quá mạnh, những người phía sau đã tràn lên thay cho những người gục ngã phía trước.

    Cuối cùng, dân chúng đã bao vây đồn bộ đội, công an vào giữạ Ðêm hôm dó, CS đưa thêm 2 trung đoàn về bao vây 10.000 nông dân tại xã Cẩm Trường. Dưới cơn mưa phùn lất phất cuối đông, cảnh tượng bi hùng đã diễn ra ở một trận địa giữa 10.000 nông dân và 2 vòng trong ngoài đầy những công an và bộ đội.

    Tờ mờ sáng này 11/11/56, các bà mẹ đã đánh trống, mõ kêu gọi dân chúng quanh vùng đến tiếp cứu Xã Diễn Châu như bị động đất. Rồi 30.000 nông dân kéo đến vây phía ngoài 2 trung đoàn chính quy của CS, trở thành một vòng bao vây thứ tự Cuộc nổi dậy bộc phát quá lớn, quá mau, đã đi ra ngoài sự tiên liệu của cả 2 bên. Hồ Chí Minh rất căm hận biến cố này vì Nghê An là quê quán của ông ta, nhưng Hồ Chí Minh chưa biêt cách giải quyết thế nào để gỡ thể diện cho mình và đảng. CS cũng tìm cách lien lạc với Giám mục Trần Hữu Ðức nhờ ông giải quyết, nhưng ông đã trả lời: Tôi không biết về vấn đề chính trị, vì tôi là một nhà tu hành. Lúc bấy giờ, phía dân chúng đã có một số lượng vũ khí đáng kể, tịch thu được từ bộ đội. Chưa bao giờ một cuộc nổi dậy ở miền Bắc lại có đủ tất cả thành phần dân chúng, kể cả các đảng viên CS.

    Ðêm 11 rạng ngay 12/11/1956, một số nghĩa quân lén trở về Quỳnh Lưu để tổ chức biểu tình yểm trợ cho dân quân xã Diễn Châụ Ðêm hôm đó, 3000 thanh niên các xã Do Xuyên, Ba Làng và Nông Cống (tỉnh Thanh Hóa) đã kéo vào yểm trợ nghĩa quân. 4g sáng cùng ngày, một Ủy Ban Biểu Dương Lực Lượng Nông Dân Quỳnh Lưu và Ủy Ban Tiếp Tế Nghĩa Quân được thành lập. Phụ nữ, trẻ em đã mang gạo, thực phẩm đến xã Cẩm Trường, nơi cuộc đấu tranh đã bước vào ngày thứ 3.
    Rạng ngày 13/11/1956, một cuộc biểu tình vĩ đại với sự tham gia của gần 100.000 đồng bào tỉnh Nghệ An. Bài hát Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa đã được truyền đi khắp nơi, hoà với những đợt trống, mõ vang lên liên tục:

    Anh đi giết giặc lập công
    Con thơ em gửi mẹ bồng
    Ðể theo anh ra tiền tuyến
    Tiêu diệt đảng cờ Hồng
    Ngày mai giải phóng
    Tha hồ ta bế ta bồng con ta

    Cuộc biểu tình đã tuần hành tiến về Ty công an Ngệ An, hô thật to những khẩu hiệu: Lương Giáo đoàn kết chặt chẽ sau lưng các nghĩa quân, Lương Giáo quyết tâm chống CS khát máu, Tinh thần Quỳnh Lưu bất diệt…á Công an tỉnh lẫn trốn từ lâu trước khí thế nàỵá Dân chúng thi nhau nhảy lên nóc Ty công an, xé tan cờ đỏ sao vàng, đạp vỡ ảnh HCM và các lãnh tụ CS quốc tế.

    Trước tình hình này, Hồ Chí Minh ra lệnh cho Văn Tiến Dũng điều động Sư đoàn 304 từ Thanh Hóa, Phủ Quỳ và Ðồng Hới về bao vây nghĩa quân. Sư đoàn này quy tụ nhiều bộ đội miền Nam tập kết mà Hồ Chí Minh muốn xử dụng, thay vì dùng bộ đội sinh quán ở miền Trung hoặc miền Bắc, để có dịp trút tội cho binh đoàn miền Nam nóng tính này.

    Trận địa tại xã Cẩm Trường đã lên đến 5 vòng đai giữa dân quân và VC. Buổi chiều cùng ngày, nghe tin dân quân xã Cẩm Trường bị Sư đoàn 304 vây, gần hàng chục ngàn người đã tiến về xã Cẩm Trường để tiếp cứụá Vòng đai chiến trạn đã tăng lên lớp thứ 6. Buổi tối ngày 13/11/1956, hơn 20,000 nông dân từ Thanh Hóa lại kéo vào tiếp viện, mang theo đầy đủ lương thực tính kế trường kỳ đấu tranh.

    Ngày 14/11/1956, Văn Tiến Dũng huy động thêm Sư đoàn 312 vào trận địa quyết tiêu diệt nhân dân Quỳnh Lưụá Khi vòng đai thứ 7 thành hình, Hồ Chí Minh ra lịnh tiêu diệt cuộc nổi dậy có một không 2 trong lịch sử đấu tranh chống VC. Trước bạo lực đó, nông dân vẫn cứ quyết tâm tử chiến để bảo vệ căn cứ. Lịnh của ban chỉ đạo nghĩa quan được truyền đi:Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để giải phóng dân tộc. Nhưng vì vũ khí quá thô sơ, nghĩa quân phải rút vào rừng sâụ Sau khi trận chiến kết thúc, quân đội VC đã xông vào các làng Thanh Dạ, Song Ngọc, Cẩm Trường bắt tất cả già trẻ lớn bé giải đi. Họ tra khảo từng người để tìm ra ban chỉ đạo đấu tranh nhưng vô hiệu, vì bất cứ ai, kể cả các em thiếu nhi đều tự xưng là người lãnh đạo cuộc cách mạng này.

    Không bắt được ai, VC đành thả bà con ra về, nhưng Hồ Chí Minh tính kế bắt đi Linh mục Hậu và Linh mục Ðôn của 2 xứ Cẩm Trường và Song Ngọc. Dù 2 vị này đã nói: “Chúng tôi là nhà tu hành, chúng tôi không biết gì đến việc nhân dân”

    CS bắt 2 vị linh mục phải lên đài phát thanh đổ lỗi cho giáo dân và nông dân, nhưng 2 vị không băÀng lòng. CS đe dọa nếu không tuyên bố như vậy thì sẽ giáng tội cho 2 vị là những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa phản động này. Họ mang hình ảnh Linh mục Tấn bị thủ tiêu ở Phủ Quỳ ra dọa nạt. Cuối cùng, 2 vị phải tuyên bố ngược lại sự thật.
    ******************************
    Dù nhà cầm quyền CS vẫn cố tình che dấu, xuyên tạc cuộc nổi dậy của nhân dân Quỳnh Lưu cho đến ngày hôm nay; dù họ đã dùng bạo lực đàn áp, giết và đày ải hơn 6,000 nông dân trong biến cố Quỳnh Lưu, nhưng tinh thần yêu nước, can trường của người dân các tỉnh miền Trung nói chung, và ở tỉnh Nghệ An nói riêng, đã soi sáng cho các thế hệ sau con đường chính nghĩa để đòi lại tự dọ Người CS rồi sẽ không thể nào dùng những bàn tay giết người che lấp nổi mặt trờịá Những việc làm của họ rồi sẽ được phơi bày ra ánh sáng. nhưng cũng bị công an kéo lê lên xe giải về Hà Nội.

    Ðòi cho bằng được tự do, công bằng, quyền căn bản của con người không thể xem là một cái tội. Dùng bạo lực để áp đặt cho cho một tội danh là gieo nỗi oan khuất cho cả một dân tộc. Nỗi oan khuất đó đã chồng chất đến trời xanh. Nói về những nỗi oan sống dưới chế độ CS thì không biết bao nhiêu mà kể. Với những nỗi oan của những người đã chết, oan khiên đeo nặng những người còn sống, đảng CSVN đã giải quyết ra saỏ Chỉ là sự im lặng.

    Thời gian cũng đủ chứng minh CSVN không thể trả lời. Nhưng người dân VN có thể sẽ tự trả lời khi cao trào thèm khát cuộc sống tự do – dân chủ tới hồi chín mùi. Tiếng trống bi hùng của đồng bào Quỳnh Lưu 41 năm về trước vẫn còn vọng về thúc dục người có lòng ái quốc, thương nòi trong chúng tạá Bài hát vang trong bầu trời Quỳnh Lưu như nhắn nhủ gọi người can trường đi tìm chân lý của cuộc sống: con người sinh ra phải được tự do.

    Tài liệu tham khảo:

    – Trăm Hoa Ðua Nở Trên Ðất Bắc của Hoàng Văn Chí.
    – Cuộc Cải Cách Nông Ngiệp tại Miền Bắc của Võ Trường Sơn.
    – Việt Nam Giáo Sử của Phan Phát Huồn.
    – Cuộc Phiêu Lưu của một Gia Ðình Nông Dân của Thập Lang.

  35. chinhkie permalink

    Tiểu sử : bà Nguyễn Thị Kim Ngân

    Bà Nguyễn Thị Kim Ngân là nữ Chủ tịch QH đầu tiên của Việt Nam.

    Bà sinh năm 1954 tại xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Học vị: Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành tài chính tín dụng, cử nhân Chính trị.

    Bà từng nắm giữ các chức vụ Phó giám đốc Sở Tài chính Bến Tre, Giám đốc Sở Tài chính; Thứ trưởng Bộ Tài chính, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hải Dương.

    Năm 2006, bà là Bí thư Ban Cán sự Đảng, Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại và trở thành Bộ trưởng Lao động – Thương binh và Xã hội (2007-2011).

    Là ủy viên BCH TƯ Đảng khóa 9, 10, 11; đại biểu Quốc hội khóa 12, 13.

    Ngày 23/7/2011 bà được Chủ tịch Quốc hội đề cử làm Phó chủ tịch Quốc hội. Tháng 5/2013, tại hội nghị Trung ương 7 khoá XI, bà được bầu bổ sung làm ủy viên Bộ Chính trị.

    Trong lần lấy phiếu tín nhiệm đầu tiên tại Quốc hội (2014), bà Nguyễn Thị Kim Ngân dẫn đầu về số phiếu tín nhiệm cao với 390 phiếu.

    Bà là ủy viên BCH TƯ khóa 12, ủy viên Bộ Chính trị khóa 12.
    Ngày 31/3/2016, Quốc hội đã bỏ phiếu thống nhất bầu bà Nguyễn Thị Kim Ngân là Chủ tịch QH.

    *** Câu sấm này có lẽ nói về bà NGÂN

    (6) Khi nào O mụ cầm quyền
    Thì dân trăm họ đeo phiền lắm ru

    – Trước đó có bà Bình bà Trương Mỹ Hoa
    nhưng không khổ sở cùng cực như lúc này (Frrmosa) vv…

    – Rước vua về đến Tràng An
    Bao nhiêu nguỵ đảng loài gian diệt tàn

  36. chinhkie permalink

    Bác Thiên nói là chuẩn xác quá rồi… Bĩ cực… rõ ràng nhất qua vụ Formosa nà tần suất ngày 1 tăng cao với dự án bỏ túi riêng 1 mét vuông đất bỏ túi quan từ vài chục đến cả trăm triệu VNĐ, trong khi dân đen chỉ được bồi thường từ vài trăm đến vài ba triệu VNĐ… từ đó dân TA mới biểu tình phản đối, không liên quan đến Việt Tân hay chính trị gì cả, nhưng lãnh đạo lại luôn chụp mũ cho dân là VT, phản động, chống người thi hành công vụ vv… mấy bài trước em có dẫn chứng vào khoảng cuối năm tới 2017 rất có thể là vào tháng 1 âm lịch tức là tháng 11 âm lịch là tháng của quẻ ĐỊA LÔI PHỤC tháng thiên chính (tháng có 1 hào dương sơ hào) sẽ ứng nghiệm câu sấm:

    – Một cơn sấm dậy đất bằng, thánh nhân ra mới cứu hằng sinh linh… dân đen dân đỏ lúc đó sẽ nhận ra và họ chính là những chiến sỹ đi đầu nhất là dân đỏ họ còn SUNG HƠN… cám ơn Bác Thiên, Bác nói rất ít nhưng mọi người phải SUY GẪM rất nhiều…

    Nguyện xin ơn Trời Cao xanh ban phước cho nhà sấm trên Bác Thiên và Bác Kim Quy muôn ơn lành hồn xác…

  37. thientrungnhan permalink

    Chào bạn KimQuy, hiện tượng này đang và sẽ xẩy ra không xa. http://soha.vn/ron-toc-gay-voi-loi-tien-tri-cua-nostradamus-ve-the-gioi-nam-2017-20160916133011074.htm

  38. thientrungnhan permalink

    Quẻ Truân và Bác đã qua, hiện giờ là cực Bĩ vận của dân tộc Việt. Khi cực Bĩ thì dân tộc sẽ thức tỉnh đến tận đáy tầng của xã hội, không còn một lưu luyến về ý thức hệ XHCN CS HCM… trong lòng dân đen lẫn dân đỏ.

  39. chinhkie permalink

    ”lư hương cung vu tổ, kiến Long phi tại thiên”

    – Thật là ấm cúng, lâu lắm mới được Bác Kim Quy
    sưởi ấm, sức khỏe ổn định là mọi người mừng rồi
    vì bất kỳ ai đã vào trang sấm này đều đã để lại ít nhiều kỷ niệm
    khó phai… chẳng hạn bác Nam, thanh long, tiensonphutu, linhnam,
    Hồ Nguyên, van lang, Nambình, Sơn Nguyên, Thầy Bói Online, tieuhan vv…

    – Bác có thể giải nghĩa rõ hơn về câu sấm này được không?

    ”lư hương cung vu tổ, kiến Long phi tại thiên”

    Chúc Bác Kim Quy luôn vui khỏe để nhà SẤM được an tâm…

  40. Cảm ơn Chinkie, sức khỏe năm nay tương đối ổn định.
    Tôi chỉ hiểu sấm tới đó thôi.
    Khi tới hạn kỳ có duyên sẽ ngộ, có những điều trong sấm sờ sờ trước mặt nhiều năm mà chẳng thấy, chẳng hiểu ví dụ như hai câu ” lư hương cung vu tổ, kiến Long phi tại thiên” thì tôi đã hiểu và đã thấy rồi.

  41. chinhkie permalink

    Nếu lánh xa chốn Đông Nam thì mỗi người có tâm thiện VN phải có khả năng PHÁ ĐIỀN Thiên Tử xuất? ha ha… nghĩa là dùng cách thế nào đó đi ra khỏi đất nước đang cư ngụ…

  42. chinhkie permalink

    Xin Kính chào Bác KIM QUY!

    Bác khỏe không sao lâu quá không vào hâm nóng SẤM?
    – Có điều gì nhắn gửi nhà sấm không?
    – Thay đổi nơi Đông Nam Á đến 1 nơi khác không phải ai cũng có khả năng…

    *** Tin tức Bầu cử tổng thống Mỹ

    Bà Clinton đổ bệnh, lời tiên tri của Vanga ứng nghiệm?

    Thứ Tư, ngày 14/09/2016 19:00 PM (GMT+7)

    Sự kiện: Bầu cử Tổng thống Mỹ 2016, Nhà tiên tri Vanga và những chuyện ít biết, Chính trị gia nổi tiếng

    Tổng thống Mỹ Barack Obama có thể tuyên bố thiết quân luật, để tiếp tục là người lãnh đạo nước Mỹ nếu như vì lý do sức khỏe mà bà Hillary Clinton không thể tiếp tục cuộc đua vào Nhà Trắng.
    Bà Clinton có người đóng thế sau khi bị bệnh nặng?
    Cơ sở khoa học về khả năng phi thường của nhà tiên tri Vanga
    Khoa học “bó tay” trước khả năng tiên tri của Vanga
    Bà Clinton đổ bệnh, lời tiên tri của Vanga ứng nghiệm? – 1

    Nhà tiên tri mù Baba Vanga (trái), Tổng thống Mỹ Barack Obama và ứng viên đảng Dân chủ Hillary Clinton.

    Theo Daily Star, những đồn đoán rằng bà Clinton có thể phải rời cuộc tranh cử Tổng thống nổi lên sau khi xuất hiện hình ảnh bà loạng choạng lên xe vì đang viêm phổi trong một buổi lễ tưởng niệm ngày 11.9.

    Nếu việc bà Clinton phải dừng tranh cử vì lí do sức khỏe trở thành sự thật, điều này có thể linh ứng với lời sấm truyền của nhà tiên tri Baba Vanga rằng, ông Obama sẽ là tổng thống cuối cùng của nước Mỹ.

    Nguồn tin trên Daily Star cho biết, Đảng Dân chủ sẽ tổ chức cuộc họp khẩn cấp để thảo luận việc đưa người lên thay thế bà Clinton vì vấn đề sức khỏe.

    Bà Clinton đã hủy các chuyến thăm tới California trong khi cuộc gặp mặt ở Las Vegas hôm thứ Tư cũng chưa được xác nhận.

    Với việc chỉ còn 56 ngày nữa là đến ngày bầu cử, đảng Dân chủ có thể sẽ phải vất vả tìm một ứng viên mới. Điều này càng khiến nhiều người tin vào lời tiên tri của bà Vanga.

    Bà Clinton đổ bệnh, lời tiên tri của Vanga ứng nghiệm? – 2

    Bà Clinton trong lễ kỷ niệm 15 năm vụ tấn công khủng bố ngày 11.9.

    Ngoài ra, thông tin cũng cho biết rằng Quốc hội Mỹ có thể thay đổi ngày bầu cử theo Điều 2 Hiến pháp.

    Nếu đến ngày 3.1.2017 mà các thành viên Quốc hội không đưa ra quyết định, nhiệm kỳ của họ sẽ kết thúc. Điều này có thể tạo điều kiện cho ông Obama trở thành người nắm quyền tuyệt đối.

    Cựu ứng viên tổng thống Ben Carson từng dự đoán cuộc bầu cử năm nay sẽ bị hủy bỏ sớm do tình trạng hỗn loạn bùng nổ.

    Nhà tiên tri mù Baba Vanga được tin là có tỉ lệ dự đoán chính xác tới 85% sau khi tiên đoán về vụ 11.9 và sự trỗi dậy của Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS). Bà Vanga từng tiên đoán tổng thống thứ 44 của nước Mỹ là một người Mỹ gốc Phi và cũng là tổng thống cuối cùng…

    Theo Đăng Nguyễn – Daily Star (Dân Việt)

    + Theo bài viết trên rất có thể 2 nhân vật lớn của Đời và Đạo Kytô sẽ bắt tay nhau cùng với các nhà lãnh đạo thế giới khác để áp đặt về CON CHÍP trong thời gian tới của năm 2017 (obama care)

    Obama + với Tiên Tri giả sẽ bắt buộc dân Mỹ trước về cấy chíp trên tay phải hay trên trán… xin xem (Khải huyền chương 13/1-18)… sau đó là các nước trên thế giới…

    – TAM HIỂM là nơi những nơi nào ở VN?

  43. Chào bác Thiên và Chinkie, đã lâu không gặp. Hy vọng mọi người vẫn khỏe.
    Chốn đông nam nhiều phen tàn tặc
    Lánh cho xa kẻo mắc binh đao
    Chớ có tham tước tham giàu
    Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân

    Đông nam= Đông Nam Á

  44. chinhkie permalink

    Có 2 ý cho câu này:

    1) Cá Đặc 0 phải đặt, đặc là vì nhiều người 0 dám ăn cá, hải sản nên cá dày đặc, ngư dân miền Trung thất nghiệp dẫn đến đói kém, túng thiếu cùng cực cuộc đời lao đao…

    2) Cá đặt như Bác nói thì cũng dẫn đến xung đột khiến dân chúng lầm than lao đao vì TẦU KHƯA NẶNG KHỰA…

    + Thánh thì không NỔ, không ham danh lợi vv… những kẻ ham danh hoặc DỐT mới nôn nóng khoe mình, Thánh hay bất kỳ ai có TÂM TỐT LÀNH thì chỉ ngĩ đến quyền lợi hạnh phúc của đồng bào của mọi người, làm thiên tử, làm thánh nhân quả là vất vả, lao tâm khổ tứ gian nan khổ hạnh, chẳng tham làm chi cho hại thân… Ai không được Trời định ngôi mà xông xáo bừa bãi chẳng những trở nên kẻ hại người mà còn hại ngay chính mình và con cháu người thân vv…

  45. chinhkie permalink

    Kính chào Bác Thiên!

    Đúng như nhận định của Bác, có lẽ phải thêm quẻ Bác, quẻ Truân vv là những quẻ cùng với quẻ BĨ… VN chúng ta đang trải qua gian nan khổ ải vv đây chính là cuộc thi cho đồng bào VN.

    – Tuy khổ cùng cực như thế nhưng ông Trời đã cho chúng ta có các vị tổ tiên vua chúa anh minh ngàn xưa sẽ về với con cháu trong vinh quang (cám ơn Trời cao và cám ơn tiên tổ VN cũng là thần thánh tiên phật đã thương con cháu mà gần đây qua mạng Internet đã soi dẫn cho các dòng họ như ĐỖ, NGUYỄN vv họ đã viết lên gia phả nên chúng ta mới biết được tổ tiên Việt Cổ đã đtược con cháu tôn lên hàng thần thánh tiên phật, Ngọc Hoàng, cho dù theo đạo nào đi nữa chúng ta cũng phải kính trọng tổ tiên đã có công tu luyện để hoàn thiện bản thân và giáo hóa dạy dỗ con cháu nên người hữu ích cho gia đình, cộng đồng, dân tộc, đất nước vv tổ tiên VN chúng ta đã hoàn thành Ý của ông Trời 1 cách tốt đẹp sdáng ngời tình yêu thương… đặc biệt tổ tiên VN ta ĐA SỐ không dối trá lừa đảo cướp công cướp nước cướp văn hóa của dân tộc khác như đa số tổ tiên và lãnh đạo nước khác như Trung Hoa bành trướng… Khải Huyền chương 12 Chúa Trời đã nói lên đa số dân Trung Hoa Rồng đỏ đã bất chấp sự thật từ thời xa xưa đến nay lúc nào cũng lăm le rình chực chực xâm chiếm và diệt chủng các nước láng giềng trong đó VN chúng ta là bị nặng nề nhất…

  46. thientrungnhan permalink

    “Mười phần chết bẩy còn ba…” chết gần hết rồi mới thức tỉnh, thánh nào mà lộ diện lúc này chẳng phái chân Thánh, tự xưng thánh là tà thánh.

  47. thientrungnhan permalink

    “Biển Đông cá đặt” hay là cá hêt nhỉ?. Bọn Tầu vơ vét hêt cá ở biển Đông là xâm phạm đến xung đột các nước khác, lúc đó thì cuộc đời lao đao

  48. chinhkie permalink

    Trong sấm Trạng Trình cũng có Bảo Giang và bảo sơn thiên tử xuất vv…

    “Bốn phương cùng động can-qua,
    Tìm cho được chốn Tam-Hòa bảo thân.
    Có lời nhắn khách tu chân,
    Đừng ngơ-ngác giữa đàng trần mà nguy.
    Cuộc thế suy, lòng người suy,
    Đông Nam đại loạn chia ly muôn phần.
    Lửa trời hực cháy rần rần,
    Hồng-thủy nước xoáy, xoay vần càn khôn.
    Tìm cho đến Bảo-giang môn,
    Là nơi Chúa Thánh Chí -Tôn tọa thiền.
    Cầu xin được phép diệu-huyền,
    Hài-vân thoăn-thoát đến miền Đế-kinh.
    Đợi thời trăng lặng bể kinh,
    Long-Hoa thành-tựu phỉ-tình ngao-du”.

    + Có lẽ Tam Hòa chính là chốn Bảo Giang
    là nơi Thanh Oai Hà Tây, Hà Đông, Tam Đảo Ba Vì…

    – Bảo Giang Môn chính là nơi xuất thân của Tổ tiên Việt
    tại Ba Vì, Hà Đông, Hà Tây, Sơn Tây…

    +++ Trạng Trình:

    Lại nói sự Hoàng-giang sinh Thánh,
    Sông Bảo-giang Thiên định ai hay?

    Hoặc là:

    Trí xem nhiệm nhặt cho tường,
    Bảo-giang Thánh xuất Trung-ương thuở này.

    Hay là:

    Bảo-giang Thiên-tử xuất,
    Bất chiến tự-nhiên thành.

    – Tóm lại dưới cái nhìn của Phật giáo
    với cách giải thích theo nhà Phật thì chúng ta
    đã nhận ra 4 châu ngày xưa năm trên trái đất
    cũng từ đó chúng ta tim ra Tây phương Cực Lạc
    ở ngay đất Việt cổ xưa với Tây ngưu hóa châu
    (người Việt xưa cũng như nay vv thường buôn bán
    trao đổi bằng TRÂU, BÒ, NGỰA vv… (NGƯU)..
    – Dưới lăng kinh nhà Phật chúng ta
    đã có lời giải rất nhiều về sấm Trạng vv…

    Bài thơ đố ai biết Bảo giang môn của Trúc Lâm Nương
    đã giải, chúng ta khẳng định:

    – BẢO GIANG MÔN là nơi xuất thân của tổ tiên Việt Cổ nói trên
    cũng từ đây chúng ta khẳng định Bảo Giang và Bảo Sơn cũng là nơi
    Ba Vì, Tam Đảo, Hà Đông, Hà Tây, Tây Vực, Thanh Oai…

    + Xin nói thêm về Bắc Cu Lô Châu:
    Theo nhà Phật thì nơi châu này con người sống đến khoảng 1 ngàn tuổi…
    – Lần giở Kinh Thánh Cựu Ước, sách Sáng Thế Ký (Khởi Nguyên)
    với chương 5 vv chúng ta nhận thấy tuổi của những người theo Đạo Đức Chúa Trời…
    ở Trung Đông… họ không theo Phật Pháp vv tuổi thọ rất cao vào thời xa xưa:

    *** Sáng Thế Ký chương 5

    3 “Ađam sống được một trăm ba mươi năm thì đã sinh con theo mường tượng của ông, như hình ảnh ông. Và ông đã gọi tên nó là Set. 4 Ngày đời Ađam, sau khi sinh ra Set, là tám trăm năm. Ông đã sinh con trai con gái. 5 Tất cả ngày đời Ađam đã sống là Chín Trăm Ba Mươi Năm. Ðoạn ông chết…………

    ……. 25 Mathusalem sống được một trăm tám mươi bảy năm thì đã sinh ra lamek. 26 Sau khi sinh ra Lamek, Mathusalem đã sống bảy trăm tám mươi hai năm. Ông đã sinh con trai con gái. 27 Tất cả ngày đời của Mathusalem là Chín Trăm Sáu Mươi Chín Năm. Ðoạn ông chết….”

  49. thientrungnhan permalink

    đúng vậy, Bạn cứ quan sát rồi ngẫm nghĩ xã hội Việt hiện nay ra sao, như thế nào?. Vận nước đang cực bĩ. Xem các hào của quẻ Bĩ.

  50. chinhkie permalink

    Phục Hy là Tổ tiên cổ Việt Nam, Ngài chính là Phật A di đà cách chúng ta khoảng 7 ngàn năm, ngài bị Hiên Viên phản bội giêt chết (sẽ nói thêm nguồn gốc)… Ngài ở Ba Vì, Thanh Oai, Hà Đông, Hà Tây, Ngài lập ra nhà nước CỰC LẠC

    – Đoan Trang công chúa Đỗ Quý Thị còn gọi là Vụ Tiên) là vợ của Nguyễn Minh Khiết (đế Minh_ làm vua phương Nam, Nguyễn Nghi Nhân (Đế Nghi, Đế Nghiêu) là em sinh đôi với Minh Khiết làm vua phương Bắc (nước SỞ) Nguyễn Long Cảnh con thứ 3 là chú ruột của Lộc Tục (Kinh Dương Vương)

    – Nguyễn Minh Khiết là con cả của Đế Thừa (Sở Minh Công)
    – Nguyễn Nghi Nhân thứ 2
    – Nguyễn Long Cảnh thứ 3
    + Nước Sở có gốc từ làng SỞ ở VN

  51. chinhkie permalink

    (Trúc Lâm Nương)

    Đố ai biết Bảo-giang môn?
    Là nơi Thánh-địa Thiện-tôn định phần.
    Làu làu ngọc chiếu cảnh trần,
    Là nơi Tiên, Phật, Thánh, Thần xuất thân.
    Xuất kim thân, hóa kim thân,
    Ly nơi Đồng thổ xoay vần Tây-phương.

    + GIẢI THÍCH MỚI

    – Bảo Giang Môn là nơi chốn Tây Phương Cực Lạc
    hiện nay thuộc Hà Đông Hà Tây, Thanh Oai Tp Hà nội

    – Đây là nơi tổ tiên Việt cổ sinh sống, Bà Trúc Lâm Nương đã
    xác định tổ tiên VN là Tiên, Phật, Thánh, Thần xuất thân

    +++ 1 giải thích rất hay đáng lưu ý để nghiệm thêm về sấm Trạng sau đây:

    – Khi ta biết rõ đường mình đi, và những gì giúp cho mình đạt được mục đích,
    sứ mạng thiêng liêng phục vụ con người thì ta mới bắt đầu biết bảo vệ KIM THÂN.

    *** Vậy Kim Thân là gì???

    – Kim Thân là thân thể quý báu vì đã mang trong người một sứ mạng để phục vụ.

    – Kim Thân cũng là người mà không là người, giống hệt như người mà đồng thời không phải như người.

    – Kim Thân là người của Phật, người thi hành sứ mạng do Phật giao phó để phục vụ cho quyền lợi con người, giúp con người tìm lại cội nguồn của mình, giúp con người thoát họa diệt vong của loài quỷ dữ đang hoành hành mặt đất.

    Quỷ dữ là những người mang khối âm càng ngày càng nhiều. Kim Thân là những người mang ánh sáng, quỷ dữ là những người mang bóng tối.

    Kim Thân phải có nội lực, sinh lực, khí lực và tâm lực mạnh để khối ánh sáng tỏa ra đẩy lui bóng tối.

    Ánh sáng càng mạnh bóng tối càng mạnh mẽ tràn lan để tiêu diệt, bao trùm ánh sáng.

    Kim Thân phải càng mạnh, càng phải làm việc nhiều hơn để chia sẻ ánh sáng đó, thắp thêm nhiều ngọn đèn khác để cùng nhau làm việc. Ánh sáng tỏa ra càng rộng, càng mạnh, càng ngày càng có nhiều ánh sáng được thắp lên khắp nơi để quân bình cho địa cầu này.

    + Chúng ta có thể hiểu xuất Kim Thân là nói về sứ mạng của các vị thần tiên thánh Phật đã được tiền định còn hóa Kim Thân chúng ta có thể hiểu là nói về ỨNG THÂN của những vị tiên phật này vv đã đem sứ mạng của thân mình vào thân xác con người để giáo hóa, giúp đỡ chúng sanh…

    * Chúng ta trong bài thơ có từ Đông Thổ… ở đây Đông Thổ ám chỉ nước Đại Đường Trung Quốc ngày xưa bây giờ là Trung Quốc…

    – Còn Tây Phương (ám chỉ vùng Tây vực, chùa Tây Phương và chùa Cực Lạc ở Hà Đông, Hà Tây vv… Tây Phương cực lạc không phải ở ngoài trái đất mà chính là vùng đất đẹp huyền diệu thanh thoát nói trên xưa kia đầy hoa thơm cỏ lạ, trái ngọt vv…
    + ĐÔNG THỔ chính là Đông Thắng Thần Châu 1 trong tú châu thuộc Trung Hoa ngày nay

    + Tây Ngưu hóa châu chính là vùng Quảng Đông Quảng Tây trở đến sát Quảng Nam VN ngày nay… nơi Tây Phương cực lạc
    + Nam Thiệm Bộ Châu (nơi có cây Dâm Bụt nư VN) đó là Ấn Độ.
    + Bắc cu lô châu: đây là nơi Trung Đông hay Tây Á đa số là nơi không thờ Phật (không có phật pháp) không có địa ngục đó là Do Thái và các nước Ả rập theo Hồi Giáo thờ thánh ALA… 3 châu trên có địa ngục âm ty do phật làm HỘ PHÁP

  52. chinhkie permalink

    Trúc Lâm Nương…

    Bão tố đầy trời ngoại xứ Âu,
    Nước tràn lợp đất đổ nghiêng bầu.
    Đau lòng bạt gió chim sa bẩy,
    Não dạ mê mồi cá mắc câu.
    Rồng lộn sông vàng mây tái mặt,
    Sấm rền rừng thẳm núi tơi đầu.
    Việt-Nam tỏ rạng màu Anh Thánh,
    Rưới đức năm châu, chủ bá hầu.

    – Tạm giải thích:

    Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc…
    Các chầu này gặp đầy tai ương chiến tranh, thiên tai, luc lụt HỒNG THỦY
    (nƯỚC TRÀN LỢP ĐẤT ĐỔ NGHIÊNG BẦU)
    – Chim sa bẫy (có lẽ ám xhỉ Mỹ HOA KỲ)
    – Rồng lộn (ám chỉ Trung Cộng)
    – Sông VÀNG (ám chỉ Lãnh hải lãnh địa của VN)

  53. chinhkie permalink

    (SƯU TẦM)

    Chào Thầy ONLINE!

    – Trang Sấm này đâu có ai nói ông Thánh Nhân THAM CHIẾN hồi nào đâu?

    GIẢI MÃ SẤM TRẠNG TRÌNH: Nhận định tình hình Việt Nam năm 2015
    Posted by Luu HoanPho, Apr 10, 2016, Comments Off
    ________________________________________

    Khi nào đảng Cộng Sản Việt Nam do ông Hồ Chí Minh lảnh đạo sụp đổ hoàn toàn?
    Câu hỏi trên sẽ dựa trên bộ môn LÝ SỐ HỌC HÀ LẠC của nền văn hóa Dịch Lý cổ xưa mà chỉ ra con đường ta phải đi để có đối sách với Phương Bắc và hóa giải các mâu thuẩn đến từ Đông Tây. Nghĩ cũng cần thưa: Lý số học Hà Lạc là một môn toán nghiên cứu cái lý số nằm trong các con số Âm Dương “Tiên Rồng Trăm Trứng”.
    Đây là một môn học khách quan, vì nó là môn đạo học dựa trên các con toán số. Chính nhờ môn này mà xưa cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dựa vào đó mà toán ra và nói lên những lời tiên tri thế cuộc để đời, như cụ đã nói trong mời mở đầu sấm ký của cụ:
    Nước Nam từ thuở Hồng Bàng
    Đổi thay cuộc thế thời gian chuyển vần
    Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
    Đã bao lần vận nước đổi thay
    Núi sông Thiên Định đặt bày
    Đồ Thư một quyển xem ngay mới rành
    Tài tiên tri của cụ được lưu truyền qua nhiều câu sấm ký gọi là “Sấm Trạng Trình”. Cụ được xem là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến quốc hiệu Việt Nam. Cụ để lại cho đời một di sản văn hóa đồ sộ, trăm bài thơ văn với giá trị nhân đạo, giàu chất triết lý. đầy tình yêu nước và là kho tàng minh triết cho muôn đời sau.
    Thì với Biển Đông, cụ Trạng cũng có lời tiên tri dạy rằng:
    Biển Đông vạn dậm giang tay giữ
    Đât Việt muôn năm vẫn trị bình
    Chí những phù nguy xin gắng sức
    Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình
    Với con mắt chiến lược, nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm, Trạng Trình đã khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông, thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.
    Để biết được một chế độ từ lúc nắm chính quyền cho đến thời điểm suy và sụy đổ, ta phải áp dụng và giải mã lời tiên tri của cụ Trạng, và cụ đã nói: “Một câu là một nhiệm mầu”. Lấy 3 câu trong 483 câu sấm.
    Câu số:
    116. Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
    117. Chữ rằng lục thất nguyệt gian
    118. Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
    Trong 3 câu, chỉ lấy ra một câu để giải mã
    câu 117 Chữ rằng Lục Thất nguyệt gian
    Ẩn ý chữ Lục Thất là gì?
    Lục là số 6, thất là số 7, tổng số là 13. Số 13 gọi là Lục Thất. Ẩn ý nói thời gian hưởng được 13 năm.
    Tiếp tục lấy 3 câu sấm khác. Câu
    395. Canh niên tàn phá
    396. Tuất Hợi phục sinh
    397. Nhị Ngũ dư bình
    Ba lời tiên tri cũng lấy ra câu 397 để giải mã, để biết được thời gian suy và sụp đổ.
    Nhị Ngũ là gì? Nhị là số 2, ngũ là số 5. Hai số 5 là số 10. Ẩn ý nói, thời gian 10 năm mới là thời gian suy và sụp đổ.
    Tổng số thời gian của một chế độ kéo dài bao nhiêu. Số thời gian đó đem chia cho số 13, ta biết được số Lục Thất được hưởng của chế độ.
    Để chứng minh và áp dụng từ nhà Hậu Lê
    NHÀ HẬU LÊ
    Lê Lợi xưng vương năm 1428 và truyền đến vua Chiêu Thống tức là Mẫn Đế thì hết. Nhà Hậu Lê làm vua kể cả tiền Lê được 360 năm. Năm (1428 đến 1788).
    Lấy 360 năm chia cho 13 được 27 Lục Thất tức là 13 x 27 = 351 năm. Nhà Hậu Lê hưởng được 351 năm thì bị suy. Tức năm 1428 + 351 = 1779. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong. 1779 + 10 = 1789.
    NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN
    Nguyễn Nhạc xưng vương năm 1779. Nhà Nguyễn Tây Sơn hưởng được một Lục Thất 13 năm thì bị suy, tức năm 1779 + 13 = 1792, trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong tức năm 1792 + 10 = 1802.
    NHÀ NGUYỄN GIA LONG
    Gia Long xưng vương năm 1802, hưởng được 11 Lục Thất, tức 13 x 11 = 143 năm thì bị suy tức 1802 + 143 = 1945. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong 1945 + 10 = 1955 (ngày 23 tháng 10 Bảo Đại bị dân truất phế.)
    NHÀ HỒ
    Hồ chí Minh cướp chính quyền nhà Nguyễn, vua Bảo Đại năm 1945. Nhà Hồ hưởng được 5 Lục Thất tức 13 x 5 = 65 năm bắt đầu suy tức năm 1945 + 65 = 2010. Trong 10 năm Nhị Ngũ vong 2010 + 10 năm = 2020.
    Canh Dần 2010
    Tân Mẹo 2011
    Nhâm Thìn 2012
    Quý Tị 2013
    Giáp Ngọ 2014
    Ất Mùi 2015
    Bính Thân 2016
    Đinh Dậu 2017 (Cộng Sản sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017 ứng theo Sấm Ký Thân Dậu)
    Mậu Tuất 2018
    Kỹ Hợi 2019 (Tuất + Hợi phục sinh)
    Canh Tý 2020
    Sau khi áp dụng 2 câu sấm ký của cụ Trạng để chứng minh 3 triều đại Quân Chủ của nước Việt Nam, từ nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long, từ khi xưng vương cho đến khi suy và sụp đổ, tôi đã thấy đúng và chính xác theo sử liệu Việt Nam. Do đó, tôi khẳng định rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện đang nắm chính quyền sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017, và sự sụp đổ như thế nào?chờ thấy mới biết, không giải thích. Ứng với câu sấm “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”.
    Sau khi Cộng Sản sụp đổ, chế độ mới lên thay thế dưới sự lảnh đạo của một đấng Minh Quân tài đức vẹn toàn và mang lại cho dân tộc Việt Nam một đời sống tự do, ấm no và hạnh phúc muôn đời.
    Tôi là một HO thầm lặng bình thường, không phải là một nhà bình luận. Không phải nhà chính trị, không phải nhà văn, không phải nhà báo. Nhưng tôi cũng yêu quê hương tôi, yêu dân tộc tôi. Tôi nói lên những điều mà tôi hiểu và biết cho tất cả mọi người Việt Nam giảm bớt sự âu lo, và đất nước Việt Nam không mất một tấc đất nào cho bọn bành trướng Bắc Kinh, dù trong đất liền hay ngoài các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hiện nay, bọn bành trướng đã làm những gì mà người Việt chúng ta nhìn thấy. Bọn chúng sẽ giao lại cho người Việt Nam sau này.

    Tác giả HO Mai Xuân Tấn
    More Stories From Văn Hóa

  54. chinhkie permalink

    Đúng rồi… Bất chiến như Trạng… đi tìm xem sao?

  55. Thầy Bói Online permalink

    TBO tôi vẫn bảo lưu ý kiến chủ quan rằng nếu Thánh Nhân có thật thì chắc chắn sẽ giải quyết êm xuôi cái chuyện Bất Chiến tự nhiên thành. Còn chuyện xuất quân thì cái đó nó là: rung cây doạ khỉ. Mà khỉ nó sợ thật luôn. Nói chung quân có xuất mà bất chiến vẫn được. Thế mới xứng tài Thánh Nhân mà Trạng Trình nhắc tới. Còn dùng chiến tranh để được chiến tranh thì tuy cũng có thể là anh hùng đấy, nhưng đích thực không phải Thánh Nhân kia rồi.

  56. chinhkie permalink

    SƯU TẦM (Quan thời mảng tháo cùng sinh hại đời)…

    8 giờ ·
    KHÁNG THƯ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỘC LẬP
    VỀ VIỆC NHÀ CẦM QUYỀN CƯỠNG CHẾ VÀ PHÁ HŨY CHÙA LIÊN TRÌ

    Vào lúc 7 giờ sáng ngày 08-09-2016, nhà cầm quyền Quận 2, thành phố Sài Gòn đã huy động xe cứu thương, xe cứu hỏa, xe phá sóng và 50 xe ô-tô chở khoảng 500 nhân viên thuộc nhiều ban ngành (công an đa phần mặc thường phục), trang bị súng ống, dùi cui, roi điện, bình hơi cay, phá cổng xông vào chùa Liên Trì ở khu đô thị mới Thủ Thiêm. Họ dùng loa phóng thanh đọc cái gọi là “lệnh cưỡng chế” rồi lục soát mọi căn phòng, đồng thời cấm người trong chùa điện thoại, quay phim, chụp ảnh. Đang khi đó, với không ít lực lượng hung dữ, họ phong tỏa mọi con đường đến chùa (thậm chí canh giữ từ xa và từ cả mấy hôm trước) để ngăn chận mọi hành động hiệp thông và phản đối (cụ thể của Hội đồng Liên tôn Việt Nam sáng ngày 08-09)
    Theo ghi nhận tức thời, Hòa thượng Viện chủ Thích Không Tánh đã dứt khoát từ chối đề nghị “bồi thường” và “hoán đổi” đưa ra trước đó nhiều lần của nhà cầm quyền, cũng như không ký vào bất cứ giấy tờ nào của lực lượng cưỡng chế. Các vị sư khác trong chùa thì tọa kháng để phản đối cách bất bạo động.
    Lợi dụng việc Hòa thượng Viện chủ ngất xỉu do phẫn uất trước hành vi ngang ngược và phải đem đi cấp cứu (có sự tháp tùng của Thượng tọa Trú trì), nhà cầm quyền đã buộc các vị sư còn lại cùng chuyển các hũ tro cốt và đồ đạc lên xe đưa về Cát Lái xa xôi, tống vào ngôi nhà hẻo lánh mà họ đã xây để hoán đổi nhưng hoàn toàn không có công năng của một ngôi chùa. Nay thì chùa Liên Trì đã bị hoàn toàn phá hủy.
    Như thế là một cơ sở của Phật giáo có giá trị văn hóa lâu đời (hơn 70 năm), có ảnh hưởng tâm linh quan trọng (nơi vô số Phật tử đến lễ bái kinh kệ và gởi tro cốt cầu siêu), có đóng góp nhân quyền kiến hiệu (làm chỗ tá túc cho dân oan khiếu kiện, chỗ an ủi cho thương binh VNCH, chỗ sinh hoạt cho các tổ chức xã hội dân sự độc lập) đã hoàn toàn bị xóa sổ sau nhiều cơ sở tôn giáo tại địa bàn Thủ Thiêm, để nhà cầm quyền tiến tới việc xây dựng một khu đô thị mới, tự hào sẽ hiện đại nhất Đông Nam Á, sạch bóng mọi dấu vết tôn giáo tâm linh, đúng theo tâm địa vô thần duy vật.
    Trước sự việc đau thương và bất nhẫn này, các tổ chức xã hội dân sự độc lập ký tên dưới đây tuyên bố:
    1- Nhiệt liệt hoan nghênh và cảm phục Hòa thượng Thích Không Tánh cùng chư tăng chùa Liên Trì -trong tình thế căng thẳng ấy- đã tỏ ra bất khuất khi quyết liệt từ chối tự di dời chùa, từ chối nhận tiền bồi thường và không chấp thuận hoán đổi, để bảo vệ sự tồn tại rất cần thiết của cơ sở Phật giáo lâu năm này, sự tự do tôn giáo rất quan trọng giữa lòng xã hội, và để bảo đảm nhu cầu tâm linh rất chính đáng của cư dân khu đô thị mới.
    2- Cực lực phản đối nhà cầm quyền Cộng sản VN từ trung ương tới địa phương đã dựa vào một nguyên tắc được hiến định và luật hóa nhưng hoàn toàn phi lý và ngang ngược: “Đất đai, tài nguyên… do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Hiến pháp đ. 53, Luật Đất đai điều 5), để tự tiện trục xuất người dân (cá nhân hay tập thể) khỏi nơi cư trú và sinh hoạt, mà đa phần vì lý do kinh doanh, lợi ích tài chính, gây nên thảm trạng dân oan lên tới hàng triệu người. Não trạng bất nhân và bất công, độc đoán và độc địa này phát xuất từ hành động cướp chính quyền từ tay nhân dân cách đây 71 năm, tước bỏ mọi nhân quyền lẫn dân quyền từ đó cho tới hiện giờ, và tước đoạt nhiều mảng đất đai của Tiên tổ mà dâng cho ngoại bang để hy vọng giữ vững quyền lực.
    3- Nghiêm khắc nhắc nhở những kẻ cướp đoạt tài sản nhân dân –và qua đó chà đạp tự do tôn giáo– trong bộ máy cai trị rằng: nhân nào sinh quả ấy, mọi hành vi tội ác thế nào cũng bị trừng phạt; và rằng kháng thư này là một trong những hồ sơ của bản cáo trạng mà nhân dân và lịch sử dành cho đảng và nhà cầm quyền Cộng sản trong tòa án công lý tương lai. Bản cáo trạng này mới đây còn được nối dài thêm tội ác cướp đoạt quyền của nhân dân được sống trong môi trường an lành và Tổ quốc được có một lãnh hải an ninh, qua việc nhà cầm quyền góp tay với Formosa Trung Quốc làm nhiễm độc biển.
    4- Tha thiết kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ đặt lại Việt Nam vào Danh sách các Nước cần Quan tâm đặc biệt (CPC) vì những vi phạm quyền con người, nhất là quyền tự do tôn giáo một cách liên tục, và vì những chủ trương tìm kiếm lợi nhuận cho phe đảng cách phi pháp. Chúng tôi cũng kêu gọi mọi chính phủ dân chủ năm châu hãy có những biện pháp chế tài đối với chế độ bóc lột và đàn áp nhân dân tại Việt Nam.
    Làm tại Việt Nam ngày 11 tháng 09 năm 2016
    Các tổ chức xã hội dân sự độc lập đồng ký tên:
    1- Bạch Đằng Giang Foundation. Đại diện: Thạc sĩ Phạm Bá Hải.
    2- Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN. Đại diện: PGS TS Hoàng Dũng
    3- Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: Giáo sư Phạm Xuân Yêm
    4- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Tiến sĩ Nguyễn Quang A
    5- Hiệp hội Đoàn kết Công nông. Đại diện: Mục sư Đoàn Văn Diên
    6- Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo VN. Đại diện: Ông Nguyễn Bắc Truyển
    7- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Mục sư Nguyễn Trung Tôn
    8- Hội Bảo vệ Quyền Tự do Tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân.
    9- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng.
    10- Hội Cựu tù nhân Lương tâm. Đại diện: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế
    11- Hội đồng Liên tôn Việt Nam. Đại diện: Các Đồng chủ tịch: Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Linh mục Phan Văn Lợi, Chánh trị sự Hứa Phi, Nhân sĩ Lê Văn Sóc, Hòa thượng Thích Không Tánh.
    12- Hội Giáo chức Chu Văn An. Đại diện: Thầy Vũ Mạnh Hùng.
    13- Hội Người dân Đòi quyền sống. Đại diện: Bà Hồ Thị Bich Khương
    14- Hội Nhà báo Độc lập. Đại diện: Tiến sĩ Phạm Chí Dũng
    15- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Lm Nguyễn Văn Lý và Ks Đỗ Nam Hải
    16- Mạng lưới Blogger Việt Nam. Đại diện: Bà Phạm Thanh Nghiên
    17- Người Bảo vệ Nhân quyền. Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ.
    18- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền: Linh mục Nguyễn Hữu Giải
    19- Nhóm Từ đảng. Đại diện: Ông Vi Đức Hồi
    20- Phong trào Liên đới Dân oan. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh
    21- Sài Gòn báo. Đại diện: Linh mục Lê Ngọc Thanh
    22- Tổ chức Bảo vệ Tôn giáo và Sắc tộc. Đại diện: ông Huỳnh Trọng Hiếu
    23- Tổ chức Tập hợp Vì Nền Dân chủ. Đại diện BS Nguyễn Quốc Quân.
    Các tổ chức chính trị đồng ký tên
    1- Đại Việt Quốc Dân Đảng. Đại diện: Ông Trần Trọng Đạt, Chủ tịch
    2- Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đại diện: Ông Lê Thành Nhân, Chủ tịch Hội đồng Chấp hành TƯ

    Nguồn: Phan Van Loi

  57. chinhkie permalink

    KHẢI HUYỀN (bổ túc về CON RỒNG ĐỎ và các THIÊN THẦN, THIÊN SỨ phe của con Rồng Đỏ)
    đã ỨNG NGHIỆM 100% chương 12 sách Khải Huyền… Xin đọc kỹ câu 7 – 12)

    (Khải Huyền) – Chương 12 –

    IV. Con Rồng. và Con Trai

    1. Ðiềm Lạ: Người Nữ Và Con Rồng

    1 Một dấu lạ vĩ đại hiện ra trên trời: một Bà có mặt trời bao quanh, chân trên mặt trăng, và đầu có triều thiên mười hai sao. 2 Bà đang thai nghén, và kêu la đau đớn, quằn quại sinh con. 3 Rồi một dấu lạ khác hiện ra trên trời: Kìa, con Rồng lớn màu hung lửa, có bảy đầu và mười sừng, và trên bảy đầu, bảy vương miện. 4 Và đuôi nó quét sạch một phần ba tinh tú trên trời mà xô chúng xuống đất. Và con Rồng đứng chực trước mặt Bà sắp sinh con, để Bà vừa sinh, là nó nuốt con Bà. 5 Và Bà đã sinh con, một Con Trai, Ðấng sẽ lấy trượng sắc chăn dắt các dân hết thảy. Và con Bà đã được cất bổng lên nơi Thiên Chúa, lên ngai của Người. 6 Và Bà đã trốn vào sa mạc; ở đó, đã có chỗ Thiên Chúa dọn sẵn cho Bà để được cung dưỡng 1260 ngày.

    … 7 Và đã xảy ra đại chiến trên trời. Mikael và các Thiên thần của Ngài giao chiến với con Rồng; và con Rồng và các Thiên thần phe nó nghinh chiến. 8 Nhưng nó không có sức cự lại; chỗ của chúng không còn gặp thấy trên trời. 9 Và nó bị xô nhào xuống, con Rồng lớn, con rắn thái sơ, gọi là Quỉ, là Satan, kẻ mê hoặc toàn thể thiên hạ. Nó đã bị xô nhào xuống đất, và các Thiên thần phe nó cũng bị xô nhào xuống làm một với nó…

    10 Và tôi đã nghe có tiếng lớn trên trời, rằng:
    “Nay đã thành sự
    toàn thắng, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa ta,
    và quyền bính của Ðức Kitô của Người,
    vì nó đã bị xô nhào xuống, kẻ cáo tội anh em ta,
    kẻ cáo tội họ ngày đêm trước nhan Thiên Chúa.
    11 và họ đã thắng được nó, nhờ máu Chiên Con,
    và nhờ lời đoan chứng của họ,
    họ đã không ham sống sợ chết,
    12 Vì lẽ ấy, hãy hân hoan, hỡi các tầng trời,
    và các người ở nơi ấy!
    Khốn cho đất và biển!
    vì quỉ đã xuống với các ngươi, mang theo một mối căm hờn vĩ đại,
    vì biết rằng nó chỉ còn ít buổi nữa thôi”.

    13 Và khi con Rồng thấy mình đã bị xô nhào xuống đất, thì nó đuổi theo Bà đã sinh con trai. 14 Và đã ban cho Bà hai cánh đại bàng mà bay vào sa mạc, đến chỗ dọn cho Bà; ở đó Bà được cung dưỡng một thời, hai thời, và nửa thời, xa tầm con rắn. 15 Con rắn mới phung tự mỏ nó nước chảy như sông đằng sau Bà, cho Bà chết trôi sông. 16 Nhưng đất đáp cứu Bà: Ðất đã há miệng nó mà hớp cạn dòng sông mỏ Rồng phun ra. 17 Và con Rồng tức tối với Bà, thì đi tuyên chiến với các người khác thuộc dòng giống Bà, những kẻ nắm giữ lịnh truyền Thiên Chúa và có nơi mình chứng của Ðức Yêsu.

    2. Hai Mãnh Thú

    Mãnh thú thứ nhất
    18 Và nó đứng trên bãi biển.

    + Nếu đọc kỹ Khải Huyền chương 12 câu 7 – 12 chúng ta thấy PHÁN QUYẾT của trọng tài Quốc Tế hôm 12/7 năm 2016 vừa qua về ĐƯỜNG LƯỠI BÒ mà Kẻ bị vạch mặt chỉ tên là TRUNG CỘNG RỒNG ĐỎ đã hoàn toàn ỨNG NGHIỆM lời TIÊN TRI vĩ đại đã nói cách đây khoảng 2000 năm… thế giới này là TRỜI mà TC bị hất xuống 1 cách nhục nhã không khác gì từ trên TRỜI bị hất xuống đất… có ít nhất 3 thiên thần thiên sứ theo phe TC đó là
    1) Campuchia
    2) Lào
    3) Thái Lan… cũng bị thế giới XÔ NHÀO làm một với TRUNG CỘNG ĐỎ
    – Thật là THÚ VỊ khi chúng ta đọc phán quYết của tòa trọng tài quốc tế hôm thứ ba ngày 12/7/2016
    trùng hợp với chương 12 sách Khải Huyền mà (câu 7) của chương 12 sách Khải Huyền lại tương ứng với (tháng 7) năm 2016… các tháng tiếp theo là tháng 8 đến tháng 12 chúng ta có thể áp dụng trong năm nay 2016… các tháng này nói lên sự THẤT BẠI NHỤC NHÃ NẶNG NỀ của RỒNG ĐỎ KHỔNG LỒ TRUNG CỘNG như và sự CHIẾN THẮNG của những người công chính cùng với SỰ CĂM THÙ của TC.

    + Câu 8 áp dụng cho:
    -Tháng 8) Nhưng nó không có sức cự lại; chỗ của chúng không còn gặp thấy trên trời.
    + Câu 9 áp dụng cho:
    -Tháng 9) Và nó bị xô nhào xuống, con Rồng lớn, con rắn thái sơ, gọi là Quỉ, là Satan, kẻ mê hoặc toàn thể thiên hạ. Nó đã bị xô nhào xuống đất, và các Thiên thần phe nó cũng bị xô nhào xuống làm một với nó…

    Câu 10 đến câu 12 áp dụng cho:
    – Tháng 10 đến tháng 12 Dương Lịch năm 2016 về sự chiến thắng vinh quang, rạng rỡ, mà chúng ta có thể vui mừng hân hoan ở các TẦNG TRỜI 1 cách vinh dự hợp pháp chân chính của bầu trời trái đất này…
    – TC chỉ còn thời gian rất ít nữa thôi… VN và các nước không thuộc phe NÓ cùng loài người văn minh đạo đức hãy cùng chia sẻ niềm vui với dân tộc khổ đau VN…
    + các câu 13 đến 18 có thể áp dụng từ tháng 1 Dương Lịch đến tháng 6 Dương Lịch của năm 2017

    * Chuyện qua lâu rồi nhưng cũng rất thú vị cho Bác nào muốn tìm hiểu Kinh Thánh qua trang Sấm Trạng này… chúng ta còn nhớ khủng bố ngày 11/9/2001… tại tòa THÁP ĐÔI của HOA KỲ?

    – Nếu lật mở Kinh Thánh Cựu Ước sách Khởi Nguyên hay Sáng Thế Ký (chương 11) chúng ta thấy 1 sự trùng hợp nữa là St chương 11 câu 9 trùng hợp với ngày 11/9/2001… thật là lạ lùng phải không?
    – Câu chuyện STK 11/9 nói về Tháp Babel đã bị Thiên Chúa HỦY DIỆTvì tội KIÊU NGẠO thì tòa tháp đôi Hoa Kỳ cũng là đòn đau camhr cáo những thế lực nào kiêu ngạo hỗn xược ngày nay vô ơn với NGÀI…

    – Chương 11 –

    Tháp Babel SángThế Ký).

    1 Khắp nơi trên đất cùng một ngôn ngữ, từng tiếng như nhau. 2 Xảy ra là trong khi họ thiên cư bên phương Ðông thì họ đã tìm thấy một cánh đồngở đất Sinêar; và họ đã đậu cư ở đó. 3 Họ nói với nhau: “Nào! Ta hãy đúc gạch và nung lò!” Gạch, họ lấy làm đá, và lịch thanh làm hồ. 4 Ðoạn họ nói: “Nào! Ta xây thành ta ở, và xây tháp, ngọn sao cho thấu trời! Ta hãy gây danh cho ta! ngõ hầu ta khỏi bị phân tán ra khắp mặt đất”. 5 Yavê đi xuống để xem thành và và cây tháp, con cái loài người đang xây. 6 Và Yavê nói: “Này hết thảy chúng là một dân duy nhất, một ngôn ngữ như nhau. Chúng đã bắt đầu làm thế, thì từ nay còn có mưu định nào mà chúng lại không có thể làm nổi. 7 Nào! Ta xuống! Ở đó, Ta hãy làm cho ngôn ngữ chúng ra ba la ba láp, sao cho chúng không hiểu được ngôn ngữ của nhau”. 8 Và tự đó Yavê đã phân tán họ ra khắp mặt đất. Và họ đã thôi xây thành. (9) Bởi thế mà thiên hạ gọi tên thành là Babel vì ở đó Yavê đã làm cho ra ba la ba láp ngôn ngữ của khắp nơi trên đất. Và chính tự đó Yavê đã phân tán họ ra khắp mặt đất.

    – Cụ Trung Cộng ĐỎ cũng sẽ bị hủy diệt như thế…

  58. chinhkie permalink

    Càng ngày càng đảo càng điên
    Dân ta như thể đàn chiên đánh vồn
    (Cư Sỹ Minh Điền)

    … Chừng nào Chợ Lớn hết vôi
    Bề Đông cá đặt cuộc đời lao đao…

    (Dân VN và dân Tầu Chợ Lớn (mgười HOA)
    … sẽ không còn mặn mà tình nghĩa như xưa… khi mà cái chợ KIM BIÊN toàn là HÓA CHẤT giết người… lại thêm cái vụ BIỂN ĐỒNG CÁ ĐẶC lẽ ra phải mừng mới phải, nhưng cá đặc là do HÓA CHẤT của công ty FORMOSA dưới sự chỉ đạo của TRUNG CỘNG đã tàn phá môi trường BIỂN ĐÔNG khiến biển Ô NHIỄM, cá chết dầy đặc làm điêu đúng NGƯ DÂN miền Trung VN ảnh hưởng toàn dân vv…

  59. chinhkie permalink

    Nước Việt hiện nay đúng như sầm ký.
    “Ta hồ vô phụ vô quân”.
    Cực bĩ rồi mới chuyển vận.

    Kính chào Bác Trang Chủ!

    – Nếu nghĩa đen thì chữ 嗟乎 ta hồ nghĩa là than ôi! Hỡi ôi…
    – 無父
    (Con mồ côi cha — Không biết đến cha, ý nói bất hiếu).

    – 無君 vô quân
    (Không biết có vua, ý nói bất trung).

    – Bác Thiên cho em hỏi… Có phải ý của câu này nói về tình hình đạo đức của đa số lãnh đạo VN và dân VN hiện nay?

    TRÊN thì BẤT CHÍNH
    DƯỠI THÌ LÀM LOẠN

    Như câu nói cổ nhân: Thượng Bất chính, Hạ tắc loạn?

    hay câu: Bề Trên ở chẳng chính Ngôi
    trách sao ở dưỡi chúng tôi hỗn hào?

    – Nguyên tắc luật lệ bị đảo lộn?
    + Câu Ta hồ vô phụ vô quân có lẽ ám chỉ đến sự BẤT TRUNG, BẤT HIẾU đối với TIỀN NHÂN xưa kía với tổ tiên với các vua Hùng thời TỐI CỔ?
    Chữ TRUNG và HIẾU chắc là cụ Trạng muốn ám chỉ đến con cháu VN thời này đã có lỗi nặng đối với CÔNG ĐỨC của người xưa?

  60. thientrungnhan permalink

    Nước Việt hiện nay đúng như sầm ký.
    “Ta hồ vô phụ vô quân”.
    Cực bĩ rồi mới chuyển vận.

  61. chinhkie permalink

    Cám ơn Bác tieuhan đã ủng hộ tinh thần của em… theo em, VN chúng ta giờ đây cần phải có nhiều thánh nhân, chứ 1 ông thánh nhân chắc chẳng làm gì được cho VN… chúc các bác luôn tìm được nhiều thánh nhân để cùng nhau tim ra đường lối thích hợp nhất cho đồng bào VN vv…

  62. tieuhan permalink

    Bác thientrungnhan quan sát thế cục, cảm sấm ký của các cụ tiền nhân, thật đúng là hâm mộ bác, các cụ già ở quê tôi toàn chơi cờ mới ngâm truyện kiều thôi, một số thì đi theo thầy chùa… không có gì đặc biệt. Gia đạo suy đồi, cái chức ông bà không còn được trọng vọng như xưa, buồn thay…

    Quả bóng Trung quốc vỡ, sẽ có rất nhiều luồng tư bản chạy đi, các nước lớn đang tích cực chuyển mình để tạo thế hứng đào. Anh ra khỏi liên minh châu âu, Mỹ ông Trump cầm quyền sau bầu cử, Nga đang diễn trò la sát nhập địa câu thông Trung quốc,…. loạn thế xuất anh hùng, là cơ hôi tốt cho Việt nam ta trở mình.

    Bạn chinhkie có tư tường như vậy tôi rất mừng, quốc gia thành rồi hủy, hủy rồi thành, đó là quy luật tất yếu, cứ mỗi một lần như vậy hình dạng của quốc gia đó lại biến đổi theo. Chủ nghĩa chỉ là công cụ mịn dân ở mỗi thời kỳ lịch sử, giai tầng thống trị dùng để mê hoặc giai tầng bị trị. Tự do của giai tầng bị trị luôn có cái giá của nó.

    Điểm khởi đầu của biến động sắp tới sẽ xuất phát từ đâu ?, khi cả cánh đồng đã được hong khô, khi gió đông đã tới, thì chỉ cần một đốm lửa thôi. Đốm lửa đó nằm ở đâu ?

    Chỉ cần một cuộc đảo chính sẽ khiến cho Mỹ Trung nhẩy vào, chỉ cần một cuộc đảo chính sẽ khiến cho biển lửa bùng nên, biển đông dậy sóng, chỉ cần một cuộc đảo chính đất nước sẽ khởi động, chỉ cần đất nước khởi động thánh nhân ắt ra để ổn định thế cục, chỉ cần ổn định thế cục thì con đường về quê cũ sẽ rộng mở….

  63. chinhkie permalink

    Nính chào Bác tieuhan !

    Không dám đả kích chế độ CS dâu?
    – Em sưu tầm rồi cho nó vào tang này để bà con tham khảo thôi, và cũng chẳng đấu tranh cho Dân Chủ… chế độ nào cũng do Ý Trời sắp đặt ra để thử nhân đức của ;oài người, hết thời thì phải biến như bao nhiêu thể chế xa xưa… CS và TB đi theo DÂN CHỦ nhưng luôn đầy sự tang tóc, có những nơi dân chủ có vẻ là thiên đường nhưng thực tế không phải là thiên đường, bao giờ quân chủ như Nghiêu Thuấn hay Lạc Long Quân đặc biệt là vị vua theo truyền thuyết Việt Nam đó là Hùng Chiêu Vương (Lang Liêu) sự tích bánh dầy bánh chưng đã tùng được Trạng Trình nói đến trong Sấm Ký khi xưa Vua này đã từng ngự trên núi THẠCH BÀN ở dãy nũi TAM ĐẢO thì mới làm cho quốc thái dân an…

    – Dãy núi Tam Đảo có 3 ngọn núi là:

    1} Thạch Bàn
    2) Thiên Thị (Thiên Nhị…)
    3) Phù Nghĩa (Rùng Rình)

    – Theo huyền thoại thì Hùng Chiêu Vương thuộc ngành thứ 7 chính là con của vua Hùng thứ 6… sau khi đánh tan giặc ÂN thì ngài đã lên núi Thạch Bàn trên phiến ĐÁ BÀN…. sau đó vua gặp nàng Lăng Thị Tiêu là người cùng với ngài đánh giặc ÂN, nàng ở thôn Đông Lộ gần đó, vua phong cho nàng làm cung phi… ( nhiều nhà giải sấm cứ tưởng trạng trình nói thiên tử trong sấm hiện nay đang tiêu diêu tự tại ở trên ngọn núi Thạch Bàn… đó là 1 ý tưởng sai lạc, cụ trạng trình chỉ nói về tích xưa về nguồn gốc bây giờ của vị vua này trong quá khứ có liên quan tới sự xuất thế của vua này trong thời tương lai so vớ lúc bài sấm trạng ra đời…

    – Vua ngự Thạch Bàn xa thay (đừng có ai tìm ông này ở ngọn núi Thạch Bàn Tam Đảo nhé!… Nếu đi DU LỊCH tham quan vào vườn Quốc Gia Tam Đảo để tìm DI TÍCH xưa với 3 ngọn núi nói trên thì cũng rất là tuyệt với vì nơi đây phong cảnh rất là thần tiên, bồng lai… gọi là Tam Đảo vì 3 ngọn núi này không chìm 1 phần dưới nước mà là chìm trong mây trong hơi nước là nơi thiên nhiên sinh thái
    kỳ diệu… Trước khi vua lên Tam Đảo cầu tiên thì nơi ngọn núi Thach Bàn này có 1 ngôi chùa cổ… của người theo đạo Bà La Môn, sau khi vua đến thì sau này mới chuyển thành nơi thờ Phật, nếu không lầm thì đó là chùa Tây Phương ở Tam Đảo

  64. thientrungnhan permalink

    Đúng y như vậy.

  65. thientrungnhan permalink

    Nhìn thế cục thời sự trên toàn thế giới, sẽ hiểu rõ hơn về sấm ký tiên tri.
    Thế giới ngày nay sẽ phải giải quyết bất đồng bằng chiến tranh.
    Ngày đó là vận hội mới của Việt Nam.

  66. Thầy Bói Online permalink

    Không thể nào cứ theo số 72 được. Đời Vua Hùng sử sách tạm thời cho rằng dài đến hơn 2000 năm thì sao? Chưa kể các đời khác. Nhưng lịch sử minh chứng vẫn luôn còn đó. Chế độ nào phù hợp với lòng dân thì chế độ đó sẽ tồn tại thời gian = lòng dân. Và chắc chắn hiện tại chưa có mô hình nào phù hợp = đa đảng. Vì đa đảng sẽ chấm dứt sự độc quyền. Có điều Đảng nào có được lòng dân thì Đảng đó sẽ dẫn dắt người dân. Cốt lõi vẫn là ” nhân tài “. Bên nào có người Tài + Đức thì bên đó sẽ có được lòng dân thôi.
    Chương cuối cho biển Đông:
    – Mỹ + Nhật + Hàn Quốc+ Philippine + Trung Quốc + Việt Nam.

    Hy vọng Thánh Nhân sẽ trả lời cho tất cả chúng ta thấy câu ” Bất Chiến Tự Nhiên Thành ” như thế nào.
    Chúc các bác vui vẻ.

  67. tieuhan permalink

    Nâu rồi không vào mạng, nên không có dịp chém gió cùng các bác.

    Bác thientrungnhan dạo này có phán đoán nào mới về diễn biến thế cục không?

    Bác kim quy sau thời gian lâm bệnh thấy bảo khỏi rồi, nhưng vẫn chưa thấy có bài viết nào cho mọi người tham khảo, không biết có còn kiên định theo con đường của tiền nhân không?

    Bạn chinhkie vẫn miệt mài đả kích chế độ cs, dạo này bỗng nhiên mất tích, không biết bạn đang đấu tranh ở blog dân chủ nào?…

    Còn tôi vẫn vậy, vẫn u mê tham ngộ pháp tắc, quán thâu pháp khí, tác động nhân sinh. Thỉnh thoảng thăm thú vài nơi, hôm trước có đi qua vùng đất giang nam được sấm ký ca tụng là cứu đô hoàng bào, nhưng vẫn chưa thấy có động tĩnh gì cả.

    Về căn bản chu kỳ thịnh suy của quỷ đạo ở mỗi quốc gia là 72 năm, mỗi một vòng là 12 năm tương đương một khí, 72 năm chia ra sáu khí, ba khí thịnh, ba khí suy. LIên bang nga 1917 sau 72 năm 1989 đất nước đi vào thời kỳ chuyển giao và tan vỡ sau hai năm là năm 1991.
    Việt nam 1945 sau 72 năm là 2017 đất nước tất đi vào rối loạn rồi.., Trung quốc 1949 sau 72 năm là 2021.

    Mặc dù tình thế nước ta quỷ đạo đã đi vào giai đoạn tuyệt khí cờ tàn, nhưng bọn họ không bó tay chờ chết mà lại có một hành động liều lĩnh, đem vận mệnh quốc gia đưa vào tay giặc. Bấu víu vào Trung quốc, trong khi chính Trung quốc đang vật lộn với thời gian để mưu mô vơ vét lúc vận cuối, tự biến mình thành công cụ của họ… Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe.

    Các bác thử cho nhận xét về thế cục ở tầm vĩ mô, tôi cũng có một chút nhận xét nhưng chưa thật đầy đủ nên chưa dám đưa ra bàn, mong nhận hồi âm của các bác.

  68. chinhkie permalink

    Kính chào Bác TBO và mến chào anh chàng đẹp trai Hồ Nguyên!

    Trước hết chinhkie gọi Thái Tử, không nhằm châm biếm ai cả, mà đây là cách gọi bên TGVH với bạn Thienthanquetrac tức là anh Hồ Nguyên…

    Hồ Nguyên nói câu dưới đây mà chinhke không biết phải nghĩ làm sao cho phải:

    “… Nể tình bác còn chút lương tâm tới Thiên Chúa nên Hồ Nguyên nhận lệnh Trời Đất gửi cho trang thientrungnhan.wordpress.com cái thông điệp này…”

    – Hồ Nguyên nói nhận lệnh gì mà mình thấy nó có vẻ bí ẩn quá….?…

    + Nói về sai thì đã làm thân con người trần thế thì có ai là hoàn hảo đâu?

    – chinhkie thấy mình còn nhiều sai lầm lắm, câu nói của Hồ Nguyên làm cho chinhkie tỉnh người ra…

    Xin cám ơn Bác TBO và bạn Hồ Nguyên

  69. Thầy Bói Online permalink


    đây là link hình ảnh. Comment trước đã gửi nhưng vẫn chưa hiển thị.

  70. Thầy Bói Online permalink

    ” Nhân sinh một kiếp ruổi rong
    Thuốc nào chữa được mấy vòng trần ai!!!?”

    Hôm nay, TBO tôi có nhận được thư trợ giúp của nick ” Thienthanquetrac” trên thegioivohinh.com
    tức là ” Thái tử ” theo cách gọi châm biếm của bác chinhkie nhằm tới bọn ” thái tử đẻng”. Nguyên văn thư gửi của Hồ Nguyên ( thienthanquetrac) gửi cho bác chinkie như sau:

    ” Gửi bác chinhkie, Hồ Nguyên đã nói là Hồ Nguyên chỉ là dân đen thôi, bác gọi Hồ Nguyên là thái tử làm chi? Ham hố gì cái danh hão của phường thế gian. Làm chổi cùn cho Đạo còn hơn làm vua chúa của thiên hạ. Nể tình bác còn chút lương tâm tới Thiên Chúa nên Hồ Nguyên nhận lệnh Trời Đất gửi cho trang thientrungnhan.wordpress.com cái thông điệp này. Các phần bôi đen là tế nhị, nếu giỏi công nghệ thì có thể tự xem hết nội dung, còn không giỏi cũng không sao, chịu khó đoán là có thể hiểu hết được, hiểu rồi thì chớ có buồn vì đời là thế mà. Chỉ có người sai mà không biết mình sai chứ Trời chẳng bao giờ sai cả. Nay nhờ bác Thầy Bói Online chuyển dùm, đồng gửi tới lời xin lỗi tới nick “….” sau đây vì trích thư riêng mà chưa ngỏ lời, mong “….” thông cảm”.

    Còn đây là hình ảnh ( các bác ai rảnh thì vào, vào xong nhớ cười một cái rồi lui ):

    Tuỳ sức các bác liên tưởng nhé.

    “Lòng báo thù ai thửa ngôi cho?”

    ” Chúng tôi, những người chổi cùn cho ĐẠI ĐẠO còn hơn phú quý cho quỷ ma “.

  71. chinhkie permalink

    Bác Kim Quy dạo này có khjỏe không?

  72. chinhkie permalink

    Bác nào giải thích giùm câu:

    – “Vua ngự Thạch Bàn xa thay”

  73. chinhkie permalink

    Thái Tử sấm Trạng lâu rồi sao không vào nhỉ?
    – có gì không sao mà im ắng quá zậy?

  74. chinhkie permalink

    昭彰 Ngũ tinh: có bghĩa là Vẻ vang, rực rỡ

    露 Lộ: có nghĩa là Lộ ra

    星 tinh = ngôi sao

    睛 tinh = tròng mắt, Bạch thoại gọi là Nhãn tinh.

    Mấy bài viết cũ Bác Kim Quy có nói đến Ngũ Tinh là 5 tướng mặt…. em nghĩ cái này rất đúng. theo cách này thì 5 bức tượng thời cố TT NĐD MNVN vào hồi năm 1957 đến 1961 vv đã cho người khảo sát và cho người xây dựng đặt 5 bức tượng này… câu sấm Trạng Trình là:

    “Lộ Ngũ Tinh Trinh Tượng Thái Hanh”

    5 bức tượng này như sau

    1) * Đài Đức Mẹ TÀPAO (Tánh Linh-Bình Thuận)
    2) * Đài Đức Mẹ GIANG SƠN (Daklak)
    3) * Đài Đức Mẹ THÁC MƠ (Phước Long)
    4) * Đài Đức Mẹ PHƯỢNG HOÀNG (Pleiku) : “Núi Phượng Hoàng ở phía Tây Nam quận Lệ Thanh. Núi có ba ngọn cao rất đẹp. Ngọn giữa gọi là Núi Phượng Hoàng. Trên ngọn có đặt Tượng Đức Mẹ…
    5) * Đài Đức Mẹ TRINH PHONG (Phan Rang-Ninh Thuận)

    (NGUỒN TIN):
    “PHẦN I, Chương 2: Đôi nét về Bối cảnh lịch sử Tượng Đài Đức Mẹ TÀPAO”

    – hay là:

    1) Đức Mẹ Phượng Hoàng wiki
    2) Đức Mẹ Tàpao wiki
    3) Đức Mẹ Thác Mơ wiki
    4) Đức Mẹ Giang Sơn wi ki
    5) Đức Mẹ Trinh Phong wi ki

  75. chinhkie permalink

    Khoa học

    Chủ nhật, 17/1/2016 | 12:00 GMT+7 Chia sẻ bài viết lên facebookChia sẻ bài viết lên twitterChia sẻ bài viết lên google+|
    Ngũ tinh xếp thẳng hàng trên bầu trời
    Năm hành tinh là sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc và sao Thổ sẽ xếp thành một hàng thẳng trong tháng này và sự kiện có thể nhìn thấy bằng mắt thường.
    Mộc, Kim và Hỏa tinh xếp thẳng hàng trên bầu trời

    Năm hành tinh tạo thành một đường thẳng trên bầu trời đêm. Ảnh: Bảo tàng Victoria.

    Theo Australian Geographic, sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc và sao Thổ sẽ đứng thẳng hàng trong thời gian từ 20/1 đến 20/2.

    Tiến sĩ Tanya Hill, chuyên viên cao cấp tại Trạm thiên văn Melbourne Australia, cho biết sự kiện này sẽ tái diễn vào tháng 8 năm nay và tháng 10/2018. Theo tiến sĩ Alan Duffy, thuộc Đại học Swinburne, Melbourne, Australia, sao Thủy sẽ xuất hiện rất gần đường chân trời nên người theo dõi sự kiện cần chọn vị trí quan sát ở xa các tòa nhà cao tầng hoặc những chỗ cây cối rậm rạp.

    Sao Kim và sao Mộc có thể được nhìn thấy khá rõ trên bầu trời và sao Hỏa rất nổi bật với ánh sáng đỏ. “Chúng ta có thể quan sát điều tuyệt vời này bằng mắt thường trong bầu trời đêm”, tiến sĩ Duffy cho biết.

    Thùy Dương

  76. chinhkie permalink

    Tân Ước sách Khải Huyền chương 16 có viết:

    12 Vị thứ sáu đã trút kim bôi xuống Ðại giang Phơ-rat. Nước sông đã khô cạn để dọn đường cho các vua Chúa phương Ðông. 13 Và tôi đã thấy tự mõm Rồng, mõm Mãnh thú và mồm tiên tri giả xuất ra ba thần ô uế, như những con cóc, —
    14 quả chúng là quỉ thần làm được những dấu lạ —
    chúng xuất hiện đến cùng vua Chúa trên toàn cõi thiên hạ mà chiêu tập họ lại sung vào trận chiến Ngày vĩ đại của Thiên Chúa toàn năng. (Kh 16/12-14).

    – Khải Huyền chương 16 này có nói đến mấy cpn CÓC… Em xin đoán mò mấy câu này như sau:

    1) RỒNG = ĐCS TRUNG QUỐC
    2) MÃNH THÚ = NGA CỘNG
    3) TIÊN TRI GIẢ = QUỶ VƯƠNG = QUỶ SỨ CSVN… đcsvn chỉ là kẻ dọn đường, cụ Trạng từng nói: Trời sai quỷ sứ dọn đường để cho thánha xuất KHẢM PHƯƠNG tuần này…

    Lời KInh Thánh rất khó hiểu, phải được ơn trên SOI DẪN mới có thể hiểu và cắt nghĩa chính xác… đây em chỉ đoán chứ không dám khẳng định…

  77. chinhkie permalink

    3 con quỷ này có hình dạng 3 con CÓC hay ÉCH NHÁI con chết sqau cùng là con QUỶ NHỎ VN…

  78. chinhkie permalink

    Kính chào Bác tieuhan!

    – Thế mà Bác không nhận lời chinhkie thật tâm ngưỡng mộ Bác…
    Em thấy bồ tát Tuệ Trung nói Nga chính là quỷ
    La sát nhập địa: La sát vào đất (Quỷ La sát vào đất)
    _ Bác giải thích phải nói là quá thuyết phục, thật là TUYỆT VỜI… không còn KHEN vào chỗ nào được nữa đành phải kính cẩn SUY GẪM lời giải thích quá là… là… Em nghe câu chuyện ở DÒNG BÙI MÔN ở HỐC MÔN năm 1963 về câu chuyện 1 nữ tu được Mẹ Maria cho chị biết về hậu vận của 3 nước CỘNG SẢN sau cùng này trong đó có nói đến con tiểu quỷ CSVN là con MỒM MÉP và thủ đoạn rất dơ bẩn xếp hàng nhất hơn 2 con đại quỷ kia, nhưng sau khi con quỷ NHỎ này chết thì đất nước VN ta mới thực sự có THÁI BÌNH THỊNH VƯỢNG.

    Vô Vàn cám ơn Thánh SƯ TIEUHAN có lời giải mà lòng em THÉC MÉC hoài không ra… SƯ PHỤ… SƯ PHỤ… SƯ PHU… thật lòng không nịnh SƯ PHỤ… he he!!!

  79. tieuhan permalink

    Chào các bác, chắc có nhiều bác đang bận rộn, miệt mài tranh đấu với đời, nên vắng bóng nâu ngày.

    Tôi quan niệm …Giầu tại phận, sướng tại tâm…ôm giấc mơ thanh nhàn vô sự, nhưng vẫn bất thành.

    Bạn Chinhkie có hỏi về câu: Quỷ vương chết giữa đường đi nên trời…

    Câu này muốn giải thích cặn kẽ thì chắc phải đem hết tâm huyết ra mà dẫn giải mất. Tôi chỉ nói qua thôi bạn hiểu được bao nhiêu thì hiểu.

    Câu sấm trên nói về đất nước của chúng ta. Trong thế giới này ngoài bản tâm còn hai lực lượng nữa tồn tại, các cụ thường gọi chúng là quỷ và ma. Quỷ thì hiếu sát, còn ma thì hay mê hoặc loài người đi vào con đường nghiện ngập phá hoại chuẩn mực. Một con người khi bị ma quỷ dẫn dắt thì nó sẽ dẫn dắt bản tâm của ta, Còn một quốc gia là đảng phái nắm chủ đạo của một đất nước.

    Nói về nước ta, Đảng cs về căn bản là xuất phát từ Nga, nhân thời cơ nước ta khủng hoảng mà chớp cơ hội nắm chủ đạo. Nó thực hiện cướp chính quyền bằng con đường bạo lực, nên gọi nó là quỷ đạo. Một số quốc gia lâm vào tình trạng phá sản chủ yếu là dân bị mê hoặc mà nghiện ngập, chi nhiều hơn thu, dần dần chủ đạo đất nước rơi vào tay kẻ khác đó là ma đạo.

    Tuy rằng LB nga tan rã nhưng đầu não của nó là Trung cộng vẫn còn, có thể coi Đây là đại quỷ, còn ở ta chỉ gọi là tiểu quỷ thôi. Thế giới khi bước vào thế nhất, quỷ sẽ tiến hành Nên trời. Nhưng khi thế nhất đi vào mạt nó sẽ dịch thế, đường nối của quỷ sẽ đi vào thế ôm quan tài nhập địa. Vấn đề con tiểu quỷ lại chỉ bám đuôi loài quỷ nên trời, nhưng chưa nên tới nơi thì loài quỷ đã quay đầu nhập địa.

    Đáng lý con tiểu quỷ quay đầu nhập địa, nhưng như vậy đi ngược với ý trí và nguyện vọng của toàn dân, nhất là giấc mơ hoa hồng vừa được Obama thêu dệt. Bởi vậy Tiểu quỷ đi tiếp lên trời thì bị loài quỷ bỏ rơi, mà quay đầu nhập địa thì nguy cơ bị mất quyền nắm chủ đạo của nước ta. Nói chung đi đường nào cũng chết.

    Các cụ ví von tình thế này của tiểu quỷ là chết giữa đường đi nên trời. Còn gọi nó là vương là vì ít ra nó đang nắm chủ đạo của một quốc gia. Còn đại quỷ Trung quốc chắc phải gọi là Đế. Vì Đế luôn cao hơn Vương một bậc….

    Hơi khó hiểu đúng không, nói ngắn gọn là giấc mơ một đất nước phồn vinh mà ông Tổng thống mỹ vừa mê hoặc Đảng cs, chỉ là giấc mơ thôi. Giới tư bản sẽ tập trung vào giải thể Trung Quốc mà Việt nam ta là một con cờ trong đó.

  80. chinhkie permalink

    + Trước nay có nghe đồn về tin CSVN mời Trung Cộng, Liên Xô vv đánh VNCH vv nay SƯU TẦM được được bản tin mời cá Bác tham khảo để rộng đươcf BÀN LOẠN…

    Công Lao Đánh Mỹ Diệt Ngụy Là Của Nhân Dân Trung Quốc Và Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa

    Năm 1989, Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhân gởi 320.000 quân qua tham chiến ở Việt Nam trong năm 1965-1968 và viện trợ Hà Nội 20 tỷ đô la – Liên Xô viện trợ 11 tỷ đô la
    Posted by hoangtran204 on 04/01/2014
    Thế là đã rõ: Đảng CSVN không phải là lực lượng duy nhất có công lao chống Mỹ như lâu nay vẫn kể công. Ông HCM, Lê Duẩn, và Đảng CSVN đã mời 320.000 quân Trung Quốc đã qua VN trong thập niên 1960s. Đảng CSVN và Nhà Nước đã mời TQ qua VN để chúng có cớ chiếm HS, TS, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Móng Cái, Núi Lão Sơn… và nhiều đất đai biên giới phía bắc.
    Đảng đã mời 320.000 quân Trung Cộng và một số lượng không rõ lính Bắc Triều Tiên, và Liên Xô đến Miền Bắc trong thời gian 1964-1975 để cùng nhau chống Mỹ. Trung Quốc “đã viện trợ 20 tỷ USD cho để viện trợ quân đội chính quy Bắc Việt của Hà Nội và các đơn vị quân du kích Việt Cộng. “
    Đánh Điện Biên Phủ thì đảng CSVN cầu viện quân đội Trung Cộng qua đánh giúp. Quân đội Trung Cộng và các tướng lãnh La Quý Ba, Trần Canh, đã giúp đánh trận Điện Biên Phủ 1954.

    Chiếm được Miền Bắc năm 1954 là nhờ Trung Quốc điều đình với Mỹ và Pháp qua Hiệp Định Geneve 20-7-1054
    Qua đến cuộc Chiến Tranh Việt Nam 1954-1975, Đảng CSVN và ông HCM lại cầu viện ngoại quốc qua giúp đỡ đánh chiếm Miền Nam. Lần này, có quân Trung Cộng, quân Liên Xô, và quân lính Bắc Triều Tiên. Trung Quốc viện trợ 20 tỷ Mỹ kim, Liên Xô viện trợ cho VN nhiều hơn TQ nhưng chưa bao giờ tiết lộ, gần đây chỉ nhắc đến 11,5 tỷ Mỹ kim (xem cuối bài).
    Tóm lại: Với nhiều sự kiện lịch sử ngày càng nhiều và cho thấy rằng: Đảng CSVN không phải là lực lượng duy nhất chống Mỹ và đánh chiếm Miền Nam VN như lâu nay vẫn kể công nhằm mục đích giành quyền lãnh đạo Việt Nam vô thời hạn!

    Nguồn: bài báo được lưu lại ở đây news.google.com
    Tin Reuters
    H.N. NGUYEN

    Tham khảo:

    http://news.google.com/newspapers?nid=1350&dat=19890516&id=HkRPAAAAIBAJ&sjid=_gIEAAAAIBAJ&pg=3769,1925460

  81. chinhkie permalink

    Kính chào Bác tieuhan

    Bác giải thích câu này có ý nghĩa gì?

    Quỷ vương chết giữa đường đi lên trời

    Cám ơn Bác!

  82. tieuhan permalink

    Bạn Chinhkie đừng đề cao tôi, kẻo tôi thấy hổ thẹn với chính mình mất. Thích thì nghiên cứu sấm trạng chứ không mê muội trong đó, dù sao thì bản thân vẫn biết mình là ai.

    Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch… cục thế đã thành hình. Thời cơ cho cuộc chiến biển đông đã tới. Hãy cùng đếm ngược…và xem Trung quốc kiến đao binh. Bạo quân thì phong nhẫn ra sao.

    Quỷ vương chết giữa đường đi lên trời. Khi nhiều sự thật được phơi bày người dân Việt đã quá ngao ngán rồi. Ở nước ta chỉ có bọn trẻ con vô tri và bọn tâm thần là không nhìn nhận ra vấn đề, còn ai có mắt có tai đều thấy. Tổng thống mỹ vừa rời khỏi Việt nam, hoàn thành công cuộc hà hơi tiếp sức cho phe tân phương tây, và cũng thổi một nàn sóng ảo tưởng vào dân Việt….

  83. chinhkie permalink

    Kính chào bác tieuhan!

    Sao lâu quá không vao ban Thánh Huấn cho chúng con he…
    Dẫn giải nghe cũng có lý… “.. Tháng này là tháng rắn hai đầu, sau bầu cử này nước Việt ta sẽ phân làm hai, Cùng một thân vậy mà có hai cái đầu, cái thì bảo đi về phía đông cái thì bảo đi về phía tây…”.

    1) Địa Lôi Phục = Tuất Hợi Phục Sinh = 2018 – 2019)
    … Một cơn sấm dậy đất bằng…

    Câu sấm năm 2013 hay 2014 chinhkie đã nói đến nay nhắc lại

    “Tý Tý khởi can qua (2019-2020)
    Sửu Sửu điền bình hòa (2021)
    Dần Dần sinh Thánh Đế (2022)
    Mão Mão Thái Binh ca” 2023) – 2024).

    2) Địa Trạch Lâm 臨 = 2020 la năm Tý

    – LÂM là tới là đến ở đây muốn nói đến cuối năm KỶ HỢI sẽ có………..

    Với 2 tháng THIÊN CHÍNH va ĐỊA CHÍNH = 11 và 12 âm lịch
    của năm 2019 là tháng Tý và tháng Sửu, thì tháng 11 là tháng 1 tức là tháng Tý, tháng 12 là tháng Sửu theo lịch KIẾN TÝ như vậy theo lịch Kiến TÝ thì tháng DẦN là tháng 3 ÂM LỊCH nhưng hiện nay VN đang dùng lịch KIẾN DẦN nên tháng DÂN là tháng giêng là tháng 1 Âm Lịch nhưng câu sấm muốn nói đến lịch KIẾN TÝ nên 2 tháng Tý và Sửu là 11 và 12 ÂL của lịch Kiến Dần năm 2020 được tính ngược lại 2 tháng cuối năm 2019 thi mới đúng… có nghĩa là tháng 11 và tháng 12 của năm 2019 của năm KỶ HỢI sẽ là tháng 1 và tháng 2 và tháng Giêng tháng Dần của năm 2020 là tháng 3 ÂL theo lịch KIẾN TÝ… ý nghĩa của câu TÝ TÝ khởi can qua sẽ bắt đầu được đà từ 2 tháng cuối năm 2019… các câu còn lại xin các THÁNH cứ theo lịch KIẾN TÝ mà tính thì sẽ rõ…

    + 1 vài ý tưởng không biết có đúng hay sai nhưng cứ NÓI ĐẠI để các Đấng xét giùm… thiết nghĩ cách suy diễn này có lẽ cũng gần giống với ý tưởng của bác KIM QUY….

  84. tieuhan permalink

    Chào các bác, dạo này tu tập thế nào rồi? Đã đành nghe theo cụ trạng nhắn nhủ :

    Chớ vật vờ theo loài ong kiến
    Hư vô bàn miệng tiếng nói không…

    Trong mạng inter.. hư vô này, bàn bạc thì nhiều nhưng có ai dám nói tên mình là gì nhà mình ở đâu đâu? Còn những người xung quanh chúng ta, trong cuộc sống hàng ngày mỗi người theo một đạo, hiếm khi tìm được tri âm sấm trạng trình. Đạo đời muôn nẻo, theo đạo của người khác chỉ có vật vờ mà thôi. …

    Tu tập lấy cái thực tài quá khó, con đường này gian nan hi sinh quá nhiều. Thân trong đạo đời, mà tâm lại phân phần nhiều cho đạo phục. Xin mạn phép các bác để gọi tên con đường về đất cũ của tổ tiên chúng ta là đạo phục..

    Mấy tiếng nữa là đi bầu cử, ..bầu cử theo kiểu Việt nam… Tháng này là tháng rắn hai đầu, sau bầu cử này nước Việt ta sẽ phân làm hai, Cùng một thân vậy mà có hai cái đầu, cái thì bảo đi về phía đông cái thì bảo đi về phía tây.

    “Ngựa đã gác yên không người cưỡi
    Dê không ăn lộc ngoảnh về tây”

    Cái đầu con rắn bảo đi về đông để làm thân khuyển mã, gác yên sẵn sàng để cho giặc nghàn đời nó cưỡi, vậy mà lại bị vỡ mộng.

    Loài dê chủ yếu là ăn lộc non, vậy mà nó lại lại không ăn, là bởi vì cái chỗ dựa của nó, ông chủ của nó đã không còn, đẩy nó vào nguy cơ bị kẻ gian giết thịt. Nó không dám ăn lộc, Nó cần an toàn, nó ngoảnh về tây….

  85. chinhkie permalink

    Các Cao Nhân có biết không… Bên trang:…

    (Bàn Luận Về Sấm Ký Trạng Trình ! Thánh Nhân Xuất Thế !!!!!) các Thánh chém nhau ác lắm! giống như trang sấm trạng trình bên thế giới vô hình năm 2013 đã bị đóng hơn 3 năm nay…

    – Vào cho ZUI…

  86. chinhkie permalink

    10. CÂU 3 : LẦN NẦY QUA LẦN KHÁC, HẮN ĐỘT NHIÊN RA TAY TÀN ĐỘC

    10.1 Ra tay tàn độc.

    Chữ tyrannizer có nghĩa độc tài chuyên chế, với hàm ý tàn ác bạo ngược.

    Tội ác của Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh không những được tính qua những con số thương vong và tàn hại khủng khiếp, mà còn được Nostradamus nhìn qua phương thức bạo ngược bất nhân của hắn. Nostradamus nhấn mạnh việc hắn ra tay tàn độc.

    Hắn vừa đội lốt thánh nhân, hắn vừa đột nhiên phát động những cuộc tàn sát tập thể.

    Hắn đã gây thương vong và tai họa cho 29 triệu con người trong hai cuộc chiến.*48

    * *

    10.2 Lần nầy qua lần khác.

    a. Ra tay tàn độc, lần nầy qua lần khác, giết hại Hàng Triệu Người Dân vô tội.

    Chỉ trong mấy năm 1953-1957, hết lần nầy qua lần khác, hắn mở những ‘Chiến dịch Đấu Chính Trị’, ‘Chiến dịch Giảm Tô’, ‘Chiến dịch Cải cách Ruộng đất’,… và bức tử gần một triệu đồng bào Miền Bắc.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Năm 1953, trong chiến dịch Đấu Chính Trị, chỉ trong 2 tuần lễ đầu, ở 15.000 thôn xã Miền Bắc, nơi nào cũng có 3 tới 5, tức là từ 45.000 tới 75.000, người bị đánh đập tới chết.

    ** Năm 1953-1954, trong chiến dịch Giảm Tô, Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh định trước số tử hình tối thiểu cho mỗi xã (!).

    ** Danh sách ‘Việt gian’ của các tỉnh, để ‘xử án’ công khai, được định trước là bắt buộc phải có ít nhất một nhà giàu, một thượng tọa, một linh mục, một vị khoa cử nho học, một cựu quan lại. Họ cũng bị định trước là có tội ‘bóc lột, hiếp dâm, và phản quốc’.

    ** Năm 1954-1956, trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, số tử hình tối thiểu lại được tăng thêm gấp năm lần (!). Dầu ở những xã thôn chỉ có công điền [ruộng chung, cứ định kỳ chia đều cho dân cày cấy], không có ai là địa chủ, số tử hình cũng không giảm (!).

    ** Vì số địa chủ không nhiều, Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh đã nâng cấp phú nông thành địa chủ để tàn sát thêm. Địa chủ là người có trên 6 sào đất. Phú nông là người có trên 2 sào, tức là có một mảnh đất mỗi bề chưa được 46m (!).

    ** Các chiến dịch đều do các đảng viên cộng sản điều động. Nhưng chúng bắt giết bừa bãi đến nỗi, sau một thời gian, chúng bắt giết lẫn nhau.

    ** Tháng 8.1956, theo lời xác nhận của Quỉ sứ đồ tể Võ Nguyên Giáp, khi chính sách Sửa sai được ban hành, còn tới 12.000 đảng viên ‘chưa kịp’ bị giết. Đã có 12.000 đảng viên cộng sản bị ghép tội mà chưa kịp chết, thì số dân thường bị chết oan lên tới bao nhiêu ? Gấp 10, gấp 20, 30 lần (!)?*49

    = Sự tàn ác lên tới tột đỉnh với thủ đoạn cô lập kinh tế, tức là nhốt cho chết đói tất cả bốn đời, gồm cả ông bà cha mẹ vợ chồng con cháu của người bị gán là địa chủ. Hàng trăm ngàn người bị giam chết đói (!).

    Khắp mọi thôn xã đều vang tiếng than khóc rên rỉ suốt ngày đêm của các nạn nhân bị cơn đói hành hạ, gieo khiếp đảm tột cùng vào lòng mọi người.

    *

    b. Ra tay tàn độc, lần nầy qua lần khác, cướp sạch Tài sản của mọi người dân.

    Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh luôn đóng vai một thánh hiền liêm khiết nhân hậu, thương dân thương nước. Trong khi đó, hắn cố quyết cướp sạch tài sản cả Miền Bắc, đày đọa toàn thể mấy chục triệu đồng bào vào cuộc sống tủi nhục đói rách triền miên, dưới chế độ thổ phỉ bạo tàn vô luân của hắn.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Qua các chiến dịch 1953-1956, với chiêu bài chia đất cho dân nghèo, Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh đã giết và cướp sạch mọi tài sản của tất cả mọi người dân có chút ruộng vườn, và gán cho họ là ‘địa chủ’.

    ** Và chỉ hai tháng sau khi ‘chia ruộng đất’, Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh lại tập thể hóa toàn thể ruộng đất vào các hợp tác xã quốc doanh.

    ** Ngoài ra, còn những ‘Tuần lễ Vàng’, ‘Tuần lễ Bạc’, ‘Tuần lễ Đồng’… với sự cò mồi của bọn cán bộ, mọi người hùa nhau gom góp, hùa nhau tố cáo những người họ cho rằng đang cất giữ… để rồi tất cả vàng, bạc, ngọc, ngà, kể cả đồng, nhôm, sắt… đều bị gom góp vào tay đảng viên Cộng sản.

    ** Mọi người dân đều trở thành hoàn toàn trắng tay, không còn bất cứ một tài sản nào, nhiều người không còn cái áo mà mặc… để rồi mỗi năm được đảng thí cho vài thước vải thô.

    = Trong vùng kiểm soát của Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh, tất cả mọi tài sản, không trừ bất cứ thứ gì, đều bị gom góp vào kho không đáy của bọn cán bộ cộng sản, bọn ‘đầu trâu mặt ngựa’ của Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh.

    Mọi người dân đều trở thành nô lệ cùng khốn cho tập đoàn Cộng sản.

    Cũng chỉ vì Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh tuân hành nguyên tắc căn bản của chủ thuyết Cộng sản Quốc tế Liên sô : ‘Bần cùng hóa nhân dân’, gom tất cả vào cho Liên sô, và cho Tàu.

    *

    c. Ra tay tàn độc : tận diệt Phẩm Cách Con người.

    Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh không những đã thản nhiên định trước số người vô tội hắn muốn giết, mà hắn còn vừa giết người vô tội, vừa gieo rắc kinh hoàng, triệt hạ tinh thần và tiêu diệt hết lòng tự tín tự trọng của con người, biến con người thành những con ‘khỉ đột nô lệ’ cho mưu đồ tàn độc của hắn.

    – Với gần 1.000.000 người bị giết ở cùng khắp mọi thôn xã ;

    – với thực tế kinh hoàng là bất cứ một đảng viên Cộng sản nào cũng có quyền hạ sát công khai bất cứ ai, mà không cần tội trạng ;

    – với ý thức khủng khiếp là bất cứ tài sản gì, bất cứ sáng kiến gì, bất cứ câu nói vô tình nào, cũng có thể gây cớ để bị giết…

    người dân dưới ách Giặc cộng, sau các chiến dịch, không những đã mất hết tài sản, mà còn mất hết hồn vía, mất hết tự tín tự cường, mất hết tinh thần phấn đấu, mất hết phẩm cách con người, buông xuôi tất cả, để chỉ còn tuyệt đối tuân hành mọi chỉ thị của Giặc cộng.*50

    Có tàn độc nào hơn Tận diệt Phẩm Cách Con người ?

    “Lẽ nào Trời Đất tha cho ! Ai bảo Thần Nhân nhịn được ?”*51

    ‘Lần nầy qua lần khác, Đại Ác Quỉ đột nhiên ra tay tàn độc’.

    * * * *

    11. CÂU 4 : LẤY CHÂN ĐẠP CỔ HỌNG NHỮNG TO LỚN NHẤT

    Sự tàn độc của Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh không chỉ bộc lộ ở việc tàn sát và nô lệ hóa dân lành. Nostradamus đã phải ghi nhận thêm thủ đoạn tàn bạo của Đại Ác Quỉ.

    11.1 Lấy chân đạp cổ họng.

    ‘Lấy chân đạp cổ họng’ diễn tả hình ảnh hung bạo bất nhân của một tên vũ phu tiểu nhân tàn ác. Được thế, hắn chà đạp, day nghiến, làm nạn nhân nghẹt thở. Nạn nhân càng vùng vẫy thì càng thêm ngột ngạt.

    Đây cũng chính là thủ đoạn Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh xử dụng trong cuộc chiến 27 năm.

    * *

    11.2 Những to lớn nhất.

    Cũng như câu 1 của Đoạn Sấm 8/77 có chữ ‘Ba’ để chỉ Ba Quốc Gia, ở đây, câu 4 Đoạn 8/41, chữ ‘Những To Lớn Nhất’ cũng để chỉ những Quốc Gia to lớn nhất.*52

    a. Ép buộc Pháp trở mặt với Việt Nam.

    Mặc dầu Pháp đã chính thức và thực sự trả Độc lập cho Việt Nam, Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh vẫn hô hào chiêu bài ‘đánh Pháp giành độc lập’, để buộc Pháp phải trở mặt với Việt Nam, mà trao Việt Nam cho Đế quốc Liên sô và Tàu.

    Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh đã chận họng Pháp và toàn thể Dân tộc Việt Nam bằng cách :

    – vừa thẳng tay tiêu diệt hết mọi thành phần vì Quốc gia Dân tộc Việt Nam,

    – vừa xuyên tạc phỉ báng mọi người đang hưởng nền Độc lập Việt Nam đã giành lại được,

    – vừa phủ nhận việc Pháp đã trao trả Độc lập cho Việt Nam, và

    – vừa dùng vũ khí và áp lực của Liên sô đối với thế giới…

    để thực hiện mệnh lệnh của Liên sô, là ép buộc Việt Nam vào tròng xiềng xích của Liên sô.

    Giặc cộng luôn tuyên truyền xuyên tạc rằng bất cứ những ai không hùa theo bọn chúng, đều là ‘Việt gian, phản quốc, bán nước’… Trong khi đó, bọn chúng mới đích thực chủ trương ‘vô tổ quốc’, quyết giết hại Đồng bào, đem Quê hương Đất Nước dâng nộp cho Đế quốc Liên sô, và Tàu.

    Kết cuộc là Pháp bị chận họng, càng vùng vẫy càng lúng túng, để rồi chỉ còn cách làm theo áp lực của tập đoàn Cộng sản, phản bội lại việc đã chính thức và thực sự trao trả Độc lập cho Việt Nam, mà giành quyền trao một nửa Đất nước Dân tộc Việt Nam vào gông cùm Đế quốc Liên sô, và Tàu.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Tất cả mọi Hiệp ước và văn kiện, thủ tục, trao trả Độc lập cho Việt Nam năm 1948-1950.

    ** Hiệp định Genève 20.7.1954.*53

    *

    b. Ép buộc Mỹ phản bội Đồng minh.

    Và rồi, với bom đạn và sự điều khiển trực tiếp của Ông chủ Đế quốc Liên sô, và Tàu, tên Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh lại gây thêm cuộc chiến Giặc cộng Miền Bắc xâm lăng Miền Nam.

    Trong tư thế tự vệ, Miền Nam đã kêu gọi các quốc gia bạn hữu trợ giúp.*54

    Nhưng Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh lại cũng chận họng. Hắn ngụy tạo chiêu bài ‘chống Mỹ cứu nước’. Và :

    – với sự điều động trực tiếp và với vũ khí của Liên sô và Tàu,

    – với sự tiếp tay của bọn cộng sản nằm vùng trên khắp thế giới,

    – với sự phụ họa hèn mạt của bọn khoa bảng hợm hĩnh xu thời,

    – với sự trợ giúp đắc lực của bọn ký giả vô lương háo danh tham lợi…

    bọn Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh đã lợi dụng lòng xúc động hời hợt của nhiều người, mà gây ra Phong trào Phản chiến. Chúng xuyên tạc rằng Mỹ xâm lăng Việt Nam và đòi Mỹ phải rút quân.*55

    Do đó, Mỹ càng vùng vẫy thì càng sa lầy, càng ngột ngạt, để rồi Mỹ phải phản bội Đồng minh, phải tìm mọi cách để rút lui, hủy bỏ viện trợ đã long trọng hứa hẹn, gây nên thảm họa 30.4.1975 cho toàn thể Dân tộc và Đất Nước Việt Nam.*56

    Đại Ác Quỉ đã ‘Lấy chân đạp cổ họng những Quốc gia to lớn nhất’.

    * *

    11.3 Tội ác của Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh.

    a. Tai hại của Cuộc chiến đáng bị kết tội.

    Với mọi biến cố lịch sử vừa qua, mọi tiên báo của Nostradamus đã thực sự minh chứng Hồ Chí Minh là tên Đại Ác Quỉ đã gây ra cuộc chiến tàn sát, gây thương tật và tổn hại cho 29 Triệu Con Người.

    Ngoài nhân mạng, còn thêm biết bao nỗi tang tóc đọa đày, khổ nạn thương đau, biết bao nước mắt sinh ly tử biệt, bịnh tật thương tích, đói khát cơ cực, trong suốt mấy chục năm trường… Cuộc chiến còn tàn phá xã hội, đạo đức, luân lý, truyền thống, an ninh, kinh tế, đời sống… cho hằng Trăm Triệu người dân vô tội, thuộc bốn năm thế hệ Việt Nam.

    Ngoài Quốc gia Dân tộc Việt Nam, còn có cả Ai Lao và Kampuchia.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Cuộc chiến trước 1954 :

    ** Theo thống kê chính thức, từ 1945 tới tháng 7.1954, quân đội Pháp và Liên Hiệp Pháp có 92.000 tử trận và 114.000 bị thương.

    Số thương vong của người dân bị vạ lây, theo tỷ lệ của thống kê cuộc chiến sau, đã gấp đôi số chiến sĩ tử trận.

    Cũng vậy, theo tỷ lệ cuộc chiến sau, số thường dân bị mất nhà cửa ruộng vườn hơn gấp bốn lần số chiến sĩ thương vong.

    ** Không có thống kê phía Giặc cộng. Nhưng với những điều kiện thiếu súng đạn, thiếu đồn trú, thiếu phương tiện, thiếu thuốc men, ở vùng rừng sâu nước độc, với ‘chiến thuật’ giết thương binh, với ‘chiến thuật’ ‘biển người’… số thương vong phía Giặc cộng ít nhất cũng nhiều gấp năm bảy lần… Ít nhất cũng 1.000.000 người.

    ** Ngoài ra, còn khoảng 300.000 người dân gục ngã trên đường bị bắt đi dân công khiên súng đạn lương thực.

    ** Trong cuộc chiến nầy, vì Giặc cộng chỉ có các chiến khu, trong rừng vắng, nên không nhiều thường dân bị họa lây, ngoại trừ hàng trăm ngàn người bị Giặc cộng sát hại.

    ** Con số chính thức về phí tổn chiến tranh phía người Pháp là 12 tỷ mỹ kim thời đó.

    ** Còn tàn phá nhà cửa ruộng vườn và máu, nước mắt, thiệt hại tinh thần… của dân Việt, thì kể sao cho cùng !*57

    ** Cuộc chiến sau 1954 :

    ** Theo thống kê chính thức do Giặc cộng công bố ngày 30.4.1995, thì từ 1954 tới 1975, Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị chết hơn 1.000.000 bộ đội, 300.000 bộ đội mất tích (!), 600.000 bị thương. Số thường dân bị thiệt mạng là 2.000.000, cộng thêm 2.000.000 người bị tàn phế vì chiến tranh.*58

    Dầu tuyên bố 20 năm sau cuộc chiến, thống kê cũng chỉ là những con số tổng quát. Chứng tỏ Giặc cộng xem thường mạng sống của những kẻ mà bọn chúng đã khoát cho danh hiệu ‘anh hùng’.

    Thống kê cũng cố tình bỏ qua số thương vong của nhiều đoàn quân Liên sô và Trung cộng, ít nhất là 100.000. (Chỉ từ 1965 tới 1968, đã có 320.000 quân Trung cộng tham chiến tại Việt Nam, với chi phí của Trung cộng là hơn 2 tỷ mỹ kim).*59

    Giặc cộng cũng cố tình bỏ qua hơn 300.000 thanh thiếu nữ ‘hộ lý’, bị bắt làm nô lệ tình dục cho bọn quỉ đỏ.

    ** Trong khi đó, tại Miền Nam có 185.528 chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tử trận, 499.026 thương binh, 415.000 thường dân tử nạn, và ít nhất 935.000 bị thương tật.

    ** Quân nhân của 6 nước bạn giúp Việt Nam Cộng Hòa có 62.934 hy sinh và 315.964 bị thương.*60

    ** Số bom tàn phá Việt Nam, Ai Lao và Kampuchia là 8.000.000 tấn, nhiều gấp bốn lần số bom trong toàn Thế chiến thứ Hai. Tiền Hoa Kỳ chi tiêu cho chiến tranh tại Việt Nam là 150.000.000.000 mỹ kim [150 tỷ].*61

    ** Về phần người dân : Người dân Miền Bắc đã sống trong đày đọa và cơ cực tột cùng, do các cuộc đấu tố và tập thể hóa toàn thể ruộng đất. Số người dân bị sát hại trong các ‘chiến dịch’ đã lên tới hàng triệu.*62

    Họ lại phải gánh thêm cuộc chiến xâm lăng Miền Nam. Mấy thế hệ thanh thiếu niên nam nữ lại phải ‘sinh bắc tử nam’, ruộng vườn hoang phế, tài vật cùng kiệt… Hàng chục triệu người dân Miền Bắc đã gánh chịu tai họa hơn mấy mươi năm.

    ** Tại Miền Nam, ngoài mấy triệu người thương vong, cũng đã có hơn 6.500.000 người mất nhà cửa ruộng vườn.

    = Theo các thống kê và tính toán trên :

    – Cuộc chiến trước 1954 :

    Số chiến sĩ và thường dân thương vong do chiến tranh và bị Giặc cộng sát hại : – Phía Quốc Gia Việt Nam : 618.000; – Phía Giặc cộng : 1.300.000. Tổng cộng : 2.742.000 người.

    Số thường dân bị mất cửa nhà… : – Phía Quốc Gia Việt Nam : 824.000; – Phía Giặc cộng : không tính.

    – Cuộc chiến sau 1954 :

    Số chiến sĩ và thường dân thương vong do chiến tranh và bị Giặc cộng sát hại : – Miền Nam : 2.413.452, – Miền Bắc : 6.300.000. Tổng cộng : 8.713.452.

    Số thường dân bị mất cửa nhà… : – Miền Nam : 6.500.000, – Miền Bắc : 10.000.000.

    – Tổng số hai cuộc chiến : gây thương vong cho 11.455.452 con người và trực tiếp gây tai họa cho 17.324.000. Tổng cộng : 28.779.452 con người.

    Phí tổn chiến tranh : – Phía Giặc cộng : không có thống kê trong cả 2 cuộc chiến. Tất cả đều do 2 Ông chủ Liên sô và Tàu cung cấp. – Phía Quốc gia Việt Nam : ngoài phí tổn do Quốc gia và Dân tộc Việt Nam gánh chịu, phí tổn cuộc chiến trước 1954 là 12 tỷ đô la Mỹ với trị giá đương thời, phí tổn cuộc chiến sau 1954 là 150 tỷ đô la Mỹ.

    Ngoài ra, trong hai cuộc chiến, toàn thể Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam đều bị tổn hại về mọi phương diện, đặc biệt về xã hội, kinh tế, văn hóa… trong suốt 45 năm, cùng với hậu quả tai hại còn kéo dài thêm mấy chục năm khác.

    Tất cả đều chỉ do Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh gây ra cuộc chiến để ép buộc Dân tộc Việt Nam làm nô lệ cho Liên sô, và Tàu.

    “Độc ác thay ! trúc rừng không ghi hết tội. Dơ bẩn thay ! nước bể không rửa sạch mùi.”*63

    *

    b. Lạm dụng Tinh thần và Tình tự Dân Tộc để dâng Đất Nước cho Liên sô và Tàu.

    Chồng chất lên tất cả những tội ác khủng khiếp trên, tội trạng kinh tởm nhất của Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh là hắn đã lạm dụng sức mạnh truyền thống, tinh thần bất khuất, và tình tự dân tộc, cùng với nhân lực vật lực của Quốc gia Dân tộc Việt Nam trong suốt mấy mươi năm, để làm phương tiện cưỡng bức chính Quê hương Dân tộc Việt Nam vào ách thống trị bạo tàn của Đế quốc Liên sô và Tàu.

    Chỉ đáng thương cho Đất Nước và hơn Một Trăm Triệu Con Người, thuộc nhiều thế hệ, của cả ba quốc gia Việt Miên Lào, đã phải trải qua một kiếp nạn oan ức đăng đẳng, đã sống và chết tức tưởi trong gông cùm nô lệ của nạn Cộng sản độc hại, tàn phá, và vô luân nhất lịch sử nhân loại.

    * * * *

    12. SẤM NOSTRADAMUS

    12.1 Sự thực Lịch sử.

    Ngày nay, mọi người đều nhận biết tội trạng của tên Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh còn nặng nề hơn cả những gì đã được tiết lộ, và đang bị mọi người nguyền rủa.

    Tuy vậy, chúng ta không thể không khâm phục Nostradamus khi mà hơn 400 năm trước, không những Ông đã chỉ tên vạch mặt tên Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh, mà còn nêu rõ bản chất gian trá, cuồng vọng đê hèn, mưu đồ thâm độc, và hành tung bạo ngược của hắn.

    Cám ơn Nostradamus, dầu trước đây hơn 400 năm, đã trả ‘trước’ Sự thực cho Lịch sử, lột hết mặt nạ quỉ quái tàn ác của tên Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh, của đảng Giặc cộng độc hại, và xác định chính nghĩa, công lý, và vinh dự cho Dân tộc Việt Nam.

    * *

    12.2 Sấm Nostradamus.

    Ngoài 2 Đoạn sấm trên, Nostradamus còn Hai Đoạn Sấm khác, 2/7 và 3/42, tiên báo những dấu chỉ, cùng với địa điểm, và thời gian xuất hiện, của Vị Lãnh Tụ Đặc Biệt cho Việt Nam, giúp Việt Nam góp phần vào Kỷ Nguyên Vàng Son của Nhân loại.*64

    Có thể Nostradamus còn có thêm nhiều đoạn sấm khác, loan báo những biến cố thời Việt Nam huy hoàng trong 2000 năm tới.

    Mong thay.

    * * * *

    13. BẢY HÌNH PHẠT HÀNH TỘI ĐẠI ÁC QUỈ HỒ CHÍ MINH

    Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh là người phương Đông. Vì vậy, dầu kể công hay buộc tội, cũng phải căn cứ trên quan niệm của xã hội và văn hóa phương Đông.

    Thường nghe nói : ‘quả báo nhãn tiền’, ‘hình phạt nhãn tiền’.

    Theo niềm tin của mọi người, cõi vô hình mới thực sự là nơi đền tội của phạm nhân, của Đại Ác Quỉ.

    Tuy nhiên, những hình phạt dành cho Đại Ác Quỉ đã quá nhiều và quá to lớn. Vì vậy, những hình phạt đó đã tràn ra khỏi địa ngục, đã từ cõi vô hình tràn qua thế giới hữu hình của chúng ta.

    Do đó, xin lạm bàn về một số ‘hình phạt nhãn tiền’ mà Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh đang bị hành tội.

    * *

    13.1 Hình phạt Phanh thây.

    Theo truyền thống phương Đông, một trong những hình phạt tàn nhẫn nhất dành cho những phạm nhân trọng tội nhất, là phanh thây.

    Theo tài liệu đã được phổ biến, ngay cả trước khi Hồ Chí Minh chết, đã có hai bọn, một Nga một Tàu, sẵn sàng để ướp xác. Hồ Chí Minh vừa tắt thở, thì bọn Nga xông vào bửa đôi đầu, moi sạch bộ óc gian tham bạo ngược. Đang khi đó, bọn Tàu mỗ banh bụng, móc cả tim gan phèo phổi ruột rà… liệng thực xa, cho khỏi mùi thối tha kinh tởm.

    Đúng là quả báo. Bọn Nga thì thô bạo moi bộ óc đã ngu xuẩn tin tưởng chủ trương của Đế quốc Liên sô, mà hủy hoại bao thế hệ Việt Nam. Bọn Tàu lại tranh nhau mổ bụng móc tim, để hành tội tàn ác với Dân Nước Việt theo lịnh Tàu.

    * *

    13.2 Hình phạt Bêu xác giữa chợ.

    Cũng theo cách hành xử phương Đông, để gây khiếp đảm khó quên do tội ác bỉ ổi của ác nhân, sau khi xử chết, tội nhân bị bêu xác giữa chợ.

    Tuy nhiên, dầu tội nhân tàn ác cách mấy, thì cũng chỉ bị bêu xác ít ngày. Nhưng Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh thì bị bêu xác mấy chục năm chưa dứt.

    Lại nữa, tội nhân tàn ác cũng chỉ bị bêu xác cho người một làng, một xóm. Nhưng Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh thì bị bêu xác cho khắp thế giới nhìn vào.

    Hình phạt nhãn tiền.

    * *

    13.3 Hình phạt Chém ngang lưng.

    Từ mấy trăm năm qua, bộ luật Việt Nam đã loại bỏ hình phạt bị coi là quá rùng rợn, dã man. Đó là hình phạt chém ngang lưng.

    Nhưng đối với Đại Ác Quỉ thì khác. Hình phạt bị chém ngang lưng đã và đang được phô bày ở mọi cơ quan, ở cả hang cùng ngõ hẻm. Trong hàng trăm ngàn bức tượng của Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh, có được mấy bức tượng còn nguyên người, và không nhắc nhớ hình phạt chém ngang lưng ?

    Thật xứng với Đại Ác Quỉ.

    * *

    13.4 Hình phạt Lửa hồng thiêu đốt.

    Hình phạt lửa hồng thiêu đốt thường được cho là ở tận đáy địa ngục.

    Nhưng đối với Đại Ác Quỉ thì khác. Ở bất cứ nơi nào, ở phòng họp hay ở phòng khách lớn nhỏ, lửa hồng đỏ rực đã từ Hỏa ngục tuôn trào vây quanh thiêu đốt Hồ Chí Minh bị chém ngang lưng.

    Hỏa ngục như không đủ chỗ hành hình Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh.

    * *

    13.5 Hình phạt Ngàn Năm Bia Miệng.

    ‘Ngàn năm bia miệng’ ngày nay càng được lưu truyền phổ quát và lâu dài hơn, nhờ kỹ thuật truyền thông hiện đại. Thời xưa, ít sách, ít người đọc. Ngày nay, chỉ trong một giây cũng đã được phổ biến khắp nơi, cho mọi người.

    Có biết bao ‘bia miệng truyền đời’ về tội ác của tên Đại Ác Quỉ bạo ngược và hèn hạ Hồ Chí Minh.

    Cái tên ‘Thành phố Hồ Chí Minh’, dầu chỉ trong thời gian ngắn, cũng sẽ ngàn đời nhắc nhở mọi người nhớ tới giai đoạn khốn cùng nhất của Sàigòn, của Dân tộc, nhớ tới tên nô tài gian hùng đốn mạt của Liên sô và Tàu.

    * *

    13.6 Hình phạt Bị Thân tín Hành hình.

    Hình phạt nhục nhã nhất, đặc biệt dành cho Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh, là bị bọn lâu la thân tín của hắn hăm hở hành hình. Bọn nầy hả hê thi hành án phạt, đày đọa tổ sư Đại Ác Quỉ của chúng, mà chúng tưởng là đang tôn thờ.

    Thực ra, bọn chúng càng tôn vinh hình tượng bị chém ngang lưng, càng dùng lửa hồng rực đỏ bao vây, thì cuộc hành hình Đại Ác Quỉ càng tái diễn không ngừng, lửa thiêu Đại Ác Quỉ càng thêm mãnh liệt muôn phần.

    Hình phạt nhãn tiền.

    * *

    13.7 Hình phạt Đọa đày Trăm Triệu Kiếp.

    Ngoài hình phạt bị hành hình luân chuyển Mười Tám Tầng Địa Ngục, bị Hỏa ngục thiêu đốt muôn đời, Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh còn bị triệu triệu người Dân Việt, Miên, Lào, vây quanh hành tội. Họ đòi hắn đền trả những món nợ máu, nợ nước mắt, nợ tinh thần, nợ khổ đau oan ức, nợ đói khát ô nhục, nợ cuộc sống đọa đày, nợ giết mẹ giết cha, nợ giết con giết cháu… nợ giết người vô tội, nợ giết người cướp của…

    Các Đấng Anh Linh, các Tổ Tiên Ông Bà, cũng không buông tha cho tên Đại Ác Quỉ đã tàn phá Quê hương, hủy hoại đền miếu mồ mả, đảo lộn thuần phong mỹ tục, sát hại nhiều thế hệ con cháu.

    Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh sẽ phải bị đọa đày hơn trăm triệu kiếp để đền bù cho hơn trăm triệu con người đã bị hắn và đồng bọn ức hiếp đày đọa.

    Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh còn phải bị đọa đày thêm hàng tỷ kiếp, cũng chưa bù đắp được những tàn phá Quê Hương, độc hại Dân Tộc, hủy hoại đền miếu mồ mả, lăng mạ Thần Thánh Anh linh, Tổ tiên, Ông bà.

    * * * *

    14. VÀI LỜI TÂM SỰ

    Đã có 3 bài Giải Sấm

    – 5201. Đức Trạng Trình với Việt Nam Thời Bảo Bình,
    – 5202. Nostradamus với Việt Nam Thời Bảo Bình,
    – 5203. Nostradamus : Hồ Chí Minh là Đại Ác Quỉ,
    và bài 5104. Mặt Đá Bảo Bình và Tộc Dân thể hiện Kỷ Nguyên Bảo Bình.
    Tất cả 4 bài cùng xác quyết :

    – Tai họa do Đại Ác Quỉ đã tới hồi kết thúc.

    – Dân tộc và Đất Nước Việt Nam đang bước vào Thời Vinh Quang, đang xuất hiện vị Thánh Chúa giúp Việt Nam khai mở thời Nhân loại Thanh bình Hạnh phúc, trong 2000 năm đang tới.

    Vì vậy, xin có Vài Lời Tâm Sự.

    * *

    14.1 Giai đoạn thống khổ sắp qua, thời hạn Đại Ác Quỉ đã hết. Đất Nước đang chuyển mình để bước vào Kỷ nguyên mới, Dân Tộc đang chuyển mình để tỏa ánh vinh quang.

    Chúng ta lại là người trong cuộc, chúng ta không thể làm khách bàng quan.

    Những ai đang hoạt động, hãy mạnh dạn lên. Hãy góp phần tăng triển những ơn ích của Thời Đại Mới. Hãy chuẩn bị cho những trách nhiệm mới.

    Những ai đã lỡ bước, cũng không thể vì vậy mà nhắm mắt đưa chân. Thời cơ đã tới.

    * *

    14.2 Mọi thay đổi đã được tiên báo. Mọi biến chuyển đang tuần tự tiếp diễn. Thôi, đừng bám víu lỡ lầm. Có thể dối người, nhưng không thể dối thâm tâm mình.

    Dám tự nhận mình lầm lỗi, cũng đã là can đảm.

    Dám dứt khoát với sai quấy, còn can đảm hơn.

    Can đảm thêm một bực, khi dám thú nhận và nói lời tạ lỗi.

    Phải can đảm vượt bực, mới có thể hành động chuộc lại lỗi lầm xưa.

    Có khí phách Anh hùng, là những người dám xử dụng mọi phương tiện và năng lực hiện có, để làm lại cuộc đời, dám hành động trổi vượt, không chỉ để bù đắp tổn hại đã qua, mà còn tạo thêm lợi ích cho Dân Tộc.

    Hãy can đảm đón nhận và tham gia những Biến cố Ơn ích cho Toàn Dân, cho Chính Mình.

    * *

    14.3 Mọi người và mỗi người hãy theo phần của mình mà chung sức xây dựng lại Giang sơn.

    Mọi người và mỗi người. Nhưng công cuộc nào cũng khởi đầu với những nhóm nhỏ. Những nhóm anh em, những nhóm bạn hữu, những nhóm tâm huyết… Tâm sự tăng tự tín, bàn tính giúp niềm tin.

    Hãy tự chuẩn bị mình, hãy chuẩn bị cho nhau. Nhìn ra chung quanh và thẩm định những gì thực sự là chính đáng và lợi ích, cho chính mình, cho thân nhân, cho Đồng Bào.

    Vấn đề vẫn là nhập cuộc, là khởi công hành động thiết thực. Can đảm đối diện thực tế, và tích cực xây dựng.

    Thời cơ đã đến. Nhưng chỉ những ai có chuẩn bị thì mới trực tiếp và chủ động bước vào Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vàng son, kỷ nguyên vinh quang của Dân Tộc, của chính mỗi người chúng ta.

    * *

    14.4 Hãy cùng nhau reo vui, hãy cùng nhau chuẩn bị, hãy cùng nhau nhập cuộc, hãy chung phần vào nguồn sáng vinh quang của Dân Tộc.

    Giờ đã điểm. Cơ duyên đã tới. Đã được tiên báo và nhắc nhở từ hơn 400 năm trước.

    Hãy ngẩng đầu lên !

    * * * *

    15. GHI CHÚ

    * 5203. : Ký số của bài trong danhgiactau.com.

    *1 – Sấm Nostradamus gồm : 965 đoạn bốn câu, 58 đoạn sáu câu, 141 câu rời, 2 bức thư, và 1 đoạn bốn câu tiếng latin. – Đọc Nostradamus 1 : Countdown to Apocalypse, do Jean-Charles de Fontbrune, nxb Pan, London 1984, tr xvii-xviii.

    Thư viện Quốc gia Paris hiện đang có những bản in đầu tiên : Les Prophéties de M. Michel de Nostradamus, nxb Macé Bonhomme, Lyon 1555 ; nxb Pierre Rigaud, Lyon 1558 ; nxb Benoist Rigaud, Lyon 1568.

    *2 – Hiện nay, nhà giải đoán nổi tiếng nhất là Jean-Charles de Fontbrune, với tác phẩmNostradamus 1 : Countdown to Apocalypse, nxb Hutchinson, London 1983 ; và Nostradamus 2 : Into the 21st Century, nxb Hutchinson, London 1984. Nguyên bản bằng tiếng Pháp.

    Bà Erika Cheetham cũng có nhiều tác phẩm giá trị, như : – The Prophecies of Nostradamus, nxb Spearman, London 1973 ; – The Further Prophecies of Nostradamus, nxb Corgi, London 1985; – The Final Prophecies of Nostradamus, nxb Warner, London 1989.

    *3 – Về các Nguyên tắc Nền tảng cho việc Giải Sấm, đọc bài 5201. Đức Trạng Trình với Việt Nam Thời Bảo Bình, phần 3.

    *4 – Chương 8, đoạn 77. (Chương 8 cũng gọi là Trăm thứ 8).

    Đoạn 8/77 : đọc Nostradamus 1, sđd, tr 423 ; – The Final Prophecies of Nostradamus, do Erika Cheetham, nxb Warner, London 1989, tr 434.

    Đoạn 8/44 : đọc Nostradamus 1, sđd, tr 422 ; – The Final Prophecies of Nostradamus, sđd, tr 417.

    *5 – Đọc The Final Prophecies of Nostradamus, sđd, tr 434 ; – Nostradamus and the Millennium, do John Hogue, nxb Bloomsbury, London 1988, – về Napoléon tr 66-73; và – về Hitler tr 82-87.

    *6 – Đọc Nostradamus 1, sđd, tr 417-425 ; – The Further Prophecies of Nostradamus, sđd, tr 194-211.

    *7 – Đọc The Final Prophecies of Nostradamus, sđd, tr 434 ; – Nostradamus and the Millennium, sđd, tr 124 ; – Nostradamus 1, sđd, tr 423.

    *8 – Đọc The Final Prophecies of Nostradamus, sđd, tr 435 ; – Nostradamus 1, sđd, tr 423. – Đọc thêm The Further Prophecies of Nostradamus, sđd, tr 206 ; – Nostradamus and the Millennium, sđd, tr 137.

    *9 – Đọc Việt Nam Sử Lược, do Trần Trọng Kim, nxb Trung Tâm Học Liệu, Sàigòn 1971, q2, tr 233-234.

    *10 – Đọc Vietnam : A Dragon Embattled, do Joseph Buttinger, nxb Praeger, New York 1967, tr 402-403 ; – Từ Thực Dân tới Cộng Sản, do Hoàng Văn Chí, nxb Chân Trời Mới, Sàigòn 1964, tr 92-93.

    *11 – Đọc thêm Việt Sử Tân Biên, do Phạm Văn Sơn, nxb Khai Trí, Sàigòn 1955-1960, các quyển 5-7.

    *12 – Đọc Le Dragon d’Annam, do Bảo Đại, nxb Blon, Paris 1980, tr 198-203 ; – Vietnam : History, Documents, and Opinions, do Marvin E. Gentleman, nxb Penguin, Harmondsworth 1966, tr 78-80, 170 ; – Việt Sử Toàn Thư, do Phạm Văn Sơn, xb Sàigòn 1960, tr 709.

    *13 – Không thể có buổi ký kết nào chính thức, đầy đủ thủ tục, và long trọng hơn.

    *14 – Ít nhất từ ngày nầy, không ai có thể nại cớ vì chống thực dân, đế quốc, mà làm lợi cho cộng sản.

    *15 – Đọc Le Dragon d’Annam, sđd, tr 203 ; – Việt Sử Toàn Thư, sđd, tr 709-710 ; – Việt Sử Khảo Luận, do Hoàng Cơ Thụy, nxb Hội Văn Hóa Hải Ngoại, tập 9, Paris 1992, tr 2192.

    *16 – Việc Quốc Hội chuẩn nhận luôn đi sau Hiệp định.

    *17 – Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế, do Nhị Lang, nxb Lion Press, Boulder CO 1985, tr 159 ; – Việt Sử Toàn Thư, sđd, tr 719.

    *18 – Đọc Le Dragon d’Annam, sđd ; – Khái lược Lịch sử hình thành Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, do Trần Hội và Trần Ðỗ Cẩm, www.

    *19 – Đọc Le Dragon d’Annam, sđd, tr 336-342 ; – The Last of the Mandarins : Diem of Vietnam, do Anthony T. Bouscaren, nxb Duquesne Univ. Press, Pittsburgh 1965, tr 52.

    *20 – Đọc Le Dragon d’Annam, sđd, tr 133 ; – Vietnam : History, Documents, and Opinions, sđd, tr 39 ; – Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 76-77; – Bộ Mặt Thật của Hồ Chí Minh, do Nguyễn Thuyên, nxb Chuông Sài gòn, Melbourne 1990, tr 111 và 203.

    *21 – Đọc Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 38-39, 90, 146, 251-252 ; – Hồ Sơ Quốc tế Cộng sản, do Sophie Quinn Judge, nxb Yale University Press, New Haven 11.1994 ; – Phật Giáo Hòa Hảo trong dòng Lịch sử Dân tộc, sđd, tr 362-363 ; – Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế, sđd, tr 159.

    *22 – Đọc Vietnam : A Dragon Embattled, sđd, tr 408-410 ; – Việt Sử Toàn Thư, sđd, tr 708 ; -Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 92 ; – Phật Giáo Hòa Hảo trong dòng Lịch sử Dân tộc, do Nguyễn Long Thành Nam, nxb Đuốc Từ Bi, Santa Fe CA 1991, tr 40, 356-367, 410 ; – Bộ Mặt Thật của Hồ Chí Minh, sđd, tr 139, 152, 203, 205.

    *23 – Đọc Vietnam : A Dragon Embattled, sđd, tr 838-840 ; – Việt Sử Toàn Thư, sđd, tr 717. – Chính phủ Quốc Gia Việt Nam phản đối việc phân chia đất nước, không ký hiệp định.

    *24 – Đọc The Saving of South Vietnam, do Kenneth Grenville, nxb Alpha, Sydney 1972, tr 29. – Đảng Cộng sản Việt Nam đã đổi tên thành Đảng Lao Động. Nhưng chỉ là đổi tên.

    *25 – Đọc Vietnam : A Dragon Embattled, sđd, tr 1168-1170 ; – Vietnam : History, Documents, and Opinions, sđd, tr 265, 324.

    *26 – Đọc The World Almanac of the Vietnam War, nxb Bison, New York 1985, tr 53, 108.

    *27 – Đọc nt, tr 346.

    *28 – Trích dẫn ở Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 164.

    *29 – Đọc The World Almanac of the Vietnam War, sđd, tr 48, 246. – Đọc thêm Bộ Mặt Thật của Hồ Chí Minh, sđd, tr 190.

    *30 – Đọc Bộ Mặt Thật của Hồ Chí Minh, sđd, tr 209 ; – Phật Giáo Hòa Hảo trong dòng Lịch sử Dân tộc, sđd, tr 365.

    *31 – Đọc Vietnam : The Ten Thousand Day War, do Michael Maclear, nxb Thames Methuen, London 1982, tr 287.

    *32 – Đọc Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 96, 98. – Đọc thêm Bộ Mặt Thật của Hồ Chí Minh, sđd, tr 243-244.

    *33 – Đọc thêm bài nầy, các mục 4.3d, 5.1b, và đoạn 10.2.

    *34 – Đọc Việt Sử Khảo Luận, sđd, tr 2189, 2194, 2478, 2495, 2511, 2525.

    *35 – Đọc bài nầy, đoạn 11.3.

    *36 – Đọc Nostradamus 1, sđd, tr 422 ; – The Final Prophecies of Nostradamus, sđd, tr 417.

    *37 – Đọc The Final Prophecies of Nostradamus, sđd, – về Pasteur tr 62 ; – về Hitler tr 121.

    Đây là cách dùng ẩn ngữ của Nostradamus. – Có thể Nostradamus đã ‘nghe’ tiếng Việt, hiểu ý, rồi dịch ra tiếng Pháp. – Cũng vậy, ở đoạn 2/7 và 3/42, Nostradamus đã dịch tên Hai Răng ra ‘Deux Dents’, Vịnh ra ‘Gorge’. – Đọc bài 5202. Nostradamus với Việt Nam Thời Bảo Bình, đoạn 2.6.

    *38 – Đọc Chân Tướng Hồ Chí Minh, do Cao Thế Dung, nxb Hưng Việt, USA 1989, tr 22-23.

    *39 – Đọc Hồ Sơ Quốc tế Cộng sản, sđd ; – Chân Tướng Hồ Chí Minh, sđd, tr 55-57.

    *40 – Nếu Hồ chí Minh là Hồ tập Chương thì chuyện ‘được chọn’ càng rõ ràng hơn. Một thằng Tầu được Liên sô chọn để công tác tại Việt Nam.

    *41 – Đọc Chân Tướng Hồ Chí Minh, sđd, tr 63.

    *42 – Đọc Việt Sử Khảo Luận, sđd, tập 9, tr 2191-2196 ; – Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 78-81, 95, 104, 203 ; – Bộ Mặt Thật của Hồ Chí Minh, sđd, tr 284, 292; – Zhou Enlai : A Political Life, do Barbara Barnouin, Changgen Yu, 2006 tr 214.

    *43 – Đọc thêm Chân Tướng Hồ Chí Minh, sđd, tr 102-107.

    *44 a – Với đầy đủ hồ sơ, hình ảnh. – Đọc Việt Sử Tân Biên, sđd, quyển 7, tr 229.

    b – Đọc Hồ Sơ Quốc tế Cộng sản, sđd.

    c – Đọc Một Cơn Gió Bụi, do Trần Trọng Kim, xb Sàigòn 1969, tr 75.

    d – Đọc Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 62, 80 ; – Le Dragon d’Annam, sđd, tr 134 ; – Bộ Mặt Thật của Hồ Chí Minh, sđd, tr 112-113 ; tr 123 có hình Hồ Chí Minh chụp với bà vợ người Nga và đứa con gái.

    *45 – Đọc Vietnam : A Dragon Embattled, sđd, tr 359 ; – The World Almanac of the Vietnam War, sđd, tr 347 ; – Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 139, 283.

    *46 – Đọc Điều lệ của Cộng sản Quốc tế, bài nầy, mục 8.2b.

    *47 – Cũng vì vậy, trong chế độ Cộng sản, mọi thuộc hạ của Bộ Chính Trị, – dầu là ‘Chính phủ’, dầu là ‘Quốc hội’, dầu là ‘Tư pháp’, – đều phải là những ‘con người Cộng sản’, những ‘đỉnh cao trí tuệ’, đảng viên cộng sản, không thể là bọn ‘khỉ lạc hậu’.

    *48 – Về số thương vong do hai cuộc chiến, đọc thêm bài nầy, đoạn 11.3.

    *49 – Đọc Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 137, 235, 250, 255, 261, 262, 285, 288 ; – Vietnam : A Dragon Embattled, sđd, tr 911-914, 1124.

    *50 – Đọc thêm Từ Thực Dân tới Cộng Sản, sđd, tr 116, 259, 275 ; – The Saving of South Vietnam, sđd, tr 31 ; – Bộ Mặt Thật của Hồ Chí Minh, sđd, tr 247-251.

    *51 – Bình Ngô Đại Cáo, của Đức Nguyễn Trãi.

    *52 – Đọc bài nầy, đoạn 3.2.

    *53 – Đọc bài nầy, mục 4.2c và d.

    *54 – Các Quốc gia đã đưa quân đội tới giúp nhân dân Việt Nam chống Cộng sản Xâm lăng Miền Nam, gồm có : Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Đại Hàn và Thái Lan.

    *55 – Nhiều người xúc động vì hình ảnh máu lửa của cuộc chiến được trình chiếu hằng ngày trên truyền hình, báo chí, nên quá thương cảm mà ủng hộ Phong trào Phản chiến.

    Tuy nhiên, vì không đặt mình vào hoàn cảnh người đang chiến đấu, không thực tâm tìm hiểu lý do cuộc chiến… mà chỉ là người ngoại cuộc, chỉ thương hại, nên tình thương hời hợt của họ đã bị lợi dụng để gây thêm khốn khổ cho những người họ muốn cứu.

    – Đọc bài 2103. Tiêu Chuẩn Để Sống Tình Người theo Văn hóa Việt, gc *4.

    *56 – Để có thể rút ra khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ đã đưa chính sách ‘Việt hóa chiến tranh’. Từ 5.1968 ‘hòa đàm’ với Giặc cộng. Từ 8.1969 bắt đầu rút quân. Rồi ký Hiệp định Paris 27.1.1973 để ‘rút lui trong danh dự’ (!)… – Đọc The World Almanac of the Vietnam War, sđd, tr 203, 225, 338.

    Dầu chính phủ và Tổng Thống Mỹ đã long trọng và thực tâm hứa hẹn, nhưng khi Đảng Dân Chủ giữ đa số trong Quốc hội, bọn Dân biểu Phản chiến đã coi thường uy tín và danh dự của Quốc gia Mỹ, không điếm xỉa tới.

    *57 – Đọc Vietnam : A Dragon Embattled, sđd, tr 797, 1072.

    *58 – Đọc Thông tấn Pháp, Bản tin 30.4.1995.

    *59 – Đọc Zhou Enlai : A Political Life, do Barbara Barnouin, Changgen Yu, 2006 tr 214. – The Blade, Toledo, Ohio, 16.5.1989, tr 2.

    *60 – Đọc The World Almanac of the Vietnam War, sđd, tr 358.

    *61 – Đọc thêm bài 5201. Đức Trạng Trình với Việt Nam Thời Bảo Bình, mục 5.3b. – Bài 5202. Nostradamus với Việt Nam Thời Bảo Bình, đoạn 2.3. – Đọc The World Almanac and Book of Facts 1992, nxb Pharos, New York, tr 817 ; – The World Almanac of the Vietnam War, sđd, tr 358.

    *62 – Đọc bài nầy, đoạn 10.2.

    *63 – Bình Ngô Đại Cáo, của Đức Nguyễn Trãi.

    *64 – Đọc bài 5202. Nostradamus với Việt Nam Thời Bảo Bình.

    _____________________

    Nguyễn Thanh Đức 2015.

  87. chinhkie permalink

    5. Câu 3 : PHẢN GIÁO THÌ CHẾT, BỊ BẮT THÌ LƯU ĐÀY

    Cuộc chiến nào cũng đẫm máu. Nhưng cuộc chiến do Đại Ác Quỉ gây ra, lại đẫm máu một cách tàn ác bạo ngược gấp bội. Nostradamus đã phải ghi lại tình trạng kinh hoàng đó.

    5.1 Phản giáo thì chết.

    a. Cuồng tín, giáo điều. Giặc cộng.

    Chữ hérétiques được dùng để chỉ những người chống lại một số giáo điều, là lạc đạo, phản giáo. Nostradamus báo trước : tên Đại Ác Quỉ giết những người hắn coi là phản giáo.

    Như thế, tên Đại Ác Quỉ chủ trương những mệnh lệnh của Liên sô đều là những giáo điều. Ai không theo mệnh lệnh của Liên sô, đều phải chết.

    Thực không còn từ ngữ nào chính xác hơn để diễn tả bọn Giặc cộng giáo điều, cuồng tín, cực đoan. Chúng cuồng nhiệt với tà thuyết cộng sản và với mệnh lệnh của Liên sô hơn cả tín đồ tôn giáo tuân giữ tín lý. Chúng gọi những người không theo chúng là ‘phản động’.

    Giặc cộng còn quyết dùng chủ nghĩa cộng sản để thay thế cho tôn giáo, luân lý, và truyền thống dân tộc.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Trong Đại hội Đảng năm 1959, Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà Nước, Trường Chinh, đã phát biểu : ‘Chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít sẽ hướng dẫn nếp sống đạo đức cho cả nước và là cái khung chứa đựng tư tưởng của toàn thể dân tộc. Nó sẽ là nền tảng xây dựng đạo đức cho nhân dân ta’…(!) Sau đó Trường Chinh còn trở thành Tổng Bí Thư Đảng.

    ** Chính Hồ Chí Minh cũng tuyên bố : ‘Bác’, (chính hắn), có thể sai. Nhưng Mao chủ tịch và Stalin không thể sai (!!)’.*28

    = Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh không chỉ là tên nô tài đốn mạt của Liên sô và của Tàu, mà còn tôn thờ những tên bạo ngược tàn ác nhất lịch sử nhân loại.

    Đối với nếp sống truyền thống Việt, Cộng sản giáo điều không có bất cứ gì là đạo đức, tư tưởng, luân lý, truyền thống của Văn hóa Việt. Đối với Văn hóa Việt, đối với Dân tộc và Quốc gia Việt Nam, dầu Cộng sản có tổ tiên là người Việt, chúng cũng là Giặc Xâm Lăng về mọi phương diện. Chúng không chỉ xâm lăng lãnh thổ, quyền lực, mà còn xâm lăng cả đạo đức, luân lý, tư tưởng, truyền thống, nếp sống xã hội Việt.

    Chúng là Giặc cộng.

    *

    b. Đẫm máu dân lành vô tội.

    Trong suốt cuộc chiến do Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh gây ra, ở khắp mọi miền đất nước, trong khắp mọi làng thôn thị trấn Việt Nam, nơi nào cũng đã nhuộm đầy máu những người dân vô tội bị chúng gán là ‘phản động’.

    Đang sống yên lành, đột nhiên người dân vô tội bị đem ra chặt đầu, chỉ vì Giặc cộng cho rằng họ ngoan cố, phản động. Chúng gán tội và chặt đầu, không một chút bằng chứng, không một chút lý lẽ, không một gợn từ tâm, không một lời giải thích. Độc đoán, bạo ngược.

    Nostradamus dùng hai chữ ngắn gọn đến phũ phàng : ‘hérétiques morts’ – phản động ! chết !, y như tiếng hét ma quái của tên Giặc cộng, khi hắn ra lịnh chém lát mã tấu oan nghiệt xuống cổ mấy chục vạn dân lành vô tội.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Trong những năm 1958-1963, mấy vạn viên chức xã ấp Miền Nam bị hạ sát. Họ chỉ là những người tình nguyện chăm sóc cho dân làng, được dân bầu lên.*29

    ** Giặc cộng thường dùng cuốc để chặt đầu người, đem đầu treo giữa chợ. Chúng còn mổ bụng dồn trấu, trước sự chứng kiến bị bắt buộc của người dân toàn làng.*30

    ** Đêm giao thừa Tết Mậu Thân, 30.1.1968, Giặc cộng tấn công 7 thị xã và 30 tỉnh lỵ Miền Nam. Ở khắp nơi, số thường dân bị Giặc cộng tàn sát luôn nhiều gấp bội số quân nhân hy sinh.

    ** Chỉ riêng tại Huế, đã có hơn 5800 thường dân bị giết hại, nhiều gấp 10 lần lính tử trận (!). Tài liệu của Giặc cộng còn ghi chúng đã hạ sát và chôn sống ít nhất 38 cảnh sát, 790 dân thường, 1892 công chức.*31

    * *

    5.2 Bị bắt thì lưu đày.

    a. Bị bắt.

    Captifs theo nghĩa nguyên thủy latin, có nghĩa là bị bắt, tù nhân, nô lệ. Thời trước, ở phương Tây, bất cứ ai bị bắt trong các trận chiến, dù là thường dân, cũng ‘đương nhiên’ trở thành nô lệ.

    Ở đây, với chữ captifs theo sau chữ heretiques, Nostradamus nhấn mạnh : đối với bọn giáo điều Cộng sản, hễ không phải cùng phe, không phải đảng viên, đều bị đối xử như tù nhân, nô lệ.

    Trên thực tế, đây cũng chính là cách đối xử của Giặc cộng. Đối với Giặc cộng, chỉ có đảng viên mới là ‘dân’, ai không phải đảng viên thì đều là nô lệ.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Mỗi khi khởi sự một chiến dịch hay một công tác, Giặc cộng thường tổ chức một nhóm đảng viên đóng vai vui vẻ tình nguyện, sẵn sàng hy sinh, giành nhau lên đường… Rồi chính bọn đảng viên nầy lại khích động, nài ép, và cưỡng bức những người dân vô tội, đặc biệt thành phần chúng đã định trước, phải xả thân thực hiện mưu đồ thâm độc của chúng.

    = Đó chỉ là phương thức. Thực chất thì người dân bị chỉ định, bị cưỡng bức, không thể chối từ, không thể bỏ cuộc. Đối với Giặc cộng, Người dân chỉ là những tên nô lệ, ‘đương nhiên’ phải gánh chịu mọi cực nhọc khổ ải, phải bỏ mạng, không cần thương tiếc.

    *

    b. Lưu đày.

    Kẻ ‘bị bắt thì lưu đày’ cũng là hình ảnh của đoàn dân công bị bắt khiên súng vác đạn, gồng gánh lương thực, cho bọn quỉ đỏ. Ở những vùng bị bọn Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh kiểm soát, hàng chục vạn dân lành đã bị cưỡng bức đi phục vụ chiến trường, khổ hơn trâu ngựa.

    Từng đoàn người phải nhịn đói nhịn khát, ngày đêm lê hai bàn chân trần trên sỏi đá, để quằn lưng khiên súng đạn lên vùng núi cao hiểm trở, rừng sâu nước độc. Ra đi không ngày về. Muốn trở về cũng không có lương thực. Yếu mệt thì bị đạp qua bên đường nằm chờ chết. Khổ nạn hơn cả tội phạm bị khổ sai biệt xứ. Người dân bị đối xử tệ hơn nô lệ.

    Ngoài ra, có ai thấu hiểu nỗi thống khổ tủi nhục của hơn 300.000 thanh thiếu nữ bị bắt đi theo hộ lý, làm nô lệ tình dục cho những đoàn quỉ dữ dâm ác tàn bạo ?

    Từ ngữ ‘hộ lý’ cũng do bọn cộng sản đặt ra, để chỉ những thân phận đáng thương nầy.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Những cảnh thương tâm nầy không chỉ được ghi nhận nơi nhiều tài liệu, sách vở, mà còn bị chính Giặc cộng quay phim để phổ biến, tuyên truyền [!].*32

    = Captifs exilez, ‘Bị bắt thì lưu đày’, người dân bị đối xử tệ hơn tội phạm bị lưu đày, tệ hơn nô lệ.

    Nostradamus có mủi lòng khi đặt bút viết mấy chữ nầy không ?

    * * * *

    6. CÂU 4 : MÁU, XÁC NGƯỜI, NHUỘM ĐỎ NƯỚC, LÀM TÊ CÓNG ĐẤT

    6.1. Những trận ‘biển người’.

    Có thể Nostradamus đã bật khóc. Hàng Chục Triệu Con Người đã bị tên Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh và lũ Giặc cộng thản nhiên gây thương vong và tàn hại. Những vụ đấu tố thanh trừng, những vụ thủ tiêu ám sát, chôn sống tập thể… kể sao cho hết.*33

    Nhưng có cảnh nào kinh hoàng bằng những trận biển người ? Hàng chục ngàn dân lành bị bọn quỉ đỏ đẩy đi làm bia đỡ đạn cho chúng, đạp lên bãi mìn, tiến về phía hàng trăm họng súng đang nổ ran… Thây người chật đất, kẻ bị thương bị bỏ mặc, Giặc cộng đạp lên xác người dân mà tiến.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Từ đầu năm 1950 tới 1954, ‘Chiến thuật biển người’ đã được Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh tàn nhẫn áp dụng. Số người không khí giới ‘tiến chiếm’ các đồn bót luôn nhiều gấp 10 tới 20 lần số lính trấn giữ.

    ** Trận Điện Biên Phủ, do các tướng Tàu và Võ Nguyên Giáp chỉ huy, đã nổi tiếng một cách oái oăm khi Giặc cộng dùng thân xác thanh niên nam nữ Việt Nam để đỡ đạn. Để chiếm một căn cứ (Điện Biên) có 1500 lính trú đóng, Giặc cộng đã hại chết 9.000 thanh niên và gây thương tật cho 20.000 người khác (!).

    ** Trong một trận đánh, Võ Nguyên Giáp lùa 12.000 người dân vượt bãi mìn, để chiếm một đồn chỉ có 29 lính trấn giữ, và giết được 17 người lính (!). Xác dân Việt đã lầy đất (!).*34

    = Vị chỉ huy gây thương vong cho 30.000 đồng đội để chiếm một căn cứ chỉ có 1.500 quân địch, thì là tướng tài hay là quỉ sứ đồ tể ?

    Nostradamus còn chữ nào khác để diễn tả nữa không ? Máu dân Việt, do tên Đại Ác Quỉ đổ ra, đã lênh láng tràn ngập, nhuộm đỏ cả nước. Xác dân Việt đã lầy đất, khí lạnh của xác dân Việt làm tê cóng cả mặt đất !

    * *

    6.2 Nước Mắt và Lửa.

    Nhưng Nostradamus, sao Ông không nói thêm về nước mắt ? Nước mắt của mấy chục triệu dân Việt đầm đìa suốt mấy mươi năm. Nước mắt khóc mẹ khóc cha, nước mắt mất con mất chồng, nước mắt trẻ thơ côi cút, nước mắt đứt ruột nát lòng của triệu triệu con người bị gia đình tan nát, tâm thần rối loạn, xác thân tàn phế… nước mắt tức tưởi của toàn dân suốt mấy mươi năm quằn quại trong gông cùm tàn độc của tên Đại Ác Quỉ và lũ đầu trâu mặt ngựa.

    Sao Nostradamus không nói thêm về lửa, ngọn lửa hỏa ngục đã theo bầy quỉ đỏ tràn về thiêu hủy biết bao nhà cửa ruộng vườn, làng thôn phố xá, đền đài lăng miếu Việt Nam ?

    Nhưng làm sao kể hết. Ngôn ngữ loài người làm sao kể hết những bạo ngược kinh hoàng của Đại Ác Quỉ ?

    * *

    6.3 Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh.

    Tuy Nostradamus không thể kể hết, nhưng từng điểm và toàn bộ Đoạn Sấm 8/77 của Nostradamus đều ứng nghiệm nơi Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh.

    Tên Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh, và đồng bọn Giặc cộng, đã tàn phá ba quốc gia Việt Miên Lào.

    Tên Đại Ác Quỉ đã gây ra cuộc chiến đẫm máu kéo dài suốt 27 năm, để phá hoại Chủ quyền và Độc Lập của Việt Nam.

    Tên Đại Ác Quỉ đã gây thương vong và lưu đày 29 triệu Con Người, để ép buộc Dân tộc Việt Nam làm nô lệ cho Liên sô và Tàu.*35

    Tên Đại Ác Quỉ đã làm cho máu và xác dân Việt nhuộm đỏ nước và làm tê cóng đất.

    Tên Đại Ác Quỉ chính là Hồ Chí Minh !

    * * * *

    7. ĐOẠN SẤM 8/41 : CON HỒ LY ĐÊ HÈN, GIAN TRÁ, BẠO NGƯỢC

    Nostradamus không những đã tiên báo cuộc chiến tàn khốc 27 năm do Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh gây ra, Ông còn vạch mặt tên cáo già, gọi đích danh, nêu rõ bản chất gian ác bạo tàn của hắn, cũng như phơi bày cuồng vọng làm tên nô tài đốn mạt, và phanh phui những động lực hạ tiện quái ác đưa đến những hành động độc hại kinh hoàng của hắn.

    Đoạn sấm 8/41, Nostradamus viết :

    Esleu sera Renard ne sonnant mot,
    Faisant le sainct public vivant pain d’orge,
    Tyrannizer apres tant à un cop,
    Mettant à pied des plus grands sur la gorge.*36
    Dịch :

    Con hồ ly sẽ được chọn, hắn câm miệng,
    Trước công chúng, hắn đội lốt thánh hiền khắc khổ,
    Lần nầy qua lần khác, hắn đột nhiên ra tay tàn độc,
    Lấy chân đạp cổ họng những to lớn nhất.
    * * * *

    8. CÂU 1 : CON HỒ LY SẼ ĐƯỢC CHỌN, HẮN CÂM MIỆNG

    8.1 Renard : hồ ly, chồn, cáo.

    Renard có nghĩa là con chồn, con cáo, con hồ ly. Cũng như ở sấm Trạng Trình và nhiều nơi trong sấm Nostradamus, một chữ có thể có nghĩa thông thường mà cũng có thể là tên riêng.

    Sấm Nostradamus có vài trường hợp tiêu biểu như : đoạn sấm 1/25 có chữ Pasteur. Theo nghĩa thông thường, pasteur là người chăn cừu hoặc là vị mục sư. Nhưng theo ý nghĩa toàn đoạn sấm và sự kiện đã ứng nghiệm, thì Pasteur chính là tên của nhà khoa học Louis Pasteur, người đã khám phá ra sự nhiễm độc là do vi trùng.

    Mấy mươi năm trước đây, cơ quan tuyên truyền của Quốc Xã Đức cũng đã lợi dụng và làm rùm beng, khi đoạn 2/24 sấm Nostradamus có chữ Hister. Trước đó, chữ nầy luôn được hiểu là tên bằng tiếng Latin của dòng sông Danube. Nhưng tổng trưởng Goebbels và chính Hitler lại muốn hiểu là Nostradamus dùng chữ Hister để chỉ Adolf Hitler. Sau nầy, khi xảy ra thế chiến thứ hai, mọi người phải công nhận đoạn sấm đó quả thực đã nói về tên khát máu Hitler.*37

    Trở lại đoạn sấm của chúng ta, chữ Renard, có thể chính là chữ dịch tên Hồ, hồ ly. Ta sẽ nghiệm xét các sự kiện trong đoạn sấm nầy, coi có phải là Hồ Chí Minh hay không.

    Thực ra, không những hắn tự ý chọn tên Hồ Chí Minh, mà còn muốn người khác gọi hắn là Hồ, bác Hồ, Hồ chủ tịch, già Hồ, giặc Hồ… hơn là gọi bằng tên riêng, Minh, theo kiểu người Việt Nam.*38

    * *

    8.2 Được chọn.

    a. Được chọn và được huấn luyện.

    Tên Hồ ly nầy được chọn, tức là để làm việc cho người chọn hắn, để làm nô tài, chứ không phải làm theo ý hắn.

    Đây quả là một nhận định phũ phàng. Nhưng lại thực chính xác cho trường hợp Hồ Chí Minh, dầu là Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Tập Chương. Hồ Chí Minh đã được ông chủ Liên sô chọn và huấn luyện, để thực hiện kế hoạch bành trướng Đế quốc Liên sô ở Việt Nam.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Theo tiểu sử, Hồ Chí Minh / Nguyễn Ái Quốc theo học trường tình báo Liên sô KGB năm 1923-1924.

    ** Hắn theo phái đoàn Liên sô hoạt động tại Tàu hai năm.

    ** Rồi lại theo phái đoàn về lại Moscou.

    ** Rồi lại trở lại Hoa Nam.

    ** Trong những năm từ 1934 tới 1938, Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc / Hồ Tập Chương) ở tại Moscou để được dạy dỗ thêm.*39

    = Như vậy, Liên sô đã chọn Hồ Chí Minh, huấn luyện thành Tình báo KGB, cho hắn nhiều lần thực tập tại Tàu, và rồi đưa KGB Hồ Chí Minh đi công tác tại Việt Nam.

    Quả đúng như Nostradamus nói : hắn đã được KGB Liên sô chọn.*40

    *

    b. Làm nô tài cho Ông chủ Liên sô.

    Lịch sử minh chứng rõ ràng là mọi chiêu bài vì dân vì nước, độc lập tự do, giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu nước… chẳng qua cũng chỉ để thi hành nghĩa vụ quốc tế, bành trướng Đế quốc Liên sô… theo lệnh Ông chủ Liên sô.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Đảng Cộng sản Việt Nam nằm trong hệ thống Cộng sản Quốc tế (Komintern), được qui định bởi bản điều lệ gồm 21 điều. Trong đó,
    . Điều 6 không cho các Đảng Cộng sản ở các nước có khuynh hướng quốc gia ;
    . Điều 14 buộc các Đảng Cộng sản triệt để ủng hộ Liên sô vô điều kiện ;
    . Điều 16 buộc các Đảng Cộng sản tuân hành tuyệt đối mệnh lệnh của quốc tế vô sản, do Liên sô nắm toàn quyền.*41
    = Đối với bọn chủ trương ‘vô gia đình’, thì làm gì có gia đình, dân tộc, đồng bào, mà thương mà yêu mà giải phóng. Đã chủ trương ‘vô tổ quốc’, thì làm sao có thể hy sinh vì quốc gia, vì tổ quốc. (!?)

    * *

    8.3 Câm miệng tuân hành.

    Khi đã tuân hành những điều kiện của ‘Cộng sản Quốc tế’ Liên sô, thì có tên cộng sản nào, huống nữa là KGB Hồ Chí Minh, còn có gì để mở miệng ?

    Ngay từ đầu và trong suốt cuộc đời, bất cứ khi nào, nơi nào, KGB Hồ Chí Minh, dầu là Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Tập Chương, luôn có ‘cố vấn Liên sô vĩ đại’ theo dõi, để ra chỉ thị và kiểm soát.

    Trong suốt cuộc đời, hắn luôn gục mặt tuân hành chi tiết từng điểm mọi chỉ thị của chủ, bảo sao nghe vậy. Hắn câm miệng, không hé môi, không gióng lên tiếng nào.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Không những Liên sô đã huấn luyện và điều động KGB Hồ Chí Minh ngay từ đầu, mà trong mọi ngành hoạt động của Giặc cộng cũng đều luôn luôn có mặt ‘cố vấn’ Liên sô để chủ động mọi sự. Súng đạn đủ loại, cũng như mọi phương tiện, chi phí… cũng đều do Liên sô cung cấp và điều động.

    ** Hồ Chí Minh hoàn toàn lệ thuộc vào Liên sô, rồi Tàu, không những từ chủ nghĩa cho đến sách lược, đường lối… mà mỗi một quyết định lớn nhỏ đều tuân theo chính sách từng giai đoạn của Liên sô, và phải thỉnh ý Moscou. Sau đó, lại còn thêm Bắc Kinh.

    ** Đầu năm 1950, chỉ hai tháng sau khi Trung Hoa rơi vào gông cùm cộng sản, Hồ Chí Minh tới trình diện tại Bắc Kinh. Từ đó, mọi chính sách của Giặc cộng lại rập theo đường lối Mao Trạch Đông. Ngoài các ‘cố vấn’ Liên sô, Miền Bắc lại tràn ngập thêm hàng ngàn ‘cố vấn’ Trung cộng.

    ** Từ tháng 2.1950, quân đội Giặc cộng nằm dưới quyền điều khiển của các tướng tá và 20.000 ‘chí nguyện quân’ Trung cộng. Hàng chục ngàn sĩ quan và cán bộ Giặc cộng cũng được huấn luyện ở Trung cộng.

    ** Chỉ từ 1965 tới 1968, đã có 320.000 quân Trung cộng tham chiến tại Việt Nam.*42

    = Giặc cộng càng tôn vinh Hồ Chí Minh, càng minh chứng hắn trung thành với chủ nghĩa cộng sản… thì càng xác nhận thân phận được chọn làm nô tài, làm tên nô lệ hạ tiện, không dám nói tiếng nào, câm miệng cúi đầu… của hắn.

    Nostradamus đã điểm mặt từ 400 năm trước : ‘Con Hồ ly sẽ được chọn, hắn câm miệng.’

    * * * *

    9. CÂU 2 : TRƯỚC CÔNG CHÚNG, HẮN ĐỘI LỐT THÁNH HIỀN KHẮC KHỔ

    9.1 Trước công chúng, hắn đội lốt.

    Chỉ ba chữ ‘trước công chúng’ cũng đủ nói lên cá tính bịp bợm của con Cáo già. Khi ở nơi riêng tư, và trong thực tế, hắn sinh hoạt hoàn toàn khác với khi hắn ở trước đám đông.

    Đã vậy, Nostradamus còn phải thêm ba chữ hắn đội lốt để nhấn mạnh chủ tâm quỉ quyệt gian manh của Hồ ly tinh. Đây không phải là một thái độ kiểu cách thông thường, mà là quyết chí gian lận xảo trá. Hắn chỉ đội lốt, đóng vai, chứ thực sự hắn không có bất cứ một điểm nào giống như vậy.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Lịch sử còn ghi việc Hồ Chí Minh đã đội tên Pháp, Nga, Tàu, Mỹ, Việt… thay nhau tất cả là 26 lần.*43

    ** Các tài liệu do Tàu vừa đưa ra chứng minh Hồ Chí Minh chính là biệt hiệu của Hồ Tập Chương, tên người Tàu trở thành KGB của Liên sô.

    = Nếu KGB Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, thì cũng đã là đội lốt thương dân thương nước.

    Nếu Hồ Chí Minh lại chính là tên giặc Tàu KGB Hồ Tập Chương đội lốt thương Dân Việt và tranh đấu cho Dân Việt, thì Nostradamus quả là thông tuệ. Ông đã dùng đúng theo cách Tàu gọi nhau bằng tên họ : già Hồ, giặc Hồ, Renard ! (Dân Việt gọi nhau bằng tên riêng : Cụ Diệm, Cụ Thiệu).

    * *

    9.2 Thánh hiền khắc khổ.

    a. Không vợ con, thức khuya dậy sớm.

    Bộ máy tuyên truyền của Giặc cộng đã là chứng cứ xác thực nhất cho điểm nầy của Đoạn sấm.

    Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh luôn được trình bày như một thánh hiền, đạo đức liêm chính, quên mình vì quốc gia dân tộc, từ bỏ cuộc sống riêng tư để dành trọn tâm huyết cho dân nước… Hắn sống khắc khổ, không vợ không con, không màng tình nam nữ, thức khuya dậy sớm, không thiết tiện nghi, không thích tiệc tùng…

    Ngày nay ai cũng biết đó chỉ là vở kịch nham hiểm của một tên dâm tặc chuyên hiếp gái tơ, cướp vợ bạn, chối bỏ vợ con.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh đã dùng mọi thứ thuốc tẩm bổ cường dương, đã gian dâm với vô số ‘cháu ngoan’ luôn thay nhau túc trực ‘hộ lý’.

    ** Năm 1925, hắn / Nguyễn Ái Quốc đã dùng số tiền hắn bán Nhà Cách mạng Phan Bội Châu cho Pháp, để cưới một cô gái Tàu, tên là Tăng Tuyết Minh.*44a

    ** Năm 1934, Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh không những sống chung với Nguyễn Thị Minh Khai, vợ của Lê Hồng Phong, mà còn khai chung lý lịch và được đối xử như vợ chồng trong kỳ dự Đại hội tại Moscou.*44b

    ** Năm 1944, theo cụ Trần Trọng Kim, trên đường từ Côn Minh về Việt Nam, Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh đã ép uổng nữ đồng chí Đỗ Thị Lạc. Cô nầy sinh một bé gái.*44c

    ** Có tài liệu và hình ảnh Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh sống chung và sinh con với vợ người Pháp, người Nga, người Tàu, người Nùng, người Việt… Nhưng rồi hắn không thừa nhận bất cứ người vợ người con nào.*44d

    = Đúng là kiểu sống khắc khổ của một Đại Ác Quỉ.

    *

    b. Thương dân thương nước.

    Lốt thánh hiền của Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh trở thành lộ liễu từ khi hắn có một số quyền lực, năm 1945. Ngoại trừ một số ít lâu la thân tín, trước công chúng và mọi người, hắn luôn luôn đóng kịch, đội lốt, gian trá xảo quyệt.

    Trước công chúng, lúc nào hắn cũng đội lốt thương dân thương nước.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Hắn có cả một bộ, Bộ Tuyên Truyền, để giúp hắn đóng kịch ; và hắn đóng kịch rất tài tình.

    ** Ngày 11.11.1945, nhận biết nhân dân Việt Nam không chấp nhận Cộng sản, hắn tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương, thành lập đảng Lao Động… nhưng thực chất vẫn hoàn toàn cộng sản. Tháng 12.1976, sau khi chiếm trọn Đông Dương, bọn chúng mới lại lộ nguyên hình, lấy lại tên Đảng Cộng Sản.

    ** Sau khi hoàn tất các chiến dịch tàn ác 1953-1956, Hồ Chí Minh đã đóng kịch ‘chảy nước mắt’, ‘xin lỗi’, hứa hẹn ‘sửa sai’… để rồi lại tiếp tục giết hại dân lành với các chiến dịch khác.

    ** Trên thực tế, hắn chỉ hoán chuyển các tên cán bộ từ nơi nầy qua nơi khác, và không trừng trị bất cứ một tên ác ôn nào.*45

    * *

    9.3 Đột lốt Thánh hiền với Chủ nghĩa Cộng sản.

    Thực ra, chữ ‘Đội Lốt Thánh hiền’ cũng nêu lên bản chất đích thực của Chủ thuyết Cộng sản. Nostradamus đã dùng bốn chữ ‘Đội Lốt Thánh hiền’ để nói tới toàn bộ lý thuyết và thực hành của chủ nghĩa Cộng sản.

    Trong lý thuyết và thực hành, Cộng sản luôn đội lốt những từ ngữ thông thường theo một nghĩa riêng của chúng.

    a. Đỉnh cao Trí tuệ, Con Người, Người Dân.

    Theo chủ trương nền tảng của thuyết Cộng sản, chỉ có ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ’, tức là chỉ có đảng viên Cộng sản, mới là những con người đích thực. Tất cả mọi người không phải đảng viên, chỉ là những con khỉ chậm tiến, ‘lạc hậu’. Những ‘con khỉ chậm tiến’ nầy cần được những Đỉnh Cao Trí Tuệ tận lực xử dụng, để phục vụ Đỉnh Cao Trí Tuệ tiến nhanh tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa.

    Vì vậy, khi Cộng sản dùng chữ ‘con người’, chúng hiểu theo nghĩa riêng của chúng là ‘Con người Cộng sản’, tức là Đảng viên Cộng sản.

    Cũng vậy, đối với Cộng sản, chỉ có Đảng viên Cộng sản’ mới là ‘người Dân’ đích thực. ‘Người Dân’ theo nghĩa thông thường, tức là với nghĩa ‘mọi người trong Nước’, chỉ là những con khỉ lạc hậu.

    Tuy nhiên, Cộng sản đã ‘đội lốt’, đã dùng chữ ‘Dân’ để mọi người lầm tưởng theo nghĩa thông thường, là mọi người trong Nước. Theo nghĩa của Cộng sản, ‘lo cho dân’ tức là ‘lo cho đảng viên Cộng sản’, không phải cho ‘bọn dân chúng khỉ lạc hậu’.

    ** Trong thực tế, Cộng sản luôn thực thi nền tảng nầy. Dưới chế độ Cộng sản, trong cuộc sống hằng ngày, ở mọi hành động, ở mọi cấp độ, Cộng sản chỉ lo cho đảng viên Cộng sản, và tận dụng mọi quyền lực để ức hiếp và bóc lột người Dân, bắt người Dân phục vụ tối đa cho bọn chúng.

    *

    b. Tự do, Độc lập, Hạnh phúc, Nhân quyền.

    ‘Trước công chúng’ Cộng sản luôn ‘Đội lốt Thánh hiền’ bằng việc tuyên truyền chúng tranh đấu cho ‘Tự do, Độc lập, Hạnh phúc, Nhân quyền’.

    Trong thực chất và thực hành, Cộng sản chỉ tranh đấu cho ‘Tự do Độc lập Hạnh phúc Nhân quyền’ của Đảng Viên Cộng sản. Người Dân, theo nghĩa thông thường, bị Cộng sản coi là những con khỉ lạc hậu, thua nô lệ, thì làm sao có thể có Tự do Độc lập Hạnh phúc Nhân quyền.

    Cộng sản không bao giờ có thể chấp nhận ‘Nhân quyền’ theo nghĩa thông thường, cho mọi Con Người.

    *

    c. Tổ quốc.

    Chủ trương nền tảng của thuyết Cộng sản là ‘vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo’.

    Vì vậy, trong cuộc sống thường ngày, chữ ‘Tổ quốc’ mà Cộng sản dùng cũng chỉ là ‘đội lốt’, để hiểu theo nghĩa riêng của chúng là ‘Đảng Cộng sản, Cộng sản Quốc tế’.

    Chữ ‘Tổ quốc’ của Cộng sản hoàn toàn không có nghĩa thông thường như mọi người hiểu.

    ** Vì vậy, trong chủ thuyết và trong thực hành của Cộng sản, việc ‘Cộng sản Việt Nam’ dâng hiến toàn thể dân tộc 100 triệu và Đất Nước mang tên Việt Nam, cho ‘Cộng sản Trung quốc’, cũng chỉ là thực thi chủ nghĩa Cộng sản, cũng là ‘thường tình’ đối với đảng viên Cộng sản, trong ‘Tổ quốc Cộng sản’.*46

    *

    d. Chính phủ, Quốc hội, Tư pháp.

    Cộng sản là đội lốt. Với hệ thống cai trị có Bộ Chính Trị, thì tất cả những danh từ hành chánh của Cộng sản cũng đều là đội lốt.

    Theo nghĩa thông thường, chữ ‘Chính phủ’ gồm Thủ tướng và các Bộ trưởng giữ việc Hành Pháp, chữ ‘Quốc hội’ lo về lập pháp, và chữ ‘Tư pháp’ lo về áp dụng Luật.

    Đối với Cộng sản, tất cả những cơ quan trên đều là đội lốt. Quyền lực thực sự, trong lý thuyết cũng như trong thực tế, đều nằm trong tay ‘Bộ Chính Trị’. Bộ Chính Trị nắm toàn bộ quyền lực, với mọi quyết định lớn nhỏ. Những ‘Chính phủ’, ‘Quốc hội’, ‘Tư pháp’ chỉ là những thuộc hạ đội lốt của Bộ Chính Trị.

    ‘Thủ tướng’ và các ‘Bộ trưởng’ chỉ là đội lốt. Trên thực tế, Thủ tướng chỉ là mặt nổi của Nội vụ và Ngoại giao. Các bộ trưởng, thứ trưởng chỉ là những thuộc hạ hạng nhì, hạng ba của Bộ Chính Trị.

    Ở Tỉnh, Huyện, Xã cũng vậy. Những Chủ tịch Hội đồng Nhân dân chỉ là thuộc hạ Cộng sản đội lốt ‘Nhân dân’, thực quyền ở các Bí thư Tỉnh, Huyện, Xã…*47

    *

    e. Xã hội Cộng sản.

    Bản chất của chủ thuyết và thực hành Cộng sản, của đảng viên Cộng sản, là Đội Lốt.

    Vì vậy, trong Xã hội Cộng sản, cuộc sống giữa các Đảng viên Cộng sản, tự bản chất Cộng sản, đều là đội lốt, dối trá, gian lận, lừa gạt nhau. Nếu không gian dối, gạt gẫm, lừa đảo, thì không phải Cộng sản.

    Cũng do đó, Cộng sản tạo ra một xã hội giả dối, lường gạt, gian xảo, cho tất cả mọi con người bị sống dưới chế độ Cộng sản.

    ** Theo niềm tin của Nostradamus, theo Sách Thánh Kitô giáo, ‘Cha của dối trá là ác quỉ’. (Gioan 8, 44).

    *

    g. Đảng viên Cộng sản với Con Người.

    Đảng viên Cộng sản luôn cho mình là Đỉnh cao Trí tuệ, phần còn lại của Loài Người là những con khỉ lạc hậu.

    Thế nhưng, trên thực tế, chủ thuyết Cộng sản đã biến Đảng viên Cộng sản từ những Con Người trở thành những con Khỉ Đột.

    Dầu theo Thuyết Tiến Hóa, trên thực tế, Loài Người đã tiến thêm một bậc cao hơn Loài Khỉ.

    1. Trong khi Loài Khỉ chỉ biết có Chính Mình trong Hiện tại, không biết tới Gia Đình, không biết tới cha mẹ, ông bà, con cái, vô gia đình, thì Loài Người đã vượt qua khỏi cá nhân, để nhận biết Cha Mẹ, Ông Bà, Tổ Tiên trong Quá khứ, và do đó, biết tới các Thế hệ con cháu trong Tương lai.

    2. Trong khi Loài Khỉ chỉ hạn hẹp trong Chính Mình, không biết tới Gia đình, không biết tới dòng họ, không biết Tổ quốc, vô tổ quốc, thì Loài Người đã vượt tới tầm mức Dòng giống, Dân tộc, Văn hóa, Quốc gia.

    3. Trong khi Loài Khỉ chỉ biết có Vật Chất hạn hẹp trong Hiện tại, thì Loài Người đã vượt xa không chỉ với Nếp sống Gia Đình, Làng thôn, Dân tộc, Quốc gia, mà còn vượt lên tới phần Tuệ Linh, tới phần thông hiệp và chia sẻ cuộc sống với Thế Giới Linh Thiêng, vĩnh cửu, mà phần cô đọng là Tôn giáo.

    Loài Khỉ – chỉ biết có chính mình, không biết tới Mẹ Cha dòng họ, – chỉ biết có hiện tại, không biết tới quá khứ tương lai, – chỉ biết có vật chất, chưa lên tới được phần tinh thần, phần tâm hồn cao thượng, phần tình yêu cao cả, thì làm sao Loài Khỉ có thể biết tới Tôn giáo. Loài Khỉ đương nhiên là vô tôn giáo.

    4. Ngoài ra, không những chỉ biết có vật chất, trí óc Loài Khỉ cũng thô sơ, không thể hiểu biết, không thể học hỏi nhiều như Loài Người. Vì vậy, đối với Loài Khỉ, những hiểu biết, kiến thức, trí thức của Loài Người là vô dụng và độc hại. Đối với Loài Khỉ, đối với Cộng sản, ‘trí thức không bằng cục phân’.

    Ngoài ‘vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo’, Loài Khỉ, Cộng sản, còn có cái ‘vô’ thứ tư : ‘vô trí thức’. Phải ít học, ngu dốt, mới là Cộng sản.

    5. Cũng vậy, trong khi Loài Người đã phát triển tới mức đã biết cuộc sống Xã hội, cùng nhau chia sẻ cuộc sống chung, tôn trọng lẫn nhau, đưa tới thương yêu đùm bọc, hy sinh cho nhau… thì Loài Khỉ Cộng sản chỉ biết Đấu tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua, ‘tiên tiến diệt lạc hậu’… nghĩa là chỉ biết giành ăn, không nhân nghĩa, không từ tâm, không gia đình, không làng xóm, không xã hội, ‘vô xã hội’.

    ‘Vô xã hội’ là cái ‘vô’ thứ năm của Cộng sản. Danh xưng là ‘Xã hội Chủ nghĩa’, cũng như danh xưng ‘Cộng sản’, lại cũng chỉ là đội lốt.

    6. Cũng ‘5 vô’ như Loài Khỉ, nhưng Cộng sản còn trổi vượt hơn Loài Khỉ, kể cả tầm vóc và cường độ :

    – cũng vô gia đình, nhưng Cộng sản ích kỷ, bất nhân, bất hiếu, bất lương hơn Loài Khỉ,

    – cũng vô tổ quốc, nhưng Cộng sản vô tâm, bất trung, bất nghĩa, bất tín hơn Loài Khỉ,

    – cũng vô tôn giáo, nhưng Cộng sản ngạo mạn, vô luân, gian trá, tàn ác hơn Loài Khỉ,

    – cũng vô trí thức, nhưng Cộng sản thiển cận, mặc cảm, cố chấp, lạm quyền hơn Loài Khỉ,

    – cũng vô xã hội, nhưng Cộng sản tắc trách, nhẫn tâm, bóc lột, tham nhũng… hơn Loài Khỉ gấp trăm, ngàn lần.

    7. Vì vậy, những Con Người trở thành Đảng viên Cộng sản, chính là từ Loài Người thoái hóa thành Loài Khỉ, và gian manh, bất lương, tham lam, tàn ác hơn Loài Khỉ.

    Cộng sản là Khỉ gian ác Đội Lốt Người.

    *

    h. Nostradamus với Đảng viên Cộng sản.

    Nostradamus không chỉ đơn thuần thấy thuyết Cộng sản kéo Con Người thoái hóa thành Loài Khỉ, đảng viên Cộng sản là Khỉ đội lốt Người, mà Ông còn nhìn thấy những hệ quả nghiêm trọng của những Con Khỉ Cộng sản gây đại họa cho Loài Người.

    Ông gọi Đầu đảng của bọn chúng là Đại Ác Quỉ.

    * * * *

  88. chinhkie permalink

    c. Việt Nam Độc Lập và Thống Nhất.

    Dầu Giặc cộng có gian trá xảo quyệt tới đâu, việc lạm nhận ‘đấu tranh giành độc lập’ cũng chỉ kéo dài tới năm 1948.

    Năm 1948, những người chiến đấu vì quốc gia dân tộc, đại diện cho toàn dân, chống cả thực dân lẫn cộng sản, đã chính thức thành lập đầy đủ cơ cấu chính trị của một quốc gia độc lập thống nhất, gồm cả ba Kỳ Bắc Trung Nam, với quốc trưởng, thủ tướng, chính phủ, Hội Đồng Quốc Gia, quốc kỳ, quốc ca… với Hiệp định Pháp chính thức trao trả Độc Lập toàn diện, và với danh xưng Quốc Gia Việt Nam.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Tiến trình đô hộ của Pháp đã chia Việt Nam thành ba Kỳ Bắc Trung Nam, với ba hệ thống hành chánh khác nhau.

    ** Năm 1945 Hoàng đế Bảo Đại thoái vị.

    ** Năm 1948 theo lời yêu cầu của Hội Đồng Quốc Gia, gồm đại diện các chính đảng và giáo phái, Bảo Đại nhận làm Quốc trưởng.

    ** Ngày 27.5.1948 Chính phủ Trung Ương Lâm Thời được thành lập, với Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân.

    ** Ngày 2.6.1948 Quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ và Quốc ca ‘Nầy công dân ơi’ trở thành chính thức.*12

    ** Ngày 5.6.1948, tại vịnh Hạ Long, Cao ủy Pháp tại Đông Dương, Đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp (Emile Bollaert), ký Hiệp định Hạ Long với Chủ tịch Chính phủ Trung ương Lâm thời của Việt Nam (Nguyễn Văn Xuân) và Phái đoàn Đại diện cho Ba Kỳ Việt Nam, trước sự chứng kiến của Hoàng đế Bảo Đại.*13

    ** Hiệp định Hạ Long, Điều 1 : Pháp long trọng thừa nhận nền Độc lập của Việt Nam, và Việt Nam có quyền tự do thực hiện việc thống nhất… – Điều 3 : Cùng với việc thành lập Chính phủ Lâm thời, các đại diện Việt Nam sẽ cùng với các đại diện Cộng hòa Pháp thông qua những thỏa hiệp riêng về [từng bộ phận riêng]…*14”

    ** Ngày 8.3.1949 Hiệp định Élysée giữa Quốc trưởng Việt Nam Bảo Ðại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol : Việt Nam có quân đội và chính sách ngoại giao riêng.

    ** Ngày 6.6.1949 Quốc hội Pháp bỏ phiếu long trọng trao trả Nam Kỳ trở lại thành lãnh thổ Việt Nam, và hủy bỏ chế độ thuộc địa do các Hòa ước 1862 và 1874.

    ** Ngày 7.2.1950 Anh và Mỹ thừa nhận Quốc Gia Việt Nam. Trong mấy tuần sau đó, tất cả các nước phương Tây đều thừa nhận Quốc Gia Việt Nam.*15

    = Như vậy, Việt Nam đã chính thức và thực sự Độc Lập và Thống Nhất Ba Kỳ, công khai trước quốc tế.

    Hiệp định không những có hiệu lực khi được chính thức ký kết giữa hai Chính Phủ, mà còn được Quốc Hội chuẩn nhận.*16

    Trên phương diện ngoại giao, Quốc Gia Việt Nam còn được tất cả các quốc gia phương Tây, không cộng sản, thừa nhận.

    Không thể có một văn kiện, một Hiệp định nào chính thức, thực tế, đầy đủ thủ tục, và công khai hơn. Và tất cả đều đã được thực thi.

    = Nhưng rồi Quốc Gia Việt Nam Độc Lập và Thống Nhất lại bị phiến quân Cộng sản, lúc ấy mang tên Việt Minh, tiếp tục đánh phá.

    Sau Hiệp định Genève chia đôi đất nước, 20.7.1954, Quốc Gia Việt Nam tiếp tục tồn tại ở Miền Nam.

    Ngày 26.10.1955 Quốc Gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng Hòa.*17

    *

    d. Vấn đề Quân đội Pháp.

    Từ năm 1948, Việt Nam đã chính thức Độc lập và Thống nhất, qua các văn kiện chính thức giữa chính phủ Pháp và chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Tất cả mọi quốc gia không cộng sản cũng đã chính thức công nhận.

    Tuy nhiên, với sự tiếp tay và điều khiển của Ông chủ Cộng sản Nga, rồi Tàu, Hồ Chí Minh và đồng bọn tiếp tục gây xáo trộn.

    Vì Quốc Gia Việt Nam bị phiến quân Cộng sản đánh phá, quân đội Pháp được yêu cầu ở lại Việt Nam để hỗ trợ việc thành lập Quân đội Quốc gia, và tiếp tay đánh trả Phiến quân Cộng sản.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Ngày 13.4.1949 Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập.

    ** Ngày 8.12.1950 Hiệp định Quân sự giữa Quốc Gia Việt Nam và Pháp : Quốc Gia Việt Nam xử dụng một số đơn vị quân đội Pháp, để giúp Việt Nam chống trả Việt Minh phá hoại.*18

    Cũng do đó, sau Hiệp định Genève, việc Pháp rút quân lại được đặt ra.

    ** Ngày 30.4.1955, trong thời cụ Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Miền Nam, Đại diện 18 đảng phái họp Đại Hội, và đòi : truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ mới, đòi quân đội Pháp triệt thoái hoàn toàn khỏi Việt Nam.

    ** Sau đó, chính phủ Ngô Đình Diệm gởi phái đoàn điều đình việc Pháp rút quân.

    ** Tháng 6.1955 quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam.*19

    *

    e. Cuộc chiến 27 năm của Đại Ác Quỉ.

    Quốc Gia Việt Nam, gồm toàn thể Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam, đã Độc Lập từ ngày 6.5.1948.

    Tuy nhiên, vì tuân lịnh Ông chủ Đế quốc Liên sô, Hồ Chí Minh và đồng bọn đã dùng chiêu bài ‘giành độc lập’ để gây Cuộc chiến kéo dài tới năm 1975.

    Trên thực tế, đây là cuộc chiến do Hồ Chí Minh và đồng bọn gây ra, để phá hoại Chủ quyền và Độc lập của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam. Bọn chúng nhất quyết đưa toàn thể Dân tộc Việt Nam vào ách nô lệ Đế quốc Liên sô, Tàu.

    Cuộc chiến kéo dài từ năm 1948 tới 1975, đúng 27 năm.

    Đây chính là cuộc chiến mà hơn 400 năm trước, Nostradamus đã ghi là do Đại Ác Quỉ gây ra. ‘Cuộc chiến Đẫm máu của Đại Ác Quỉ kéo dài 27 năm’.

    Tên Đại Ác Quỉ gây ra cuộc chiến chính là Hồ Chí Minh.

    * *

    4.3 Cuộc chiến đẫm máu của Đại Ác Quỉ.

    a. Cuộc chiến đáng bị kết tội.

    Nostradamus nhấn mạnh rằng cuộc chiến đẫm máu nầy là của Đại Ác Quỉ, do chính Đại Ác Quỉ cố tình gây ra, chứ không cần thiết, cũng không do tình thế đòi hỏi. Cuộc chiến không được phép có. Cuộc chiến đáng bị kết tội.

    Làm sao ‘Cuộc chiến giành Độc lập’ có thể cần thiết, khi mà Nước ta đã thực sự Độc lập từ năm 1948 ?

    ** Nhìn vào các nước đồng cảnh ngộ, hầu hết mọi quốc gia thuộc địa, dầu trước đó đã không kháng chiến quyết liệt và dai dẳng như Dân tộc Việt Nam, cũng đã được trả độc lập.

    Dầu cũng đã là thuộc địa, và dầu được độc lập sau Việt Nam, (Việt Nam độc lập năm 1948), hơn 20 quốc gia châu Phi nghèo đói cũng đều đã hưởng hòa bình và ngày nay thịnh vượng hơn Việt Nam.

    Họ là các nước Maroc, Sudan, Tunisia [độc lập năm 1956], Ghana [1957], Guinea [1958], Benin, Cameroun, Trung Phi, Chad, Congo, Côte d’Ivoire, Gabon, Madagascar, Mali, Niger, Nigeria, Senegal, Somalia [1960]…

    Tất cả đều không bị tàn phá, không bị những hệ lụy tàn khốc về mọi mặt, không như Việt Nam hiện nay. Tất cả đều nhờ không bị Đại Ác Quỉ gây chiến.

    *

    b. Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh.

    Đại cương, năm 1930 Việt Nam Cộng Sản Đảng, rồi theo lệnh của Liên sô, đổi thành Đông Dương Cộng Sản Đảng, được thành lập tại Hong Kong. Sáu người vừa xem đá bóng vừa thảo luận và thành lập đảng (!). Trong số có Nguyễn Ái Quốc, sau nầy đổi tên thành Hồ Chí Minh.

    Tuy nhiên, mới đây Tàu tung tài liệu chứng minh Hồ Chí Minh là người Tàu, là thiếu tá Hồ Tập Chương, cũng là Hồ Quang. Nguyễn Ái Quốc chết từ năm 1932.

    Hồ Tập Chương và Nguyễn Ái Quốc cùng là đảng viên Cộng sản Liên sô, cùng theo học Cơ Quan Tình Báo Liên sô KGB, và đã cùng hoạt động chung trong một nhóm, cho Cộng sản Liên sô ở Tàu. (Lúc đó Tàu chưa trở thành cộng sản).

    Sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, trong những năm 1933-1938, Hồ Tập Chương về Moscou để được KGB huấn luyện thêm và học thêm tiếng Việt. Sau đó, Hồ Tập Chương về làm trưởng bọn Giặc cộng người Việt hoạt động cho KGB Liên sô, với tên là Hồ Chí Minh.

    Thực ra, đối với Nostradamus, không có vấn đề Hồ Chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc hay không. Ông ta chỉ nói tới Hồ Chí Minh, như sẽ thấy ở đoạn sau.

    Dầu vậy, cũng thử đặt vấn đề :

    – Nếu Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, câu chuyện lâu nay không có gì thay đổi.

    – Nếu Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, thì hai người có những điểm chung là : cùng là nhân viên của KGB của Liên sô, và cùng hoạt động chung một toán tại Tàu.

    Nếu Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, không phải là Nguyễn Ái Quốc,

    1. Sau khi KGB Nguyễn Ái Quốc chết, KGB Hồ Tập Chương, với bí danh Hồ Chí Minh, nắm quyền điều khiển nhóm người Việt theo Liên sô ở Tàu. Mọi người trong nhóm đều đã cùng hoạt động với Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương. Vì vậy, không có chuyện Hồ Tập Chương giả mạo Nguyễn Ái Quốc.

    2. Bọn Cộng sản người Việt biết chắn chắn là thằng Tàu KGB Hồ Chí Minh chỉ phục vụ Đế Quốc Liên sô, và cho Tàu, mà vẫn liều chết theo nó để hô hào chiêu bài ‘đấu tranh cho Độc lập của Việt Nam’.

    3. Giặc cộng đã man khai lý lịch, cho thằng Tàu Hồ Tập Chương thành người Việt Nguyễn Ái Quốc, để lợi dụng tinh thần yêu Nước của người Việt, làm lợi cho Liên sô, và cho Tàu.

    4. Giặc cộng tiếp tay tên đồ tể Tàu mà giết hại Dân Việt và tàn phá Đất Nước Việt.

    5. Giặc cộng chủ trương vô thần, mà lại dụ dỗ dân lành thờ lạy thằng Tàu Đại Ác Quỉ.

    6. Phần Nguyễn Ái Quốc, năm 1925, ngay khi tới Tàu hoạt động cho KGB Liên sô, Nguyễn Ái Quốc đã làm ít nhất hai việc tác hại nặng nề cho Dân tộc Việt Nam. Hắn chỉ điểm cho Pháp bắt cụ Phan Bội Châu, Vị Chống Pháp uy thế nhất của Việt Nam thời đó, để lấy tiền thưởng. Hắn còn bán hồ sơ và chỉ điểm cho Pháp bắt tất cả thanh niên được các tổ chức Quốc Gia gởi học trường quân sự ở Tàu. (Lúc đó Tàu chưa trở thành cộng sản).

    Hắn hăng say hoạt động cho KGB tới thổ huyết mà chết năm 1932.

    *

    c. Nhận định

    Trong suốt hơn 1000 năm gần đây, chỉ có 2 tên Việt gian đã dẫn giặc Tàu về cướp nước. Đó là Trần ích Tắc, năm 1287, và Lê Chiêu Thống, năm 1788.

    Cả 2 tên ‘cõng rắn cắn gà nhà’, ‘rước voi dày mả tổ’ đó đều đã bị toàn dân Việt phỉ nhổ suốt mấy trăm năm qua. Con cháu, dòng họ của bọn chúng cũng không thoát khỏi tiếng nhơ nhuốc !

    Đang khi đó, từ năm 1932 tới nay, bọn đầu sỏ Đảng Cộng Sản Việt Nam đã rước thằng Tàu Hồ Tập Chương và bọn quan quân bộ đội Tàu về xâm lăng Quê Hương, gây tàn hại cho toàn Dân Nước. Bọn chúng còn đánh lận và bắt mọi người dưới ách thống trị của chúng thờ thằng Tàu thành ‘Cha Già Dân Tộc’, như thần như thánh (!).

    Trần ích Tắc và Lê Chiêu Thống, mỗi tên chỉ rước Tàu về trong không đầy 6 tháng, mà đã bị lịch sử phỉ nhổ muôn đời.

    Còn bọn đầu sỏ Cộng sản Việt Nam, ít nhất là mọi tên trong Chính Trị Bộ, thì sao ? Từ 1932, năm Nguyễn Ái Quốc chết, tới nay, đã hơn 83 năm (!). Bọn chúng đã thay nhau liên tục cung phụng, thờ lạy, và theo lịnh một thằng Tàu, và bọn bộ đội Tàu, mà gây chiến loạn, tàn hại hơn 29 triệu Dân Việt, và gieo tang tóc điêu linh cho toàn dân trong hơn 83 năm qua (!).

    Đã hơn 83 năm, chứ không chỉ 6 tháng (như Trần ích Tắc và Lê Chiêu Thống) !!

    Tất cả bọn chúng đáng bị phỉ nhổ đến bao nhiêu lần ? Bao nhiêu triệu lần ? Đến bao nhiêu ngàn năm ?

    18 tầng Địa ngục có đủ để bọn chúng đền tội không ?

    – Không lý hằng trăm tên trong các Chính Trị Bộ lâu nay, mà không có được một tên thức tỉnh sao ?

    Trong bọn chúng,

    Có ai lo để Phúc Đức cho con cháu, dòng họ của mình không ?

    Có ai giữ Đạo Hiếu với Tổ Tiên, Ông Bà của mình không ?!

    Có ai đủ can đảm làm người Việt Nam không ?

    Có ai thấy nhục nhã làm nô lệ giặc Tàu không ?

    Có ai vẫn muốn bị hành hình muôn kiếp theo thằng Tàu Đại Ác Quỉ không ?

    Đã 83 năm rồi ?!

    *

    d. Hồ Chí Minh với biến cố 1945.

    Tháng 8.1945, nhân những vụ biểu tình sau khi Nhật Bổn đầu hàng Đồng Minh, KGB Hồ Chí Minh, và đồng bọn người Việt, gây rối loạn tại Hà Nội. Đang khi đó tại Huế, Bảo Đại thoái vị.

    2.9.1945 Hồ Chí Minh tự ý mình tuyên bố độc lập, không qua một Hiệp định, hay một thủ tục pháp lý nào. Hắn còn tự phong là chủ tịch chính phủ lâm thời, tại Hà Nội, có thể với sự đồng thuận của mấy mươi tên Giặc cộng.

    Từ đó, Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh, và đồng bọn, tuyên truyền rằng chúng đã giành được độc lập.*20

    = Thực tế, câu tuyên bố ‘Độc lập’ của Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh chỉ là câu nói suông, không có bất cứ giá trị gì.

    Trên thực tế, trong suốt thời gian từ Hòa ước 1862 tới 1945, Pháp đã thi hành chính sách thuộc địa trên Việt Nam. Nay không thể vì một câu nói suông của KGB Hồ Chí Minh, chủ tịch của mấy mươi tên cộng sản, mà mọi Hòa ước đều tiêu tan, mà lực lượng và ảnh hưởng chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế… trong suốt 83 năm của Pháp trên Việt Nam tự nhiên biến mất, chính phủ và quốc gia Pháp cũng không đếm xỉa tới. (!)

    Ngoài ra, có phải chỉ vì một câu nói suông, vô giá trị, mà KGB Hồ Chí Minh đương nhiên trở thành người có toàn quyền trên Đất Nước và Dân tộc Việt Nam ?

    Thực ra, cách đây hơn 400 năm Nostradamus đã nói về nội dung đích thực, nguyên cớ, và chính nghĩa của cuộc chiến nầy.

    *

    e. Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh gây chiến theo Lệnh của Liên sô.

    KGB Hồ Chí Minh, dầu là Tàu hay không, chỉ có một công tác duy nhất, được KGB Liên sô giao phó, là thi hành ‘nghĩa vụ quốc tế’, bành trướng Đế quốc Liên sô.

    Mục tiêu duy nhất của hắn là làm mọi cách chèn ép Việt Nam vào tròng Nô Lệ Đế quốc Liên sô.

    Đối với Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh, kẻ thù chính của hắn, của KGB, là người Việt Nam Quốc Gia, chứ không phải là người Pháp.

    Trong thực tế, trái với mọi tuyên truyền của Giặc cộng, Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh đã rước Pháp trở lại Việt Nam, đã luôn hợp tác, và đã cùng với Pháp hãm hại những người Việt vì Quốc gia Dân tộc.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Năm 1925, khi làm nhân viên KGB Liên sô ở Tàu, Nguyễn Ái Quốc / (Hồ Chí Minh) đã chỉ điểm cho Pháp bắt cụ Phan Bội Châu, Vị Chống Pháp uy thế nhất Việt Nam, và lấy tiền thưởng để cưới cô vợ Tàu.

    ** KGB Nguyễn Ái Quốc / (Hồ Chí Minh) và bè lũ đã bán hồ sơ và chỉ điểm cho Pháp bắt tất cả thanh niên được các tổ chức Quốc Gia gởi học trường quân sự ở Tàu. (Khi đó Tàu chưa bị cộng sản xâm chiếm).

    ** Bọn chúng hợp sức cùng với lính Pháp tiêu diệt các căn cứ của Người Quốc Gia.

    ** Bọn chúng còn liên lạc với các tổ chức và nhân vật có tinh thần dân tộc, rồi chỉ điểm cho Pháp bắt. Khi những vị nầy chạy trốn, bọn chúng lại chận đường, hoặc giả vờ giải cứu, để giết hại.

    ** Khi quân đội Anh chiếm đóng Madagascar và phóng thích những người bị Pháp đày tới đó, bọn Giặc cộng đã dùng đủ mọi thủ đoạn để ngăn chận, không để người Anh thả những người Việt Quốc Gia.*21

    ** Từ tháng 10.1945 tới tháng 6.1946, chỉ trong 8 tháng, riêng tại Sàigòn, Giặc cộng đã thủ tiêu gần 2.500 nghĩa sĩ và trí thức Quốc Gia.

    ** Ở phía Nam, Giặc cộng sát hại hơn 10.000 cán bộ Phật Giáo Hòa Hảo.

    ** Ở Bắc và Trung Phần, năm 1946, bọn chúng đã tàn sát các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng.

    ** Bọn Giặc cộng còn hãm hại và ám sát lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng [Trương Tử Anh], nhà sáng lập Đại Việt Duy Dân Đảng [Nguyễn Hữu Thanh], lãnh tụ Đảng Lập Hiến [Bùi Quang Chiêu], lãnh tụ Đảng Việt Nam Quốc Gia Độc Lập [Hồ Văn Ngà], giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo [Huỳnh Phú Sổ], Khâm sai Đại thần Nguyễn Văn Sâm, và biết bao phần tử ưu tú khác của dân tộc.*22

    = Tất cả đều do Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh tuân hành lệnh của Liên sô, gây ra cuộc chiến, và sát hại những người tranh đấu cho Quốc gia Dân tộc, để bắt ép mọi người Dân Việt vào gông cùm nô lệ của Cộng sản Liên sô.

    * *

    4.4 Đại Ác Quỉ KGB gây thêm Cuộc chiến.

    a. Gài cán bộ ở lại Miền Nam.

    Ngay sau khi thành công trong việc buộc Pháp trao đất nước đồng bào Miền Bắc vào ách thống trị tàn bạo của Đế quốc Liên sô và Tàu, Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh và đồng bọn lại gây thêm cuộc chiến xâm chiếm Miền Nam, sát hại và gây tổn thương, trong cả 2 cuộc chiến, cho 29 triệu đồng bào, và tàn phá Quê hương, Dân tộc.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Hiệp định Genève ký ngày 20.7.1954, giữa Pháp và Giặc cộng, chia đôi đất nước Việt Nam. Theo Hiệp định, mỗi bên phải rút tất cả lực lượng về phần đất của mình.*23

    ** Trong khi phải rút mọi lượng lực về Miền Bắc, theo ký kết ở Genève, Giặc cộng đã gài người nằm vùng ở lại Miền Nam, để thực hiện mưu đồ gây ra cuộc chiến khác.

    ** Ngày 18.3.1956, trong Đại Hội Đảng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẩn, đã tuyên bố phải có ‘hành động quân sự’ tiến chiếm Miền Nam. Rồi chính hắn lẻn vào Miền Nam để tổ chức bọn nằm vùng. Năm 1958 Lê Duẩn mới về lại Hà Nội.

    ** Từ 1958 Giặc cộng bắt đầu phá hoại Miền Nam cách qui mô.*24

    *

    b. Đại Ác Quỉ KGB nặn ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

    Đầu năm 1961, để lường gạt dư luận thế giới, Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh lại cho ra mắt Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, lấy danh nghĩa dân Miền Nam, để chống phá chính quyền dân cử Miền Nam.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Tháng 9.1960, Đại hội Đảng kỳ 3, Giặc cộng Hà Nội kêu gọi thành lập tổ chức lật đổ chính phủ Miền Nam.

    ** Ngày 20.12.1960 Giặc cộng Hà Nội tuyên bố thành lập Mặt Trận.

    ** Ngày 13.2.1961 Mặt Trận ‘ra mắt’ tại Miền Nam, bằng việc phát thanh ‘Chương trình mười điểm’.

    ** Tháng 4.1962, mãi hơn một năm sau ngày ra mắt, Mặt Trận có chủ tịch, tổng bí thư.*25

    = Mặt Trận hoàn toàn chỉ là bù nhìn của Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh, của Giặc cộng Hà Nội, để thi hành chỉ thị của Liên sô và Tàu, là bắt ép toàn thể Việt Nam vào gông cùm nô lệ.

    *

    c. Đại Ác Quỉ KGB ngụy tạo chiêu bài.

    Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh lại theo sách lược của Liên sô cố quyết bành trướng Đế quốc Liên sô và Tàu, nên ngụy tạo chiêu bài ‘chống Mỹ cứu nước’, làm cớ tuyên truyền và gây thêm tai họa.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Như ở đoạn trên, những thời điểm : 1954 gài người, 1956 Tổng bí thư Đảng lẻn vào Nam tổ chức. 1958 phá hoại cách qui mô. 1960 Hà Nội thành lập Mặt Trận phá hoại Miền Nam. 1961 ra mắt Mặt Trận.

    ** Ngày 13.10.1961, trước hành động gây hấn qui mô và công khai suốt mấy năm của Giặc cộng, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chính thức kêu gọi Hoa Kỳ đưa quân giúp đỡ.

    ** Ngày 11.12.1961 Hoa Kỳ bắt đầu đưa phi cơ trực thăng đến giúp quân đội Việt Nam vận chuyển.

    ** Mãi tới 8.3.1965, sau hơn 11 năm Cộng sản Hà Nội mở chiến dịch gây hấn Miền Nam, mới có người lính Hoa Kỳ đầu tiên vào chiến đấu ở Việt Nam.*26

    = Như vậy, sở dĩ Hoa Kỳ được yêu cầu, và đưa quân vào Việt Nam, là vì Miền Nam bị Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh, và đồng bọn, gây hấn đã hơn 11 năm.

    Nhưng Giặc cộng lại tráo trở, tuyên truyền xuyên tạc rằng : vì Hoa Kỳ xâm lăng Miền Nam, nên bọn chúng phải hy sinh ‘giải phóng’ (!).

    *

    d. Lộ mặt đốn mạt.

    Trong suốt mười mấy năm, Giặc cộng luôn rêu rao rằng ‘sự hiện diện của người Mỹ là tai họa của dân Việt’, và ‘toàn dân có nhiệm vụ hy sinh tới giọt máu cuối cùng để đánh cho Mỹ cút’…

    Nhưng khi cuộc chiến vừa kết thúc ngày 30.4.1975, thì ngày 3.6.1975, tức là chỉ 34 ngày sau khi ngưng cuộc chiến gây thương vong cho hai mươi chín triệu người Việt Nam và tàn phá Đất nước, Giặc cộng liền bắt đầu cầu khẩn và quì lụy bằng mọi cách hèn hạ để nài xin Mỹ trở lại Việt Nam.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Ngày 3.6.1975, trong buổi họp Quốc Hội Toàn Quốc, Thủ tướng Giặc cộng Phạm Văn Đồng kêu gọi Mỹ bình thường hóa bang giao và viện trợ kinh tế cho Hà Nội.

    ** Giặc cộng Hà Nội liên tục nài nỉ, hứa hẹn, và dùng nhiều vận động đê tiện, kể cả việc hối lộ các viên chức Hoa Kỳ… để được Mỹ bang giao.

    ** Mãi đến 19 năm sau, ngày 4.2.1994, Mỹ mới bỏ cấm vận.

    ** Năm 1995, sau khi Giặc cộng van lạy suốt 20 năm, Mỹ mới chịu bang giao.*27

    = Những chiêu bài ngụy tạo ‘giải phóng dân tộc, bài phong đả thực, tranh đấu giành độc lập, chống Mỹ cứu nước’… chỉ là mưu đồ độc hại của Đại Ác Quỉ KGB Hồ Chí Minh để gây ra cuộc chiến 27 năm, để phá hoại Chủ Quyền và Nền Độc Lập của Việt Nam, tàn phá Đất Nước, và để cưỡng ép toàn thể Việt Nam vào tròng nô lệ của Liên sô, và của Tàu.

    Đúng như Nostradamus đã tiên báo hơn 400 năm trước :

    ‘Cuộc chiến đẫm máu của Đại Ác Quỉ sẽ dài 27 năm.’

    * * * *

  89. chinhkie permalink

    2. ĐOẠN SẤM 8/77 : CUỘC CHIẾN 27 NĂM DO ĐẠI ÁC QUỈ GÂY RA

    Đoạn sấm 8/77.

    L’antechrist trois bien tost annichilez,
    Vingt et sept ans sang durera sa guerre :
    Les heretiques morts, captifs exilez,
    Sang corps humain eau rougie greler terre.
    Dịch :

    Đại Ác Quỉ tàn phá ba Quốc gia,
    Cuộc chiến đẫm máu của hắn sẽ dài 27 năm :
    Phản giáo thì chết, bị bắt thì lưu đày,
    Máu, xác người, nhuộm đỏ nước, làm tê cóng đất.
    * * * *

    3. CÂU 1 : ĐẠI ÁC QUỈ TÀN PHÁ BA QUỐC GIA

    3.1 Antéchrist : Đại Ác Quỉ.

    Trong ngôn ngữ và niềm tin phương Tây, chữ Christ, Christus, (tước hiệu của Đức Giêsu), được hiểu là Đấng Cứu Thế, Vị Cứu Tinh, Vị đem an bình hạnh phúc đến cho nhân loại. Do đó, antéchrist, antichrist, là tên đối kháng với Đấng Cứu Thế, đứa gây đại họa cho con người, là Đại Ác Quỉ.

    Thực ra, trong sấm Nostradamus, chữ antéchrist được dùng nhiều lần và chỉ nhiều nhân vật khác nhau. Nhiều đoạn sấm đã ứng nghiệm nơi Napoléon, người gây nhiều trận chiến tàn phá châu Âu và châu Phi, cũng như nơi Hitler, kẻ gây ra thế chiến thứ hai. Chúng đều bị Nostradamus gọi là Đại Ác Quỉ.*5

    Còn nhiều đoạn sấm về Đại Ác Quỉ, nhưng chưa tìm ra ứng nghiệm. Do đó hầu hết các nhà giải đoán đều có khuynh hướng tai hại là dồn tất cả các đoạn đó vào một nhân vật tương lai. Như vậy càng thêm lộn xộn, khó nhận biết.

    Lại nữa, dầu nhiều đoạn sấm không có chữ antéchrist, mà có vài dấu chỉ về một nhân vật chưa thấy nghiệm ứng, thì cũng bị nhiều nhà giải đoán gán cho antéchrist.*6

    Ở đây, để tìm ra tên Đại Ác Quỉ nầy là ai, ta cần bàn giải chi tiết toàn bộ, từng chữ và từng câu, những điều được tiên báo trong đoạn nầy.

    * *

    3.2 Tàn phá ba Quốc gia.

    a. Ba Quốc gia.

    Sự kiện đầu tiên được Nostradamus báo về tên Đại Ác Quỉ nầy là nó gieo tai họa, tàn phá ba quốc gia.

    Chữ annihilez (cách viết xưa) có nghĩa nguyên thủy là làm cho hóa thành hư không, tiêu diệt, hủy hoại, tàn phá.

    Ngoài ra, một số nhà giải đoán cho rằng nên hiểu chữ trois là ‘thứ ba’, mặc dầu trois có nghĩa thông thường là ‘ba’. Họ cho hắn là tên Đại Ác Quỉ thứ ba, vì hai tên trước là Napoléon và Hitler.*7

    Tuy nhiên, nếu hiểu ‘tên Đại Ác Quỉ thứ ba’, thì đoạn sấm không nói tới cái gì bị tàn phá.

    Hơn nữa, tai họa do Đại Ác Quỉ gây ra cũng phải ở tầm vóc quốc gia.

    Do đó, câu nầy được hiểu là tên Đại Ác Quỉ tàn phá ‘ba quốc gia’.

    *

    b. Việt, Miên, Lào.

    Câu sấm không nói rõ 3 quốc gia nầy là 3 nước nào. Tuy nhiên, vì Nostradamus là người Pháp, nên có thể ông chú ý hơn tới những quốc gia có liên quan tới Pháp.

    Trong thời gần đây, Pháp đã có liên quan đặc biệt tới một nhóm 3 quốc gia. Đó là nhóm ‘Đông Dương thuộc Pháp’ Việt, Miên, Lào.

    Hơn nữa, mới đây lại có cuộc chiến giữa Pháp và Đông Dương

    Vì vậy, trước khi nhìn chung toàn bộ đoạn sấm và kết đoán, ta có thể cứu xét tình hình của ba nước Việt Nam, Ai Lao và Kampuchia.

    * * * *

    4. CÂU 2 : CUỘC CHIẾN ĐẪM MÁU CỦA HẮN SẼ DÀI 27 NĂM

    4.1 Cuộc chiến 27 năm.

    a. Ở Việt Nam.

    Đây là mấu chốt của đoạn sấm. Con số ‘27 năm’ là chìa khóa đầu tiên để nhận ra Cuộc chiến, và nhận mặt tên Đại Ác Quỉ nầy.

    Vì đoạn sấm xác định rõ ràng con số ‘27 năm’, nên chưa ai có thể tìm ra đích xác Cuộc chiến nào. Hầu hết các nhà giải đoán nổi tiếng phương Tây đã hiểu rằng ‘cuộc chiến 27 năm’ sẽ xảy ra vào hậu bán thế kỷ 20, trước khi khởi đầu Kỷ nguyên Bảo Bình, Verseau, Aquarius.

    Trong thời gian gần đây, khi thế kỷ 21 đã gần kề, mà vẫn chưa nhà giải đoán nào nhận ra việc ứng nghiệm, họ đành dời ngày lại. J.-C. de Fontbrune, trong cuốn Nostradamus 1, cũng dời ngày khởi sự cuộc chiến vào năm 1999, để vẫn còn vớt vát là cuối thế kỷ 20.*8

    Nhưng rồi thế kỷ 20 cũng đã qua.

    Sở dĩ có sự lúng túng đó, là vì các nhà giải đoán phương Tây không ngờ cuộc chiến nầy đã xảy ra ở Việt Nam. Cũng chưa ai nói Cuộc chiến ở Việt Nam kéo dài đúng 27 năm.

    *

    b. Cuộc chiến ở Việt Nam.

    Trong thời gần đây, cuộc chiến ồn ào nhất thế giới, là cuộc chiến tại Việt Nam trước năm 1975.

    Cuộc chiến nầy đã được tập đoàn Cộng sản thế giới hùa nhau tuyên truyền là cuộc chiến nhân dân Việt Nam chống Pháp chống Mỹ để giành độc lập.

    Trên thực tế, và như Nostradamus đã thấy trước đây hơn 400 năm, Cuộc chiến nầy là cuộc chiến Dân tộc Việt Nam chống việc tập đoàn Giặc cộng cưỡng ép Dân Việt vào gông cùm của Đế Quốc Liên sô.

    Chúng ta nhìn vào Thực tế Lịch sử, để biết tại sao Nostradamus đã thấy như vậy.

    * *

    4.2 Cuộc chiến giành Độc lập của Dân tộc Việt Nam.

    a. Cuộc chiến chống thực dân Pháp.

    Cuộc chiến của người Việt Nam chống thực dân Pháp không phải khởi đầu với việc thành lập đảng Cộng sản năm 1930, mà khởi đầu ngay từ năm 1847, khi chiến thuyền của Pháp nổ phát đại bác đầu tiên vào Đà Nẵng. – (Năm 1847, hai chiến thuyền Pháp vào Đà Nẵng để thương nghị. Đang thương nghị, thấy phía Việt có vẻ khả nghi, người Pháp đã bắn chìm tất cả thuyền của ta, rồi bỏ đi).*9

    Cuộc chiến đấu giành độc lập đó cũng không chấm dứt với lời tuyên bố của Hồ Chí Minh năm 1945. Trái lại, từ tháng 3 năm 1946, cũng chính Hồ Chí Minh đã ký nhiều hiệp ước cho quân đội Pháp quyền hành và hưởng thêm nhiều đặc quyền ở Việt Nam.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Ngày 6.3.1946 Hiệp ước Sơ bộ được ký kết giữa Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh với Sainteny, đại diện Pháp. Sau hiệp ước, Hồ Chí Minh tuyên truyền là ‘Pháp mới, Pháp dân chủ’.

    ** Ngày 19.5.1946, Hồ Chí Minh và đồng bọn đã long trọng đón tiếp lính Pháp kéo vào đóng quân tại Hà Nội và tại nhiều nơi khác.

    ** Ngay sau đó, Giặc cộng không những dùng súng đạn và phương tiện của Pháp, mà còn cùng với lính Pháp tấn công căn cứ của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở khắp nơi, đặc biệt ở Lạng Sơn, Hải Phòng, Hòn Gay, Lào Cay (!).

    ** Đêm 14.9.1946, khi hội nghị Paris bế tắc, Hồ Chí Minh lẻn tới nhà riêng của Bộ trưởng Hải ngoại Pháp, xin ký Tạm Ước, nhường thêm cho Pháp nhiều đặc quyền, để được Pháp công nhận quyền lực của Đảng Cộng sản tại Việt Nam.

    ** Ngày 19.12.1946, Hồ Chí Minh và đồng bọn nhận thấy cuộc sống thành thị làm giao động tinh thần thảo khấu của chúng, và nhất là lo sợ trước vũ lực áp đảo của lính Pháp, (mà chúng đã đón trở lại Việt Nam), nên kéo chạy lên rừng.

    ** Ngày 20.7.1954, Hồ Chí Minh ký với Pháp Hiệp định Genève, chia đôi đất nước.*10

    *

    b. Toàn Dân Việt Nam giành Độc lập.

    Dầu Hồ Chí Minh và đồng bọn có lạm nhận, dầu chúng có thừa cơ cướp công, dầu Hồ Chí Minh có đóng kịch gì đi nữa, thì vai trò chính yếu trong cuộc chiến chống thực dân Pháp và trong những biến cố năm 1945, vẫn là của toàn dân Việt Nam, chứ không phải của mấy mươi tên cộng sản.

    Ngày nay, không ai không thấy rằng sức mạnh đích thực trong việc chống Pháp chống Nhật, trong hơn 100 năm qua, từ 1847 tới 1948, là tinh thần và tâm huyết vì Quê hương Dân tộc của Toàn Dân và của những Tổ chức Quốc gia chân chính.

    Sức mạnh đó không hề phát sinh từ cuồng vọng thực hiện chủ nghĩa cộng sản vô tổ quốc, vô gia đình.

    ** Chứng cứ Lịch sử :

    ** Ngay cả trước vụ tàu Pháp bắn phá ở Đà Nẵng năm 1847, triều đình và dân ta luôn chống lại sự can thiệp ngang ngược của người Pháp. Việc chống đối ngày càng trải rộng và quyết liệt hơn, cho tới khi Pháp trả Độc lập cho Việt Nam năm 1948.

    ** [Tháng 9.1858 quân Pháp đổ bộ Đà Nẵng. Tháng 2.1859 Pháp đánh thành Gia Định. Với hòa ước năm 1862, Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Với hòa ước 1874, Pháp chiếm hết sáu tỉnh Nam Kỳ. Với hòa ước 1883 và 1884, Pháp đặt nền đô hộ trên Bắc Kỳ và bảo hộ Trung Kỳ].

    ** Sau đây là tên một số Vị lừng danh chống thực dân Pháp. Các Vị đã từ mọi tầng lớp dân Việt, cũng như từ mọi miền đất nước. Đây chỉ ghi tên của một số vị lãnh đạo, nhưng cùng với các Vị đã có hàng ngàn hàng vạn nghĩa sĩ, và hàng triệu người dân lớn bé trẻ già… hợp tác và hy sinh trọn cuộc sống. Ngoài những Vị nổi tiếng, còn vô số Anh Hùng vô danh, mà tên tuổi không được nhắc tới vì nhiều lý do như thời gian, địa điểm, hoặc thời thế…

    – 1 Phan Thanh Giản : sứ giả tìm đủ cách để cứu vãn tình thế, thất bại, ông tuẫn tiết năm 1867.

    – 2 Nguyễn Trung Trực : hoạt động các vùng Định Tường, Tân An, Biên Hòa tới Kiên Giang, Hà Tiên, Phú Quốc. Năm 1861 đốt cháy tầu Espérance của Pháp ở vàm Nhật Tảo.

    – 3 Trương Công Định : kháng chiến vùng Tân An, Gò Công từ năm 1862.

    – 4 Võ Duy Dương : khởi nghĩa năm 1862, đóng quân tại Đồng Tháp, tiến đánh vùng Mỹ Tho, Tân An, Long Xuyên, Sa Đéc.

    – 5 Nguyễn Hữu Huân, còn gọi là Thủ khoa Huân : năm 1863 nghĩa quân của ông đánh vùng Mỹ Tho, Mỹ Quý, Tam Bình, Rạch Gầm, Cai Lậy… Sau 12 năm, Ông bị giết.

    – 6 Phan Liêm : từ 1867 lãnh đạo kháng chiến vùng Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh, Bến Tre.

    – 7 Trần Văn Thành : năm 1868 lập chiến khu Bảy Thưa ở Châu Đốc, chiến khu kéo dài 21 năm, tới năm 1889.

    – 8 Nguyễn Tri Phương : tướng chống Pháp từ năm 1858, tử tiết năm 1873.

    – 9 Hoàng Diệu : tướng giữ thành Hà Nội, tuẫn tiết theo thành năm 1882.

    – 10 Vua Hàm Nghi : ngày 5.7.1885 tấn công đồn Pháp tại Huế, trốn khỏi kinh đô, phát hịch Cần Vương cứu nước. Ngày 26.9.1888 bị Pháp bắt, bị đày.

    – 11 Tôn Thất Thuyết : chỉ huy vụ tấn công Pháp ở Huế năm 1885.

    – 12 Phan Đình Phùng : lãnh tụ Cần Vương, khởi nghĩa vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình…

    – 13 Đinh Công Tráng : năm 1885 lập chiến lũy Ba Đình, vùng Thanh Hóa.

    – 14 Lê Trực : năm 1885 kháng chiến ở Quảng Bình.

    – 15 Lê Trung Đỉnh : năm 1885 khởi nghĩa tại Quảng Nghĩa.

    – 16 Mai Xuân Thưởng : năm 1885 khởi nghĩa tại Bình Định.

    – 17 Tăng Bạt Hổ : tham gia Cần Vương tại Bình Định từ năm 1885. Năm 1914 bị bắt, sau 29 năm hoạt động.

    – 18 Tống Duy Tân : năm 1886 lập chiến khu Nông Cống tại Thanh Hóa.

    – 19 Hoàng Hoa Thám : biệt danh là Hùm Thiêng Yên Thế, hoạt động vùng Phủ Lạng Thương, Vĩnh Phúc Yên, Thái Nguyên, Bắc Giang… từng gây nhiều tổn thất cho Pháp trong 27 năm, từ năm 1886 tới 1913.

    – 20 Nguyễn Thiện Thuật : năm 1887 lập chiến khu Bãi Sậy, hoạt động vùng Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Lục Nam.

    – 21 Phan Bội Châu : năm 1886, mới 19 tuổi, lập đội Sĩ Tử Cần Vương. Năm 1900 phát động Phong trào Duy Tân để ‘duy dân tự cường’. Năm 1912 lập Việt Nam Quang Phục Hội chủ trương dùng bạo lực, hoạt động trên cả nước. Sau 39 năm hoạt động, năm 1925 ông bị bắt. (Vì bị Nguyễn Ái Quốc lập mưu bán cho Pháp).

    – 22 Cường Để : năm 1904 hội trưởng Việt Nam Phục Quốc Hội, lập phong trào Đông Du năm 1906.

    – 23 Phan Chu Trinh : từ năm 1904 cổ động phong trào Duy Tân, chủ trương xây dựng dân trí và vận động cho độc lập.

    – 24 Lương Ngọc Can : lập Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, cổ động tự cường ái quốc cách mạng.

    – 25 Vua Duy Tân : liên lạc nghĩa quân. Chuẩn bị khởi nghĩa. Bị bắt, bị đày.

    – 26 Trần Cao Vân : năm 1889 tham gia Cần Vương, phát động khởi nghĩa ở Phú Yên, phụ trách quân sự của vua Duy Tân.

    – 27 Thái Phiên : phụ trách ngoại giao của vua Duy Tân, tổ chức khởi nghĩa tại các tỉnh miền Trung.

    – 28 Trịnh Văn Cấn : khởi nghĩa năm 1917 tại Thái Nguyên.

    – 29 Nguyễn Thái Học : lập Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, tổng khởi nghĩa năm 1930.

    – 30 Huỳnh Phú Sổ : giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo. Năm 1939 lập phong trào quốc gia dân tộc vùng An Giang. Năm 1942 khởi sự võ trang.

    – 31 Nguyễn Hữu Thanh : lập Đại Việt Duy Dân Đảng năm 1943.

    – 32 Lê Hữu Từ : lập Việt Nam Công Giáo Cứu Quốc năm 1945.

    – 33 Phạm Công Tắc : lập quân đội Cao Đài.

    – 34 Trình Minh Thế lập chiến khu Bà Đen năm 1951.

    – 35 Nguyễn Văn Xuân và – 36 vua Bảo Đại : thành lập chế độ Quốc Gia Việt Nam năm 1948, giành được Độc lập, Thống nhất.

    – 37 Ngô Đình Diệm : năm 1933, vì chống Pháp, từ chức thượng thư. Năm 1955 điều đình quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam.*11

    = Tất cả các vị Anh Hùng, trong suốt hơn một trăm năm chống Pháp, tổng cộng hơn một trăm ngàn Vị, đều được thúc đẩy bằng tinh thần vì dân vì nước.

    Không một vị nào lệ thuộc ý thức hệ, sách lược, hoặc mệnh lệnh ngoại nhân như tên Hồ Chí Minh và đồng bọn Cộng sản ‘vô tổ quốc, vô gia đình’.

    *

  90. chinhkie permalink

    NOSTRADAMUS : HỒ CHÍ MINH LÀ ĐẠI ÁC QUỈ
    BẢN CÁO TRẠNG TỘI ÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
    DO NOSTRADAMUS ĐỀ TỰA CHO TỪNG LOẠI TỘI
    Theo Nostradamus, cuộc chiến trước 1975 là do Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh gây ra, để phá hoại Chủ quyền và Độc lập của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam, và để ép buộc Dân tộc Việt Nam làm nô lệ cho Liên sô và Tàu. Đảng viên Cộng sản là Khỉ đội lốt Người.

    Việt Nam đã chính thức và thực sự Độc Lập và Thống Nhất, được quốc tế công nhận, từ ngày 5.6.1948.

    “Giải tỏa Oan Ức cho hơn Một Trăm Triệu Đồng Bào, từ 1930 tới nay, đã sống và chết tức tưởi dưới ách bạo ngược của Đại Ác Quỉ Hồ Chí Minh và đồng bọn.”

    a. Sấm Nostradamus.

    Nostradamus là nhà Tiên Tri nổi tiếng nhất phương Tây. Ông sinh năm 1503 tại St Rémy-de-Provence, Pháp, và qua đời năm 1566. Nostradamus là người đồng thời với Đức Trạng Trình, vị Tiên Tri lừng danh của nước ta.

    Tác phẩm quan trọng nhất của Nostradamus là quyển Les Prophéties, in xong trọn cuốn năm 1568. Cách chung, Les Prophéties có 10 chương, mỗi chương gồm 100 đoạn văn vần bốn câu.*1

    Cũng như Sấm Trạng Trình, những bài sấm Nostradamus được để lộn xộn chứ không theo bất cứ một tiêu chuẩn nào. Nostradamus cũng dùng ẩn ngữ để ghi lại sở kiến, y như Đức Trạng Trình.

    Điều khác với Sấm Trạng Trình là sấm Nostradamus đã được xuất bản từng phần ngay khi tác giả còn sống. Do đó, sấm Nostradamus không bị thất truyền, thất bổn.

    Trong hơn 400 năm qua, đã có hàng ngàn tác phẩm giải đoán và nghiệm chứng sấm Nostradamus. Cũng đã có nhiều sự kiện lịch sử nghiệm đúng nhiều đoạn sấm của ông.*2

    *

    b. Giải Đoán Về Việt Nam.

    Sách vở và tài liệu giải đoán sấm Nostradamus thì vô số. Tuy nhiên, hầu hết các nhà giải đoán đều là người phương Tây. Vì vậy, ngoài những đoạn sấm có xác định rõ ràng, các nhà giải đoán phương Tây thường tập trung khám phá và nghiệm chứng của mình vào những dữ kiện và dự đoán cho phương Tây.

    Chỉ gần đây, mới có những lời bàn liên tưởng tới Trung Hoa và Nhật Bổn, là hai nước ở viễn đông vừa gây xáo trộn và ảnh hưởng tới dân da trắng.

    Tuy nhiên, đối với Nostradamus, nhà tiên tri thấy được chuyện năm trăm năm sau, thì không gì có thể giới hạn tầm nhìn của ông. Vì vậy, việc ông tiên báo những biến cố quan trọng ở Việt Nam cũng không phải là kỳ lạ. Vấn đề chỉ là chưa có ai giải đoán.

    * *

    1.2 Đặc điểm Lời Sấm.

    Điểm đặc biệt của Sấm ký là không chỉ tiên báo các biến cố, mà còn nêu rõ những động lực thúc đẩy hành động của những người trong cuộc.

    Sống 400 năm trước các biến cố, Nostradamus, cũng như Đức Trạng Trình, đã sống ngoài mọi yếu tố ảnh hưởng đến các sự kiện được tiên báo. Vì vậy, các Ngài không có bất cứ lý do nào để thiên vị hoặc bóp méo sự thực. Không có bất cứ yếu tố thời cuộc chủ quan nào ảnh hưởng tới Lời Sấm.

    Hơn nữa, khi nhìn xuyên qua suốt những biến cố của hàng mấy thế kỷ, các Ngài đã nhìn thấy bản chất đích thực của các sự kiện. Những mặt nạ thời cuộc, mọi âm mưu gian kế, đều không thể che được mắt các Ngài.

    Sống ngoài những tranh chấp thời cuộc và thấy rõ bản chất đích thực của sự kiện, nên các Vị Tiên Tri không những trung thực trong cách diễn tả, mà đặc biệt còn vô tư trong nhận định và phán đoán. Các Ngài phê phán mọi biến cố căn cứ vào một tiêu chuẩn duy nhất là ảnh hưởng của chúng trên đời sống Con Người.

    Do đó, những nhận định của Sấm ký luôn trung thực và xác đáng. Sự khen chê của các Ngài, nếu có, chỉ dựa trên kết quả lợi ích hoặc nguy hại cho Con Người.

    *Tuy nhiên, cần phân biệt Sấm ký với việc Luận Giải Sấm ký. Luận Giải Sấm ký cần căn cứ trên một số Nguyên tắc nền tảng tối thiểu.*3

    * *

    1.3 Hai Đoạn Sấm về Việt Nam.

    Nostradamus có nhiều Đoạn Sấm về Việt Nam. Nhưng ở đây, chúng ta chỉ luận giải Hai Đoạn sau đây :

    A. Đoạn sấm 8/77 :

    Tiên báo chi tiết về Cuộc Chiến tàn khốc do Đại Ác Quỉ gây ra.

    L’antechrist trois bien tost annichilez,
    Vingt et sept ans sang durera sa guerre :
    Les heretiques morts, captifs exilez,
    Sang corps humain eau rougie greler terre.
    B. Đoạn sấm 8/41 :

    Nói về cá tính đốn mạt và bạo ngược của một tên Đại Ác Quỉ.

    Esleu sera Renard ne sonnant mot,
    Faisant le sainct public vivant pain d’orge,
    Tyrannizer apres tant à un cop,
    Mettant à pied des plus grands sur la gorge.*4
    * * * *

  91. chinhkie permalink

    1. Sau 62 Năm MỞ LẠI VỤ ÁN PHẠM QUỲNH

    Tập tin:Phamquynh.jpg

    Không có Công lý, khi kẻ giết một người thì bị trừng phạt, có khi phải đền mạng, còn kẻ giết hàng triệu người lại được đúc tượng, xây lăng, ướp xác.

    Theo lời một số nhân chứng và thân nhân ông Phạm Quỳnh, ông đã bị lực lượng vũ trang Việt Minh bắt giữ ngày 23/8/1945 tại Huế và bị giết chết ngày 6/9/1945 tại khu rừng Hắc Thú thuộc tỉnh Quảng Trị, nằm về phía bắc thành phố Huế.

    Ông đã bị đập vỡ sọ bằng cuốc và vùi thây dưới một giao thông hào cùng với hai nạn nhân khác là Ngô Đình Khôi, anh cố Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, và người con trai Ngô Đình Huân.

    Mười một năm sau, 1956, do sự chỉ dẫn của một nhân chứng, thân nhân của các nạn nhân mới tìm được nơi chôn xác và cải táng. Theo thân nhân ông Phạm Quỳnh, di cốt của ông đã không còn nguyên vẹn và chỉ được xác nhận nhờ cặp kính cận thị, vật bất ly thân của ông.

    Nhưng, Phạm Quỳnh là ai?

    Có thể nói rằng không người Việt Nam có văn hóa nào không biết Phạm Quỳnh, hay không nghe tên ông. Vì học giả Phạm Quỳnh là ngôi Sao Bắc Đẩu của văn hóa Việt Nam tiền bán Thế kỷ 20. Vì nhà báo Phạm Quỳnh là người đã khai đường mở lối cho nền báo chí Việt Nam. Vì nhà cai trị Phạm Quỳnh trong phẩm trật Thượng Thư triều đình Huế là người có lòng yêu nước, có tầm nhìn xa và có đầu óc cách mạng. Viết về sự nghiệp của ông cần nhiều pho sách, và không phải là mục đích của bài viết này, xin hẹn để một dịp khác.

    Mục đích của bài viết này là đi tìm thủ phạm đã giết Phạm Quỳnh, những chính phạm đã gây ra tội ác này – không chỉ với bản thân Phạm Quỳnh mà còn với dân tộc Việt Nam, và với nhân loại.

    Thật vậy, trong tội ác này các thủ phạm không chỉ giết Phạm Quỳnh mà còn hủy diệt một tinh hoa của đất nước Việt Nam, và loại trừ một thành viên ưu tú trong cộng đồng nhân loại.

    Trong vụ án này có chính phạm và những tòng phạm, hay nói cách khác, kẻ ra lệnh và người thi hành. Ngày nay, mọi người đều biết lực lượng vũ trang của Việt Minh tại Huế vào năm 1945 đã bắt và giết Phạm Quỳnh. Nhưng, ai là kẻ ra lệnh?

    Việt Minh lúc ấy là tên tổ chức kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy và điều khiển của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Những người theo Việt Minh lúc đầu hầu hết là những người yêu nước đã đáp lời kêu gọi của Hồ Chí Minh để tham gia kháng chiến, đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho Việt Nam. Không mấy ai biết “kháng chiến, chống Pháp” chỉ là một chiêu bài được Đảng CSVN dùng để cướp chính quyền, cai trị toàn lãnh thổ Việt Nam dưới thể chế độc tài cộng sản. Vì vậy, CSVN đã thẳng tay diệt trừ những cá nhân và những thành phần có thể là chướng ngại vật trên đường tiến tới quyền lực và củng cố quyền lực của họ, trong đó có những người ở ngoài và cả ở trong hàng ngũ kháng chiến.

    Đó là lý do vì sao Phạm Quỳnh bị giết.

    Phạm Quỳnh không phải là người xa lạ với Hồ Chí Minh. Ngoài việc ông là một nhân vật rất nổi tiếng thời bấy giờ, về văn hóa cũng như chính trị, Phạm Quỳnh đã có những giao tiếp cá nhân với Hồ Chí Minh từ thời Pháp thuộc khi phong trào giành độc lập đang nhen nhúm trong giới được gọi là “sĩ phu” thời ấy. Trong cuốn nhật ký do chính tay Phạm Quỳnh ghi chép vào thời gian ông sang Pháp năm 1922, ông có ghi vắn tắt gặp Hồ Chí Minh (lúc đó còn mang bí danh Nguyễn Ái Quốc) hai lần, một lần vào ngày 13/7/1922: “ăn cơm an-nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường”, một lần vào ngày 16/7/1922: “ở nhà.- Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” (Chuyền là Nguyễn Thế Truyền). (Xem phóng ảnh đính kèm do người viết chụp từ nguyên bản Nhật ký hiện do Nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai út của ông lưu giữ).

    Trong nhật ký, ông chỉ ghi vắn tắt, không nói rõ chi tiết hay nội dung những câu chuyện trao đổi, có thể vì không muốn là bằng cớ để tự buộc tội mình một khi lọt vào tay mật thám Pháp, nhưng chắc chắn không phải những người này gặp nhau chỉ để đánh chén hay nói chuyện trời mưa trời nắng. Sau này, trong thiên “Hành trình Nhật ký”, ông ghi rõ thêm là có “nói chuyện nước nhà” với “mấy ông chí sĩ”. Qua những câu chuyện ấy, Hồ Chí Minh đã biết tư tưởng và quan điểm chính trị của những người đối thoại, trong đó có Phạm Quỳnh.

    Hai mươi mốt năm sau, tình hình Việt Nam chuyển động mạnh do ảnh hưởng của trận Thế Chiến II ở vào giai đoạn chót mà Quân Phiệt Nhật đang làm bá chủ miền Đông Á, trong đó có Việt Nam, hất cẳng Pháp khỏi thuộc địa Đông Dương, nhưng chính Nhật cũng đang trên đường bại trận.

    Các đảng phái chính trị, những người Việt Nam yêu nước đều rộn rịp hoạt động để chuẩn bị nắm thời cơ. Khi ấy, Phạm Quỳnh đang là Thượng thư Bộ Lại, một chức chưởng tại triều đình Huế thời ấy có thể xem như thủ tướng, đã có cái nhìn chính xác và thực tế về tương lai nước Việt Nam. Theo nhân chứng Hoàng Tâm V.T., lúc ấy là Tri phủ Quận Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, trong một lần đi kinh lý các tỉnh miền Trung, ngày 22/1/1945, Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh đã nói với ông trong phòng riêng như sau: “Này ông phủ, chiến tranh ở Âu Châu đã đến độ chấm dứt và ở Thái Bình Dương chiến tranh cũng đã vào thời kỳ kết thúc. Đây là vận hội tốt cho rất nhiều nước bị trị được trả tự do. Nhưng ta không nên nghĩ rằng tự do ấy sẽ được hiến dâng cho ta trên khay bạc, mâm vàng. Ta phải tranh đấu nhiều, ông hiểu tôi muốn nói tranh đấu nhiều là sao rồi, đó là tranh đấu quyết liệt và toàn diện…”

    Tuy nói vậy, Phạm Quỳnh chỉ làm nhiệm vụ của một nhà cai trị của triều đình Huế dưới quyền Vua Bảo Đại. Không có tài liệu hay nhân chứng nào cho thấy ông có những hoạt động liên hệ đến một đảng phái hay phe nhóm nào.

    Những tháng đầu năm 1945 tình hình Việt Nam có những biến chuyển lớn khi Nhật đảo chính Pháp, lật đổ chế độ thuộc địa ở Đông Dương ngày 9/3/1945 và tuyên bố trả độc lập cho ba nước Việt, Miên, Lào trên bán đảo này để gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật đứng đầu.

    Theo hồi ký “Con Rồng Việt Nam” của Bảo Đại, ngày 11/3/1945 Vua Bảo Đại và Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh đã cùng toàn thể thượng thư nội các Nam triều ký vào bản “Tuyên ngôn độc lập” do Phạm Quỳnh soạn thảo, hủy bỏ tất cả các hiệp ước Pháp-Việt trước đó. Một tuần sau, ngày 19/3, nội các Nam triều từ chức. Vua Bảo Đại giao cho Học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ Việt Nam độc lập đầu tiên để hợp tác với Nhật sau khi tham khảo ý kiến nhiều người. Phạm Quỳnh không giữ chức vụ gì trong nội các mới và trở về ở tại tư thất Hoa Đường nằm trên bờ sông An Cựu, Huế. Chính tại ngôi biệt thự này, ông đã bị Việt Minh bắt và đưa đi thủ tiêu.

    Trước đó, Đảng CSVN do Hồ Chí Minh đứng đầu núp dưới tên Mặt Trận Việt Minh đã lợi dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng (14/ 8) và chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt, cướp chính quyền tại Hà Nội ngày 19/8/1945, và đòi Vua Bảo Đại thoái vị. Tuy đã đầu hàng nhưng quân đội Nhật tại Việt Nam chưa bị giải giới, còn nguyên sức mạnh và có thể dẹp tan cuộc đảo chính của Việt Minh với lực lượng vũ trang thô sơ, nhưng Vua Bảo Đại đã không chấp nhận đề nghị của viên đại sứ Nhật tại Huế vì sợ gây nội chiến. Do đó, nội các Trần Trọng Kim tuyên bố giải tán sau khi họp phiên cuối cùng ngày 23/8/1945. Hai ngày sau, 25/8, Vua Bảo Đại ra chiếu thoái vị và ngày 30/8 trao quốc ấn và bảo kiếm cho phái đoàn đại diện Việt Minh do Trần Huy Liệu cầm đầu tại cửa Ngọ Môn, và tuyên bố: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”

    Câu nói hay đẹp ấy không biết ai mớm cho nhà vua thiếu trách nhiệm với đất nước đã hợp pháp hóa chính quyền Việt Minh do cộng sản cầm đầu chẳng khác nào “giao trứng cho ác”, trong lúc những người quốc gia yêu nước bị ruồng bố và tàn sát. Trong đó có Phạm Quỳnh, cựu Thượng thư Bộ Lại của triều đình Bảo Đại.

    Dựa theo những nguồn tin xác thực, nhà viết sử Trần Gia Phụng thuật lại như sau trong bài “Trường hợp Phạm Quỳnh”: “Trong khi đó, lấy cớ tìm kiếm vũ khí còn tàng trữ tại nhà các vị có chức quyền trước đây, Việt Minh cho người lục soát biệt thự ‘Hoa Đường’ ngày 23-8-1945. Tuy không tìm được gì, họ vẫn ‘mời’ Phạm Quỳnh và người con rể là Nguyễn Tiến Lãng đi ‘họp’ với Ủy ban cách mạng Trung Bộ đóng ở tòa Khâm sứ Pháp cũ. Đây là thủ thuật bắt người của chính quyền cộng sản rất mới lạ lúc đó, và rất quen thuộc với người Việt Nam sau này. Có lẽ cần chú ý việc Phạm Quỳnh về trí sĩ mà không phòng thân, hoặc không lo tìm đường mà trốn tránh, ngay cả sau khi Việt Minh đảo chánh, chứng tỏ bản thân Phạm Quỳnh nghĩ rằng ông chẳng phải là tay sai của Pháp để phản dân hại nước, và ông cũng chẳng theo một đảng phái chính trị nào, nên chi có gì phải sợ đề phòng. Nếu quả thật ông là tay sai của Pháp thì ông đã cao bay xa chạy, và Việt Minh không dễ bắt được ông như vậy.

    “Nguyễn Tiến Lãng bị giam riêng, không cùng chỗ với nhạc gia. Ông Lãng và gia đình không biết tin tức gì của Phạm Quỳnh, cho đến những ngày Việt Minh sửa soạn đưa ông Lãng ra tòa, nhóm họp tại Điện Thái Hòa vào khoảng đầu năm 1946, thì báo chí Việt Minh công bố rằng ông Phạm Quỳnh, cùng ông Ngô Đình Khôi và con trai trưởng đang làm thông ngôn cho Nhật là Ngô Đình Huân, đã bị xử tử hình, nhưng không cho biết ngày giờ các ông bị giết, cũng như đã chôn các ông ở đâu. Về sau, gia đình mới được biết Phạm Quỳnh đã bị giết ngày 6-9-1945 tại vùng cách Huế khoảng 20 cây số. Có lẽ cần ghi nhận thêm lúc bấy giờ, chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của phong trào Việt Minh ở Huế là Tố Hữu.”

    Tiếp xúc với người viết tại nhà ông ngày 18/7/2007, ông Phạm Tuân xác nhận những điều trên đây và nhấn mạnh di cốt của thân phụ ông không còn đầy đủ, sọ bị nứt một đường dài, và chỉ nhận ra được do cặp kính cận gãy gọng.

    Trong cuốn “Hồi ký người lính già”, Đại tá (CSVN) Đặng Văn Việt có nói đến việc ông Phạm Quỳnh đã bị bắt và giết như thế nào, nhưng cũng chỉ nói một nửa sự thật, phần sự thật được cho phép nói.

    Nhưng “tòa” nào đã xử và kết tội ông Phạm Quỳnh? Những ai ngồi xử và diễn ra tại đâu? Ngày nào? Hay, ai đã ra lệnh giết Phạm Quỳnh?

    Ông Trần Gia Phụng lưu ý người đọc: “Phạm Quỳnh bị bắt ngày 23-8-1945, và bị giết ngày 6-9, nghĩa là ông không bi nhóm Việt Minh địa phương Huế giết liền khi họ nổi dậy. Ông bị giam giữ một thời gian rồi mới bị giết sau khi nhóm Trần Huy Liệu đến Huế dự lễ thoái vị của Vua Bảo Đại. Khi có sự hiện diện của đại diện trung ương, các cán bộ Việt Minh địa phương không dám tự tiện ra tay, mà chắc chắn phải có ý kiến của trung ương. Nhóm Trần Huy Liệu cũng không thể tự quyết định được việc này. Như vậy phải chăng chính nhóm Trần Huy Liệu đã đem lệnh từ Hà Nội vào Huế giết Phạm Quỳnh? Và lệnh đó từ đâu, nếu không phải là từ Hồ Chí Minh?”

    Theo hồi ký viết năm 1992 của bà Phạm Thị Thức, người con gái của Phạm Quỳnh, sau khi Phạm Quỳnh bị giết, bà cùng người chị là Phạm Thị Giá đã ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh qua sự giúp đỡ của người cận vệ của ông ta là ông Vũ Đình Huỳnh. Bà Thức cho biết Hồ Chí Minh chối, không nhận đã ra lệnh giết Phạm Quỳnh và đổ tội cho cán bộ địa phương. Họ Hồ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về… Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá độ và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc.”

    Sự thật ra sao?

    Nếu ngày 6/9/1945 Hồ Chí Minh “chưa về” thì ai đọc “tuyên ngôn độc lập” tại Hà Nội ngày 2/9/1945? Ai ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của nhà nước cộng sản trong nhiều năm trời sau đó vu cáo Phạm Quỳnh là “Việt gian”, tay sai thực dân Pháp, và bôi xóa tên Phạm Quỳnh trong văn học sử Việt Nam?

    Nếu Phạm Quỳnh chỉ là nạn nhân của “nhiều sai sót đáng tiếc” thì Tố Hữu, kẻ nắm chức chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của Việt Minh ở Huế lúc giết Phạm Quỳnh không thể thăng tiến đều đều trên nấc thang đảng CSVN để sau này lên đến phó thủ tướng.

    Vì vậy, câu trả lời của Hồ Chí Minh chỉ là một lời nói dối sống sượng. Nó còn cho thấy thái độ coi mạng người như cỏ rác của kẻ cầm đầu Đảng CSVN, xem việc giết người chỉ là “sai sót đáng tiếc”, rồi thôi, không điều tra, không trừng phạt kẻ có tội, không phục hồi danh dự và bồi thường cho nạn nhân. Không khác nào chuyện bắt của dân con gà, con vịt.

    Thật ra, Phạm Quỳnh không phải là nạn nhân của “nhiều sai sót đáng tiếc… trong thời kỳ khởi nghĩa quá độ”. Ông đã là một trong hơn một triệu nạn nhân của chính sách tàn bạo được hoạch định từ cấp cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bản danh sách đen ấy, có lẽ Phạm Quỳnh đã được xếp hạng “ưu tiên” vì những lý do đặc biệt.

    Mặc dù không có hành động nào chống lại Việt Minh lúc ấy, Phạm Quỳnh được coi là mối nguy cho chính quyền non yếu của Hồ Chí Minh trong giai đoạn sơ khai vì ông đang là người có uy tín rất lớn với mọi giới trong xã hội Việt Nam, lại có tài năng lãnh đạo và cai trị mà Hồ Chí Minh biết rõ điều ấy do thành tích của ông và qua sự giao tiếp cá nhân như đã nói ở phần trên. Và điều quan trọng hơn cả, cũng qua giao tiếp cá nhân, Hồ Chí Minh biết rõ Phạm Quỳnh không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản và không thể khuyến dụ.

    Khi bị giết, Phạm Quỳnh mới 53 tuổi – cái tuổi chín mùi của tài năng, sung mãn sinh lực và già dặn kinh nghiệm.

    Đó là lý do vì sao Hồ Chí Minh không giết Vua Bảo Đại mà lại giết cựu Thượng thư Phạm Quỳnh. Trong cuộc “cách mạng tháng mười” năm 1917 tại Nga, bọn cộng sản Bôn-sê-vích, đàn anh và đồng chí của Hồ Chí Minh, không chỉ giết Sa Hoàng Nicolai II mà còn tàn sát cả gia tộc vua, giết luôn cả tôi tớ của hoàng gia. Dưới mắt Hồ Chí Minh, Bảo Đại là một kẻ vô hại, dù đang làm vua nhưng chỉ ngồi làm vì trên ngai vàng, không có tài năng gì và chỉ thích ăn chơi, nhu nhược, không thể lãnh đạo một lực lượng đối nghịch nào chống lại cộng sản. Nhưng, Phạm Quỳnh thì có thể bất cứ lúc nào trở thành một kẻ thù nguy hiểm. Hồ Chí Minh đã nhận xét không sai về Vua Bảo Đại. Sau khi thoái vị, trao quyền cho Hồ Chí Minh, công dân Vĩnh Thụy vui vẻ nhận chức “cố vấn tối cao” và đi Hong Kong nghỉ mát.

    Với Phạm Quỳnh, Hồ Chí Minh còn có một lý do thầm kín khác để cần phải trừ khử. Hồ Chí Minh tự biết thua kém Phạm Quỳnh về mọi mặt, và ngược lại, Phạm Quỳnh cũng biết rõ quá khứ u ám của Hồ Chí Minh, kẻ tự nhận là Nguyễn Ái Quốc. Hồ Chí Minh cùng lứa tuổi với Phạm Quỳnh, khi gặp nhau tại Pháp năm 1922 cả hai cùng khoảng 30. Khi ấy, Phạm Quỳnh đã là một học giả lẫy lừng, một nhà báo nổi tiếng, “hoạn lộ” thênh thang, sang Pháp cùng với Vua Khải Định dự Hội chợ Marseille, và được mời diễn thuyết tại Trường Thuộc địa Paris (École Coloniale) – chính cái trường mà năm 1911, Hồ Chí Minh dưới tên Nguyễn Tất Thành đã viết đơn cho tổng thống Pháp xin đặc ân theo học nhưng bị từ chối (trong đơn này, HCM khai là sinh năm 1892, cùng năm sinh với Phạm Quỳnh). Cho tới lúc gặp Phạm Quỳnh, Hồ Chí Minh không có nghề nghiệp ổn định, không có tên tuổi nhất định, lý lịch mù mờ, và đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp được vài năm, hoàn toàn vô danh trong xã hội Việt Nam.

    Là một cán bộ cộng sản, Hồ Chí Minh không thể không biết tài năng và lập trường chính trị của Phạm Quỳnh, nhất là sau mấy lần gặp gỡ ở Paris. Vì vậy, khi cướp được chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã ra tay trừ khử Phạm Quỳnh.

    Phạm Quỳnh cũng không phải “chỉ là nạn nhân của một chế độ buổi giao thời hỗn loạn” như có người nói. Ông đã là nạn nhân tất yếu của chính sách đẫm máu của người cộng sản được thi hành một cách có kế hoạch, có hệ thống.

    Phạm Quỳnh và những nạn nhân khác đã chết vì đứng ở thế đối kháng với cộng sản, dù không, hay chưa có hành động gì tích cực. Họ cần được tôn vinh, chứ không cần được “giải oan” vì họ đã không bi xét xử và kết tội bởi một tòa án nhân danh công lý. Họ đã bị thủ tiêu một cách mờ ám và phi pháp trong bóng tối mà chính kẻ cầm đầu chế độ cũng không dám nhận trách nhiệm. Chế độ bất lương ấy càng không có tư cách để “giải oan” cho những nạn nhân của nó, mà chính chế độ ấy cần phải bị lên án và kết tội.

    Trong lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản trên thế giới tại Washington DC ngày 12/6 vừa qua, Tổng Giám Mục Pietro Sambi nói rằng: “Hàng triệu người đã bị cộng sản giết hại. Chúng ta không biết mặt họ, không biết tên tuổi họ, nhưng Thượng đế biết.” Có lẽ cần thêm: “Và Thượng đế biết những kẻ đã giết họ.”

    Những nạn nhân ấy đòi hỏi Công Lý, chứ không xin được giải oan. Công lý không chỉ cần cho người sống, nhưng cũng cần cho những người đã bị giết chết như những con vật không phương thế tự vệ.

    Không có Công lý, khi kẻ giết một người thì bị trừng phạt, có khi phải đền mạng, còn kẻ giết hàng triệu người lại được đúc tượng, xây lăng, ướp xác.
    Mời đọc thêm: Phạm Quỳnh

  92. chinhkie permalink

    Lâu nay các vị Thụ Khải vẫn giải thích Trung Cộng chính là con RỒNG ĐỎ KHỔNG LỒ trong sách Khải Huyền của Kinh Thánh Tân Ước… Trung Cộng được đồng hóa với quỷ Satan… câu 12 (tt) nói đến quỷ căm thù có nghĩa là nó thể hiện sự CĂM THÙ VĨ ĐẠI của NÓ qua ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC… cứ coi xem cách hành xử thô bạo, XẰNG BẬY ngang ngược của ĐCS TRUNG QUỐC mấy năm nay thì đủ biết quỷ SATAN NÓ GIẬN HOẢNG như thế nào vì ngày giờ của NÓ qua ĐCS Trung Quốc không còn nhiều thời gian nữa!!! câu 9 nói đến sự MÊ HOẶC của Quỷ Satan, có nghĩa là ĐCS Trung Quốc lâu nay cố gắng LỪA DỐI thế giới trên BIỂN ĐÔNG, HOA ĐÔNG vv… việ Rồng Đỏ bị xô nhào xuống đất và các Thiên Thần phe nó cũng bị xô nhào xuống làm một với Nó, có ý ám chỉ ĐCS TRung Quốc và các nước CS và các đối tác đồng minh của Trung Cộng như nhiều nước Ả Rập cũng sẽ bị THẾ GIỚI TẤT CHAY không BANG GIAO nữa, đây chính là 1 đòn CỰC ĐAU đối với Quỷ Satan và các quỷ sứ bị Thiên Hạ nghỉ chơi, khinh thường qua ĐCS Trung Quốc và các nước theo phe Trung Cộng… Sấm Trạng với 487 câu rất nhỏ bé mà ông Trời đã LINH ỨNG cho cụ Trạng Trình… nhiều bài, nhiều chương, nhiều câu trong sách KInh Thánh CỰU ƯỚC nói về nhiều nước chỗ rõ cũng như ẩn ý trong đó có Trung Cộng, Nga, Ả Rập, Hồi Giáo vv…

    – Chương 12 –
    IV. Con Rồng. Chiên Con
    1. Ðiềm Lạ: Người Nữ Và Con Rồng

    1 Một dấu lạ vĩ đại hiện ra trên trời: một Bà có mặt trời bao quanh, chân trên mặt trăng, và đầu có triều thiên mười hai sao. 2 Bà đang thai nghén, và kêu la đau đớn, quằn quại sinh con. 3 Rồi một dấu lạ khác hiện ra trên trời: Kìa, con Rồng lớn màu hung lửa, có bảy đầu và mười sừng, và trên bảy đầu, bảy vương miện. 4 Và đuôi nó quét sạch một phần ba tinh tú trên trời mà xô chúng xuống đất. Và con Rồng đứng chực trước mặt Bà sắp sinh con, để Bà vừa sinh, là nó nuốt con Bà. 5 Và Bà đã sinh con, một con trai, Ðấng sẽ lấy trượng sắc chăn dắt các dân hết thảy. Và con Bà đã được cất bổng lên nơi Thiên Chúa, lên ngai của Người. 6 Và Bà đã trốn vào sa mạc; ở đó, đã có chỗ Thiên Chúa dọn sẵn cho Bà để được cung dưỡng 1260 ngày.

    7 Và đã xảy ra đại chiến trên trời. Mikael và các Thiên thần của Ngài giao chiến với con Rồng; và con Rồng và các Thiên thần phe Nó nghinh chiến. 8 Nhưng Nó không có sức cự lại; chỗ của Chúng không còn gặp thấy trên trời. 9 Và Nó bị xô nhào xuống, con Rồng lớn, con rắn thái sơ, gọi là Quỉ, là Satan, Kẻ MÊ HOẶC toàn thể Thiên Hạ. Nó đã bị xô nhào xuống đất, và các Thiên thần phe Nó cũng bị xô nhào xuống làm một với Nó.

    10 Và tôi đã nghe có tiếng lớn trên trời, rằng:
    “Nay đã thành sự
    toàn thắng, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa ta,
    và quyền bính của Ðức Kitô của Người,
    vì nó đã bị xô nhào xuống, kẻ cáo tội anh em ta,
    kẻ cáo tội họ ngày đêm trước nhan Thiên Chúa.
    11 và họ đã thắng được nó, nhờ máu Chiên Con,
    và nhờ lời đoan chứng của họ,
    họ đã không ham sống sợ chết,
    12 Vì lẽ ấy, hãy hân hoan, hỡi các tầng trời,
    và các người ở nơi ấy!
    Khốn cho đất và biển!
    vì quỉ đã xuống với các ngươi, mang theo một mối căm hờn vĩ đại,
    vì biết rằng nó chỉ còn ít buổi nữa thôi”.

    13 Và khi con Rồng thấy mình đã bị xô nhào xuống đất, thì nó đuổi theo Bà đã sinh con trai. 14 Và đã ban cho Bà hai cánh đại bàng mà bay vào sa mạc, đến chỗ dọn cho Bà; ở đó Bà được cung dưỡng một thời, hai thời, và nửa thời, xa tầm con rắn. 15 Con rắn mới phung tự mỏ nó nước chảy như sông đằng sau Bà, cho Bà chết trôi sông. 16 Nhưng đất đáp cứu Bà: Ðất đã há miệng nó mà hớp cạn dòng sông mỏ Rồng phun ra. 17 Và con Rồng tức tối với Bà, thì đi tuyên chiến với các người khác thuộc dòng giống Bà, những kẻ nắm giữ lịnh truyền Thiên Chúa và có nơi mình chứng của Ðức Yêsu.

    – người CON TRAI (CON ĐỎ trong Mã Tiền Khóa) chính là nhân vật mà Trạng vẫn nói đến… trước nay Kytô giáo thường hiểu là Chúa Yêsu, hiểu như vậy là sai với KINH THÁNH…

  93. chinhkie permalink

    “DÊ không ăn lộc ngoảnh về Tây” chỉ 2015 Giới thân Mỹ rộn rịp rước đón Mỹ đến hỗ trợ chống Tàu cộng. “KHỈ nọ ôm con ngồi mếu máo” năm 2016 Tàu cộng mở Đại chiến III thất trận bỏ rơi Việt Nam cho Đồng Minh giải phóng khiến bọn Thái thú và phe thân Tàu bọ chạy qua Tàu tỵ nạn thống khổ. “GÀ kia vỡ tổ chập chùng bay” năm 2017 bọn xâm lăng Việt Nam và tất cả đảng viên Cộng sản Việt Nam cùng nhau tan rã, tù tội, cao chạy xa bay tỵ nạn ngoại quốc”.

    – Văn sỹ SaGiang phân tích ý tưởng này giống câu cụ Trạng đã nói:

    “Đào viên tán lạc Ngô dân thủ thành” ( Cán bộ Đảng viên CS bỏ chạy hạ cánh an toàn…).

  94. chinhkie permalink

    Văn Sỹ Sagiang là người có tư tưởng rất phong phú và bản lãnh!

  95. chinhkie permalink

    Sưu tầm: (BÀN SẤM TRẠNH TRÌNH)

    BÀN SẤM TRẠNH TRÌNH SAGIANG SAGIANG SAGIANG SAGIANG

    I.- TIÊU ĐỀ SẤM TRẠNG TRÌNH Sở dĩ Sagiang tái diễn sấm Trạng Trình do Nguyễn thái Sơn nêu lên các tiêu đề cần biện bạch cho tỏ tường: 1.- Vận mạng Việt Nam trải qua từ 2012 đến 2019 Rồng nằm bể cạn bấy lâu nay chỉ năm 2012 Rắn mọc hai đầu khó nghĩ thay 2013 Ngựa đã mất yên không kẻ cởi 2014 Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây 2015 Khỉ nọ ôm con ngồi mếu máo 2016 Gà kia vỡ tổ chập chùng bay 2017 Đoàn chó vẫy đuôi mừng chủ cũ 2018 Ủn ỉn ăn no lợn ngủ ngày. 2019 2.-Cự ngao đới sơn Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh, Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh. Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực, Trước cước trào vô quyển địa thanh. Vạn lý Đông minh quy bả ác, Ức niên Nam cực điện long bình. Ngã kim dục triển phò nguy lực, Vãng khước quan hà cựu đế thành. II.- TẤU TRÌNH 1.- Vận mạng Việt Nam từ 2012 đến 2019 Năm 2012 và 2013 “Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh. Can qua tứ xứ khởi đao binh” chứng tỏ Việt Nam bị ảnh hưởng vào chiến cuộc Trung Đông do 4 xứ Hồi giáo quá khích gây ra. Can qua là chữ phiên âm của Coran (Thánh kinh Hồi giáo) Cho nên năm 2014 và 2015 “Mã đề Dương cước anh hùng tận” chỉ nêu lên Việt Nam sẽ bị mất chủ quyền vào tay Tàu cộng, khiến cho phe thân Mỹ bị tru diệt, phải tự lập kháng chiên địa mới sinh tồn. Mã đề chỉ Hỏa tiển khi khai hỏa, phát lên tiếng rú (Như ngựa hí). Dương cước chỉ Hỏa tiển Mỷ tung vào phản ứng chiến.(Thế giới bị hủy diệt) Tới 2016 và 2017 “Thân Dậu niên lai kiên thái bình” cho biết Việt Nam được giải phóng và bắt đầu tái lập nền hòa bình cho đất nước. Với 4 câu trên Cụ Trạng đã nêu rõ vận mạng Việt Nam vào thời điểm hiện nay. Cụ còn ngại đoán trật ý nghĩ của Hán Việt thâm sâu nên tiếp theo chữ Nôm kể từ năm 2012. “RỒNG nằm bể cạn bấy lâu nay” có ý 2012 Việt Nam đang bị Tàu cộng xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải tới 40%. “RẮN mọc hai đầu khó nghĩ thay” là chỉ 2013 đất nước chịu ảnh hưởng 2 phe thân Tàu và thân Mỹ tranh giành quyền lực. “NGỰA đã mất yên không kẻ cởi” cho biết 2014 Giới chóp bu lãnh đạo lo đấm đá nhau không còn nghĩ đến đất nước lâm nguy. “DÊ không ăn lộc ngoảnh về Tây” chỉ 2015 Giới thân Mỹ rộn rịp rước đón Mỹ đến hỗ trợ chống Tàu cộng. “KHỈ nọ ôm con ngồi mếu máo” năm 2016 Tàu cộng mở Đại chiến III thất trận bỏ rơi Việt Nam cho Đồng Minh giải phóng khiến bọn Thái thú và phe thân Tàu bọ chạy qua Tàu tỵ nạn thống khổ. “GÀ kia vỡ tổ chập chùng bay” năm 2017 bọn xâm lăng Việt Nam và tất cả đảng viên Cộng sản Việt Nam cùng nhau tan rã, tù tội, cao chạy xa bay tỵ nạn ngoại quốc. “Đoàn CHÓ vẫy đuôi mừng chủ cũ” ứng năm 2018, Việt Nam lần thứ nhì thống nhứt toàn dân Bách Việt từ Khâm châu, Vân Nam, Miến, Thái, Lào Miên quy về Liên bang Đại Việt (Trưng nữ vương thống nhứt 65 thành trì lần nhứt). “Ủn ỉn ăn no LỢN ngủ ngày” chỉ cho chúng ta biết 2019 đất nước thái bình thịnh trị. 2.- LÝ GIẢI BÀI THƠ ” CỰ NGAO ĐỚI SƠN” “Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh” có ý cảnh trí đất nước xinh đẹp thanh lịch từ biển bao quanh núi của các quần đảo. (Chỉ đất nước Tàu Miền Hoa Nam) “Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh” chỉ cho biết con rùa lớn (Hỏa tiển mang đầu đạn nguyên tử) sinh ra đầu sáng rỡ như ngọc. (Chỉ mang chôn dấu 6000 giàn hỏa tiển liên lục địa có gắn sẵn đầu đạn nguyên tử chỉ đạo cho các Thủ đô, Thành phố lớn địch quốc) “Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực” khi tung đầu lên không gian (Hoả tiển liên lục địa) có sức hủy diệt khủng khiếp. “Trước cước trào vô quyển địa thanh” bị chạm trán phản lực (Hỏa tiển Patriot và Tawehauwk) tạo ra biển cuồn cuộn nước tung vào không còn thấy đất (Biển Hoa Nam) “Vạn lý Đông minh quy bả ác” Biển Đông vạn dậm được Việt Nam tái chiếm sau Đệ tam Thế chiến.(Tàu đại bại bỏ chạy). “Ức niên Nam cực điện Long bình” Liên Bang Đại Nam với chánh thể Quân chủ Đại Nghị cả vạn năm. “Ngã kim dục triển phò nguy lực” Ta muốn thi thố phò tá đất nước trong lúc nguy biến. “Vãng khước quan hà cựu đế thành” Thống nhứt giang sơn giòng giống Bách Việt 65 thành trì của vua Trưng nữ Vương ngày xưa. III.- SUY DIỄN VẬN MẠNG VIỆT NAM Theo thiển ý, cụ Trạng lo ngại, hậu duệ không thông suốt tư tưởng của cụ, nên cụ phải nói tới nói lui từ Hán Việt ra Nôm với ngụ ý thâm sâu, không thể nào nói huỵch toẹt ra mọi sự kiện. Như thế đâu còn gì để bàn tán! Nội năm xảy ra sữ kiện, cũng chỉ nói con chó, con gà, con dê, con ngựa theo địa chi để tự suy luận ra, nên cứ đoán mò mãi, thành ra cứ trớt quớt. Cụ còn chơi chữ theo nhiều lối: tượng hình, tượng thanh, tượng ý, ghép chữ (Chữ Hán và chữ Nôm có nhiều phần ghép lại), chúng ra rất khốn đốn suy luận ra ý nghĩa thực sự cụ muốn diễn đạt. Mả đề (Ngựa hí) Dương cước (Dê đá giò lái) ứng chỉ trận chiến nguyên tử phát khởi ở Hoa Nam tạo ra biển Hoa Nam. Cự ngao là cụ ám chỉ Hỏa tiển Liên lục địa chứa nguyên tử lực trong bụng, còn đầu gắn đầu đạn nguyên tử. Khi nó tung lên không gian, khối hỏa tiển có kình lực như thiên lực. Nhưng chúng bị đá giò lái, chạm trán với hỏa tiển Mỹ tạo ra chiến tranh nguyên tử tung ra phóng sạ cùng chấn động mãnh liệt, địa cầu ngưng lại chuyển trục, hủy diệt toán thể nhơn loại, Hoa Nam thành biển. Câu Vạn lý Đông minh quy bả ác lại có ý chỉ Biển Đông sau sẽ được bồi đấp thành bình nguyên rộng lớn hàng vạn dậm, sẽ nối liền 4 quần đảo vào đất liền :Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Sơn, Phú Quốc cùng Thổ châu Ức niên Nam cực điện Long bình rất khó hiểu khi các sắc dân Bách Việt rải rác ở Miến, Thái, Lào, Miên, Khâm châu và Vân Nam, sau chiến trận Nguyên tử chì còn 1/10 dân số sống đa số là dân Bách Việt mới tập trung đầu phục về Việt Nam nên chánh quyền VNCH phải chuyển thành Liên bang Đại Nam (Hay Đại Việt) với thể chế quân chủ đại nghị (Mới có điện Long bình) Vãng khước quan hà cựu đế thành là cụ muốn nhắc lại lần thống nhứt thứ nhứt của Trưng nữ vương 65 thành trì của toàn thể dân Bách Việt, bây giờ là lần thứ nhì. Đây chỉ là tạm truy sát một phần nhỏ nhoi đã nêu ra trong tiêu đề, còn trọn bộ 487 câu rất nhiêu khê, diễn đạt tất cả nguồn sử liệu Việt Nam từ Bách Việt, đến lúc thành hình Hùng vương thứ nhứt vào Thời Đông Châu, nổi danh nhứt là chiến trận Ngô Phù Sai cùng Việt Câu Tiển, chứng minh bộ sử Việt viết theo sử Tàu hoàn toàn sai lạc hết trơn. Rất tiếc là chúng ta chưa thành lập được Ban Sử Địa Việt Nam. Sau nầy tái chiếm lại, đất nước, chúng ta có gắng phát huy Ban Sử Địa Việt Nam, sưu tra lại giòng lịch sử Tiên Rồng xuất xứ từ Đại Lục Atlantic cách nay 15 ngàn năm phiêu bạt trải dài từ Bắc Phi tới bờ Hồng Hải, lai giống ra những quốc gia Maroc, Algeria, Tunisia, Ai cập, Sudan và Ethiopia. Họ đã xây dựng Kim tự tháp, chôn dấu báu vật cùng tài liệu tiền nhơn, về sau lại chôn xác vương tộc cùng vàng ngọc. Chính phối tự PI = 3,1416 Âu châu đã tìm được trong Kim tự tháp, để tính viên chu, diện tích hình tròn thông dụng ngày nay cũng như Bộ sách quý Tam thiên Dịch số mà thời Đông châu, Tàu xâm chiếm Bách Việt cưỡng chiếm chỉ được Tiên thiên dịch số và Hậu thiên dịch số, còn Trung thiên dịch số bị dấu kín, Khổng Tử san định thành Kinh Dịch, nhưng còn lấn cấn phần giải lý, vì thiếu bộ Trung thiên. Cho nên Kinh Dịch của Tàu thua Sấm Ký Trạng Trình phần lý giải. Nhưng do muốn giữ biệt lập nên cụ viết với ẩn dụ để Tàu không đoạn văn được, thành ra rất nhiêu khê. Chớ khi Trịnh Tùng cho sứ giả đến diện kiến xin cho biết vận mạng quốc gia “Ông bảo sãi ở chùa được ăn oãi”, Trịnh Tùng hội ý không dám cướp ngôi vua Lê. Nguyễn Hoàng cho sứ giả đến thỉnh ý, “Ông viết Hoành sơn nhứt đái vạn đại dung thân” có ý mách bảo tới Bảo Đại là hết. Khi dân chúng Vĩnh Lại thỉnh ý “Ông viết “Thạch mã quá giang, Quận công toàn xã”. Dân chúng tin tưởng “Chừng nào ngựa đá qua sông. Thời dân Vĩnh Lại Quận công hết làng” Quả đúng như vậy, con ngựa đá ở bờ sông bị đất lỡ, trôi giạt sang bờ sông bên kia, dân chúng Vĩnh lại nhân lúc vua Lê chiêu Thống bỏ chạy, bị Tây Sơn truy nã, dân chúng Vĩnh Lại lo cứu khỏi, thoát nạn cầu xin ban thưởng, nhà vua sai văn phòng tứ bảo làm chiếu sắc phong chức Quận công hết cả dân làng Vĩnh Lại. Khi họ Mạc yếu thế sai sứ đến thỉnh ý “Ông viết Cao bằng thủ đái Tam Đại dung thân” Họ mạc chạy lên thủ đất Cao bằng thêm 3 đời nữa mới chấm dứt. Ông đỗ Trạng làm quan cho họ Mạc nhưng khi tâu sớ triệt hạ gian thần không được, ông từ quan về ở ẩn Bạch vân Am viết sách lưu truyền hậu thế vui cùng hạc nội mây ngàn với đề tài “Hồng Sơn liệp bộ, Nam Hải điếu đồ”. Ông viết rất nhiều thi phú, trong Bạch vân Am thi tập, nhưng trổi nhứt là quyển Thái Ất chân kinh và 487 câu Sấm ghi lại toàn bộ Lịch sử Việt Nam từ lập quốc đến tương lai. Ông có ý định chấn chỉnh lại nền sử địa Việt Nam, nên 487 câu sấm trở thành tuyệt tác cho tương lai hậu thế cách 500 năm. Ông còn cho biết Việt Nam sau nầy trở thành siêu cường quốc, lãnh đạo thế giới với chức vụ Đệ nhứt Đạo sư trong 18 Đạo sư, Việt Nam trở thành Liên bang Đại Việt với Kim điện núi Cấm trở thành thánh địa và Long Hoa giáo chủ trụ trì cả ngàn năm tới thế kỷ 32 mới hoàn toàn tận thế. Sacramento, ngày 10 tháng 3 năm 2015

  96. chinhkie permalink

    “Này những lúc thánh nhân chưa lại
    Chó còn nằm đầu [KHỈ] cuối thu
    Khuyên ai sớm biết khuông phù
    Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngỏ hầu”.

    * Ông Trần Dần có nhiều kẻ chê và cũng không ít người KHEN mặc dù ông này muốn mượn SẤM để LÀM ĂN, hay CHÍNH TRỊ… nhưng cũng thấy được vài điều RẤT HAY… ông giải thích về câu SẤM này như sau:

    “… Ý nói, những lúc thày Nhân Thập chưa xuất hiện, thì sẽ có những kẻ tiểu nhân bán nước, chúng nằm rải rác từ Nam chí Bắc. Nhưng nếu ai biết sớm giác ngộ thì sẽ giúp cho toàn dân biết tỏ tường đường lối mà đi….”.

    – Em xin giải rõ hơn KHỈ = Đầu năm KHỈ tức BÍNH THÂN 2016″
    + Tính từ tháng 01 Âm Lịch Bính Thân 2016 là đầu năm Khỉ, đến cuối thu âm lịch 2016…
    nghĩa là những kẻ TÀ QUYỀN hiện nay vẫn còn nắm quyền đầu KHỈ 2016 đên cuối MÙA THU 2016, từ cuối thu 2016 chúng sẽ SUY YẾU RÕ HƠN…

    – Những ai sớm biết khuông phù?
    – Tất cả những người hữu duyên và những người mà Trạng Trình đã nói:
    ” Ai hòa học được Thần Kinh
    ắt là gặp được Thánh Minh tuần này?…

    + Chúng ta chắc còn nhớ câu: Lai chiêu (mộ) lục thất xuất minh quân

    IV. Có thơ rằng:

    Dần Mão chư dương giai vị cập (cận)
    Lai chiêu (mộ) lục thất xuất minh quân (thánh nhân).
    Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
    Hưng tộ diện trường ức vạn xuân.

    – Bắt đầu từ cuối năm 2016 đến cuối 2017
    thế giới sẽ nghe hay được thấy mặt mà sấm Trạng đã nói,
    nhưng có lẽ VN sẽ không thấy mà phải có chuyện Đào Tiềm xuất du đã?
    – còn Trần công… chưa chắc đây là tên của một người họ trần tên công mà rất có thể đây là công sức của nhân vật Đào Tiềm xuất du khi còn ở VN gặp nhiều việc vất vả vì cố gắng từ đôi tay trắng nghèo mà vẫn giupws đỡ người bị áp bức lấy lại tài sdản, nhà cửa đất đai, lấy lại danh dự cho người góa bụa, con côi, thấp cổ bé họng, neo đơn?

  97. Thầy Bói Online permalink

    Bác thientrungnhan sai rồi. Trước khi chuẩn bị cho cuộc chiến tranh biên giới thì người Hoa bị đuổi về nước mới chính xác!

  98. thientrungnhan permalink

    Hoa thôn = thôn, ấp, xã, phường… người Hoa?. Khắp nơi trong cả nước người Hoa bị lột sạch đuổi về nước, cho nên có cuộc chiến biên giới.

  99. thientrungnhan permalink

    Đúng vậy

  100. chinhkie permalink

    Đọc bài viết của Tú Hoa ở phía dưới em lại nhớ về
    câu sấm Trạng Trình mà bác Thiên đã chỉ dẫn
    khi mấy cụ Thánh ở Hà Nội vào đánh tư sản ở MNVN sau 30/4/1975

    “Hỏa thôn đa khuyển phệ
    Mục giả giục nhân canh
    Phú quý hồng trần mộng
    Bần cùng bạch phát sinh
    Anh hùng vương kiếm kích
    Manh cổ đổ thái bình”…

    ĐÁNH TƯ SẢN Ở MIỀN NAM VN (Tú Hoa)
    Posted on May 16, 2015 by Lê Thy
    Sàigòn xưa trước 1975
    Sàigòn xưa trước 1975

    I. ĐÁNH TƯ SẢN ở Miền Nam

    ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam, ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM, và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN của Dân Nam thể hiện quyết tâm cướp bóc thẳng tay của Cộng Sản Hà Nội trực tiếp lên đầu lên cổ người dân Miền Nam Việt Nam.

    Đặc biệt, Cộng Sản Hà Nội ban hành Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do Phạm Hùng ký, chỉ đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền Nam một cách công khai trắng trợn như Phát Xít Đức đã từng thi hành đối với các công dân Đức gốc Do Thái vào năm 1939.

    Các đợt ĐÁNH TƯ SẢN cướp bóc người dân miền Nam được Cộng Sản Hà Nội cho ký số X1, X2 và X3.

    Đợt cướp X1 được bắt đầu vào sáng ngày 11 tháng Chín năm 1975 xảy ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn.

    Đợt cướp này chủ yếu nhắm vào nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống đói khổ như Phát Xít Đức đã từng làm khi tống cổ người Đức góc Do Thái vào trại tập trung.

    Đợt cướp X1 này, những người dân Việt gốc Hoa vốn đã di dân vào Miền Nam Việt Nam từ cuối triều Minh, đầu triều nhà Thanh bên Tầu, sanh sống thành công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm. Máu và nước mắt, oán hờn ngút trời cho một vùng đất hiền lành này phải chịu oan thiên tan nát.

    Đợt cướp X2 được Cộng Sản Hà Nội tiến hành từ Tháng Ba năm 1978 và được kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt.

    Đợt cướp này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ, vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do, do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.

    Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ xài gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hủy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẩm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà-bông (savon) hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh, …etc…. Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẩm như đường, bột giặt, giấy, …etc cũng bị tê liệt, vì chủ nhân bị Đảng CSVN quốc hữu hóa và bị đẩy đi vào tù.

    Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận vuốt đuôi là đã có trên 10.000 tiệm bán, bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí lừng lẫy, biểu tượng của cả Sài Gòn, cũng bị báo đài tại Sài Gòn lúc bấy giờ rêu rao là tư bản chó đẻ và cần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí đã từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Chu Trinh cho dân tộc, mà nay cũng bị cướp không từ bởi Cộng Sản.

    Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị Cộng Sản Hà Nội vào Tháng Năm, năm 1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước CS, thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất”, dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó, vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.

    Tình trạng cướp bóc của Đảng Cộng Sản Hà Nội ở nông thôn miền Nam càng kinh khiếp và dữ dội hơn ở Sài Gòn, dù không ồn ào bằng.

    Tổng số lúa mà nông dân Miền Nam bị Đảng Cộng Sản Hà Nội cướp đoạt để chở ra ngoài Bắc không thông qua quy chế thu mua, được loan truyền là khoảng 4 triệu tấn gạo vào đầu năm 1978, trên đài phát thanh Hà Nội khi ca ngợi thành tích ĐÁNH TƯ SẢN của các đảng bộ địa phương miền Nam. Đương nhiên, con số chính thức được các nông dân kêu ca là lớn hơn nhiều.

    Sang đến năm 1979, Võ Văn Kiệt đã phải phỉnh lừa, làm bộ giả nhân giả nghĩa, loan báo thu mua lúa từ nông dân với giá cao gấp cả ngàn lần giá quy định của Nhà Nước (!) để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn được nữa từ nông dân Miền Nam trước những đợt cướp lúa từ năm 1977 trở đi.

    Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3, đặc biệt tập trung tại Sài Gòn, với một âm mưu kín đáo từ Bộ Chính Trị là trục xuất toàn bộ người Sài Gòn cũ ra khỏi nơi ở, để “Bắc Kỳ hóa” thành phố Sài Gòn. Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ CS miền Bắc đã vào Sài gòn sanh sống trong những ngôi nhà ở Miền Nam bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An VC khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sanh sống trong những ngôi nhà của dân Miền Nam bị tịch thu.

    Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo Trung Ương vào Ngày 16 Tháng Hai năm 1976 là người chỉ huy trực tiếp cuộc cướp bóc này lên đầu lên cổ người dân Sài Gòn.

    Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng SÁU TRĂM NGÀN NGƯỜI, tạo ra một sự hoảng sợ hoang mang chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại.

    Cuối đợt X3 , ghi nhận của Cộng Sản Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu hai người!

    Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiết quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đỗ Mười trực tiếp chỉ huy. Hơn 14 NGÀN cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị cướp trắng, đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đế gần chín đến hai mươi mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn KHÔNG CÒN HY VỌNG để phục hồi.

    Riêng về tổng số vàng, nữ trang mà Cộng Sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc người dân miền Nam, được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng – nhưng đây chỉ là con số tượng trựng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm, năm 1977 qua tháng Hai, năm 1978 mà thôi. Cộng Sản Hà Nội đã cướp cả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ trang và kim cương, trong những đợt ĐÁNH TƯ SẢN cướp bóc thẳng tay lên lên đầu lên cổ nhân dân miền Nam.

    Xin được ghi chú thêm là chỉ nội vụ lừa đảo mà Đảng Cộng Sản Hà Nội tiến hành cho phép người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức, nếu đóng khoảng 120 lượng vàng, đã góp vào gần 10 ngàn lượng vàng tổng cộng.

    Trung bình, mỗi người dân miền Nam nằm trong đối tượng bị ĐÁNH TƯ SẢN mất trắng khoảng 9 lượng vàng, không tính đất đai, nhà cửa, phụ tùng thiết bị, đồ cổ, và các tài sản khác. Trữ lượng vàng của toàn bộ người dân miền Nam có thể lên đến 250 ngàn lượng vàng tính đến năm 1975, nhưng Cộng Sản đã không thể cướp sạch nổi, do đồng bào khôn khéo giấu đi và phản kháng cũng như đem theo khi di tản.

    II. KINH TẾ MỚI:

    Tất cả những ai tại Sài Gòn bị đảng Cộng Sản Hà Nội cướp nhà, tịch thu tài sản, đều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sanh hoạt chưa được xây dựng, nơi đó chưa có điện nước, trường học, và bệnh Xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng Cộng Sản quản lý và cướp hết.

    kinhtemoi Những người bị cướp bóc, tịch thu nhà và sau đó bị dồn lên vùng kinh tế mới

    Chỉ tiêu VC đề ra là phải đưa cưỡng bức khoảng gần một triệu người Sài Gòn ra các Vùng KINH TẾ MỚI và buộc họ phải bỏ hết tài sản nhà cửa lại, cho Đảng Cộng Sản Hà Nội quản lý.

    Tổng kết từ các báo cáo thành tích cải tạo XHCN của Đảng, số người bị cưỡng bức đi Kinh Tế Mới từ Sài Gòn qua mười năm Quá Độ – ĐÁNH TƯ SẢN như sau:

    THỜI KỲ CHỈ TIÊU KẾT QUẢ
    THỰC HIỆN GHI CHÚ
    1976-1979 4 triệu người 1,5 triệu người 95% là từ Sàigòn
    1979-1984 1 triệu người 1,3 triệu người 50% là từ Sàigòn
    Khi đến vùng KINH TẾ MỚI để sống tham gia các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:

    30% trả thuế
    25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;
    15% trả lương cho cán bộ quản lý ;
    30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động

    Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế Mới đã bị Đảng CSVN tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa, các nạn nhân sống trong vùng Kinh Tế Mới.

    Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Cộng Sản Hà Nội đối với những người dân bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, “ngụy quân, ngụy quyền” và tiểu tư sản.

    Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam – cả triệu người đang sống sung túc bỗng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà, trước thảm cảnh cướp bóc này của Cộng Sản Hà Nội.

    Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường Về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.

    III. Nguyên văn toàn bộ Quyết Định 111/CP của Cộng Sản Hà Nội trong quyết tâm cướp bóc tài sản người dân miền Nam Việt Nam

    Quyết định 111/CP của Cộng Sản Hà Nội là một tài liệu chứng cớ quan trọng đối với sử học cho tội ác cướp bóc của Cộng Sản đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam.

    Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân Miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt, đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm 1985.

    Sau đây là nguyên bản của quyết định:

    HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
    Số: 111/CP

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày 14 tháng 04 năm 1977

    QUYẾT ĐỊNH
    CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 111/CP NGÀY 14 THÁNG 4 NĂM 1977
    VỀ VIỆC BAN HÀNH CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CHO THUÊ Ở CÁC ĐÔ THỊ CỦA CÁC TỈNH PHÍA NAM

    HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

    Tiếp theo bản tuyên bố của Chính phủ về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam hiện nay;

    Để tăng cường quản lý nhà đất và đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân ở các tỉnh phía Nam;

    Theo đề nghị của đồng chí Bộ trưởng Bộ Xây dựng và của đồng chí Trưởng Ban Cải tạo Công thương nghiệp tư doanh Trung ương trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 25/2/1977;

    QUYẾT ĐỊNH

    Điều 1.- Nay ban hành kèm theo quyết định này bản chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất cho thuê ở các đô thị các tỉnh phía Nam.

    Điều 2.- Các đồng chí Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và các đồng chí chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở phía Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này, các đồng chí Bộ trưởng các Bộ Xây dựng, Nội vụ, Ngoại giao và các đồng chí Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp tư doanh Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn các ngành, các cấp thi hành quyết định này, tuỳ theo chức năng quản lý và những vấn đề có liên quan đến ngành mình.

    CHÍNH SÁCH
    QUẢN LÝ VÀ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT
    CHO THUÊ Ở CÁC ĐÔ THỊ CÁC TỈNH PHÍA NAM

    MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

    Việc quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị, các tỉnh phía Nam cần đạt được mục đích, yêu cầu sau đây:

    – Xoá bỏ kinh doanh bóc lột về nhà đất; thực hiện thống nhất quản lý của Nhà nước về nhà đất ở đô thị.

    – Cải tạo đến đâu, quản lý tốt đến đó, đồng thời tiến hành quy hoạch, bố trí, sắp xếp điều chỉnh lại những khu vực sản xuất, khu vực hành chính, sự nghiệp, khu vực ở và các cơ sở phúc lợi công cộng… sao cho công bằng; hợp lý và có lợi nhất, trên tinh thần tận dụng cơ sở sẵn có, kết hợp với xây dựng mới; từng bước giải quyết chỗ làm việc cho cơ quan Nhà nước và chỗ ở cho công nhân, nhân viên và nhân dân lao động chưa có chỗ ở hoặc ở quá chật, cải thiện từng bước điều kiện nhà ở của nhân dân góp phần ổn định và phát triển sản xuất.

    – Tăng cường việc bảo quản, sửa chữa nhà cửa và từng bước cải tạo và xây dựng thành thị theo hướng xã hội chủ nghĩa.

    I. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NHÀ ĐẤT CHO THUÊ:

    1. Nhà nước quốc hữu hoá toàn bộ nhà cho thuê, không kể diện tích cho thuê nhiều hay ít của tư sản mại bản, của địa chủ, của tư sản gian thương lớn, của những người phạm tội nặng về chính trị và kinh tế của các tổ chức phản động.

    2. Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ nhà cho thuê của các chủ là cá nhân, công ty, đoàn hội, tôn giáo v.v… trừ trường hợp nhân dân lao động có ít diện tích cho nhau thuê để ở hoặc cho ở nhờ.

    Tuỳ theo chất lượng, công dụng của từng ngôi nhà, tuỳ theo diện tích cho thuê nhiều hay ít, tuỳ theo thu nhập của chủ nhà cao hay thấp, Nhà nước để cho những chủ nhà là cá nhân được hưởng một phần tiền thuê nhà. Phần chủ nhà được hưởng sẽ do Bộ Xây dựng quy định cụ thể, nhiều nhất không quá 25% tiền thuê nhà.

    Riêng đối với những chủ nhà là cá nhân có ít nhà cho thuê để ở, diện tích cho thuê dưới 150 m2 ở các tỉnh, dưới 200 m2 ở thành phố Hồ Chí Minh, hoặc thu tiền cho thuê nhà (không kể tiền đặt cọc) hàng năm dưới 600 đồng ở các tỉnh và 800 đồng ở thành phố Hồ Chí Minh thì trước mắt chủ nhà vẫn được tạm thời cho thuê nhưng phải chấp hành đầy đủ những quy định thống nhất về đăng ký, hợp đồng giá cho thuê, điều lệ bảo quản sửa chữa, quyền lưu trú của người thuê.

    3. Nhà nước trực tiếp quản lý tất cả các biệt thự cho thuê (không kể diện tích nhiều hay ít) và toàn bộ diện tích nhà cho thuê không phải để ở mà để làm cửa hàng, bệnh viện, trường học (không kể diện tích cho thuê nhiều hay ít). Nhà nước trực tiếp quản lý tất cả các cư xá công và tư, không kể là cư xá cho thuê hay ở không mất tiền. Đối với những căn hộ mà người ở đã mua đứt và có giấy tờ hợp lệ thì coi như của riêng, nếu không phải là đối tượng bị tịch thu trưng thu thì người đã mua nhà được Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu.

    4. Đối với thần sĩ trí thức, gia đình có công với cách mạng có nhà cho thuê thì vận động họ hiến. Công nhân, viên chức Nhà nước và Đảng viên có nhà cho thuê hoặc đang quản lý nhà cho thuê thì giao những nhà đó cho Nhà nước quản lý.

    5. Những chủ có nhà cho thuê mà không có chỗ ở được giữ lại một diện tích để ở tương đương với bình quân diện tích chung ngoài xã hội hoặc có thể rộng hơn một ít tuỳ theo cấu trúc của ngôi nhà.

    6. Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ đất cho thuê không phân biệt diện tích nhiều hay ít và nói chung không bồi hoàn, trừ trường hợp đặc biệt.

    7. Người đang thuê đất được phép sử dụng mà không được mua bán, chuyển dịch và phải tuân theo những quy định về quản lý nhà đất ở đô thị.

    II. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT VẮNG CHỦ

    1. Tất cả những nhà, đất và tài sản vắng chủ của người Việt nam và ngoại kiều đều do Nhà nước trực tiếp quản lý. Khi người chủ về, Nhà nước sẽ giải quyết với họ. Không ai được chiếm dụng, tự ý chuyển nhượng, mua bán nhà cửa, tài sản vắng chủ khi không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    2. Nhà nước quản lý xử dụng những nhà, đất và tài sản vắng chủ cho thuê theo chính sách cải tạo nhà cho thuê.

    3. Nhà nước quản lý sử dụng những nhà, đất và tài sản vắng chủ của những người đã ra nước ngoài làm ăn buôn bán, hành nghề từ trước ngày giải phóng, khi họ trở về sẽ tuỳ từng trường hợp mà nghiên cứu giải quyết sau.

    Riêng đối với những người sau đây, khi họ trở về, Nhà nước sẽ xét từng trường hợp cụ thể mà trả lại nhà cửa, tài sản cho họ:

    a. Những người làm ăn lương thiện đi chữa bệnh, đi thăm viếng bà con, đi học ở nước ngoài.
    b. Những người đi tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến.
    c. Những người là nhân dân lao động vì hoang mang sợ hãi bỏ chạy đi các nơi trước và trong những ngày giải phóng.

    4. Những nhà, đất và tài sản mà trước khi vắng, chủ nhà đã uỷ quyền hợp pháp cho những người là con đẻ, vợ hoặc chồng hợp pháp của mình quản lý thì những người ấy được tiếp tục quản lý và phải chấp hành những chính sách quản lý nhà, đất của Nhà nước; trường hợp chưa kịp uỷ quyền hợp pháp thì Nhà nước cho phép những người là cha mẹ, con đẻ, vợ hoặc chồng hợp pháp của họ trước đây đã ở trong những nhà ấy, nay được tiếp tục ở nhưng không được bán, chuyển dịch bất động sản.

    Đối với thân nhân không phải là cha mẹ, vợ chống, con của các chủ vắng mặt mà trước đây cùng ở chung với chủ nhà, nếu nay còn ở lại thì sẽ được thu xếp cho ở một chỗ trong nhà hoặc xếp ở nơi khác.

    5. Những trường hợp xin thừa kế, xin hiến nhà, đất và tài sản vắng chủ sẽ được nghiên cứu giải quyết từng trường hợp cụ thể theo chính sách.

    6. Uỷ ban nhân dân thành phố, tỉnh thống nhất quản lý những nhà đất và tài sản vắng chủ tại địa phương.

    Cơ quan quản lý nhà đất và cơ quan tài chính chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng, kiểm kê định giá, xử lý và thanh toán với chủ nhà khi họ trở về theo đúng các chính sách chế độ và thống nhất quản lý nhà đất và tài sản vắng chủ của Nhà nước.

    III. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC ĐOÀN HỘI TÔN GIÁO

    Để bảo đảm thống nhất quản lý nhà cửa, bảo đảm tôn trọng tự do tín ngưỡng và căn cứ vào các chế độ, chính sách khác của Nhà nước, việc quản lý của các đoàn, hội tôn giáo ở các tỉnh phía Nam được quy định như sau:

    1. Nhà nước bảo hộ mọi nhà thờ, chùa chiền, miếu mạc, thánh thất được thực sự và thuần tuý dùng vào việc thờ cúng hành đạo.

    2. Nhà nước tịch thu toàn bộ nhà đất của các Đoàn Hội các tổ chức không được Nhà nước thừa nhận và cho phép hoạt động.

    3. Nhà, đất của các đoàn, hội, các tổ chức khác và của các tôn giáo hiện đang cho thuê được giải quyết theo chính sách chung về nhà, đất cho thuê. Riêng đối với các nhà tập trung của các tổ chức, các tôn giáo đã cho hội viên, giáo dân của mình nhờ, hoặc ở thuê với giá rất rẻ mà không nằm trong phạm vi nơi thờ cúng, hành đạo thì Nhà nước có thể xét cấp hẳn cho người đang sử dụng.

    4. Những nhà cửa đất đai khác còn bỏ trống hoặc dùng vào mục đích không phải thờ cúng, hành đạo, thì Nhà nước vận động thuyết phục giáo dân giao cho Nhà nước dùng vào việc phục vụ lợi ích chung.

    IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG

    1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.

    2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước trực tiếp quản lý:

    – Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên.
    – Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên.
    – Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ, từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên.
    – Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.

    3. Những người có nhà cho thuê và nhà thuộc diện Nhà nước trực tiếp quản lý, tuỳ theo chức vụ cấp bậc, quá trình hoạt động dưới thời Mỹ nguỵ và thái độ chính trị hiện nay của đương sự mà có thể chiếu cố dành cho một diện tích ở thích đáng, nếu chưa có chỗ ở.

    V. ĐỐI VỚI NHÀ ĐẤT CỦA NGOẠI KIỀU

    Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thừa nhận mọi cam kết của chính quyền Mỹ nguỵ với các nước và các tổ chức quốc tế có cơ quan ở miền Nam Việt Nam.

    Nhà nước không thừa nhận quyền sở hữu về bất động sản đã có của các nước và của ngoại kiều trên lãnh thổ Việt Nam từ trước ngày Giải phóng. Chính phủ sẽ giải quyết các vấn đề tồn tại về các loại nhà, đất này theo hướng sau đây:

    1. Quốc hữu hoá không bồi hoàn toàn bộ đất đai, nhà cho thuê của chính phủ nước ngoài và ngoại kiều. Xét trường hợp cụ thể có hình thức xử lý đích đáng; không bồi hoàn, bồi hoàn tượng trưng, bồi hoàn một phần tuỳ theo quan hệ ngoại giao giữa nước ta với nước hữu quan nếu là nhà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước hữu quan, và tuỳ theo tính chất kinh doanh bóc lột của ngoại kiều nếu là nhà thuộc quyền sở hữu của ngoại kiều.

    2. Tịch thu toàn bộ tài sản:

    a. Của nước trực tiếp tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam.
    b. Của ngoại kiều trực tiếp phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
    c. Của nước ngoài đã được sử dụng vào mục đích của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

    3. Đối với nhà làm việc và nhà ở của các Chính phủ nước ngoài khác và của các tổ chức quốc tế thì giải quyết như sau:

    Nếu là nhà mua hoặc tự xây cất hợp pháp, căn cứ vào quy hoạch của đô thị mà có thể cho họ giữ lại một số nhà cần thiết để làm cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan nghiệp vụ được Nhà nước ta chấp nhận. Những nhà không dùng vào công việc trên thì phải nhượng lại.

    Đối với những nhà không mua hoặc xây cất không hợp pháp thì Nhà nước quản lý không bồi hoàn.

    4. Nhà của ngoại kiều:

    – Đối với những ngoại kiều được ở lại nước ta làm ăn sinh sống, có nhà tự xây dựng hợp pháp thì được thừa nhận quyền sử dụng để ở.

    – Đối với ngoại kiều được phép xuất cảnh:

    Nếu là người lao động, thì Nhà nước cho phép bán nhà mà họ đang ở hoặc tự xây cất hợp pháp.

    Nếu có cha mẹ, vợ chồng hợp pháp, con đẻ được ở lại và đã cùng ở chung một hộ thì có thể được xét cho nhận uỷ quyền quản lý.

    Đối với nhà của ngoại kiều không phải là nhân dân lao động thì trước khi xuất cảnh đều phải giao lại cho Nhà nước quản lý, và tuỳ từng trường hợp, Nhà nước sẽ không bồi hoàn, bồi hoàn tượng trưng, hoặc bồi hoàn một phần.

    HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
    PHÓ THỦ TƯỚNG
    (Đã ký)
    Phạm Hùng

    Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ gia đình thân nhân của các anh em quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải chịu mất nhà mất cửa rất thê thảm. Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu nhà cửa.

    Dòng chữ cuối cùng của khoản 2 điều IV của QĐ 111/CP có ghi rõ là nhà cửa đất đai của các thành phần sau đây bị tịch thu:

    “Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.”

    Bởi không có định nghĩa rõ ràng thế nào là thành phần ác ôn nên các viên chức cán bộ Cộng Sản tha hồ kết tội thuờng dân vô tôi vạ là thành phần ác ôn của “Ngụy quyền” để tư lợi cướp bóc nhà cửa cho riêng mình, không cần tòa án nào xét xử cả. Ai ai cũng có thể là điệp viên CIA, hay là có lý lịch ba đời liên quan đến Ngụy quân, và đều có tư tưởng “phản động” và cần phải tịch thu nhà cửa dựa trên điều khoản này của Q Đ 111/CP.

    Không khí hoảng sợ , đau thương oán hận lan tràn khắp cả miền Nam.

    IV. Hậu quả ĐÁNH TƯ SẢN của Cộng Sản Hà Nội:

    Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế, Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Cộng Sản Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.

    Cho đến giờ phút này, người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự có quyền TƯ HỮU, mà chỉ có quyền xỬ DỤNG, nghĩa là thảm họa bị ĐÁNH TƯ SẢN trong quá khứ vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra chiếu theo luật pháp hiện hành của Cộng Sản Hà Nội.

    Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục được một phần hâu quả của 10 năm Quá Độ, ĐÁNH TƯ SẢN mang đầy cướp bóc ngu xuẩn do Cộng Sản Hà Nội tiến hành từ năm 1976 đến năm 1987.

    Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền Nam. Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10 năm đó.

    Sang đến năm 1989, báo SGGP từ hào Sài Gòn chịu 90 % ngân sách của cả nước và bắt đầu tiến hành trả lại nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải đói rách, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề cho phép các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa được bán nhà, vốn hầu hết đã bị tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo)

    Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện mà thôi trong dạo gần đây khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp.

    Mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi ĐÁNH TƯ SẢN từ các báo chí đài phát thanh của Đảng cũng bị dẹp dần đi.

    Đảng Cộng Sản Hà Nội tới ngày nay vẫn chưa chính thức xin lỗi hai mươi mốt triệu người dân miền Nam về hành động cướp bóc phi pháp này.

    Tú Hoa

    * Phải nói đây là 1 bài viết rất hay và có thật 100% mà Trạng TRình đã nói đến.

  101. chinhkie permalink

    « 7349. Thư yêu cầu báo PetroTimes gỡ bỏ bài viết “Quốc hội không phải là phường chèo!”7351. Thượng đỉnh Sunnylands kích hoạt vai trò ASEAN trong ‘Tái cân bằng ở Châu Á’ của Mỹ »
    7350. THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG-CUỐI CÙNG VÀ CÒN LẠI

    Posted by adminbasam on 03/03/2016

    Thế Đào

    3-3-2016

    H2

    Mấy ai dám ngờ ông Dũng một lần nữa lại là lãnh đạo Việt Nam tham dự thượng đỉnh Mỹ-Asean tại nông trại Rancho Mirage, California nơi mà hồi tháng 6-2013 Tổng thống Mỹ Barack Obama có buổi họp với Tập Cận Bình, Tổng bí thư, Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc, trên chủ đề “Thái Bình Dương còn đủ rộng để cho Mỹ và Trung Quốc chung sống với nhau”. Phải có cái nhìn đầy đủ như vậy mới nhận diện được tầm quan trọng và ý nghĩa của yêu cầu từ phía Mỹ đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhà lãnh đạo Việt Nam đến tham dự thượng đỉnh Mỹ Asean và gặp gỡ tay đôi với Tổng thống Barack Obama bên lề hội nghị này.

    Có người đặt câu hỏi: Việt Nam có thật sư quan trọng với Hoa kỳ hay không? Qua hai hình ảnh trên, chúng ta có quyền nói rằng sau những ngập ngừng, e dè, ngần ngại, cuối cùng…qua thiện chí của Tổng thống Obama và của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị cấp cao Sunnylands, Việt Nam và Mỹ thật sự quan trọng và cần thiết lẫn nhau. Trong thực tế, Việt Nam và Mỹ đã là hai đối tác làm ăn thân thiện, cạnh tranh lành mạnh trong thế giới Toàn Cầu Hóa, trong Tổ chức Mậu địch Quốc tế-WTO. Và nhất là mới đây trong Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương vừa được ký kết tại Auckland, New Zealand hôm 4-2-2016. Bên cạnh đó VN và Mỹ đang xúc tiến những bước thực tiển và hiệu năng hơn trong công tác xây dựng Niềm Tin Chiến Lược tại mặt trận Biển Đông.

    Tại buổi họp bên lề thượng đỉnh Mỹ-Asean hôm 16-2, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Hoa kỳ có tiếng nói mạnh mẽ hơn và có những hành động thiết thực hơn hiệu quả hơn để yêu cầu TQ chấm dứt mọi hành động thay đổi hiện trạng của Biển Đông, đặc biệt là chấm dứt xây dựng các đảo nhân tạo với qui mô lớn, chấm dứt ngay việc quân sự hóa Biển Đông. Yêu cầu Hoa Kỳ thúc đẩy TQ phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông-DOC-sớm thỏa thuận thực chất Bộ Qui tắc ứng xử ở Biển Đông-COC. Thủ tướng Dũng còn yêu cầu Hoa Kỳ thừa nhận Việt Nam có một Nền Kinh tế Thị trường. Và yêu cầu Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho ViệtNam-đây cũng là biện pháp quan trọng để củng cố lòng tin chính trị giữa hai nước, đồng thời tiếp tục hỗ trợ trong vấn đề tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển, hỗ trợ kỹ thuật cho lực lượng Cảnh sát biển VN

    Bày tỏ nhất trí với Thủ tướng Dũng, Tổng thống Obama khẳng định Hoa Kỳ lo ngại tình hình Biển Đông và ông ủng hộ mạnh mẽ những nỗ lực ngoại giao và tiến trình pháp lý nhầm giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tổng thống Obama khẳng định sẽ chỉ đạo các cơ quan Hoa Kỳ có chức năng liên hệ với những vấn đề ở trên, sẽ phối hợp với phía VN để đề ra các giải pháp xử lý phù hợp cho từng vấn đề nhầm tăng cường lòng tin và hiểu biết lẫn nhau và làm sâu sắc thực chất hơn Quan hệ Đối tác, Hợp tác toàn diện giữa Hoa Kỳ và VN.

    Tôi nghĩ rằng Ban Chấp Hành Trung Ương, Bộ Chính Trị của ĐCSVN và ngay cả TBT Nguyễn Phú Trọng rất lấy làm phấn khởi nếu không muốn nói là kinh ngạc trước sự vận động hữu hiệu và những thành đạt của Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng tại hội nghị cấp cao Mỹ-Asean tại Sunnylands. Do đó có nhiều người lầm tưởng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đang lấy lại thanh thế tại hội nghị Mỹ-Asean. Trong thực tế Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vốn dĩ là một nhà lãnh đạo mạnh của Việt Nam, uy tín và thanh thế của ông chưa hề bị sứt mẻ nhất là từ tầm nhìn của các nhà lãnh đạo thế giới bên ngoài. Ngay cả Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình cũng không dấu được sự nễ trọng của ông đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mỗi lần được hội kiến.

    TT Obama và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: TTXVN
    TT Obama và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: TTXVN
    Tại buổi họp bên lề thượng đỉnh Mỹ-Asean hôm 16-2, Thủ tướng Dũng đưa ra lời mời Tổng tống Obama viếng thăm chính thức Việt Nam. Lời mời của Thủ tướng Dũng được Tổng thống Obama đáp ứng thích đáng và sâu sắc. Tổng thống Obama cho hay ông sẽ có chuyến viếng thăm chính thức Việt Nam vào khỏang cuối tháng 5 này. Trước đây, Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng như TBT Nguyễn Phú Trọng trong những chuyến thăm Mỹ cũng đưa ra lời mời Tổng thống Obama viếng thăm ViệtNam. Tổng thống Obama cũng chấp nhận lời mời, nhưng chưa bao giờ xác định thời gian và lúc nào ông sẽ viếng thăm Việt Nam. Động thái này biểu hiện sâu sắc sự quan tâm và coi trọng của Tổng thống Obama và Chính phủ Hoa Kỳ đối với lời mời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

    Có điều cần chú ý, cuối tháng 5-2016 là thời khoảng nhạy cảm với tình hình chính trị của Việt Nam- Đó là thời khoảng mà Việt Nam vừa hoàn tất bầu cử Quốc Hội khóa 14. Do đó những ngày cuối tháng 5-2016 cũng là thời điểm chuyển giao quyền lực ở Việt Nam, nhất là cho 3 vị trí chủ chốt: Thủ Tướng, Chủ Tịch nước và Chủ tịch Quốc hội. Câu hỏi đặt ra ngay bây giờ ai là người chính thức đại diện Việt Nam tiếp đón và chiêu đãi Tổng Thống Obama vào những ngày cuối tháng 5 này, nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn đương tại chức? Cảm nhận sư phức tạp này, ngay tại buổi họp riêng giữa Mỹ à Việt Nam hôm 16-2 bên lề thượng đỉnh Mỹ-Asean, Thủ Tướng Dũng đã khẳng định “lãnh đạo và nhân dân Việt Nam sẽ chào đón Tổng thống Obama và ông sẽ giao cho bộ Ngoai giao VN phối hợp với phía Hoa Kỳ chuẩn bị tốt nhất cho chuyến viếng thăm. Thủ tướng Dũng bày tỏ vui mừng chuyến viếng thăm sẽ góp phần mở ra một giai đoạn hợp tác mới vì hòa bình và phát triển trong quan hệ đối tác, hợp tác toàn diện giữa hai nước, đưa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ lên tầm cao mới”.

    Trong lúc đó có tin đồn đoán rằng (theo VietNamnet hôm 26-2-2016) Ban Chấp Hành Trung Ương-BCHTƯ-và Bộ Chính Tri-BCT-của ĐCSVN đang cố gắng thuyết phục Chủ tịch Quốc Hội, Nguyễn Sinh Hùng nên rút ngắn thời gian hoàn tất bầu cử Quốc Hội khóa 14 trước thời hạn càng sớm càng tốt, không nhất nhất phải kéo dài đến tận cuối tháng Năm. Vì theo Hiến định sau bầu cử Quốc Hội mới, kỳ họp đầu tiên, các Đại biểu Quốc Hội sẽ bàn và phê chuẩn các Chức danh Nhà nước. Do đó Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội bắt buộc phải lên chương trình kỳ họp Quốc Hội khóa 13, diễn ra vào cuối tháng 3 đến đầu tháng 4. Có điều đáng chú ý ở đây, trong chương trình dự kiến có 3 ngày dành cho công tác nhân sự có nhiều khả năng liên quan đến việc bàn giao công tác giữa những chức danh nhà nước thuộc diện Quốc Hội bầu, phê chuẩn mà không liên quan gì đến Ban Chấp Hành Trung Ương-BCHTƯ-12, cho những ứng cử viên mới trúng cử tại Đại Hội Toàn quốc lần thứ XII. Như vậy trong kỳ họp vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4 này, Quốc Hội khoá 13 (Quốc Hội cũ) có khả năng (dù là vi hiến) thực thi công tác nhân sự: bầu và phê chuẩn bàn giao công tác, chuyển giao quyền lực cho những ứng cử viên mới trúng cử tại Đại Hội-XII, chẳng hạn như Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn thị Kim Ngân vào vị trí Chủ tịch nước, Thủ Tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc Hội.

    Nhiều nhà trí thức và nhân sĩ Việt nam đã vô cùng nhạy cảm trước động thái vi hiến này của ĐCSVN. Ông Trần Hữu Dũng, Giáo sư Kinh Tế ở tận bên Mỹ tại viện đại học Wright-Ohio- người sở hữu trang mạng Việt Studies, đã phải lên tíếng cảnh báo nhẹ nhàng: “Có người nóng ruột rồi đó nha!”. Đúng vậy, sau khi được Tổng thống Hoa Kỳ Thông báo sẽ có chuyến viếng thăm Việt Nam và cuối tháng 5 này, ĐCSVN cuống cuồng lên vì lo sợ sự chồng chéo về quyền lực và người đại diện Chính phủ Việt Nam tiếp đón Tổng thống Hoa Kỳ nhất là vào thời điểm đó Thủ tướng Mguyễn Tấn Dũng vẫn còn tại chức. Cho nên ĐCSVN nhất là TBT Nguyễn Phú Trọng muốn dứt điểm vấn đề này càng sớm càng tốt. Với lại dùng Quốc Hội khóa 13, nghĩa là Quốc hội cũ, thực thi công tác nhân sự này thì dễ tin cậy hơn. Nếu đợi khoá họp đầu tiên của Quốc hôi khóa 14 (Quốc Hội mới) thì e rằng có thể có nhiều bất trắc xảy ra ngoài ý muốn của phe bảo thủ cực đoan của TBT Nguyễn Phú Trọng. Ngoài việc quá trễ, chồng chéo quyền lực và người đại diện tiếp đón và chiêu đãi Tổng thống Obama, Quốc Hội mới khóa 14 có nhiều thành viên vẫn còn là thân tín của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay cả Chủ tịch của Quốc hội mới bà Nguyrễn Thị Kim Ngân. Họ có thể bất ngờ bắt-tay-nhau đề cử Thủ tướng Nguyên Tấn Dũng tiếp tục thêm một nhiệm kỳ nữa vì nhu cầu thiết yếu của tình trạng quốc gia đang đối đầu, tranh chấp gay gắt với TQ về chủ quyền biển đảo thuộc VN trên Biển Đông. Và vì uy tín, ảnh hưởng sâu đậm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong sứ mệnh nâng cao vị thế Viêt Nam trên trường Quốc tế cũng như trong những quan hệ phát triển kinh tế, thương mại tự do- FTA-song phương hoặc đa phương với thế giới như với Nam Hàn, với Liên Minh Thống nhất Âu Châu E.U, Công đồng Kinh tế Âu Châu, và với 12 nước trên vành đai Thái Bình Dương xuyên qua Hiệp Định Thương Mại Tự Do-TPP- Và nhất là vị thế của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phát triển quan hê Đối tác, Hợp tác toàn diện với Mỹ không ai có đủ tầm vóc thay thế được như chúng ta đã thấy tại hội nghị cấp cao Mỹ-Asean tại California. Dựa theo Hiến định Thủ tướng Việt Nam không cần phải là thành viên của BCHTƯ cũng như của BCT.

    Trong khi Hà nội bối rối như vậy, thì Washington cho hay tháng Ba này một phái đoàn của tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có thể sẽ đến Hà Nội để bàn thảo về lịch trình cụ thể cho chuyến công du Việt Nam của ông Obama. Ngoài một số tiết mục thông thường như lễ tân tiếp đón, quốc yến…phía Mỹ còn muốn biết là Tổng thống Obama sẽ đi đâu, gặp ai, hội kiến với những ai trong hàng ngũ lãnh đạo Nhà nước Việt Nam? Cũng như tầt cả các lãnh đạo của bất cứ quốc nào muốn tạo dấu ấn riêng cho mình tại các quốc gia mà họ viếng thăm, Tổng thống Obama cũng muốn có buổi phát biểu trước công chúng tại sân Tiền đình của Dinh Độc Lập cũ ở Saigòn. Nhưng phía VN quan ngại và đưa ra điều kiện chỉ sẽ có thể chấp nhận nếu Hoa Kỳ đồng ý hủy bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương. Qua đòi hỏi của Hà Nội về điều kiện hủy bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương, cho phép chúng ta ngầm hiểu rằng đã có sự đồng ý của Hà Nội. Vì hôm 16-2 tại buổi họp giữa Tổng thống Obama và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bên lề hội nghị Mỹ Asean, tổng thống Obama có hứa sẽ xúc tiến việc chuẩn thuận đề nghị của Thủ tướng Dũng là hủy bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam. Trong những tháng gần đây bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Ashton Carter và TNS John McCain và nhiều yếu nhân khác của Mỹ cũng đã nhiều lần kêu gọi chính phủ Mỹ hủy bỏ lệnh này cho Việt Nam.

    Tác giả gửi ảnh tới. Nguồn ảnh: internet
    Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: internet
    Có điều lý thú, trước tình hình đó hôm 26-2-2016, qua trang mạng BBC-London, Luật sư Vũ Đức Khanh đưa ra gợi ý xin phép chính phủ Việt Nam nên để Tổng thống Obama có bài phát biểu nêu trên tại quảng trường Ba Đình, nơi khai sinh Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước ViệtNam Dân Chủ Cộng Hoà-năm 1945. “Đổi lại TT Obama, ngoài thỏa mãn một số yêu cầu cụ thể về hợp tác quân sự, ông cũng sẽ nhấn mạnh ý chí Độc Lập của dân tộc VN trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Đồng thời qua bài diễn văn này tổng thống Obama cũng có thể đưa ra một thông điệp mới định hình chính sách Á châu Thái Bình Dương của HK. Đây cũng là phép thử cho “Ý chí Độc lập” của lãnh đạo DCSVN, cái mà họ đang cần để ‘chính danh’ sư cầm quyền của họ.”. Chúng ta cũng nên nhớ rằng, tượng đài Nữ thần Tự Do, biểu tượng của nước Mỹ, đã từng được dựng lên trong nội thành Hà Nội vào những năm 30-40 của thế kỷ trước.

    Dù cho Tổng thống Barack Obama có được diễn thuyết trước cộng đồng Việt Nam tại sân Tiền đình Dinh Độc Lập-Saigòn cũ hoặc tại Quảng trường Ba Đình ở Hà Nội, tôi tin chắc rằng nội dung của buổi diễn thuyết này sẽ vang dội rất xa trên toàn cầu và lôi cuốn sự quan tâm và phản ứng tất nhiên của các lãnh đạo chóp bu ở Trung Nam Hải-Bắc Kinh.

    Từ đây đến cuối tháng 5-2016, chỉ còn không đầy 3 tháng. Bình thường đây là khoảng thời gian ngắn. Nhưng với những nhà lãnh đạo ĐCSVN hiện tại, với TBT Nguyễn Phú Trọng, đây là cả một chặng đường lịch sử khá dài đầy thách thức, đấu tranh rất cam go. Nhất là mỗi khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn đó như một biểu tượng Nhân văn, như một ý chí bảo vệ Tổ quốc, Độc lập, Tự do, Dân chủ và quyết tâm chống lại sự lệ thuộc ngoại bang, chống lại sự xâm lăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

    Đào Như

    Thetrongdao2000@yahoo.com

  102. chinhkie permalink

    Nhược đãi Ung lai sư tử thượng…

    Thật là đúng, bây giờ Trung Cộng nổi lên gây hấn,
    làm xằng, làm bậy ngang ngược ở Biển Đông
    thì Ưng lai là Mỹ = Hoa Kỳ trở lại Châu Á

  103. chinhkie permalink

    THỜI SỰ
    Tin trong nước
    Chuyên gia tán đồng tuyên bố về Biển Đông của Bộ Ngoại giao Việt Nam

    TUYẾT TRINH
    09:28 04/03/2016
    (VietQ.vn) – Tình hình Biển Đông mới nhất cho hay, Tiến sĩ Trần Công Trục đã có những bình luận về tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam trong buổi họp báo mới đây.

    Sự kiện: Tình hình Biển Đông

    Trung Quốc thừa nhận đưa tàu vào bãi Hải Sâm ở Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam
    Trung Quốc bị tố điều 7 tàu chặn lối vào bãi Hải Sâm trên Biển Đông
    Biển Đông ‘tăng nhiệt’, Nhật tính cho Philippines thuê máy bay giám sát
    Theo những tin tức mới nhất về tình hình Biển Đông hiện nay trên báo VOV, cuộc họp báo thường kỳ do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức vào chiều ngày 3/3 có đề cập đến đến thông tin Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) thông báo mời các doanh nghiệp nước ngoài đấu thầu ở các lô dầu khí ở Biển Đông, biển Hoa Đông và biển Hoàng Hải. Trả lời câu hỏi các lô dầu khí mời thầu này có nằm trong vùng biển của Việt Nam hay vùng biển chưa phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc hay không, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình cho biết:

    Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình trả lời các câu hỏi về tình hình Biển Đông hiện nay trong cuộc họp báo chiều 3/3

    Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình trả lời các câu hỏi về tình hình Biển Đông hiện nay trong cuộc họp báo chiều 3/3. Ảnh Tuổi Trẻ
    Hiện các cơ quan chức năng của Việt Nam đang nghiên cứu kỹ nội dung của thông báo mời thầu các lô dầu khí ở Biển Đông, biển Hoa Đông và biển Hoàng Hải mà Trung Quốc công bố. “Lập trường nhất quán của Việt Nam là tại khu vực mà hai nước đang đàm phán, phân định đối với vùng biển thực sự chồng lấn ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ thì theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, không một bên nào được đơn phương hoạt động thăm dò khai thác dầu khí”, ông Lê Hải Bình nhấn mạnh.

    Trả lời câu hỏi về việc truyền thông Trung Quốc mới đây công bố 3 trong số 4 công dân đang sinh sống trên đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là binh sĩ; đồng thời truyền thông Philippines đưa tin Trung Quốc đưa tàu công vụ ra bãi Hải Sâm (thuộc quần đảo Trường Sa) ngăn cản không cho các ngư dân vào đánh bắt tại khu vực này, ông Lê Hải Bình tuyên bố:

    “Một lần nữa chúng tôi khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì vậy mọi hoạt động của các bên tại khu vực này mà không có sự chấp thuận của Việt Nam đều là bất hợp pháp”.

    Đồng thời, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Các bên liên quan cần có những lời nói và hành động thiết thực để đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải ở Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982) cũng như Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”, ông Lê Hải Bình nói.

    Các cơ quan chức năng của Việt Nam đang nghiên cứu kỹ thông báo mời thầu dầu khí trên Biển Đông của Trung Quốc

    Các cơ quan chức năng của Việt Nam đang nghiên cứu kỹ thông báo mời thầu dầu khí trên Biển Đông của Trung Quốc. Ảnh minh họa
    Trao đổi với báo Tuổi Trẻ sau cuộc họp báo, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới chính phủ đồng thời là chuyên gia hàng đầu về Luật Biển, hoan nghênh tuyên bố này của Bộ Ngoại giao Việt Nam và ủng hộ vai trò của Liên Hợp Quốc, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc công khai quân sự hóa các đảo mà nước này xây phi pháp ở Biển Đông.

    TS Trần Công Trục nói Hiến chương Liên Hợp Quốc là căn cứ hết sức quan trọng của thế giới trong việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trong đó có quy định “Tất cả các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên Hợp Quốc”.

    Theo TS Trần Công Trục, Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố công khai quan điểm giải quyết tranh chấp Biển Đông, đó là những quan điểm mang tính nguyên tắc và xuyên suốt, trong đó có nội dung khẳng định Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình căn cứ trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), trong đó có quy định giải quyết tranh chấp thông qua các tổ chức tài phán quốc tế là một biện pháp hòa bình.

    Từ đầu năm đến nay, Trung Quốc đã liên tục có những hành động gây hấn, làm leo thang căng thẳng ở Biển Đông. Đầu tháng 1/2016, Trung Quốc hai lần thử nghiệm máy bay trái phép tại đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Biển Đông Việt Nam.

    Thời gian gần đây, Trung Quốc liên tiếp có những động thái khiến tình hình Biển Đông thêm căng thẳng, phức tạp

    Thời gian gần đây, Trung Quốc liên tiếp có những động thái khiến tình hình Biển Đông thêm căng thẳng, phức tạp. Ảnh Anpdz
    Ngày 16/2, hãng tin Fox News của Mỹ dẫn những hình ảnh vệ tinh của công ty ImageSat International cho thấy hệ thống radar trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 23/2, cũng hãng tin Fox News dẫn lời hai quan chức Mỹ giấu tên cho biết các cơ quan tình báo của Washington phát hiện gần 10 máy bay chiến đấu Shenyang J-11 và Xian JH-7 trên đảo Phú Lâm.

    Ngoài ra, báo cáo Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) cho biết các bức ảnh vệ tinh chụp từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 2/2016 cho thấy Trung Quốc đã xây dựng các tháp radar trên bốn đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam, một động thái có thể khiến tình hình Biển Đông hiện nay tăng nhiệt.

    Tuyết Trinh (T/h)

  104. Thầy Bói Online permalink

    Vấn ngư giả

    Hồ hải thiên chu ngư giả thuỳ,
    Sinh nhai nhất lạp nhất thoa y.
    Thuỷ thôn sa cận si vi lữ,
    Giang hứng thu cao lư chính phì.
    Đoản địch thanh phong nhàn xứ lộng,
    Cô phàm minh nguyệt tuý trung quy.
    Đào Nguyên vãng sự y nhiên tại,
    Tần Tấn hưng vong thị khước phi.
    ( tác giả: Nguyễn Bỉnh Khiêm)

    Ha ha….Ngư ông bất ngộ Đào Nguyên khách….!!!

    ” có thuở được thời mèo đuổi chuột
    đến khi thất thế kiến tha bò …..”

  105. Anonymous permalink

    Vấn ngư giả
    Hồ hải thiên chu ngư giả thuỳ,
    Sinh nhai nhất lạp nhất thoa y.
    Thuỷ thôn sa cận si vi lữ,
    Giang hứng thu cao lư chính phì.
    Đoản địch thanh phong nhàn xứ lộng,
    Cô phàm minh nguyệt tuý trung quy.
    Đào Nguyên vãng sự y nhiên tại,
    Tần Tấn hưng vong thị khước phi.
    ( Nguyễn Bỉnh Khiêm)

    Ha ha….Ngư ông bất ngộ Đào Nguyên khách….!!!

  106. chinhkie permalink

    (SƯU TẦM)
    XEM BÀI
    Lời tiên tri trong văn hóa dân gian.
    QUA HÌNH ẢNH CON RỒNG

    “Rồng rắn lên mây, có cây lúc lác, có nhà hiển vinh. Thầy thuốc có nhà hay không?”
    – thầy thuốc trả lời: „Thầy thuốc không có nhà“
    – Cuối cùng thầy thuốc có nhà.
    Thầy thuốc hỏi: “Rồng rắn đi đâu?”.
    Em cầm đầu đáp: “Rồng rắn đi lấy thuốc cho con”.
    – Thầy thuốc hỏi: “Con lên mấy?”
    + Rồng rắn đáp: “Con lên một”.
    – Chẳng hay
    + Con lên 2, 3. 4… 10
    Khi ấy thầy thuốc kết luận: “HAY VẬY!”.
    – Ðoạn thầy thuốc lên tiếng: “Xin khúc đầu”.
    + Rồng rắn cho biết: “cùng Xương cùng xẩu!”
    – Thầy thuốc nói: “Xin khúc giữa.”
    + Rồng rắn nói: cùng máu cùng me.”
    – Cuối cùng thầy thuốc: “Xin khúc đuôi”;
    Rồng Rắn Đáp: “Tha hồ thầy đuổi!”.

    Lúc đó thầy thuốc phải tìm cách nào mà bắt cho được người cuối cùng trong hàng. Ngược lại, thì em cầm đầu rồng rắn phải giang thẳng hai tay để chắn không cho thầy thuốc bắt được cái đuôì (người cuối cùng) của mình. Thầy thuốc cố gắng chạy qua để tóm được em đứng sau rốt. Ðoàn rồng rắn càng dài thì cuộc đuổi bắt càng náo nhiệt. Khi bắt được, em đó phải thay thầy thuốc và cuộc chơi lặp lại từ đầu…

    “Trò chơi này rất là vui”… nhưng có lẽ nó mang ý nghĩa TIÊN TRI phần nào thấy trùng hợp với ý của Bác Tieuhan đã giải thích… càng nghiều người làm quan thì càng nhiều sự thế lực KÈN CỰA tranh chấp dẫn đến loạn lạc
    + Một thì trị, hai thì tranh, nhiều tất loạn… hay lắm!… giá như Bác Tieuhan mà là Thiên Tử thì hay biết mấy… nếu không thì làm quan thanh liêm tài đức giúp dân giúp nước phu giúp cho Thiên Tử trị quốc theo ý Trời thì có gì bằng?
    – VN nói chung cách riêng là Miền Bắc…
    – Miền Bắc VN có quá nhiều quan lại nên có có quá nhiều thế lực kèn cựa tranh chấp nhau, làm cho dân VN khốn khổ… những quan lại khôn khéo biết miền Nam ít quan lại tính từ 30/4/1975 họ đã bỏ Bắc vào Nam để tranh thủ làm ăn thao túng… nhưng dù sao thì miền Nam VN vẫn còn ít quan lại hơn miền Bắc VN… trong bài thơ đồng dao này có lẽ là tương truyền của CỤ TRẠNG TRÌNH đã tiên tri về vận mệnh của VN cách riêng là Miền nam là cái ĐUÔI của RỒNG cho dù có phải trải qua nhiều PHONG BA BÃO TÁP gian nam khổ đau… nhưng cuối cùng thì miền Nam vẫn được UNG DUNG TỰ TẠI hơn miền Bắc nhiều chục lần… THA HỒ THẦY ĐUỔI là zậy đó!!!

  107. chinhkie permalink

    Bác Thiên đã có lời bình rất hay rất chuẩn về Bác rồi, em có nói cũng chẳng thêm được câu nào hay hơn đâu!… nhưng cách đây khoảng 500 năm đã có 1 cụ già ngoài 90 tuổi, đó là Trạng Trình đã được Trời cho bài thơ CỰ NGAO ĐỚI SƠN = con rùa đội núi trong bài thơ, cụ Trạng Trình đã nói… Ngài sẽ dang tay giữ lấy BIỂN ĐÔNG và lấy lại thành cũ của NHÀ VUA hiện nằm trên 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây bên Trung Quốc trong lúc ĐẢO HOÀNH SƠN = Hoàng Sa và Trừng Sa nằm ngang với miền Trung VN tới hồi TAM LIỆT NGŨ PHÂN… nghĩa là mở rộng LÃNH THỔ VN theo Thiên Ky… còn nhân vật PHÁ ĐIỀN… XUẤT… đâu sao không thấy nhỉ… Bác Tieuhan đâu chỉ chém gió mà còn CHÉM cả NHĨ HÀ chém cả BẢO ở BIỂN ĐÔNG ấy chứ…

  108. thientrungnhan permalink

    “Thường thì nước trị mới mở rộng lãnh thổ, nhưng lần đầu tiên trên đời lại có truyện ngược lại, nước loạn mà lãnh thổ lại mở rộng.”. Rất đúng, bạn TieuHan đã hiểu rõ. Biết Thiên cơ để lo toan cho đất nước về sau.

  109. tieuhan permalink

    Mấy hôm nữa tôi đi thăm Đền trạng trình, có bác nào định nhắn nhủ điều gì không?

    Thời xưa hay thật cứ ba năm một lần tổ chức kỳ thi để gom nhân tài trong thiên hạ, rồi Vua căn cứ tài mà chao cho trách nhiệm quyền hạn, phong chức dùng người khi cần. Các khoa thi hội, thi hương, thi đình hàng năm đều công nhận vô số nhân tài ở các cấp quản lý khác nhau. Chỉ tiếc một điều do hạn chế về khoa học kỹ thuật, nền kinh tế thường giao lưu hạn chế nên khó phát triển, cha ông ta vì bảo tồn giống nòi mà chỉ chú trọng phát triển văn hóa, tự biến mình thành khúc xương khó gặm trong mắt kẻ thù.

    Khi vai trò của vua bị gian thần hạn chế, thì nạn chạy chức chạy quyền dây mơ rễ má mới sản sinh.

    Tại sao lại như vậy ? là vì thiên hạ không còn là thiên hạ của vua nữa, mà là thiên hạ của quan lại, họ phải truyền thừa cha truyền con nối, họ phải tranh thủ đưa người của mình vào trong cơ cấu để giữ thế lực, càng nhiều quan lại càng nhiều thế lực kèn cựa nhau, cái mầm loạn từ đó mà ra. Một thì trị, hai thì tranh, nhiều tất loạn. Khi cụ Trạng trình dâng sớ khuyên Vua giết đi bọn loạn thần, để thâu tóm cái quyền lực về cho mình, thì vua do dự rồi cự tuyệt. Biết cái mầm loạn đang lớn dần nên mà bất lực hồi thiên. Cụ về quên để tính cửa khác vì mục đích của cụ là phục vụ dân, phục vụ nước, và phục vụ đại thế trung hưng nước Việt 500 năm sau. Chứ không phải là phục vụ một chế độ sắp suy tàn.. …

    Cụ về quê đào tạo nhân tài, rồi phân bổ nhân tài ra khắp nước để an thế cục. Thường thì nước trị mới mở rộng lãnh thổ, nhưng lần đầu tiên trên đời lại có truyện ngược lại, nước loạn mà lãnh thổ lại mở rộng. Học trò của cụ đi phò Vua lê trung hưng, rồi kéo ra bắc thay thế nhà Mạc hết thời, đẩy nhà Mạc nên cao bằng giữ đất, Nhân nhà Mạc phát động cần vương mà đôn nhà Trịnh để phò Vua lê ổn định Trung tâm, Sắp đặt họ Nguyễn vào nam mở rộng lãnh thổ. Sở dĩ các thế lực này không một sống một chết với nhau hoàn toàn là do các nhân tài phò trợ họ đứng sau chỉ đạo, các nhân tài này phần nhiều có dây mơ rễ má với cụ….

    Thế nào bạn Chinkie, chém thế có ổn không ?

    Sắp đi chơi đền Cụ trạng nên tạo chút phong khí…

  110. chinhkie permalink

    Chác Bác Thiên đã và đang nắm rõ nhiều điều quan trọng trước thời buổi BIẾN LOẠN hiện nay… kính chúc Bác Thiên, Bác Kim Quy, Bác Tieuhan, thầy Bói vv… và toàn thể nhà SẤM một năm bình an dù đời có thể biến lọan nhưng mọi người sẽ luôn tìm thấy bình an trong tâm hồn…

  111. thientrungnhan permalink

    Chúc các Bạn thân tâm an nhiên tự tại trong mọi cảnh tượng.

  112. tieuhan permalink

    Chúc mừng năm mới !

    Chúc các bác và gia đình một năm mới an khang thịnh vượng!
    Chúc cho dân ta quyền tư pháp ngày càng mở rộng!
    Chúc cho dân tộc sớm ngày tìm về đất cũ cố hương!

    “Mùa xuân gió bấc lạnh lùng
    Cua kình trở gọng về cùng lũ dê
    Cuộc đời như thể trò hề
    Nực cười lũ chó còn mê lợi quyền
    Sình ương khó nướng xào chiên
    Quốc gia nghiêng ngửa đảo điên bốn bề
    Ra đi thì khó nỗi về
    Xe kia hết bánh thả rề sông trôi…”

  113. chinhkie permalink

    Theo Bách khoa toàn thư thì ông Tổng thống Nguyễn VănThiệu sinh năm 1923…
    Khi đi học ông lấy ngày sinh là ngày 24 tháng 12 năm 1924.

  114. chinhkie permalink

    SƯU TẦM

    Published on 3 Feb 2016
    Đây là đài phát thanh ĐLSN, tiếng nói của những người Việt tha thiết với tiền đồ tổ quốc và hạnh phúc của toàn dân, do LLDTCNTQ thực hiện. Phát thanh mỗi ngày từ 9 giờ 30 đến 10 giờ tối (giờ Việt Nam) trên làn sóng trung bình 1503 ký lô chu kỳ.

    Hải Sơn xin kính chào quý thính giả, trong buổi phát thanh hôm nay, Thứ Tư ngày 03 tháng 02 năm 2016, và là buổi phát thanh lần thứ 1726 của đài ĐLSN. Trong phần Tin Tức, chúng tôi có những tin chính sau đây:

    1. GIÁO SƯ NGUYỄN ĐÌNH CỐNG THÔNG BÁO TỪ BỎ ĐẢNG CSVN
    2. KÊU GỌI CÔNG AN GIA TĂNG BẢO VỆ CÁC QUAN CHỨC Ở VĂN PHÒNG TIẾP DÂN
    3. TÀU BÈ TRUNG CỘNG ÀO ẠT TIẾN VÀO VÙNG BIỂN BÀ RỊA – VŨNG TÀU
    4. TOÀN BỘ ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG LÀ ĐẠI BIỂU TRONG QUỐC HỘI MỚI
    5. THÁI LAN KÊU GỌI NGƯỜI DÂN BÌNH TĨNH VỀ DỊCH BỆNH ZIKA
    6. ỨNG VIÊN CỘNG HÒA TED CRUZ CHIẾN THẮNG VÒNG SƠ TUYỂN ĐẦU TIÊN.
    Chi tiết các bản tin nêu trên sẽ được Hoàng Ân&Miên Dương gởi đến quý thính giả để mở đầu chương trình.

    Sau đó, trong tiết mục Câu Chuyện Thời Sự, chúng tôi có buổi trao đổi với ông Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương/LLCQ về đại hội 12 đảng CSVN và con đường đấu tranh trước mặt. Giữa chương trình, qua chuyên mục Chuyện Nước Non Mình, Như Nguyên trong bài viết: “Tôi Là Người Không Bị Lừa Bởi Cộng Sản” đã khẳng định: “mỗi người chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ tội bóp méo lịch sử và lừa dối người dân của CSVN khi tô vẽ tên giặc Tàu Hồ Quang trở thành “cha già kính yêu của dân tộc”. Và sau cùng, thưa quý vị chương trình sẽ được kết thúc với phần Bình Luận của Đặng Chí Hùng.

    Đặc biệt chương trình phát thanh hôm nay được sự bảo trợ của ông Chinh Tam tại Sydney – Úc Châu.

    Đồng thời để vinh danh ông Trần Huỳnh Duy Thức, một người Việt yêu nước đang bị giam cầm trong ngục tù cộng sản.

    Mở đầu chương trình, mời quý thính giả theo dõi phần Tin Tức sẽ được Hoàng Ân&Miên Dương trình bày sau đây.

  115. chinhkie permalink

    (SƯU TẦM )

    Lê Quý Đôn và cảnh báo mất Nước!
    5 điều dẫn đến mất nước mà
    Nhà bác học thần đồng Lê Quý Đôn đã đúc kết:

    1. Trẻ không kính già.
    2. Trò không trọng thầy.
    3. Binh kiêu, Tướng thoái.
    4. Tham nhũng tràn lan.
    5. Sĩ phu ngoảnh mặt.

    Thử suy ngẫm, soát xét và … .

    Còn nguy cơ: “Ông, Cha sợ con sợ cháu” hay “Già sợ Trẻ”?
    Cũng như Hòang giáp Nguyễn Khắc Niêm 18 tuổi
    đã đậu tiến sĩ và đã kết luận đúc kết như sau :

    Tôn tộc đại quy
    Tôn lộc đại nguy
    Tôn tài đại thịnh
    Tôn nịnh đại suy.

    (Trần Đại Vinh đã tạm dịch :

    Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp
    Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan
    Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh
    Tôn trọng siểm nịnh, ắt đại suy vong.)

    Thử suy ngẫm, sóat xét và … .

  116. chinhkie permalink

    SƯU TẦM

    Sấm ế quá nên em sưu tầm XẢ STRESS cuối năm ẤT MÙI 2015, các Bác đừng ném đã nhé!

    Nói lái (tổng hợp)

    – Nghệ sĩ tránh ăn cá kho vì sợ khó ca.
    – Người gian không thích sấm, người dâm không thích sáng.
    – Làm dấm thì chua mà làm chúa thì dâm. (vua chúa thế gian)…
    – Người nhiều mộng vào đời để rồi mời nhiều người vào động….
    – Nhà vua khi ngồi trên ngai là khi ngài trên ngôi.
    – Không nên giỡn quá lố trong ngày giỗ quá lớn.
    – Có những người chỉ đi mưa mà chưa đi Mỹ.
    – Các cô thích anh chàng ngông mà không thích anh chồng ngang.
    – Da nhăn thì kéo, da nhéo thì căng.
    – Ở VN “tham nhũng” sống trên thảm nhung và mọi người giành nhau làm giàu nhanh.
    – Cây sầu đông mọc ở đồng sâu hay ở đầu sông.
    – Say để đỡ nhớ ngày xưa và đỡ ngứa nhờ say.
    – Chơi hụi thì chết Chơi hết thì trụi.

    – Người lao động bao giờ cũng thiệt thòi so với người linh động, thí dụ như:
    – Người lao động cầu kinh còn người linh động cầu cao.
    – Người lao động làm lính còn người linh động làm láo.
    – Người lao động hay bịnh còn người linh động hay bạo.
    – Người lao động cầm đinh còn người linh động cầm đao.

    – Tình em theo đám mây đen vì mình em theo đám Tây đen.
    – Không phải ăn cơm chay là thành thiền và ăn cơm chiên là thành thày.
    – Người già ngồi câu còn người giầu ngồi ca.
    – Nhiều người năng làm việc thiện mà không thiên làm việc nặng.
    – Cái gì thẳng thì không cong còn cái gì thỏng thì không căng.
    – Tình chan chứa là tình chưa chán.
    – Nhiều cô gái ngây thơ ôm mộng ban đầu để rồi ôm bầu đang mộng.
    – Từ đâu có chữ đầu tư?

    – Đàn ông có người trên răng dưới dế và có người trên dê dưới rắn.
    – Thà ăn cháo với muối còn hơn ăn chuối với máu.
    – Điếc không sợ súng mà Đúng không sợ xiết.
    – Người có lông mép thường có mông lép.
    – Có nhiều người Mỹ lai gốc Á hơn người Mã Lai gốc Ý.
    – Vợ chồng vô sinh khi vợ đã tắt đường kinh hay chồng đã cắt đường tinh
    – Thầy tu thù Tây vì thằng Tây giết thầy tăng.
    – Chuyện đau lòng nghĩ đến lại long đầu.
    – Tâm không đầy như Tây không Đầm.
    – … không đứng vì… không đủ.
    – Người Bắc nói “đang đi trên đường” thì người Nam nói “đương đi trên đàng”
    – Người Bắc nói “hợp nhãn” thì người Nam nói “hạp nhỡn”
    – Người đầy bạo tính thích người tình bạo đấy.
    – Người bí ẩn thường có ý bẩn
    – Có thánh tâm thì không có tánh thâm
    – Lời tạ từ của lính trong lời tự tình của lá
    – Dù chết không tấm hình nhưng tình không chấm hết

    nguồn: gocque.com

  117. chinhkie permalink

    Tổng hợp những địa điểm có tuyết rơi bất thường tại Việt Nam

    Thanh Phong Khoa học – Đời sống 15:57 25/01/2016

    (Techz.vn) Dưới đây là danh sách những địa điểm đã ghi nhận hiện tượng băng tuyết xuất hiện bất thường những ngày qua. Điều đáng nói là có những địa điểm thuộc khu vực miền Trung, nơi chưa bao giờ xuất hiện băng tuyết trong lịch sử.

    1, SAPA (LÀO CAI)
    Từ trước đến nay, Sapa luôn được xem là địa điểm đầu tiên nên đến nếu muốn chứng kiến hiện tượng tuyết rơi tại Việt Nam. Cũng như mọi năm, Sapa những ngày qua liên tục bị phủ trắng bởi băng tuyết. Điều này đã thu hút một lượng không nhỏ di khách từ các tỉnh miền xuôi đổ lên thị trấn vùng cao này.

    Không chỉ có khách du lịch trong nước, nhiều du khách từ các nước nhiệt đới láng giềng khác như Thái Lan, Lào hay Singapore cũng háo hức được nhìn ngắm tuyết rơi ở Sapa. Tuy vậy, lượng khách đến từ các quốc gia châu Âu lại không mấy tỏ ra hào hứng trước hiện tượng này.

    Những hình ảnh chụp với tuyết tưởng chừng như chỉ có ở các nước châu Âu.

    2, MẪU SƠN (LẠNG SƠN)
    Cùng với Sapa, đỉnh Mẫu Sơn ở tỉnh Lạng Sơn được biết đến như một trong những vùng đất có khí hậu khắc nhiệt nhất vùng núi phía Bắc. Tại đây mỗi năm đón nhận nhiều đợt gió mùa đổ về với nhiệt độ có khi giảm xuống ngưỡng âm độ. Đây cũng chính là lý do giải thích cho sự xuất hiện của băng tuyết tại đỉnh Mẫu Sơn trong những ngày vừa qua.
    Nhiệt độ hiện tại lúc này tại đỉnh Mẫu Sơn là -4 độ C. Theo người dân địa phương, từ năm 2008 đến nơi mới thấy sự xuất hiện trở lại của băng tuyết.

    3, TAM ĐẢO (VĨNH PHÚC)
    Từ trước đến nay, thị trấn Tam Đảo vốn vẫn được biết đến với cái tên Đà Lạt của miền Bắc. Điều đó là bởi khí hậu mát mẻ và sự xuất hiện của những đám mây giăng lảng bảng khắp nơi tại thị trấn này. Do vị trí đặc thù của mình, Tam Đảo cũng là một trong những vị trí cảm nhận rõ rệt sự xuất hiện của không khí lạnh.

    Người dân tại dây đã ghi nhận sự xuất hiện của băng tuyết từ thời điểm sáng sớm ngày hôm qua (24/1). Chỉ sau đó ít giờ, cây cối và hoa màu tại đây đã tràn ngập một màu tuyết trắng.

    Sự có mặt của tuyết tại Tam Đảo cũng khiến lượng khách đổ dồn từ Hà Nội về đâu mỗi lúc một đông. Tuy nhiên, hiện tượng đường xá đóng băng trên những khúc cua tay áo là điều mà du khách cần đặc biệt chú ý để đảm bảo sự an toàn về tính mạng của bản thân mình.

    4, BA VÌ (HÀ NỘI)
    Bên cạnh Tam Đảo, buổi sáng ngày 24/1 cũng ghi nhận hiện tượng băng tuyết xuất hiện tại Ba Vì. Đây là một điều khá bất thường bởi cũng giống như Tam Đảo, Ba Vì chỉ cách Hà Nội có 60 km. Gần như chưa bao giờ ghi nhận sự xuất hiện của tuyết tại đây. Tuyết trắng xóa hiện đã bao phủ ngọn núi Tản Viên ở độ cao 1.227 mét.

    Tổng hợp những địa điểm có tuyết rơi bất thường tại Việt Nam

    Tuyết xuất hiện tại đường lên đỉnh núi Tản Viên (Ba Vì).

    Theo ông Đỗ Hữu Thế, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trường (Vườn quốc gia Ba Vì), tuyết rơi nhiều nhất ở khu vực đền Thượng, cách cổng rừng quốc gia khoảng 13 km. Vườn quốc gia Ba Vì hiện đang mở cửa chào đón du khách đến tham quan hiện tượng thiên nhiên đặc biệt này.

    5, MƯỜNG LÁT (THANH HOÁ)
    Không chỉ có các tỉnh miền núi phía Bắc, một địa phương khác ở Bắc Trung Bộ là Thanh Hoá cũng đang chứng kiến hiện tượng thời tiết chuyển biến bất thường này.

    Tuyết rơi trắng triền đồi ở bản Sài Khao, xã Mường Lý, huyện Mường Lát (Thanh Hoá).

    Theo ghi nhận tại Thanh Hoá, băng tuyết đã xuất hiện tại các khu vực như Cao Sơn (xã Lũng Cao, Bá Thước), bản Sài Khao (xã Mường Lý) và xã Nhi Sơn (Mường Lát) ngay trong sáng ngày 24/1. Hiện tượng mưa tuyết cũng xuất hiện tại huyện miền núi Lang Chánh của tỉnh Thanh Hóa. Cá biệt tại Cao Sơn (huyện Bá Thước), băng tuyết đã xuất hiện tại đây từ ngày 23/1 vừa qua.

    Cũng theo người dân tại đây, tuyết rơi không nhiều và liên tục, nhưng khắp các bản Son – Bá – Mười, ở đâu cũng trắng xóa. Điều đáng nói là phải đến hàng chục năm rồi, khu vực Cao Sơn mới có tuyết.

    6, MƯỜNG LỐNG (NGHỆ AN)
    Theo ghi nhận tại Nghệ An, kể từ ngày 24/1, một số điểm trên địa bàn tỉnh Nghệ An như Mường Lống, Na Ngoi, vùng sát biên giới Việt – Lào đã có sự xuất hiện của tuyết. Tuyết rơi từ sáng 24/1 tới trưa thì chấm dứt, tạo thành lớp băng tuyết xốp mòng trên tán cây và mái nhà. Nhiệt độ xuống -1.5 đến -2 độ C.

    Cảnh băng tuyết tại Nghệ An. (Ảnh: Báo Nghệ An)

    Sang đến ngày 25/1, tuyết đã ngừng rơi và trời có mưa tại một vài địa điểm. Bên cạnh đó, tại một số huyện như Tương Dương, Quế Phong, dù trời không có tuyết, tại đây xuất hiện hiện tượng băng giá do nhiệt độ xuống quá thấp. Đây là lần đầu tiên hiện tượng tuyết rơi được ghi nhận tại Việt Nam.

  118. chinhkie permalink

    Sấm sét lúc này hơi bị ế nên em chép lại TUYẾT RƠI như RĂNG TRẮNG mà Bác Thiên đã dẫn giải

    Thứ hai, 25/1/2016 | 12:12 GMT+7 Chia sẻ bài viết lên facebookChia sẻ bài viết lên twitterChia sẻ bài viết lên google+|

    Tuyết trắng xóa Nghệ An, Thanh Hóa

    Tuyết đã rơi, băng giá phủ trắng xóa các bản làng miền núi của Thanh Hóa, Nghệ An – hiện tượng được đánh giá là hiếm gặp, thậm chí chưa từng ghi nhận.
    Hà Nội rét nhất trong 40 năm qua
    Ngày 24/1, vùng đồng bằng và trung tâm TP Thanh Hóa nhiệt độ xuống 6 độ C, các bản làng vùng cao rét 0 độ C. Băng giá, mưa tuyết đã xuất hiện ở một số bản như Cao Sơn (xã Lũng Cao, Bá Thước), bản Sài Khao (xã Mường Lý) và xã Nhi Sơn (Mường Lát).

    Đặc biệt tại bản Cao Sơn, băng giá xuất hiện từ đêm 23/1, đến trưa 24/1 tuyết bắt đầu rơi. Thầy Đỗ Thanh Tùng (giáo viên Trường THPT Cao Sơn), cho biết năm nào ở Cao Sơn có rét đậm thì mới xuất hiện băng giá, còn tuyết rơi rất hiếm. Tuyết rơi không nhiều và liên tục, nhưng khắp các bản Son – Bá – Mười, ở đâu cũng trắng xóa. “Hàng chục năm rồi, Cao Sơn mới có mưa tuyết”, thầy Tùng nói.

    tuyet-roi-o-nhieu-ban-bien-gioi-thanh-hoa

    Tuyết rơi trắng triền đồi ở bản Sài Khao, xã Mường Lý, huyện Mường Lát. Đây là hiện tượng chưa từng xảy ra nơi đây. Ảnh: Ngọc Ninh.

    Ông Hà Văn Minh, cán bộ xã Lũng Cao, cho biết nhiều gia đình ở Cao Sơn đã phải đưa con nhỏ xuống nhà người thân ở khu vực trung tâm xã để tránh rét. Đặc biệt, bản Cao Sơn hai ngày qua đã bị cắt sóng điện thoại, do lạnh quá nên máy nổ của trạm phát sóng không thể khởi động.

    Tại xã Yên Khương, huyện miền núi Lang Chánh, cũng đã xuất hiện mưa tuyết vào trưa qua. Ông Lê Hồng Chuyên, Bí thư Đảng ủy xã cho biết tuyết rơi ở một vài điểm núi cao, nhưng chỉ một lúc rồi tan. Hiện nay, nhiệt độ khu vực này đã lên mức 4-5 độ C.

    Hiện chưa ghi nhận thiệt hại về gia súc, gia cầm chết nhưng ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa khuyến cáo bà con nên che chắn chuồng trại và giữ ấm cho vật nuôi, không chăn thả ngoài đồng khi thời tiết xuống thấp.

    tuyet-trang-xoa-bien-gioi-nghe-an
    Hình ảnh băng tuyết tại Nghệ An trong ngày 24/1. Ảnh: CTV.
    Tại Nghệ An, ông Bùi Trầm, Chủ tịch huyện Kỳ Sơn cho biết, ngày 24/1 một số điểm như Mường Lống, Na Ngoi sát biên giới Việt – Lào có tuyết. “Tuyết rơi từ sáng 24/1 tới trưa thì chấm dứt, tạo thành lớp băng tuyết xốp mòng trên tán cây và mái nhà. Nhiệt độ xuống -1.5 đến -2 độ C”, ông Trầm thông tin.

    Đến sáng nay, nhiệt độ vẫn rất thấp, tuy nhiên tuyết không còn rơi, thay vào đó là mưa nặng hạt. “Chưa có thiệt hại về gia súc, hoa màu. Cửa khẩu Nậm Cắn xe cộ vẫn lưu thông bình thường. Sáng nay lãnh đạo huyện chỉ đạo đơn vị liên quan tiếp cận những vùng có tuyết rơi để kiểm tra”, Chủ tịch huyện thông tin.

    Cùng ngày 24/1, tại một số huyện như Tương Dương, Quế Phong xuất hiện băng giá do nhiệt độ xuống dưới 0 độ C, nước mưa ngưng tụ. Nhiều nơi bà con tìm cách đốt lửa sưởi ấm, tích góp thức ăn cho trâu bò gia súc để chống rét.

    tuyet-trang-xoa-bien-gioi-nghe-an-1
    Người dân ở huyện Quế Phong đốt lửa sưởi ấm cho trâu. Ảnh: CTV.
    Đánh giá về nền nhiệt Bắc Trung Bộ 3 ngày qua, Phó tổng giám đốc Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia Lê Thanh Hải cho biết hiếm có khi nào TP Vinh xuống xấp xỉ 7 độ C như ngày 24/1, băng giá ở các huyện miền Tây cũng rất hiếm gặp. Riêng tuyết thì trước nay chưa bao giờ ghi nhận, cho đến hôm qua.

    Hải Bình – Lê Hoàng

  119. thientrungnhan permalink

    Lá số Tử Bình Tứ trụ (Bát tự) của ông Thiệ năm tháng ngày giờ đều là Tí (cực quý), chỉ vì hàng Can xung khắc không tốt nên không được lâu dài.

  120. chinhkie permalink

    Bổ túc thêm về từ LA SÁT

    III. BỒ TÁT TUỆ TRUNG – ÐÔNG A TRÚC LÂM YÊN TỬ
    Sáng Tổ ( Phóng Cuồng Hòa Thượng) Bài Giáng Bút – 1944
    Bồ Tát Tuệ Trung là con cuả đức Trần Hưng Ðạo, trước khi đi tu ngài từng làm đại tướng trong trận chiến chống quân Mông. Miếu thờ ngài rất linh thiêng , năm 1944 vì nước nhà loạn lạc nên một số nhân sĩ lên miếu ngài hỏi thăm việc nước. Ðây là bài thơ (sấm) ngài đã giáng bút truyền cho:

    Như thị ngã văn: Như ta nghe rằng
    Kim ô lạc địa: Quạ vàng rơi xuống :
    Kim ô; Mặt trời, chỉ nước Nhật , cờ Nhật hình mặt trời . Chỉ Nhật thất trận.
    Tinh đáo thanh thanh: Sao đến xanh xanh
    Cờ Mỹ sao trên nền xanh –Mỹ thắng trận.
    Xích xích kim tinh: Ðỏ đỏ sao vàng. Cộng sản nổi lên.
    Cờ Xô Viết, Trung Cộng và Việt Cộng đều là cờ đỏ sao vàng.

    Ðế hệ ngũ thế: Đế chế nhà Nguyễn chỉ được năm đời :Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức.
    Sau Dục Đức, nước ta bị Pháp chiếm , vua chỉ ngồi vì.Nước đã mất, vua có cũng như không.
    Nhị quỉ tranh phong: Hai quỉ giành thắng – Việt cộng là quỷ, Pháp cũng là quỷ. Pháp và Việt cộng đánh nhau.
    Mộc mã ung dung: Ngựa gỗ thong dong . Năm Giáp Ngọ 1954 còn thong thả dễ dàng, nhưng sau 1954 thì khốn đốn.
    Hoàng Long dĩ trảm: Rồng vàng bị chém – Hiệp định Geneve chia đôi đất nước Việt Nam..
    Hầu ngộ thanh dương: Khỉ gặp dê xanh – Năm Ất Mùi tháng Thân 7-1955- Pháp phải dự hội nghị Geneve và rút lui.
    Hắc hắc thiết vi: Ðen đen sắt vây . Mầu đen – miền Bắc bị bức màn sắt bao quanh đen tối. Miền Bắc trở thành cũi sắt đen tối giam hãm nhân dân ta.
    Bách tính Nam quy: Trăm họ về Nam. Gần hai triệu nhân dân miền Bắc di cư vào Nam.

    LA SÁT NHẬP ĐỊA: La sát vào đất- Quỷ La sát vào đất- . La Sát chỉ nước Nga vào Việt Nam.

    Trong Lộc Đỉnh Ký, Kim Dung có nói đến đoạn Vi Tiểu Bảo theo Tô Phi Á sang nước La Sát tức nước Nga, rồi Vi Tiểu Bảo thân cận công chúa La Sát, sau theo Tô Phi Á đi Mạc Tư Khoa.
    Lục trúc cao phi: Trúc xanh bay cao- Chỉ Ngô Đình Diệm chết. Ngô Đình Diệm lấy trúc làm biểu hiệu.
    Thạc thử kí tận: Chuột lớn đã hết – Nguyễn Văn Thiệu tuổi tí phải ra đi. Tuy nhiên cũng có người nói ông Thiệu tuổi Hợi. Ông Hương (1902-dần), ông Dương Văn Minh (1916- tuổi thìn) đều không phải tuổi tí.
    Chúng sinh đa nạn: Chúng sinh nhiều tai nạn . Sau 1975 , dân ta gạp nhiều hoạn nạn do cộng sản gây ra.
    Nhị thập nhật minh: Ngày thứ hai mươi
    Thố ngộ thanh long: Thỏ gặp rồng xanh : năm mão, năm thìn, hoặc năm thìn tháng mão.
    Kê khuyển ngộ xà: Gà chó gặp rắn: năm tị tháng tuất
    Ðịa Tạng tru ma: Ðịa Tạng bồ tát diệt ma
    Bách tính tôn phục: Trăm họ quy phục
    Tứ phương qui gia: Bốn phương về nhà
    Các câu này không rõ nghĩa. Có lẽ trong khoảng năm thìn, năm tị có bồ tát xuất hiện, giải phóng Việt nam khỏi ách cộng sản , sau đó dân ta hồi hương.

  121. chinhkie permalink

    “…Non xanh mà mọc trắng răng mới kỳ…

    (năm nay Miền Bắc, miền Trung Bắc
    Nghệ An có tuyết rơi trên núi,
    băng tuyết đông lại như hình răng trắng?)

    Đúng là BácThiên mệnh danh là Trang Chủ
    của các trang chue về Sấm Nhà Chớp…
    – không biết lối giả thích này đúng hay không,
    nhưng phải nói lối giải thích này thì phải nói
    là có một không 2 rồi đó? Non Xanh ở
    đúng vị trí lại đúng thời điểm lẽ ra
    không thể có TUYẾT TRẮNG…

    ” Không bao giờ, không bao giờ
    xứ Nghệ mà Tuyết rơi?”… ấy thế
    với cái nhìn = (thiên nhãn) độc nhất này
    của Bác Thiên đã làm cho em phải giựt MÌN…
    đến nổ tung đôi mắt Phàm trần của chính mình…
    Thật là Nhiệm Mầu của lời Sấm thiêng…

  122. lưỡng biên nguyễn permalink

    BácNhân ơi!

    Trang nàymấy bữa đóng là vì sao Zậy?

    Chúc Bác mạnh khỏe!

    Vào 22:54 Ngày 28 tháng 01 năm 2016, Thientrungnhans Blog đã viết:

    > Khách commented: “Chào các bác. Hôm nay tự dưng ngồi rỗi em nghĩ đến bài
    > cơ bút của liễu hạnh công chúa, xin được trích nguyên văn ở trang ”
    > thienlybuutoa.org” như sau: Thiên cơ chẳng dám nói ra Có duyên đã gặp thì
    > ta Ä”
    >

  123. Khách permalink

    Chào các bác. Hôm nay tự dưng ngồi rỗi em nghĩ đến bài cơ bút của liễu hạnh công chúa, xin được trích nguyên văn ở trang “thienlybuutoa.org” như sau:

    Thiên cơ chẳng dám nói ra

    Có duyên đã gặp thì ta đãi lòng

    Ba mầu đến độ suy vong

    Khỉ về Gà gáy, vầng hồng nổi lên

    Cúc vàng rót chén rượu tiên

    Uống mà xem lũ đảo điên luân thường

    Mèo lùi Cáo nắm kỷ cương

    Tương tàn cốt nhục nhiễu nhương lạ kỳ

    Nhân gian mấy độ hợp ly

    Đồng hoang nhuộm máu kinh kỳ tả tơi

    Quỉ Ma giao chiến khắp nơi

    Quỉ ở trên trời, Ma ở dưới hang

    Cỏ cây non nước điêu tàn

    Quỉ nọ ra hàng, Ma ấy mới thôi

    Vẩy Rồng tạm tách làm đôi

    Bóng câu in dấu muôn đời nhuốc nhơ

    Kể từ đôi ngũ nằm chờ

    Thầy Tu mở nước bấy giờ mới hay

    Chẳng qua cũng giống Quỉ Tây

    Ma tàn Quỉ hết đến ngày Long-Hoa

    Khỉ về Gà gáy oa oa

    Khắp nơi lại dấy can qua kinh trời

    Quỉ Ma đến lúc đi đời

    Phụ Nguyên Trời đã định ngôi sẵn sàng

    Chó mừng tân chủ rõ ràng

    Bốn phương tấp nập lên đàng hồi hương

    Long Hoa muôn thuở biên cương

    Việt Thường con cháu Tiên Rồng vẻ vang.

    (Tại Đền Ngọc Sơn, Hà Nội 1938.)
    Có nhiều lý giải quanh bài này đặc biệt là về quỷ, ma nhưng em thấy chưa hợp lý lắm, xin được đưa ra kiến giải của riêng mình như sau:
    – Ba màu đến độ suy vong: Cờ của Pháp có 3 màu, thực dân Pháp hết khí số để giữ được Việt Nam.
    – Khỉ về (1944), Gà Gáy (1945) vầng hồng nổi lên: Cộng sản giành quyền lãnh đạo Việt Nam.
    – Mèo lui cáo nắm kỉ cương: đảng CS chiếm giữ nửa miền Bắc, Pháp chấm dứt đô hộ Việt Nam (1954)
    – Tương tàn cốt nhục nhiễu nhương lạ kỳ : chiến tranh Nam – Bắc (1954 – 1975)
    – Quỷ ma giao chiến khắp nơi, Quỷ ở trên trời ma ở dưới hang. Câu này có nhiều lý giải nhưng về quỷ và ma (có người cho là CS và Pháp) nhưng theo em thì quỷ ma ở đây hiểu như thế này qua 2 câu nói (phương châm của TQ và Việt Nam):
    + Sau 1978, Đặng Tiểu Bình mở cửa TQ với phương châm :”Giấu mình chờ thời” – liên tưởng tới Ma ở dưới hang.
    + Sau 1975, miền Bắc thắng miền Nam, Lê Duẩn tuyên bố chúng ta sẽ tiến lên “thiên đường chủ nghĩa xã hội” – Quỷ ở trên trời.
    – Quỷ nọ ra hàng ma ấy mới thôi: 1979 – 1988 VN chống Trung Quốc và mất khá nhiều đất đai, biển đảo. mọi chuyện chấm dứt khi có hội nghị Thành Đô (1991)
    – Kể từ đôi ngũ nằm chờ: là 2 x5 = 10 hay 25 hay 2 con số 5??? em không rõ lắm.
    – Ma tàn quỷ hết đến ngày Long Hoa: Hội Long Hoa theo em được biết diễn ra vào khoảng 2005 (theo Trần Huỳnh Duy Thức)
    – Khỉ về gà gáy oa oa : 2015 và 2016: Liên hệ với 2005 (có 2 con số 5 = đôi ngũ)
    – Quỷ ma từ đó đi đời: Cộng sản Việt Nam và TQ sụp đổ cùng nhau. Hiện nay có nói đến phong trào thoát Trung nhưng theo em thì TQ sẽ sụp và VN sụp theo vì với dàn lãnh đạo hiện nay thì ko mơ gì đến thoát Trung.
    – Các câu thơ sau nói về cảnh thái bình xuất hiện lại trên nước Nam.
    Mong các bác chỉ giáo!

  124. Thầy Bói Online permalink

    Đấy, bác thientrungnhan hỏi thế có phải là hay không !? Hỏi thế mới đáng để đem ra thảo luận chứ !? Các bác đừng cười *!?

    Theo những gì TBO biết nhưng chưa hiểu lắm cũng xin cùng thảo luận cho vui cửa vui nhà.

    Trước hết, bài giáng cơ này quả thực TBO cũng chẳng hiểu gì cho lắm! Quá khó!

    Còn đây là những gì TBO biết:

    – Thầy tăng: có người cho rằng đọc lái lại là thằng Tây. Nhưng xem ra không ăn ý cho lắm. Nhưng nếu ứng vào bây giờ thì khá đúng, nếu như cố ý gạn ghép vào các sư ” công an” nằm vùng thì rất đúng. Đại đa số các chùa to chùa lớn ở Hà Nội thì trụ trì đều là công an nằm vùng cả. Cái này kiểm chứng rất dễ, vào chùa khắc nhận ra ngay!

    – Thử ly : cái này chưa rõ chữ nghĩa ra sao cả!? Vì chỉ có âm nên có thể hiểu được nhiều nghĩa, như bác thientrungnhan vừa nêu. Có điều, nếu chiếu theo phần chữ bên viendung67.wordpress thì có thể tìm bài ” Thử Ly ” trong kinh Thi để đối chiếu !

    – Long Ô: bác biết đấy, tiếng Việt gọi rồng đen thì tiếng Hán nó phải đọc là : Ô Long. ( thật ra từ thời xa xưa nguyên âm con Rồng đọc là Rồng cơ ! Không phải đọc là Long đâu!?. Bác thử tìm hiểu xem vấn đề này nhé! Gõ trên mạng là ra! Nền văn minh lúa nước đấy! Không phải là văn minh săn thú hái lượm đâu!

    – Còn về Chân Nhân thì chưa thể nói ra bây giờ được! Nhưng bác đừng buồn, TBO không cho bác cái này, thì cho bác cái khác, cho bác xem ” Thái Bình “. ——–> Đền Và – Sơn Tây.

  125. thientrungnhan permalink

    Thầy tăng = đạo đức giả?.
    Thử ly ?
    Thử 鼠 = con chuột ?.

    Ly狸 = con cáo, con chồn.
    Ly魑 = ma quỷ?.

    Long ô = con rồng đen ?.

  126. thientrungnhan permalink

    Xem lại bài cơ but của bà chúa Liễu Hạnh có câu sau:

    Hoành sơn một dải ra vào,

    Cuốc kêu vọng đế, cáo gào giả vương.

    Cung trăng đã sẵn trời dương

    Giang sơn lại mở một trường xuân thu.

    Tên đâu ba mũi phục thù,

    Khen cho Khắc Dụng bày trò cho con.

    Ngọn cờ phất phới đầu non.

    Thạch Thành mèo lại bon bon chạy về.

    Dặm đường lai láng máu dê.

    Con quay ngả trắng ba que cuộc tàn.

    Trời Nam vận ở Viêm bang

    Chân nhân đâu đến những phường thầy tăng;

    Đồng dao lại có câu rằng:

    Non xanh mà mọc trắng răng mới kỳ (năm nay Miền Bắc, miền Trung Bắc Nghệ An có tuyết rơi trên núi, băng tuyết đông lại như hình răng trắng?)

    Bây giờ quét sạch thử ly.

    Ai ơi nhớ lấy thiên ky (cơ trời) kẻo lầm.

    Đương khi sấm sét ầm ầm. (Hiện tượng sấm sét mùa đông trong năm nay)

    Ấy là khí số để găm trị bình.

    Vũ phu mà bức thư sinh.

    Long ô chấp cả mấy anh Thuỷ Hoàng.

    Nực cười cho lũ bàng quan.

    Cờ tàn mà lại tính đường đẩy xe.

    Thôi thôi mặc lũ thằng hề.

    Gió mây ta lại đi về gió mây.

  127. Thầy Bói Online permalink

    Ây zà za…..Lâu nay bận việc giờ mới rảnh ghé qua trang nhà của bác thientrungnhan. Bác là chủ mà kiệm lời quá. Thi thoảng bác thientrungnhan cũng nên mở lời đón khách cho hợp lẽ chứ. Cũng đều là thân phận khách trần gian mà bác!
    Mấy tháng nay, trang nhà vẫn vậy!? TBO tôi lướt web dạo mạng chỉ tìm mong xem những lời hay ý đẹp để học hỏi thêm mà khó quá …!!! Bình sinh ta hiểu mình mà ta chẳng hiểu người!? Than ôi, đạo lý gì vậy!?
    Đại hội Đảng á!?
    Không phải BBC đã công bố kết quả sau khi bình bầu lựa chọn ngầm rồi sao!? Để TBO nhắc lại nhé:
    Tổng Bí Thư : Nguyễn Phú Trọng
    Chủ tịch nước: Trần Đại Quang
    Thủ tướng: Nguyễn Xuân Phúc
    Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Thị Kim Ngân.

    Trong 4 người này thì bà Kim Ngân vốn có số, lại được 1 thế lực tâm linh phù trợ nên leo lên được ghế này! Nhưng mà kết quả có tốt đẹp hay không thì do năng lực của bà ý! Cầm cân nảy mực trong bình bầu quyền lực nhất là TBT, sau là các vây cánh, phe phái!

    Hiện tại nước ta được cho là thế chế ” Công an trị “! Nguy hiểm đấy!
    Nguyễn Tấn Dũng đã hạ cánh an toàn và để chú ” đệ” Nguyễn Xuân Phúc ở lại. Chú này vốn là ” tham mưu” cho Nguyễn Tấn Dũng nhưng mà mưu không có, cố mãi được chữ tham thôi.
    À mà thôi, bàn cái chuyện thế sự dở hơi làm gì, nó vốn tuân theo quy luật cả thôi.

    Các bác mong chờ cái kết quả của CS lắm phải không!? Để hả hê đó hử!? Rồi …..sao nữa!? Được gì không !?

    Đem tâm này mà đi bàn sấm Trạng muôn đời không vỡ ra màn vô minh đâu !?

    Bác thientrungnhan, mong bác phúc đáp vài lời. Coi như mua vui lúc trà dư tửu hậu!

  128. chinhkie permalink

    Với thông tư ĐỒ TỂ này thì không muốn Loạn cũng phải loạn thôi, vì nó xúc phạm nhân phẩm còn người một cách quá đáng, chưa kể sẽ có phát sinh đòi tiền hối lộ vv…

    Thông tư 01/2016 của Bộ Công an, do Bộ trưởng Trần Đại Quang ký, sẽ có hiệu lực từ ngày 15/2/2016 tới đây, thay thế cho thông tư 65 ban hành ngày 30/10/2012.

  129. chinhkie permalink

    Đặc biệt, tại mục 6 của điều 5 này cũng quy định rõ, CSGT được phép trưng dụng các loại phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc, các thiết bị khác của cá nhân và tổ chức theo quy định của pháp luật.

    Như vậy các phương tiện thông tin như thư từ, điện thoại hay đời tư sẽ bị vi phạm nghiêm trọng…

  130. chinhkie permalink

    * Lại thêm 1 kiểu luật ba trợn nữa hành dân… thật là khốn khổ cho dân VN.

    “…Càng ngày càng đảo càng điên
    Dân ta như thể bầy chiên đánh vồn…”

    “… Đến hồi quốc vận lâm nàn
    chi tiêu ăn mặc cường quan độc quyền…”
    (Sấm Trạng Trình Phụ trương 2)

    Từ 15/2/2016, CSGT có quyền kiểm tra giấy tờ xe đang lưu thông

    Dân trí Thông tư đầu tiên trong năm 2016 của Bộ Công An đưa ra những quy định mới về chức năng và quyền hạn của Cảnh sát Giao thông (CSGT).
    >> Từ tháng 2/2016, Hà Nội xử phạt người đi bộ vi phạm luật giao thông

    Thông tư 01/2016 của Bộ Công an, do Bộ trưởng Trần Đại Quang ký, sẽ có hiệu lực từ ngày 15/2/2016 tới đây, thay thế cho thông tư 65 ban hành ngày 30/10/2012.

    Theo đó, trong Điều 5 của thông tư này có thêm quy định mới về quyền hạn của CSGT; quan trọng nhất là ở mục 1 quy định: Được dừng các phương tiện đang tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát phương tiện, giấy tờ của phương tiện; kiểm soát người và giấy tờ của người điều khiển phương tiện, giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát…

    Ngoài ra, tại Điều 12 của thông tư này cũng quy định rõ các trường hợp cán bộ được dừng các phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp:

    – Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.

    – Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên.

    – Thực hiện kế hoạch, tổ chức tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng công an cấp huyện trở lên.

    – Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác đảm bảo an ninh, trật tự… Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp.

    – Tin báo, tố giác tội phạm về hành vi vi phạm pháp luật và phương tiện tham giao thông.

    Ngoài ra, Thông tư 01/2016 cũng quy định rõ: CSGT được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo cho việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; tạm giữ giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe và giấy tờ khác có liên quan đến phương tiện, người điều khiển phương tiện hoặc những người trên phương tiện khi có hành vi vi phạm pháp luật, giấy tờ liên quan đến hoạt động vận tải để đảm bảo cho việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

    Đặc biệt, tại mục 6 của điều 5 này cũng quy định rõ, CSGT được phép trưng dụng các loại phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc, các thiết bị khác của cá nhân và tổ chức theo quy định của pháp luật.

    Ngoài ra, Thông tư 01/2016 của Bộ Công An cũng quy định một số nội dung liên quan đến trang bị và sử dụng phương tiện kỹ thuật dành cho cán bộ CSGT làm nhiệm vụ, cũng như các quy định về tuần tra kiểm soát (bao gồm cả hình thức công khai và kết hợp hóa trang).

    Trong khi đó từ 1/2/2016 tới đây, CSGT thành phố Hà Nội sẽ thực hiện việc xử phạt hành chính đối với người đi bộ vi phạm luật Giao thông đường bộ. Theo đó, từ hôm nay cho đến hết 31/1/2016 CSGT Hà Nội (PC67) sẽ tập trung tuyên truyền tới người dân bằng các phương tiện thông tin đại chúng về quy định xử lý, xử phạt trên và tiến tới chính thức xử phạt từ ngày 1/2/2016.

    Theo Nghị định 171 người đi bộ vi phạm sẽ bị nhắc nhở, cảnh cáo hoặc phạt tiền:

    – Từ 50.000 – 60.000 đồng đối với các hành vi: đi không đúng phần đường quy định, không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, người kiểm soát giao thông.

    – Từ 60.000 – 80.000 đồng đối với người đi bộ có hành vi mang vác vật cồng kềnh gây cản trở giao thông, vượt qua dải phân cách, đi qua đường không đúng nơi quy định hoặc không đảm bảo an toàn, đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy.

    Từ 80.000 – 120.000 đồng đối với người đi bộ đi vào đường cao tốc.

    Như Phúc

  131. chinhkie permalink

    Đông Lân, có thể hiểu thêm 2 cách sát nghĩa:

    1) Đông là Nhật Bản – Lân là cận là gần vì cũng ở Châu Á, gần hơn Tây Phương?
    2) Đông Lân là một địa danh, là tên của một Ấp thuộc Huyện Hốc Môn, Bà Điểm thuộc thành phố SÀI GÒN MNVN
    – Phá Điền thì phải động,mà mùa Đông có nghĩa là đông nặng, mà đông nặng thì phải “Động” mà động thì tất nhiên phải “Loạn” thôi… hi hi…

  132. “Giang Nam chốn ấy Vĩnh Gia
    Đà Giang chốn ấy tên là Vĩnh Giang.
    Bẩy hai núi ngọc lằm ngang
    Côn Sơn suối phủ thạch sàng ở trên
    Hữu hổ uốn khúc giang mây
    Tả long triều lại uốn thành đợt vây.”

  133. “Chờ khi động đất chuyển trời
    Giờ mầm sấm động hỏi người Đông Lân.”
    Tức là người làng Đông Sá xã Vĩnh Giang…

  134. thientrungnhan permalink

    Sấm mùa Đông ắt động loạn. Sấm mùa Xuân thiên hạ thái bình.

  135. Khách permalink

    Em chưa comment ở đây bao giờ mà chỉ đọc thôi. Tuy nhiên có hiện tượng lạ đợt này là Rùa hồ hoàn kiếm chết, giá rét kỉ lục và đêm hôm qua ở Hà Nội lại có sấm. Sấm vào đúng ngày đông thế này thì không thể hiểu nổi. Các bác Nhân và Kim Quy cho em xin ý kiến.

  136. chinhkie permalink

    Sấm Trạng Trình lại một lần nữa được ứng nghiệm một cách lạ lùng khi TBT Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử chức vụ TBT năm 2016- 2021.

    Cách đây khoảng 5 năm chinhkie và một người làm nghề thầy thuốc Đông Y có bàn luận về SẤM TRẠNG TRÌNH, ông đã tiên đoán là ĐCSVN bằng mọi giá phải lấy chiêu bài CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN để tồn tại trước khi HẠ CÁNH AN TOÀN mỹ mãn… với thời điểm hiện nay thì họ có thể hạ cánh an toàn, nhưng vì lòng tham không đáy nên họ “NGOAN CỐ” ở lại để mà BÒN RÚT cho đầy túi tham… cho thỏa dã tâm đan xen với những HOANG TƯỞNG THIÊN ĐƯỜNG HƯ ẢO…
    Sự ứng nghiệm đã được thể hiện qua câu sấm:

    “…Máy hóa công nắm tay dễ ngỏ
    Lòng báo thù ai dễ đã nguôi
    Thung thăng tưởng thấy đạo trời
    Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra…”

    – Phù LÊ diệt MẠC (…MÁC…) nghĩ dời quân ra…

    Nghĩa là HỌ sẽ để CỜ ĐỎ BÚA LIỀM (biểu tượng của ĐCS Liên Xô do Lê-Nin thành lập) Chủ Nghĩa Mác không thể thực hiện, chính vì thế họ cần phải gạt bỏ qua một bên để bảo vệ quyền lợi “Độc Tôn” của Đảng CS, núp bóng dưới vỏ bọc chuyên chính vô sản… đây là cú vớt chót trước khi hạ cánh… Mặc dù loại bỏ nhưng Họ vẫn dùng từ Mác-Lê-Nin vì họ đã dùng từ này như một cái bình phong để núp bóng lộng hành ngay từ thời Đệ Nhị Quốc Tế CS do Lê-Nin dẫn đầu, thật là thâm độc… có một điều là các nước khác xung quanh hay trên thế giới lần lượt sụp đổ thì CSVN vẫn tồn tại và suy dần cho đến năm 2020 hay 2022 thì mới thực sự DIỆT VONG.
    ++++++

    TIN HÔM NAY (27/01/2016).
    * Ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục ngồi ghế Tổng Bí thư khóa 12

    Đã có danh sách 200 người trúng cử BCH Trung ương khóa 12
    đại hội đảng
    Đại hội đồng ý cho Thủ tướng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội rút khỏi danh sách đề cử
    Ông Nguyễn Tấn Dũng.

    Hôm nay (27/1), Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 bầu Bộ Chính Trị, Ban bí thư, Tổng Bí Thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

    Vào lúc 15h ngày 27/1, kết quả bình bầu cho thấy ông Nguyễn Phú Trọng được tiếp tục tái cử chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Việt Nam khoá 12.

    Ngoài ra, Ban chấp hành Trung ương cũng giới thiệu Chủ tịch nước là ông Trần Đại Quang, Thủ tướng là ông Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

    Về việc ai sẽ làm Tổng Bí thư, ngày 25/1, tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh chia sẻ trên BBC rằng: “người nào lên cũng phải cải cách vì Việt Nam đã hội nhập và sức ép từ Trung Quốc là khủng khiếp”, “Người nào lên làm tổng bí thư trong giai đoạn quyết định và cần phải có bước ngoặt như thế này là điều rất hệ trọng đối với sự phát triển của đất nước”.

    Việc ông Nguyễn Phú Trọng được tiếp tục ngồi ghế Tổng Bí thư nhiệm kỳ này, các nhà quan sát cho rằng khó có được sự thay đổi nào khi mà ngay vào phiên khai mạc Đại hội Đảng lần thứ 12, ông Trọng đã nhấn mạnh vẫn kiên định vào “chủ nghĩa Mác-Lê Nin” và mục tiêu chủ nghĩa xã hội, xem con đường xã hội chủ nghĩa vẫn phù hợp cho thực tế ở Việt Nam.

    Nhà Quảng Cáo

  137. chinhkie permalink

    MÃNG XÀ nguyên văn là: CON RỒNG ĐỎ

  138. chinhkie permalink

    “ĐÍNH CHÍNH”

    Chúa Tể Muôn Loài trời đất vì Chúa Trời đất sẽ làm ngơ cho nhân loại cố tình lợi dụng SỰ TỰ DO để sát phạt lẫn nhau

    Xin lỗi vì lỡ tay…đánh lộn thứ tự hai chữ CỐ TÌNH lẽ ra phải nằm ở phía sau chứ nhân loại…

  139. chinhkie permalink

    Xin xem trang:

    THỜI SỰ THỜI CUỐI

    CUỘC CHIẾN ĐẤU CUỐI CÙNG

    AUTHOR: THỜI SỰ

    Thêm Một Dấu Chỉ Vĩ Đại Xuất Hiện Trên Các Tầng Trời
    Thời Sự06/01/2016

    Thêm Một Dấu Chỉ Vĩ Đại Xuất Hiện Trên Các Tầng Trời
    Tác giả Patrick Archbold

    Vào ngày 23 tháng 9 năm 2017, chúng ta sẽ chứng kiến sự giao hội của chòm sao Xử Nữ cùng với mặt trời ở ngay phía sau chòm sao (người nữ mặc áo mặt trời). Biến cố này xảy ra trong thời gian mừng kỷ niệm 100 năm những cuộc hiện ra của “người nữ mặc áo mặt trời,” Đức Mẹ của chúng ta tại Fatima năm 1917. Biến cố thiên văn này có ý nghĩa gì?
    [Lưu ý của tác giả: Trong bài viết dưới đây, tôi muốn trình bày một loạt những dữ kiện và những sự quan sát mà từ đó tôi cũng không đưa ra một kết luận nhất định nào. Tuy nhiên, những dữ kiện và những điều được ghi nhận này có tính chất hết sức đặc biệt, nên việc chỉ ghi nhận và tường thuật lại, có thể khiến cho chúng bị diễn giải sai lạc.
    Vì vậy tôi xin được minh định rằng trong bài viết dưới đây, tôi không tiên đoán bất cứ điều gì. Tôi chỉ đưa ra những ghi nhận của tôi về một số hiện tượng đặc biệt cả về siêu nhiên và nhân tạo, có ý nghĩa hết sức đặc biệt một cách tiềm tàng mà người ta có thể coi là đáng quan tâm và cũng nên đề phòng.]
    ***
    Dấu Chỉ Vĩ Đại Trên Trời
    Điều gì sẽ xảy ra nếu Thiên Chúa ban cho chúng ta một dấu chỉ mà chúng ta lại không hề để ý đến? Điều gì sẽ xảy ra nếu Thiên Chúa ban cho chúng ta một dấu chỉ từ Thiên Đàng, như Người đã từng ban cho chúng ta trước đây, một điềm báo về những biến cố trọng đại và kinh hoàng? Chẳng lẽ chúng ta lại không buồn quan tâm đến? Có phải chúng ta, cũng như biết bao nhiêu người đã đi trước chúng ta, quá bận rộn trong cuộc sống thường ngày đến nỗi chúng ta chẳng bao giờ thèm tra cứu thông tin về điều gì nữa? Điều gì sẽ xảy ra nếu ngày hôm nay Thiên Chúa ban cho chúng ta một dấu chỉ từ Thiên Đàng? Liệu chúng ta có chú ý đến không? Và nếu chúng ta chú ý thì liệu chúng ta có quan tâm hay chỉ bài bác như là những thứ mê tín dị đoan không có ý nghĩa gì?
    Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi nói với quý vị rằng sắp sửa có một biến cố thiên văn vốn thể hiện gần giống với một dấu chỉ trong Sách Khải Huyền, đáng kinh ngạc về độ chính xác, bối cảnh và thời điểm? Liệu quý vị có tìm hiểu không?
    Khải Huyền 12, 1-5
    “ Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao:
    Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con.
    Lại có điềm khác xuất hiện trên trời: đó là một Con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện:
    Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Rồi Con Mãng Xà đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà.
    Bà đã sinh được một người con, một người con trai, người con này sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân. Con bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người.”
    Ngôi Sao Bết-lê-hem
    Trước khi bắt đầu, tôi nghĩ điều quan trọng là phải xác định một số ý nghĩa của bối cảnh. Chúng ta đang giữ một phần không thể chối bỏ và đã được xác định trong đức tin của chúng ta là 2.000 năm trước, Thiên Chúa đã dùng một biến cố thiên văn để thông truyền cho nhân loại, đó là Ngôi Sao Bết-lê-hem. Nhiều người, khi tưởng tượng về Ngôi Sao Bết-lê-hem, không biết họ có tưởng tượng hay không nữa, thường hay nghĩ về ngôi sao to lớn và sáng rực trên bầu trời Bết-le-hem thì rõ ràng đối với tất cả mọi người đến nỗi nó đã khiến các Đạo Sĩ thực hiện một cuộc hành trình dài để tìm kiếm đức vua được Thiên Chúa hứa ban.
    Tôi biết rằng lối giải thích về biến cố này như vậy là sai lầm vì khi các Đạo Sĩ đến Giêrusalem, chỉ cách Bết-lê-hem 8 cây số, họ đã phải giải thích điều họ đã thấy là gì và tại sao họ lại hiểu điều ấy theo cách hiểu của họ như vậy. Vua Hê-rô-đê, triều đình của ông ta và toàn thể Giêrusalem hoàn toàn không biết gì về những biến cố liên quan đến Ngôi Sao Bết-lê-hem. Như chúng ta ngày nay, cư dân thành Giêrusalem cũng bận chăm lo cho gia đình họ và chu toàn những bổn phận hàng ngày của họ. Mặc dù dấu chỉ vĩ đại này loan báo sự ra đời của Đấng Cứu Thế, chính Con Thiên Chúa, điều đang xảy ra ngay trên đầu họ, nhưng họ đã không chú ý và cũng chẳng quan tâm đến dấu chỉ ấy.
    Để hiểu được bối cảnh chính xác của dấu chỉ có nhiều khả năng nói về chương 12 của Sách Khải Huyền, thì việc tìm hiểu thêm về Ngôi Sao Bết-lê-hem sẽ tỏ ra có ích cho chúng ta. Ngôi sao Bết-lê-hem là gì và bằng cách nào mà các Đạo Sĩ nhìn thấy Ngôi Sao trong khi hầu hết mọi người đều không trông thấy? Câu trả lời ngắn gọn là: Các Đạo Sĩ đã chú tâm.
    Tôi nghĩ đến một lập luận có tính thuyết phục rằng Ngôi Sao Bết-lê-hem là một loạt những sự kiện thiên văn thông thường nhưng lại có liên quan đến sự giao hội hiếm có vốn mang tính biểu tượng về sự ra đời của một vị vua. Điều quan trọng cần phải lưu ý là lập luận này dứt khoát không thuộc về khoa chiêm tinh học. Từ điển Bách Koa Toàn Thư của Anh định nghĩa khoa chiêm tinh học như sau:
    “…một hình thức bói toán có liên quan đến việc đoán trước những biến cố thuộc về thế gian và con người qua việc quan sát và diễn giải về những tinh tú đã được xác định, Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh. Những tín đồ của khoa chiêm tinh học tin rằng việc hiểu được ảnh hưởng của các hành tinh và các vì sao đối với những vấn đề của thế sự sẽ cho phép họ tiên đoán và gây ảnh đến vận mệnh của những cá nhân, những tổ chức và những quốc gia.”
    Giáo Hội Công Giáo công khai kết án khoa chiêm tinh học, vì Giáo Hội kết án tất cả những hình thức bói toán (Giáo Lý Công Giáo số 2116). Nhưng những dấu chỉ giống như Ngôi Sao Bết-lê-hem thì không phải là bói toán về những vận mệnh mà những ngôi sao đó quy định, nhưng là hoạt động thiên văn thông thường với một ý tưởng là Thiên Chúa của toàn thể vũ trụ đôi khi sử dụng công trình tạo dựng của Người để thông truyền cho nhân loại. Kinh Thánh có biết bao nhiêu những trường hợp chứng tỏ cho lập luận này. Thánh Vịnh 19 nói rằng:
    Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
    không trung loan báo việc tay Người làm.
    Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
    đêm này kể lại với đêm kia.
    Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,
    mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu
    và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.
    (Thánh Vịnh 19, 2-5)
    Chính Thánh Phaolô trích dẫn Thánh Vịnh này trong Thư gửi tín hữu Rôma khi ngài đưa ra lập luận rằng những người Do Thái nhận biết Đấng Mêsia đã đến.
    Ấy vậy, có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô.
    Nhưng tôi xin hỏi: Phải chăng họ đã không được nghe giảng? Có chứ!
    Tiếng các ngài đã dội khắp hoàn cầu,
    và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.”
    (Rôma 10, 17-18)
    Thánh Phaolô đưa ra lập luận rõ ràng rằng những người Do Thái đã nhận biết Đấng Mêsia vì các tầng trời đã báo cho họ biết như vậy. Rõ ràng Thánh Phaolô không tán thành chiêm tinh học, nhưng ngài chỉ ra rằng quả thật đôi lúc Thiên Chúa có thể sử dụng các tầng trời để loan báo những kế hoạch của Người. Người ta có thể nói biết bao nhiêu điều nữa về những sự khác biệt giữa chiêm tinh học và việc hiểu những dấu chỉ từ trời, nhưng giờ đây chúng ta có đủ chứng cớ để nói rằng việc chúng ta nhìn lên các tầng trời để tìm kiếm sự xác nhận và sự loan báo về những kế hoạch của Thiên Chúa là phải lẽ trong bối cảnh và trong việc áp dụng thích hợp.
    Vậy thì Ngôi Sao Bết-lê-hem là gì? Như tôi đã đề cập, tôi nghĩ rằng có một lập luận có tính thuyết phục rằng Ngôi Sao Bết-lê-hem là một loạt những biến cố thiên văn với tính biểu tượng quan trọng. Quý vị có thể tìm hiểu chi tiết hơn tại trangbethlehemStar.com, nhưng tôi sẽ cố gắng nêu một cách vắn tắt như sau:
    Vào năm thứ 3 hoặc thứ 2 trước Công Nguyên, đã xuất hiện sự giao hội ba lần hiếm có của Sao Mộc (hành tinh vua, do sự chuyển động ngược chiều của hành tinh này) và Sao Vua (ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Sư Tử). Các Đạo Sĩ có thể đã hiểu sự giao hội ba lần hiếm có này là ánh đèn nê-ông khổng lồ trên bầu trời đang phát đi tín hiệu rằng VUA-VUA-VUA. Tất cả những hoạt động này đã bắt đầu vào Năm Mới của người Do Thái và tất cả đều xảy ra trong chòm sao Sư Tử (sư tử, một biểu tượng của chi tộc Giuđa). Vì thế hoạt động thiên văn này mang nặng tính biểu tượng về Vua Dân Do Thái xuất thân từ chi tộc Giuđa, một dấu hiệu nhận biết rõ ràng đối với những ai biết về Đấng Mêsia. Hơn thế nữa, xuất hiện ngay phía sau chòm sao Sư Tử là chòm sao Xử Nữ cùng với mặt trời và mặt trăng ở dưới chân chòm sao này.
    Sau cuộc giao hội ba lần lạ thường này, Sao Mộc bắt đầu di chuyển về hướng tây trên bầu trời, cuối cùng Sao Mộc hội tụ với Sao Kim, một hành tinh từ lâu đã được coi là biểu tượng của tình mẫu tử. Sự giao hội của hành tinh vua và hành tinh thể hiện tình mẫu tử gần gũi đến độ chưa có ai từng chứng kiến hiện tượng như vậy bao giờ và hai hành tinh này đã cùng nhau hình thành một khối vật thể sáng chói nhất trên bầu trời.
    Tất cả những biểu tượng về một vị vua của người Do Thái từ chi tộc Giuđa và một Trinh Nữ đã đủ để khiến những Đạo Sĩ am hiểu lên đường đi Giêrusalem, nhưng quý vị có thể hiểu được tại sao những cư dân bình thường tại Giêrusalem lại không thấy được biểu tượng ấy.
    Sao Mộc đã tiếp tục di chuyển về phía tây trên bầu trời cho đến khi nó ngừng lại hẳn. Khi Sao Mộc ngừng lại (như quan sát được tại Giêrusalem), nó đã ngừng tại hướng chính nam, ngay trên ngôi làng nhỏ bé Bết-lê-hem vào ngày 25 tháng 12 năm thứ 2 trước Công Nguyên.
    Người ta có thể quan sát hoạt động thiên văn này một cách dễ dàng với những chương trình quan sát thiên văn hiện đại vốn có thể cho quý vị thấy bầu trời đêm vào bất cứ ngày nào trong lịch sử, từ bất cứ góc quan sát nào. Chính nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những chương trình điện toán mà giờ đây nó có thể cho phép chúng ta không chỉ nhìn vào bầu trời trong quá khứ mà còn nhìn vào bầu trời trong tương lai.
    Dựa vào bối cảnh của tất cả những điều mà tôi vừa mô tả ở trên, khi chúng ta hướng ánh mắt quan sát của chúng ta vào bầu trời trong tương lai, thì một lần nữa chúng ta lại được Thiên Chúa ban cho những dấu chỉ có tính biểu tượng hết sức quan trọng từ Thiên Đàng.
    Chúng ta hãy cùng đọc lại những câu mở đầu trong chương 12 của Sách Khải Huyền.
    “Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con.”
    Tác giả Sách Khải Huyền chỉ ra rõ ràng rằng thị kiến này là một dấu chỉ trên trời. Trong tương lai gần thì chúng ta sẽ nhìn thấy gì trên bầu trời?
    Vào ngày 20 tháng 11 năm 2016, một biến cố thiên văn bắt sẽ đầu và sẽ kéo dài chín tháng rưỡi, đỉnh điểm của biến cố thiên văn này là sự trùng hợp đáng kinh ngạc với thị kiến trong chương 12 của Sách Khải Huyền. Tôi không phải là một nhà thiên văn, tất cả những nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng biến cố thiên văn với tất cả những tình tiết đặc biệt của nó, là độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại.
    Vào ngày 20 tháng 11 năm 2016, Sao Mộc (hành tinh Vua) bước vào thân mình (cung lòng) của chòm sao Xử Nữ (trinh nữ). Sao Mộc do chuyển động ngược chiều, sẽ ở trong cung lòng của chòm sao Xử Nữ chín tháng rưỡi. Quãng thời gian này tương ứng với thời kỳ mang thai của một đứa trẻ được sinh ra muộn.
    Sau chín tháng rưỡi, Sao Mộc xuất ra khỏi cung lòng chòm sao Xử Nữ. Khi Sao Mộc thoát ra (sinh ra), thì vào ngày 23 tháng 9 năm 2017, chúng ta sẽ chứng kiến chòm sao Xử Nữ với mặt trời mọc lên ngay phía sau nó. (người nữ mặc áo mặt trời). Dưới chân chòm sao Xử Nữ, chúng ta thấy mặt trăng. Và phía trên đầu chòm sao này chúng ta thấy mười hai ngôi sao, được hình thành bởi chín ngôi sao của chòm sao Sư Tử cùng với ba hành tinh là Thủy Tinh, Kim Tinh và Hỏa Tinh.
    Điều đó thực sự rất đáng quan tâm và theo như tôi có thể xác định thì biến cố độc nhất vô nhị với sự trùng hợp rất đáng kinh ngạc với thị kiến trong chương 12 của Sách Khải Huyền.
    Vậy thì biến cố này có bất kỳ ý nghĩa gì không? Câu trả lời rõ ràng và chân thật là chúng ta thường không biết. Điều đó nói lên rằng chúng ta không hoàn toàn thiếu bối cảnh để hiểu được vấn đề.
    Điều đáng kinh ngạc là những biến cố này xảy ra trong dịp kỷ niệm 100 năm những cuộc hiện ra của “người nữ mặc áo mặt trời,” Đức Mẹ Fatima vào năm 1917. Đỉnh điểm của những biến cố thiên văn này xảy ra chỉ 3 tuần trước ngày kỷ niệm 100 năm của phép lạ vĩ đại tại Fatima mà mặt trời đã “nhảy múa” (một dấu chỉ nữa từ Thiên Đàng), một biến cố mà biết bao nhiêu ngàn người đã chứng kiến.
    Hầu như suốt thế kỷ sau biến cố vĩ đại này, chúng ta đã chứng kiến những lời cảnh báo của Đức Mẹ trở thành hiện thực với mức độ chính xác đáng kinh ngạc. Người ta đã không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa và chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh khủng khiếp, nhiều quốc gia bị hủy diệt, Nga đã truyền bá nhiều thứ lầm lạc của đất nước này ra toàn thế giới và nếu chúng ta thực lòng thì chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng những thứ lầm lạc này thậm chí đã được truyền bá vào trong chính Giáo Hội. Tuy nhiên chúng ta vẫn chờ đợi những lời hứa của Đức Mẹ được hoàn tất, đó là Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ toàn thắng và thời đại bình an được ban cho nhân loại.
    Nhưng điều mà chúng ta có thể không biết là ngay trong chính biến cố Fatima, có những dấu hiệu cho thấy rằng thời điểm 100 năm có thể là điều quan trọng. Vào tháng 8 năm 1931, nữ tu Lucia đang ở cùng một người bạn tại Rianjo, Tây Ban Nha. Ở đó Chúa Giêsu đã hiện ra với nữ tu Lucia và Người đã buồn phiền cho nữ tu biết rằng những lời mời gọi của Mẹ Người đã không được người đời chú ý đến, Người nói rằng: “Hãy cho các mục tử của Ta biết rằng nếu họ đi theo gương của Vua nước Pháp trong việc hoãn thi hành lệnh truyền của Ta, thì họ sẽ đi theo ông ta vào nơi vô phúc. Không bao giờ là quá muộn để trông cậy vào Chúa Giêsu và Mẹ Maria.”
    Lại nữa, trong một đoạn khác, nữ tu Lucia đã trích lại lời Chúa Giêsu nói rằng: “Họ không muốn chú tâm đến lệnh truyền của Ta!… Giống như Vua nước Pháp, họ sẽ phải hối hận vì điều ấy và họ sẽ ăn năn thống hối nhưng sẽ là quá muộn. Nga sẽ truyền bá những thứ lầm lạc của đất nước này trên thế giới, gây ra nhiều cuộc chiến tranh và bách hại chống lại Giáo Hội. Đức Thánh Cha sẽ phải chịu nhiều đau khổ.”
    Những đoạn nhắc đến Vua nước Pháp là rất đáng chú ý để chúng ta bàn tới vì điều này rõ ràng nhắc đến những lệnh truyền của Thánh Tâm Chúa Giêsu được ban cho Vua nước Pháp qua Thánh Margaret Maria Alacoque vào ngày 17 tháng 6 năm 1689. Vua Luois và các hậu duệ của ông đã không chú tâm đến lệnh truyền của Chúa Giêsu để công khai dâng hiến nước Pháp cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. Hậu quả là vào ngày 17 tháng 6 năm 1789, đúng 100 năm sau khi lệnh truyền được đưa ra, Hội Đồng Lập Hiến của Cách Mạng Pháp đã nổi dậy và tự xưng là chính phủ Pháp và đã tước hết quyền lực của vua. Sau đó nhà vua đã mất đầu trong cuộc bạo loạn.
    Hiện nay không thể biết được sự liên quan trong cách nói ám chỉ 100 năm hoặc biết được có hay không và khi nào thì đồng hồ bắt đầu điểm, nhưng cách nói ám chỉ này thì thực sự đáng quan tâm và có liên quan trong bối cảnh này.
    Và dĩ nhiên, nhiều người biết về thị kiến của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, qua đó người ta cho là ngài đã nghe Satan được ban cho 100 năm để tìm cách phá hủy Giáo Hội. Ngay sau thị kiến này, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã viết ra lời nguyện với Thánh Micae để cầu xin Tổng Lãnh Thiên Thần bảo vệ chúng ta trong trận chiến và bảo vệ chúng ta chống lại sự độc ác và cạm bẫy của Tên Ác Quỷ. Sau đó Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã thêm những lời nguyện với Tổng Lãnh Thiên Thần Micae vào cuối Thánh Lễ mà sau này Công Đồng Vaticanô II đã dẹp bỏ.
    Vì chúng ta đang sống trong thời buổi nhiễu nhương của Giáo Hội khi mà chính những nền tảng đức tin và thậm chí chính những lệnh truyền của Chúa Cứu Thế cũng bị loại bỏ và bị coi thường, thì không thể không nhắc lại thị kiến của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII.
    Khi nói về cuộc khủng hoảng hiện nay của chúng ta, trong thời đại của lòng từ bi giả tạo, thì tôi cũng phải lưu ý rằng ngày mà biến cố thiên văn bắt đầu, ngày 20 tháng 11 năm 2016, chính là ngày chấm dứt “Năm Thánh Từ Bi” mà Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên bố. Chính ngày ấy cũng là ngày lễ Chúa Kitô Vua.
    Để kết luận tôi phải nhấn mạnh rằng tôi không đưa ra tuyên bố cụ thể nào về tầm quan trọng, nếu có, của biến cố thiên văn mà tôi đã mô tả ở trên. Hơn nữa, tôi cũng không đưa ra tuyên bố là biết về tương lai hoặc biết bất cứ biến cố nào sắp xảy ra có liên qua đến việc hoàn tất những lời hứa của Đức Mẹ Fatima. Giờ đây tôi chỉ thuật lại cho quý vị những điều ở trên vì tôi thấy bản thân mình cũng ở trong hoàn cảnh tương tự như những Đạo Sĩ 2.000 năm trước. Tôi đang hướng lên trời và cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, con đang hướng về Chúa.”

    Chuyển dịch từ nguồn:http://remnantnewspaper.com/web/index.php/articles/item/2127-apocalypse-now-another-great-sign-rises-in-the-heavens

    – SAO MỘC là SAO VUA… lần này SAO MỘC lại là biểu tượng cho Thiên Tử hay Thánh Nhân của VN… vị này có liên quan đến Đức Trinh Nữ Maria…

  140. chinhkie permalink

    Theo tình hình VN và thế giới hiện nay thì có lẽ việc Đức Maria Từ Mẫu ra công năm 1980 chắc sẽ rất khó ngăn cản cơn thịnh nộ của Chúa Tể Muôn Loài trời đất vì Chúa Trời đất cố tình sẽ làm ngơ cho nhân loại lợi dụng SỰ TỰ DO để sát phạt lẫn nhau chỉ vì ích kỷ, hận thù, sác tộc hay tôn giáo, sống đam mê, nhơ uế, ăn chơi hưởng thụ như: TIỀN, TÌNH DANH vv… nếu thế thì các SÁT TINH khác vẫn còn tiếp tục để ứng nghiệm 100% hay gần hết các bài SẤM Trạng Trình mấy trăm trước…

  141. chinhkie permalink

    Chương X – Phát Diệm

    Ninh Bình

    Phát Diệm quê ngoại của tôi nay đã là một thị trấn thuộc Thị Xã Ninh Bình. Cách nay gần một trăm năm mươi năm Phát Diệm chỉ là một làng, tuy dân cư trù mật, đại đa số là người Công Giáo, do Cha Phêrô Trần Lục, mà giáo dân quen gọi là Cụ Sáu đã thành lập một xứ đạo nơi làng này. Tuy nhiên cuộc sống của người dân nơi đây chuyên về nông nghiệp và dệt chiếu. nhiều người từ các vùng chung quanh như Thanh Hóa, Yên Mô, Gia Viễn tụ tập về đây vỡ đất, khai khẩn theo công trình Dinh Điền do cụ Nguyễn Công Trứ khởi xướng từ cuối thế kỷ mười chin. Ông bà cố ngoại của tôi cũng đã gây dựng được cả trăm mẫu Tư Điền và để lại cho ông bà ngoại tôi.
    Tôi đã có cả một thời thanh thiếu niên sống tại quê ngoại. được học hành, đào tạo trong các chủng viện rồi bắt đầu cuộc đời dạy học cũng tại nơi này cho đến khi có cuộc di cư vào Nam năm 1954 sau hiệp định Genève.
    Những hình ảnh về quê ngoại đã in sâu và vẫn sống động trong ký ức tôi từ ngày còn nhỏ cho tới khi bỏ làng ra đi vào tháng 5 năm 1954; lúc đó tôi đã hai mươi mốt tuổi.
    Hôm nay, sau bốn mươi sáu năm xa cách, tôi mới lại có dịp trở lại thăm làng cũ. Chúng tôi rời Hà Nội vào lúc gần trưa, theo quốc lộ một về hướng Đông Nam đến Ninh Bình. Đường dài gần trăm cây số, vì xe không thể phóng nhanh nên mãi trời xế chiều chúng tôi mới tới Thị Xã Ninh Bình. Ngày tôi đi thì Ninh Bình mới là một tỉnh lẻ. Sau cuộc tiêu thổ kháng chiến thì các đường xá, cầu cống, dinh thự, kể cả nhà thờ chính tòa của tỉnh cũng bị đổ nát bình địa. Chòn một số gia đình cố bám lấy vùng ngoại ô để ở vì không biết di tản đi đâu. Hôm nay về lại Ninh Bình sau bốn mươi sáu năm, các đường phố, dinh thự, nhà thờ vẫn còn đó tuy đã được trùng tu, nhưng không có gì thay đổi so với thời trước cuộc tiêu thổ kháng chiến. Chúng tôi ghé thăm một vài nơi thắng cảnh của Ninh Bình như Núi Cánh Diều, Chùa Non Nước. Vì nóng lòng về thăm làng cũ Phát Diệm nên tôi không có thì giờ để thăm cố đô thời Đinh Tiên Hoàng. Rời Thị Xã Ninh Bình, chúng tôi theo tỉnh lộ mười đi về hướng Nam để về Phát Diệm. Đoạn đường từ Ninh Bình đi Phát Diệm chỉ cách nhau hai mươi chín cây số nhưng là đường đá chưa tráng nhựa lại dọc đường không có đèn điện mà trời đã bắt đầu tối nên xe chúng tôi không thể di chuyển nhanh. Con đường này tôi đã đi lại nhiều lần, lúc thì đi bằng ô tô ca. Ngày đó có ô tô tài Quy độc quyền chạy con đường Phát Diệm – Ninh Bình. Cũng có lần lỡ xe anh em chúng tôi phải đi bộ. Đoạn đường từ Ninh Bình về tới Phúc Nhạc có khoảng chừng mười lăm cây số nhưng đường rất xấu, lại phải qua mấy cây cầu. Trường Phúc Nhạc vẫn còn đây , dọc hai bên đường là phố chợ Nhạc, kia là chiếc ao hồ trước của nhà thờ xứ Phúc Nhạc, ở giữa hồ cũng có tượng Chúa Giêsu làm vua, mô phỏng theo ao hồ của nhà thờ lớn Phát Diệm. Qua Phúc Nhạc, chúng tôi đến xứ Tôn Đạo, nằm ngay mặt lộ. Ngôi nhà thờ kiến trúc theo kiểu Gothic của thời Trung Cổ bên Âu Châu. Cách đó không xa về bên phải là phố chợ Qui Hậu, vẫn con sông với chiếc cầu xi măng. Con đường cái đã được tráng nhựa bằng phẳng chứ không gồ ghề với đá cục như ngày trước. xứ Hòa Lạc ở không xa phố Qui Hậu, phía mặt tiền nay đã mở thành phố xá. Con đường đá dọc theo bờ kinh đưa vào nhà thờ và khu nhà xứ nay đã được trùng tu mở nang. Hòa Lạc là nơi tô đã trải qua nhiều năm trong thời niên thiếu lúc nghĩa phụ của tôi còn là phó xứ tại đây. Kể cả sau khi Ngài về làm việc ở nhà chung nơi Tòa Giám Mục, tôi vẫn thường lui tới Hòa Lạc trong dịp nghỉ hè. Tiếp tục lộ trình trên tỉnh lộ mười, chúng tôi qua các xứ đạo Ứng Luật, Hướng Đạo Chùa Đồng Bắc – Xứ Trì Chính và sau cùng vượt qua cầu Trì Chính để vào phố Phú Vinh. Phố xá đã được xây cất lại khang trang hơn, có nhà bưu điện với hệ thống viễn liên khá tiện nghi. Cây Cầu Ngói năm xưa bằng gỗ trên lợp ngói nay đã sửa lại thành cầu xi măng mặc dù người tu sửa cố duy trì lại các nét nguyên thủy nhưng đã không đạt được. Qua Cầu Ngói rẽ phải vào con Đường Giữa để đến nhà thờ lớn Phát Diệm. Ngày trước con đường này có hai hàng thông reo mọc đều hai bên, chiều chiều nghe gió thổi vi vu qua khe lá, thật là lý thú. Nhưng nay hai hàng cây này đã khồn còn mà là hai dãy phố cửa nhà liên tiếp từ tỉnh lộ mười vào cho đến bờ Ao Hồ. Ao Hồ trước cửa phương đình vẫn còn y nguyên. Ở giữa hồ tượng Chúa Giêsu làm Vua vẫn còn đó nhưng mấy cây bàng già cổ ngả mình từ bờ hồ xoải ra mặt hồ thì đã không còn. Những căn nhà xưa nay đã đổi chủ: bên trái hồ xưa là nhà ông bà cố Cha Tuế, ông bà cố các Cha Nhạc, Diện và Thiện, bên phải hồ là nhà bà cố Cha Tường, Cha Đình nay đã trở thành trụ sở của đài phát thanh thị trấn. Sát về cổng đá bên phải là nhà ông bộ Vỵ, nay đổi chủ và trở thánh nhà bán sách và các ảnh đạo. Đạc biệt nhất khu Phương Đình, nhà thờ lớn và các nhà thờ cạnh chung quanh là vẫn còn y nguyên không suy chuyển, có lẽ chỉ bồi đắp các cây cột, cây kèo bằng gỗ là khu di tích lịch sử này sẽ vẫn tồn tại với nét nguyên thủy của nó. Phía sau nhà thờ lớn là nhà chung Phát Diệm, nay đã được tân trang, mở rộng và xây cất lên nhiều căn nhà mới. Tuy nhiên hình ảnh năm xưa của khu nhà chung vẫn sống động trong ký ức tôi. Tôi tần ngần đứng trước cửa nhà mặc áo (1) phía sau nhà thờ lớn để hồi tưởng lại con đường dẫn đến cổng nhà chung cổng làm bằng gỗ, hai bên là hai dãy nhà khách. Vào qua cổng, bên phải là công đường nơi tiếp khách của Đức Cha. Bên cạnh công đường là nhà cơm khách, Đức Cha thường dùng để tiếp khách quí. Bên trái là một tòa nhà gỗ ba tầng, cũ kỹ, đó là nơi Đức Cha Phùng ở, Đức Cha là nghĩa phụ của Cha Đệ, và cũng là ông nội của tôi theo linh tộc. sau khi Đức Cha mất thì bỏ trống một thời gian
    (1) Nơi các Cha mặc áo lễ trước khi cử hành Thánh lễ)
    Sau Cha Chính Lý dọn vào ở trong thời kỳ Ngài từ trường Phúc Nhạc dọn về nhà chung. Tòa nhà này đã bị dẹp bỏ và mở rộng thành một vườn bông, có tượng Cha Trần Lục. Hình ảnh của gác chuông, của dãy nhà mà xưa kía có ông Thầy Tri bị bệnh tâm thần, có Cha Hán, Cụ Bốn Điện Nicôla, Thầy Cai Dị ở nay đã không còn. Kể cả khu nhà cơm xây cất bằng vật liệu nhẹ như tre, cây và lợp bổi, nay cũng được xây cất thành những dãy nhà xây hai tầng. bức tường xây ngăn cách nhà chung với khu nhà gạo cũng được triệt bỏ và mở rộng cho khu nhà chung rộng ra cho tới bờ sông Phú Vinh. Căn Nhà số tám tôi vẫn về ở vào các dịp nghỉ hè trên là phòng các cha già Hưu và Cha Hùng Sĩ bị bệnh lao nay vẫn còn y nguyên. Khu nhà xứ và lầu trên dành cho các cha văn phòng của Đức Cha vẫn còn như cũ. Phòng Bố Đệ của tôi ở xưa nay là phòng của Đức Cha Tạo. Chúng tôi đến nhà chung Phát Diệm vào một đêm trời tối, cơn mưa tầm tã báo trước một cơn bão nhiệt đới sắp hình thành. Mặc dù trời đã khuya, thầy quản lý cũng tiếp đón chúng tôi và thu xếp cho chỗ trọ đêm. Sáng hôm sau có Thánh Lễ do Đức Cha Yến dâng tại nhà thờ lớn. Sau lễ, tôi lên thăm Đức Cha Tạo, Thầy dạy cũ. Ngài đã chín mươi ba tuổi mà vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn, dù đi đứng có cần người dìu bước nhưng trí nhớ vẫn còn. Tôi chỉ gợi lại một vài kỷ niệm là Ngài đã nhận ra đứa học trò năm xưa, lúc ấy tôi mới mười hai tuổi và vừa được nhận vào học lớp tám trường Thử Trì Chính. Ngày đó Đức Cha mới ngoài bốn mươi, nhưng sức khỏe lại mỏng manh, Ngài được Đức Cha Tòng cho hưu non và về dưỡng bệnh tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở khu chợ Năm Dân bên bờ sông Trì Chính. Sau Hiệp Định Genève 1954, hầu hết các linh mục giáo sư theo các chủng viện, được lệnh di tản vào Nam thì Cha Giáo Tạo đã ở lại Phát Diệm. Tất cả chỉ coa chừng bảy linh mục còn ở lại, đa số đều đã cao tuổi và bệnh hoạn. Đức Cha Tạ là vị linh mục trẻ nhất và có trình độ văn hóa cao nhất trong số bảy vị này. Nhưng sức khỏe thì rất mỏng manh. Tuy nhiên khi trách nhiệm đã đặt lên vai sau ngày được Tòa Thánh Vatican đặt làm Giám Mục coi sóc một Giáo Phận rộng lớn với cả trăm ngàn giáo dân và hằng trăm xứ đạo… thì sức khỏe của Ngài từ từ khôi phục. ngài đã có thể đảm trách được chức vụ nặng nề cả mấy chục năm qua cho đến khi tuổi về hưu vào năm chín mươi tuổi. Sau hơn một giờ thầy trò tâm sự, ôn lại chuyện xưa, tôi đã từ biệt Ngài để đi thăm làng cũ củ ông bà ngoại tôi tại Họ Đạo Lưu Phương. Đức Cha tiễn tôi ra ngoài, cho tôi chụp vài tấm ảnh lưu niệm. Nhìn tấm ảnh một vị chín mươi ba tuổi chụp ảnh chung với một người sáu mươi chín và một vị khác chỉ ngoài sáu mươi, tôi thấy tuổi tác không tạo thành sự ngăn cách của ba khuôn mặt. Các bạn khó đoán được ai là người già nhất.
    Băng qua cổng đá đến bên nhà hát Đức Cha Tòng, chúng tôi tiến đến cầu đá để qua Họ Đạo Lưu Phương. Khu nhà dòng Mến Thánh Giá vẫn còn đây, các đường dong ngày trước nay đã được đổ đá tráng tráng nhựa thành các đường lộ có thể chạy xe hơi vào. Khu nhà của ông bà cố ngoại tôi hãy còn đó nhưng nay đã bao lần đổi chủ và được chia sẻ thành nhiều phần. Tuy nhiên hình ảnh trong ký ức về khu nhà của ông bà ngoại tôi vẫn còn y nguyên: đây là cái cổng gỗ, bên cạnh có ao thả cá mè, ngay nơi bờ ao có hai cây vối lớn mà tôi thường le lên bất trái ăn. Phía bên kia là bụi nhót, đến mùa tháng mười nhót chín, hái quyệt các phấn bụi vào vạt áo rồi chấm muối ớt ăn. Chỗ này là vươn gai trồng cây gai để lấy vỏ đan võng. Bà cố ngoại Vinh của tôi hay ra ngồi câu cá. Từ sau khi ông cố ngoại mất, bà sống một mình trong một căn nhà nhỏ. Bà vẫn có cái thú uống rượu đế. Tuy đã già nhưng ngày nào cũng phải uống một cút (chút) rượu. Có lúc say bà nói lảm nhảm một mình chuyện ngày xưa. Hình như bà có nhiều tâm sự buồn về các con, nhất là ông ngoại tôi, nên ít khi thấy mẹ con gặp nhau. Đây là dãy nhafngang bảy gian rộng rãi, nơi gia giữa kê một bộ sập gụ, tủ che và trường kỷ đề bằng gỗ mun, rất có giá trị. Phía trước là một vườn hoa rộng, ông ngoại tôi chuên trồng hoa nhài, hái hoa để ướp trà. Phía bên phải là một dãy nhà dùng làm kho lúa và nơi xay lúa, giã gạo. Đàng sau nhà này là một vườn rộng, lúc thì trông ngô, khi thì trồng đay. Giữa vườn có một cây khế trái rất ngọt, tôi thường ra hái. Bọc quanh khu nhà là lũy tre xanh cao vút. Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng cũng có nhiều năm về chơi quê ngoại, nhất là thời gian ba tôi một mình vào Nam lập nghiệp sau khi thất bại ở Hà Nội vì kinh tế khủng hoảng của thập niên ba mươi. Ông cố Vinh của tôi có bốn con trai và ba con gái: ông Điển Ma, ông Giáp Dương, ông Chi và ông Ký Dong, còn ba người con gái là: bà Đoàn Hạ, bà Cả Nhân và bà Ký Kèn. Ông ngoại tôi là cả nên ở với mẹ và trông coi khu nhà do ông cố tôi để lại. Mỗi người em trai khác của ông ngoại tôi đều được chia đất để xây cất nhà, riêng có ông Ký Dong là không nhận đất mà xin chia gia sản rồi lên Hà Nội lập nghiệp vì ông có trình độ văn hóa cao hơn các anh. Ông tên Dong làm đến chức thư lại cho tòa báo nên gọi là ông Ký Dong. Tôi không biết tên cái của ba bà cô của mẹ tôi, chỉ nghe trong họ gọi các bà theo tên chồng. Bà Đoàn Hạ và bà Cả Nhân mất sớm. Bà Đoàn Hạ có hai người con là dì Sa và cậu Kim. Bà Cả Nhân có một người con gái là dì Thọ. Còn bà Ký Kèn, cũng là cô út có ba người trai và hai gái: dì Hường (chết sớm), cậu Đường, cậu Tâm, cậu Hùng và dì Tuyết. Với dì Sa và cậu Kim thì tôi rất ít liên lạc, chỉ có dì Thọ, dì Tuyết, cậu Đường, cậu Tâm là tôi có nhiều liên hệ từ ngày còn ở Bắc cho đến khi di cư vào Nam rồi ra (nước Ngoài). Về phía các ông, thì có ông Điển Mai có tám người con: mẹ tôi là chị cả, kế đến là dì chiểu, dì Banrm cậu Lệ, cậu Lâm, cậu Kỷ và dì Trang. Ông Giáp Dương không đông con nhưng tôi không biết hết: chỉ nhớ cậu Thái, cậu Trúc và dì Cúc. Ông Chi sanh được cậu Cừ, cậu Khôi, cậu Khoa, và bốn cô con gái: dì Tỵ, dì Lương, dì Ròn, có một dì bị tai nạn xe ở Hà Nội sau bị bệnh và qua đời sớm nên tôi không gặp mặt. Ông Dong có nhiều con gái là các dì Cát, dì Dung, dì Thanh, dì Nhàn và cậu Út Quang sau đổi tên là Đồng.
    Hôm nay về lại chốn cũ, bao nhiêu hình ảnh kỷ niệm trong ký ức dều sống lại trong tôi và tôi có cảm tưởng như nó vẫn còn mãi dù các ông các bà nay đã ra người thiên cổ. vì thời tiết biến chuyển e rằng sẽ gặp bão nên chúng tôi phaie chuẩn bị lên đường. chúng tôi không trở lại Ninh Bình mà tiếp tục đi vào Điền hộ theo tỉnh lộ Mười để đến Nga sơn ra Thanh Hóa rồi trở vào Nam. Con đường này xưa bị xẻ cắt, đào hào theo chiến dich tiêu thổ kháng chiến của cụ Hồ, nay vẫn còn như vậy, đã hơn bốn mươi năm rồi con đường vẫn lồi lõm, gồ ghề, xe hơi đi lại thật khó khăn. Vì muốn đi cho biết nên bác tài cũng chiều ý tôi và cố đi từ từ lach qua những chỗ trũng để đưa xe vào cho tới Điền Hộ. Từ Điền Hộ đường đi bằng phẳng hơn, những lô cốt thời Tây để lại vẫn còn đó. Nga Sơn là địa giới thuộc đầu tỉnh Thanh Hóa. Đi hết huyện này là đã vào được quốc lộ Một để đi về Thanh Hóa.
    Trời chuyển mưa và kéo dài nhiều ngày. Khi xe chúng tôi về đến Thị Xã Thanh Hóa thì trời đã khuya nên phải tìm khách trọ để ngủ qua đêm. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục lộ trình. Bác tài có them người cháu gọi bằng cậu ra phị lái vì anh bị cảm, thần kinh bị giật méo một bên miệng , cần được nghỉ ngơi nhiều.
    Trên đường về chúng tôi dự tính sẽ ngủ lại đêm ở La Vang một lần nữa, do đó xe chúng tôi gia tăng tốc độ và về tới Quảng Trị vào tối hôm đó.
    La Vang hôm nay có nhiều toán hành hương từ Sài Gòn ra và một số toán cũng đi Hà Nội và tối hôm đó cũng ghé lại ngủ đêm tại khách trọ vùng Linh Địa này.
    Sau khi tắm rửa, ăn tối, tôi lại một mình lặng lẽ lên Đền La Vang cầu nguyện. trong buổi cầu nguyện này tôi đã được Đức Mẹ cho biết người khách quí mà tôi đã hỏi lần trước đã được cứu rỗi, tôi sẽ có duyên gặp lại Ngài khi về đến Sài Gòn. Tôi có cảm nghĩ là Cha L. đã hiểu và đã thành tâm sám hối lỗi lầm. ngay tối hôm đó cha từ biệt chúng tôi và về Sài Gòn trước.
    Theo chưng trình thì tôi muốn ghé Đà Lạt và sẽ về qua Bảo Lộc, Phương Lâm, Gia Kiệm.. nhưng trời chuyển mưa mỗi lúc một nặng, có tin dự báo thời tiết cho biết sẽ có bão vì thế chúng tô quyết định đi thẳng về Sài Gòn. Trên đường về chúng tôi chỉ ghé có cố đo Huế một lát thame Chùa Thiên Mụ, ngó dòng song Hương từ trên cao rồi thẳng đường về mà không viếng thăm lăng tẩm của vua Nguyễn.
    Sau hơn hai ngày đường nữa, chúng tôi đã trở về đến Sài Gòn vào tối ngày thứ bảy tuần đó. Chuyến đi Nam – Bắc kết thúc với mười hai ngày ròng rã trên xe và ngủ trọ tại các khách sạn.
    Sang chủ nhật tôi tình cờ đọc báo Công Giáo và Dân Tộc thì hay tin Cha N.H.L. đã qua đời vào sang thứ sáu vừa qua. Lễ an tang được cử hành vắn tắt vào ngày hôm sau, lúc đó chúng tôi còn trên đường về. Tôi thầm tạ ơn Đức Mẹ đã đưa Cha về như lời Mẹ đã hứa. sang thứ hai tôi đi dự lễ ở nhà thờ Bắc Hà. Khi Thánh Lễ vừa bắt đầu thì tôi thấy lình ảnh của Cha L. mặc áo dòng trắng theo y phục của Đa Minh đứng bên Cha Chủ Tế và cùng Ngài dâng lễ. Sau Thánh Lễ Cha L. đã đến gặp tôi tỏ lời cảm ơn về những lời khuyên và góp ‎ xây dựng. Tôi cho Ngài biết đó là do lòng thương xót của Đức Mẹ và Cha Diệp, tôi không có công lênh gì cả. Cha L. Hướng về Đức Mẹ tạ ơn rồi lặng lẽ biến đi. Tôi vui mừng vì một người anh em đã được cứu vào giây phút cuối cùng.
    Vài ngày sau đó tôi có dịp qua Thị Nghè thăm người dì, tự nhiên dì tôi bảo: “Cuốn sách “Bên Kia Thế Giới” của cháu có nhiều điểm rất giống với sự hiểu biết của Cha G”. Tôi không biết Cha G. là ai vì nhiều người goi Cha theo tên Thánh nhưng tự nhiên tô muốn đi gặp Ngài và có nhiều tâm sự cần phải hỏi. Tôi đẩy cửa bước vào, gặp ông giữ nhà thờ. Ông cho biết Cha đi vắng lát sẽ về tời. Tôi và dượng tô ngồi chờ. Khi Cha G. Về tới thì ra là người bạn cũ cùng học với nhau hai năm triết học ở St. Sulpice – Vĩnh Long. Tôi còn nhớ từ ngày chia tay vào năm 1956 sau khi học xong triết học, tôi không lần nào gặp Cha, mãi cho đến khi Cha làm tuyên úy quân đội, lo việc Phát Thanh Công Giáo và Thánh Nhạc,m chúng tôi mới có dịp gặp gỡ một lần trong buổi lễ Đại Hôi Thánh Nhạc Toàn Quốc do chính Cha tổ chức, tôi cũng được mờ với tư cách thành viên trong ủy ban Thánh Nhạc dom nhạc sĩ Hùng Lân làm trưởng ban. Tôi rất gần gủi với Cha G. vì cũng rất say mê dân ca Việt Nam, phần tôi khi học nhạc ở Mỹ thì đã chọn ứng dụng nhạc Ngũ Cung vào vào chưng trình dạy Âm Nhạc cho họ đường, làm đề tài cho luận án cao học (master) của tôi. Không ngờ hai anh em chúng tôi sau lại bỏ ngành Âm Nhạc mà đi vào tìm hiểu, nghiên cứu về các vấn đề tâm linh, siêu hình. Khi hai người có cùng tần số tâm thức thì dễ dàng hiểu nhau không cần dài lời. Cha G. đưa tôi lên phòng Ngài, anh em tâm sự rất là tương đắc. Chúng tôi cùng đến quì bên tượng ảnh Chúa và Mẹ cùng cầu nguyện và chụp một hai tấm ảnh kỷ niệm. Tôi chưa kịp nói gì về Cha L. thì Cha G. đã cho biết Cha L. mới về thăm Ngài và tỏ lời xin lỗi. Tôi cũng kể cho Cha G. biết Cha L. biết Cha L. đã gặp tôi trong Thánh Lễ và cũng tỏ lời hối hận về những việc Ngài đã làm cho giáo hội Việt Nam. Trước khi chia tay, Cha G. đã tặng tôi mấy tấm ảnh rất lạ: ba tấm ảnh chuộc tội, tấm nào cũng máu me tuôn trào, một tấm ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng có Máu Đào từ Quả Tim trào ra và sau cùng là tấm ảnh Cha Diệp, tấm ảnh mà do chính tôi đã nhờ họa sĩ Đại Hàn vẽ khu Phúc Lộc Thọ trên đường Bolsa, Santa Ana. Tôi đón nhận tất cả những tấm ảnh này với lòng thành tín mà không hề có sự hoài nghi ha cật vấn. Điều này đễ hiểu vì khi các huệ năng đã phát triển thì tay ta có thể làm chứng cho ta biết những những đồ vật ta cầm trên tay với tần số đặc biệt của mooic đồ vật. Tôi thầm tạ ơn Chúa và Đức Mẹ đã cho tôi một người đồng chí hướng. Ngài có thể giúp tô phát triển sâu sắc hơn khả nagnw tâm linh mà tôi đang có. Cha G. đã trao cho tôi các tài liệu mà Ngài đã sưu tầm, khảo cứu và sọa thảo ra. Chỉ trong một thời gian ngắn tôi đã tiếp thu và thực hành được phương pháp tu tập của Ngài và qua thực nhờ phương pháp này tôi đã có thể tiến cao hơn một bậc trên con đường tu đức. con đường tôi đang đi tức là con đường nhờ Mẹ Maria mà đến Chúa Giêsu, con đường này rất thích hợp cho những ai có tâm hồn bé nhỏ, đơn sơ, tôi sẽ không từ bỏ nó, nhưng tôi sẽ bổ túc thêm bằng phương pháp học hỏi về Thiên Chúa Ba Ngôi của Cha G. để nắm vững về tín lý, thần học của đạo Công Giáo về Thiên Chúa Ba Ngôi, hiểu rõ hơn về Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Trước khi ra về, Cha G. đã kể cho tôi nghe về hiện tượng lạ xảy ra cho Cha cách đây ít hôm về tấm ảnh của Cha Diệp.
    – Một hôm, lời Cha G. tâm sự, tôi được một người bạn tặng một tấm ảnh của Cha Diệp và rủ tôi cùng xuống Tắc Xậy thăm mộ Ngài. Trong lòng tôi có một vài vấn nạn không biết Cha Diệp là ai? Thì bỗng được Nài lên tiếng và còn hứa sẽ cho một món quà tặng khi về tới nhà. Tôi cũng không rõ Cha Diệp sẽ tặng quà gì, nhưng khi về tới phòng, mở tấm ảnh Cha Diệp gói trong tờ báo thì lạ lùng thay máu đào từ đâu tuôn đổ lênh láng. Tôi vội gói lại như cũ và cứ để nguyên vậy đem về Tòa Giám Mục Sài Gòn để trình lên bề trên và tùy Đức Giám Mục định liệu. Đây là tấm ảnh chụp tài liệu đó, còn chính tấm ảnh có hiến tượng lạ thì đã được bảo mật… Tuy Cha G. dè dặt trong lời dẫn giải, nhưng riêng tôi vì đã được Cha Diệp cho biết trước, khi thăm Ngài ở Tắc Xậy nên tất cả những gì Cha G. trình bày tôi đều xác nhận là thật và trung thực. Tôi nói vậy là theo kinh nghiện bản thân, còn phải chờ sự phán quyết của Tòa Thánh Vatican thì các hiện tượng lạ này mới được công nhận và cho phổ biến công khai..
    Tôi đã trở lại Mỹ sau hai tháng về thăm quê nhà. Tự nhiên tôi không thấy hứng thú để viết lại cuộc du ngoạn kỳ diệu mà tôi vừa trải qua. Các câu chuyện, các biến cố từ từ lùi vào dĩ vãng. Tôi đã trở lại cuộc sống bình thường: ngày đi làm hai nơi, ở trường học và ở hang xưởng. tối đến lại còn giúp vợ con việc nhà. Tất cả tâm trí tôi đều tập trung vào các tài liệu mà Cha G. tặng. tôi đã đả thong kinh mạch một cách dễ dàng, thong suốt nhờ phương pháp tu luyện riêng của Cha G. Qua tài liệu và băng cassette của Cha tôi đã hiểu thấu đáo hơn vai trò của mỗi người ở trên cõi trần này và vai trò làm con của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã giảng đi giảng lại cho các Thánh Tông Đồ.
    Sau khi lo liệu cho hôn lễ của con trai thứ hai, tôi đã gói ghém cất giấu tâm sự và các biến cố lạ lung mà tôi đã trải qua trong chuyến về thăm Việt Nam vừa qua. Ngya cả với bạn bè than tôi cũng không hé răng tiết lộ về sứ mạng quan rọng mà tôi và Cha Diệp vừa hoàn thành. Tất cả đã lùi vào dĩ vãng thì đùng một cái, lệnh trên bảo tôi viết phải viết lại và cho phổ biến. tôi rất băn khoăn vì thấy đầu óc trống trơn, không còn nhớ gì cả. từ lâu tôi vẫn một lòng theo gương Đức Mẹ là thực hành hai chữ “xin vâng”, tôi vâng lời Đức Mẹ, cố ngồi xuống cầm bút và thả tâm hồn trở lại dĩ vãng đã qua để nhìn lại đoạn đường mà tôi vừa đi. Quả thự Đức Mẹ đã cho Cha Diệp đến giúp tôi hoàn thành công tác này. Tôi như người thư k‎ cầm bút viết lia lịa theo những lời tường thuật của Cha Diệp. Trí óc tôi trở thành tấm màn chưa đựng các Linh Ảnh cứ tuần tự diễn ra và tôi đã kết thúc tập hồi ký “Địa Linh Nhân Kiệt” vào đúng buổi sáng ngày 15 tháng 3 năm 2001, cũng là ngày sinh nhật thứ sáu mươi chín của tôi.
    Tất cả những điều tôi trình bày trong tập hồi ký này đề là vâng theo chỉ thị của Đức Trinh Nữ Vương Maria. Ngài muốn cho mọi người biết về công cuộc Kiến Tạo Hòa Bình mà Ngài đã khởi công từ 1980 sau khi lãnh nhận sứ mạng từ Thiên Đình ban xuống. Sự thù hận, chiến tranh, thanh toán sẽ được bỏ đi và thay thế vào đó là lòng nhân từ, khoan dung, độ lượng, hòa bình. Thời gian chuẩn bị không còn bao lâu vì nhân loại sắp sửa phải chuẩn bị để nghênh đón Chúa Giêsu Kitô trở lại trần thế. Những ai muốn được phước tiếp đón Ngài thì phải tu luyện chỉnh trang, chuẩn bị tâm hồn ngay từ bây giờ kẻo không kịp. Đức Maria sẽ mở rộng tay tiếp dón tất cả mọi người không phân biệt ai, miễn là họ có lòng thành và thực tâm quay về với Chúa. Tôi xin dừng bút ở đây, mong các bạn đọc và suy gẫm tìm hiểu về từng biến cố, sự tích hơn là quan tâm đến người viết là ai. Tôi chỉ là một dụng cụ nhỏ bé Bề Trên dùng để nhắn nhủ các bạn. Tất cả chỉ có thế thôi!

    ĐỊA LINH NHÂN KIỆT

  142. chinhkie permalink

    Chương IX – Đền Hùng Vương

    Việt Trì – Phú Thọ

    Đền Hùng Vương là một di tích lịch sử quan trọng và lâu đời nhất của dân tộc Việt Nam. Phải đến tận nmoiw mà quan sát, chứng kiến thì mới hiểu được nền văn minh của dòng giống Lạc – Long từ bao nhiêu ngàn năm qua. Đền Hùng nằm trên Núi Hùng, còn có tên là Nghĩa Lĩnh hay Bảo Thiếu Lĩnh cao khoảng một trăm bảy mươi lăm mét so với mực nước biển. Đây là một dãy núi bốn trái, cao nhất và hung vĩ nhất là Núi Hùng có hình thái như cái đầu rồng, tiếp theo là ba trái núi núi nối đuôi là Núi Trọc, Núi Vặn và Núi Pheo làm thành thân rồng uốn khúc. Từ trên phi cơ nhìn xuống toàn thể bốn trái núi Hùng, Trọc, Vặn, Pheo ta có hình thái của một con rồng con nằm trên đầu con rồng mẹ là hình thể ba miền Bắc Trung Nam của Việt Nam.
    Từ đỉnh núi Hùng, bạn nhìn về phía trước sẽ bắt gặp ngã ba Việt Trì với hang chục quả đồi thấp như đàn rùa đang từ dưới nước bò lên. Nhìn ra phía sau, bạn sẽ thấy giải đất của làng Hy Sơn với kiểu đất chim phượng cặp sách. Nhìn sang bên phải bạn sẽ gặp đồi Khang Phụ có hình thể như con Hổ Phục. Sau cùng là bên trái bạn có đồi An Thái có hình thể của dũng sĩ giương nỏ. dưới chân Núi Hùng là làng Cổ Tích. Nếu đưa tầm mắt nhìn về xa hơn, bạn sẽ thấy hai giải song, phía Tây với dòng song Thao nước màu đỏ lờ, còn phía Đông là dòng song Lô, nước luôn một màu xanh biếc. Hùng vĩ thay nơi cố đô ngàn đời của dòng giống Tiên – Rồng. Tương truyền vua Hùng Vương thứ Mười Ba là vị vua rất am tường về khoa phong thủy – địa lý. Ngài đã bỏ công sức đi du ngoạn hầu khắp đất nước và sau cùng đã tìm được cuộc đất kỳ diệu này để lập nên kinh đô cho đất nước.
    Chúng tôi rời Hà Nội từ mờ sáng qua cầu Gia Lâm rồi chạy theo quốc lộ Một để tiến về Phú Thọ. Đường đi bằng phẳng, trơn tru, vượt qua các cánh đồng hai bên lộ. Càng về phía Bắc, khí hậu càng mát mẻ dễ chịu, nhất là vào các tháng hè. Chỉ tiếc một điều, ở Việt Nam hầu như rất hiếm các bảng chỉ dẫn đường đi các tỉnh hay các nơi danh lam thắng cảnh. Quả đúng với câu “ đường ở miệng”, bạn muốn khỏi bị lạc đường thì phải chịu khó ngừng xe ở mỗi ngã ba, ngã tư để hỏi đường. Không như ở các nước Âu – Mỹ, ở mỗi ngã ba, ngã tư đều có bảng chỉ rõ hướng đi và số lượng kí lô mét hay dặm cho mỗi chặng đường. tuy lần đầu tiên lên thăm phú Thọ, nhưng nhờ cẩn thận hỏi người địa phương ở mỗi chặng đường nên sau cùng chúng tôi cũng đến được Núi Hùng. Vừa bước ra khỏi xe, chúng tôi phải vào qua nhà bảo tàng, nơi lưu trữ những di tích lịch sử còn sót lại của thời Hùng Vương do các nhà danh họa vẽ lại. Sau đó, chúng tôi khởi sự cuộc leo núi lên thăm Đền Hùng. Ngay từ dưới, chúng tôi đã phải leo ít nhất mấy chục bậc đá để được vào qua cổng chính, rồi từ đó đường lên mỗi lúc một cao. Khu du tích lịch sử Đền Hùng gồm tất cả bốn đền, một chùa và lăng các Vua Hùng. Bốn đền được chia ra như sau: ở thấp nhất là Đền Giếng, nằm bên phải của cổng chính nơi thờ hai bà công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con vua Hùng Vương Thứ Mười Tám. Nơi đây hãy còn chiếc giếng tương truyền hai bà công chúa đã sinh sống “nơi này” để phụng dưỡng vua cha. Tiến lên cao hơn là Đền Hạ, nằm lưng chừng núi, nơi tương truyền là địa điểm khởi đầu của vua Hùng xây dựng nơi cư trú và là nơi Mẹ Âu Cơ chuyển dạ sinh ra một bọc trứng nở thành một trăm con. Bên cạnh Đền Hạ có một ngôi chùa có tên là Thiên Quang Thiền Tự, chứng tỏ đạo Phật từ Thiên Trúc hay Trung Hoa đã truyền vào nước ta từ những năm mới lập quôc. Phía trước chùa là Tháp Sư nơi an táng các vthiền sư trụ trì tại chùa này. Bên cạnh Tháp Sư còn có gác chuông nơi còn lưu giữ được nhữn quả chuông cổ kính. Cứ theo con đường trôn ốc tiến lên theo các bậc đá, chúng tôi đã lên Đền Trung. Đây chính là nơi làm việc, hội họp của triều đình các Vua Hùng cùng với bá quan, các lạc hầu, lạc tướng. cũng tại nơi đây. Cũng tại nơi đây đã xảy ra sự tích Liêu lang, người con trai út của Vua Hùng Vương thứ IV dâng bánh dày, bánh trưng lên vua cha nhờ đó mà được lên ngôi. Vì Vua Hùng Vương thứ Mười Tám không có con trai nối dõi làm vua mà chỉ có hai nàng công chúa, nên vua cha đã truyền ngôi lại cho Thục Phán và chấm dứt mười tám đời Hùng Vương. Tuy nhiên, sau đó người dân vẫn một lòng tưởng nhớ công ơn của các Vua Hùng và lập thành “Hùng Vương Tổ Miếu” tại nơi Đền Trung, để thờ các Vua Hùng.
    Rời Đền Trung, chúng tôi tiến lên Đền Thượng nằm nơi cao nhất của Đỉnh núi Hùng. Tại đây có “Kính Thiên Linh Điện”, miếu thờ Trời. Các Vua Hùng lập nên miếu này để tế trời đất. Nơi đây cũng có miếu thờ Thần Nông hay Thần Lúa và tương truyền có một di tích cổ tuyền lại là một vỏ trấu khổng lồ to bằng một chiếc thuyền thúng vẫn để thờ tại miếu này nhưng rất tiếc đã bị mất cắp vào thời kháng chiến chống Pháp. Lại có đền thờ Thánh Gióng đời Vua Hùng Vương Thứ Sáu, một vị tướng Trời sai xuống để đánh đuổi giặc Ân. Ngòai ra hai trụ đá với lời thề sẽ duy trì đền thờ mười tám đời Vua Hùng của Thục Phán sau khi được Vua Hùng Vương Thứ Mười Tám truyền ngôi và Thục Phán lại mời dòng tộc nhà vua đến lập nghiệp ở chân núi và giao cho việc phụng sự thờ cúng các vua. Sau đời Thục Phán dân chúng địa phương vẫn giữ tục lệ tế lễ giỗ bái các Vua Hùng vào dịp giỗ Tổ tháng ba. Thời gian trải qua đã gần hai ngàn rưỡi năm, nhưng các danh xưng của mười tám đời Vua Hùng, các nơi danh lam thắng cảnh, các đền miếu tôn kính các vị vẫn còn và đã được tu bổ nhiều lần.
    Tôi đã đến trước mộ Vua Hùng Thứ Sáu để kính bái. Ngài chính là vị Vua đã cùng tướng nhà Trời là Phù Đổng Thiên Vương đánh đuổi giặc Ân bảo toàn lãnh thổ. Sau khi giặc tan, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa về trời tạ ngọn Sóc Sơn thì nhà vua cũng lên ở tại đền này cho đến khi Ngài cởi long bào từ bỏ ngai vàng, hóa thân tại đây và được an táng tại đỉnh Núi Hùng này.
    Hiện nay còn rất nhiều các dấu chứng cho biết Đền Hùng và các Vua Hùng là những chứng tích lịch sử, nhân vật lịch sử chứ không phải truyền thuyết, thần thoại. Hằng năm cứ vào khoảng tháng ba âm lịch, có lễ giỗ Tổ Hùng Vương. Ban đầu, lấy ngày 12 tháng 3 là ngày giỗ của Vua Hùng Thái Tổ là Kinh Dương Vương. Về sau đến đời nhà Nguyễn, đã đổi lại, lấy ngày 10 tháng 3 làm ngày giỗ chung cho cả mười tám vua hùng.
    Theo tục lệ từ xưa thì hằng năm đều có lễ giỗ. Nhưng cứ năm năm một lần có đại hội tổ chức lễ giỗ tổ do nhà vua đứng tế. Cứ vào ngày giỗ, người trưởng tộc của dòng họ Vua Hùng năm đó sẽ được lệnh vào kinh đô để lãnh ba đấu gạo nếp lớn đem về thổi xôi dâng cúng các vua. Trong suốt tuần lễ tổ chức đại hội đại hội, các nơi dân cúng đều tề tựu, có các cuộc lêc liên tiếp diễn ra trong các ngày này: nào rước kiệu, các ban nhạc hòa tấu, các trò chơi như kéo co, chọi gà, đô vật, tuồng chèo, thi nấu cơm, thi hát đối… ngoài ra còn có các cuộc lên đồng, bói toán, xin xâm, đoán kẻ… và cờ bạc. quả là một ngày Đại Hội Vui Xuân của cả nước.
    Nói về Đền Hùng và đại hội giỗ Tổ mà không đề cập đến các sự tích lạ lùng được truyền tụng qua nhiều đời, nhiều thế hệ… là một thiếu sót. Quả vậy, các cụ xưa có câu:
    Trăm năm bia đá thì mòn
    Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
    Quả vậy, nhiều người chỉ tin vào các chứng cớ vật chất như bia ký, sách vở, văn tự, nhà của, lăng đền hay các dụng cụ còn lưu lại để tin sự hiện hữu của một biến cố lịch sử, tuy nhiên các vật dụng vật chất này có thể mai một dễ dàng. Nếu chúng ta hiểu được sự trường tồn của linh hồn và tất cả hình ảnh âm thanh in trong linh hồn, trong tâm trí thì chúng ta sẽ hiểu được giá trị của truyền thuyết. Sự sống còn của một biến cố lịch sử sẽ tồn tại mãi mãi tại nơi nó đã xảy ra nếu người ta biết xử dụng khả năng của các huệ nơi ngũ quan. Kết quả. Kết quả hiện nay của máy điện tử chính là mô phỏng theo sự cấu tạo và công dụng của các té bào não trong đầu óc con người. Bao quanh chúng ta không phải chỉ bầu khí quyển chứa đựng làn dưỡng khí hữu hình để duy trì sự sống của các vật hữu hình mà còn có nhiều tầng lớp thanh khí vô hình ở các tần số rung khác nhau. Khi một biến cố xảy ra tuy thuộc thế giới hữu hình nhưng cũng gây ra sức rung ảnh hưởng và in vào trong các tầng thanh khí giống như làn âm thanh hay hình ảnh màu sắc in vào trong băng tần từ khí của máy ti vi, máy âm thanh… Âm thanh, màu sắc,hình ảnh được thể hiện bằng các tần số rung và ghi sâu vào các tầng thanh khí và tồn tại mãi mãi. Khi nhân loại tiến bộ cao hơn về mặt Tâm Linh, các Huệ Năng của họ được phát triển sâu rộng nơi nhiều người thuộc thế hệ mai sau thì việc xem lại, đọc lại các biến cố ghi trên tầng thanh khí là việc phổ cập khồn có gì là bí ẩn cả. Tương tự như nhân loại thuộc thé kỷ trước sẽ ngỡ ngàng khó hiểu, hoặc khó tin ở những thành quả của khoa học điện tử ngày nay. Điều quan trọng là chúng ta có tìm cách để phát huy được các khr năng tâm linh để nhận biết rằng vậy chất hữu hình của thế giới này chỉ là hư ảo chóng qua, chỉ có con người với sự cấu tạo đặc biệt bằng các tế bào sống là có khả năng tiến hóa đạt đến tình trạng trường tồn, vĩnh cửu giống như các vị thần linh.
    Nói về truyền thuyết, tức là các câu chuyện lạ được truyền tụng trong dân gian, thì đời Hùng Vương có khá nhiều. Trước hết là truyền thuyết về bọc trứng của Mẹ Âu Cơ đẻ ra nở thành trăm con trai. Ít lâu sau thì Cha Rồng (Lạc Long Quân) và Mẹ Tiên (Âu Cơ) chia tay nhau đem theo mỗi người năm mươi con. Lạc Long Quân để lại con cả cả là Lân Lang ở lại làm vua lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang còn Lạc Long Quân đem theo bốn mươi chín người con xuống đồng bằng lập nghiệp. Mẹ Âu Cơ thì đem đủ cả năm mươi con lên vùng núi. Tên của trăm người con trai của dòng họ Hùng đều có ghi chép đầy đủ trong phả lệ. Tất cả là con trai nên đều gọi là Lang.
    Tôi tò mò tìm đọc một số tài liệu nơi nhà bảo tàng của Đền Hùng thì thấy có ghi chép đủ cả trăm tên chia thành hai ngành. Những người con theo cha gồm bốn mươi chín người có tên là: Xích, Quynh, Mật, Thái, Vĩ, Huân, Yên, Tiên, Diên, Tích, Tập, Ngọ, Cấp, Tiến, Hộ, Thục, Khuyến, Chiêm, Vân, Khương, La, Tuần, Tân, Quyền, Đường, Kiều, Dũng, Ác, Tảo, Liệt, Ưu, Nhiễu, Lý, Châm, Tường, Chóc, Sáp, Cốc, Nhật, Sái, Chiêu, Hoạt, Điển, Tràng, Thuận, Tâm, Thái, Triệu, Ích. Còn năm mươi con trai theo Mẹ lên núi có tên là: Hương, Kiểm, Thần, Văn, Vũ, Linh, Hắc, Thịnh, Quân, Kiêm, Tế, Mã, Chiến, Khang, Chính, Dào, Nguyên, Phiên, Xuyến, Yến, Thiếp, Bảo, Chừng, Tài, Triệu, Cố, Lưu, Lô, Quế, Diêm, Huyền, Nhị, Tào, Nguyệt, Sâm, Lâm, Triều, Quán, Cánh, Ốc, Lôi, Châu, Việt, Vệ, Mãn, Long, Trinh, Tòng, Tuấn, Thanh.
    Nghiên cứu một trăm tên gọi của các con Lạc Long Quân và Â Cơ, chúng ta thấy rất nôm, rất Việt mà ngày nay dân chúng Việt Nam cũng thường dùng để đặt tên cho con cái. Như vậy, sự tích Mẹ Âu Cơ có đẻ một bọc trứng nở ra một trăm con không phải là truyện hoang đường, thần thoại.
    Một tài liệu khác cho biết khá chi tiết về cuộc đời của mỗi vị Hùng Vương, tên Húy, tên Hiệu,, và số tuổi thọ, số con cái và số năm trị vì. Thí dụ như vua Kinh Dương Vương tên Húy là Lộc Tục, tuổi thọ hai trăm sáu mươi tuổi, trị vì được hai trăm mười lăm năm, có hai mươi bốn con trai và hai mươi con gái. Vua Lạc Long Quân, tên Húy là Sùng Lãm, thọ năm trăm lẻ sáu tuổi, trị vì được bốn trăm năm, có một trăm tám mươi sáu con trai (tức là sau đó Mẹ Âu Cơ hay các tì thiếp của vua đã sinh thêm tám mươi sáu con trai nữa), con gái có hai mươi chín người. Riêng Vua Hùng Vương Thứ Mười Tám, Húy là Huệ Lang, thọ hai trăm hai mươi mốt tuổi, trị vì được một trăm năm mươi năm, có hai mươi con traivaf sáu con gái nhưng tất cả các hoàng nam đều chết yểu, sáu con gái cũng chết bốn chỉ còn lại hai công chúa là Tiên Dung, sau lấy Chử Đồng Tử và Ngọc Hoa lấy Sơn Tinh tức Thần Núi Tản Viên. Cuối cùng vua phải truyền ngôi cho Thục nPhans, tức là An Dương Vương, hiện có lăng mộ tại Thanh Hóa gần bên lăng miếu của Bà triệu.
    Tiếc rằng chúng tôi không có nhiều thì giờ ở lại để nghiên cứu cặn kẽ hơn đành phải đợi một dịp khác. Khu di tích lịch sử Đền Hùng có một đặc điểm là lên một phía và khi xuống thì xuống phía bên kia núi. Xe đã chạy vòng qua chờ sẵn chúng tôi lên đường trở lại Hà Nội trước khi trời tối.
    Trong cuộc viếng thăm các nơi Linh Địa, có lẽ Đền Hùng là nơi tôi học hỏi được nhiều điều mới lạ về sự tích của Tổ Tiên Lạc Hồng. Nhân vật duy nhất mà tôi có duyên gặp gỡ là Vua Hùng Vương Thứ Sáu, khi tôi đến đốt nhang khấn vái trước mộ Ngài. Quả thực Vua Hùng vẫn ngự trị tại đây mặc dù dưới hình thức siêu hình. Ngài an ủi tôi là đất nước sắp đến ngày vinh quang. Sẽ có một người con dân được sắc phong làm Hoàng Tử, vị này sẽ Lãnh Đạo Đất Nước trở lại thể chế ngàn đời của dân tộc, trở lại Vương Quốc chứ không còn đường lối dân chủ như hiện nay. Tôi bồi hồi xúc dộng muốn biết vị Hoàng Tử ấy là ai nhưng Ngài không ho biết vì “Thiên cơ bất khả lậu”.
    Đây là đêm cuối cùng chúng tôi ngủ lại thủ đô. Tôi dành ngày mai đi thăm viếng một số nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên. Ngõ Huyện vẫm còn ở đây ở ngay phía bên phải Nhà Thờ Lớn. Tôi sinh ra tại căn nhà trệt ở giữa ngõ. Gọi là ngõ hay hẻm vì trước cửa chỉ là con đường nhỏ cho người đi bộ và đi xe đạp, xe hơi không vào lọt. Ngõ ăn thông vào cửa hông bên phải của khuôn viên nhà thờ. Tôi và anh tôi vẫn hàng ngày đi qua để đến trường Dũng Lạc. Ngôi trường đầu tiên dạy cho tôi học vỡ lòng. Kia là phố Nhà Thờ, một con đường ngắn trổ thẳng vào trước cửa chính của nhà thờ. Hai bên là hai dãy phố có một quán nhảy đầm. Thỉnh thoảng tôi có đi qua nghe tiếng nhạc xập xình, bên trong các cô gái nhảy cặp kè với các khách hàng, đa số là các ông Tây. Thỉnh thoảng cũng thấy có một vài người Việt nhưng Âu Hóa từ bộ y phục, tóc tai, và cách ăn nói. Sau gần sáu mươi năm, nay trở lại, quán ấy vẫn còn sinh hoạt, nhưng chắc đã bao lần đổi chủ. Đường Lý Quốc Sư chạy ngang trước cửa nhà thờ, nối liền với phố nhà chung. Nay vẫn thế, ngôi chùa cũ kỹ, phía trước có một phông tên nước, căn nhà của ông bà Ký Kèn, căn nhà của cậu Cử vẫn còn đó, mặc dù gia đình đã vào Sài Gòn từ năm 1954. Phía bên phố nhà chung có nhà ông bà Ký Dong, có cổng vào nhà chung, có dòng các bà phước. các căn phố vẫn còn nguyên không có gì thay đổi. Có lẽ chỉ có người ở trong đó là đã thay đổi. Tôi vòng ra phố Hàng Bông nơi có căn nhà nhìn thẳng ra bờ hồ, bố tôi thuê làm gara sửa xe, phía trước có đường xe điện chạy qua. Tôi đi dạo một vòng quanh hồ, bụi cây dương liễu vẫn đứng đó buông lá theo chiều gió. Tôi bước qua cầu Thê Húc, vẫn một màu sơn đỏ chót, để vào Đền Ngọc sơn. Nơi đây có bàn thờ Quan Vũ và hai đệ tử Quan Bình và Châu Xương. Ngay giữa sảnh đường là một hộp kính lớn trong chứa đựng xác một con Rùa Vàng lớn bằng mặt bàn. Người giữ đền cho biết Rùa Vàng đã chết và nổi lên cách đây ba năm, xác nó được ướp thuốc và lưu giữ tại đây cho khách tham quan chiêm ngưỡng. hôm nay có nhiều nhóm du khách ngoại quốc do nhiều người hướng dẫn líu lo nói tiếng Anh với giọng điệu phương. Thấy không khí ồn ào, tôi lặng nlex bước ra ngoài sân đền tìm một ghế xi măng ngồi nghỉ chân, cũng từ chỗ này nhìn ra mặt nước Hồ Hoàn Kiếm, vẫn một màu xanh rêu như thuở nào, xa xa là Tháp Rùa, đã trải qua biết bao phong sương của thời gian từ ngày Rùa Vàng nổi lên trả kiếm cho Vua Lê để rồi từ đó hồ mang tên là Hoàn Kiếm. Tôi mơ màng đi vào giấc mộng, bỗng tôi thấy hiện ra trước mặt một lão ông râu tóc bạc phơ, tay chống gậy, nhìn tôi mỉm cười. Tôi vội đứng dậy chào cụ. Cụ bảo tôi cứ ngồi, rồi thản nhiên ngồi xuống trên ghế băng cạnh tôi.

    – Cháu có biết ta là ai không?
    – Thưa cụ không, xin cụ cho biết quí danh.
    – Chúng ta đã có đôi lần gặp gỡ, chắc cháu quên rồi đó.
    – Vâng, quả thực cháu không nhớ đã gặp cụ ở đâu.
    – Chính ta đã đến giúp cho cháu dẫn giải về bốn câu vè của ta:

    Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
    Can qua xứ xứ động đao binh
    Mã Đề, Dương Cước anh hùng tận
    Thân, Dậu niên lai kiến thái bình…

    – Ồ, té ra là cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cháu xin thất lễ.
    Tôi sực nhớ cách đây ba năm có một vị trong cõi siêu hình đã đến dạy tôi viết bài dẫn giải về bốn câu sấm trên và Có gửi Đăng trên vài tờ báo Việt như VN Tiền Phong và Hương Quê. Thì ra chính tác giả đã dạy tôi cách dẫn giải bốn câu sấm bí ẩn này.
    – Nhưng hôm nay ta cần gặp con để có lời cải chính vì có thể hy vọng hai câu đầu sẽ không ứng nghiệm nữa. Cơ trời đã biến dổi kể từ năm Canh Thân (1980)
    Rồi cụ trầm ngâm, gật gù cái đầu bạc ra chiều thích thú:
    – Phải, kể từ lúc Đức Chúa Bà (Đức Mẹ Maria) chấp nhận sứ mạng trên Thiên Đình thiết lập nền Hòa Bình Thịnh Trị trên địa cầu bằng phương pháp “bất chiến” thì tất cả cơ trời đã xoay chuyển hết. Đức Bà muốn dùng tình Mẫu Tử của Bà để hoán cải nhân loại và không muốn dùng hình phạt chiến tranh, thiên tai để đánh phạt nữa. Từ sau đó, đã bao lần ngòi chiến tranh thế giớ muốn nổ tung (như cuộc chiến vùng vịnh, Mexico, cuộc chiến ở Kosovo, cuộc tranh chấp ở Palestine…) nhưng đã được Đức Bà dập tắt. Người con cưng của Đức Bà là vị đương kim giáo chủ của con người đã được cứu sống sau một cuộc ám sát. Vị này sau khi bình phục đã can đảm thi hành theo các chỉ thị của Đức Bà đã dạy ở Fatima, Bồ Đào Nha mà từng bước ổn định giáo hội của mình. Cũng do đó mà các kế hoạch của kẻ thù đã bị liên tiếp phá vỡ. Thật là vinh hạnh cho dân tộc ta được Đức Bà chọn làm khởi điểm. Cho nên cũng từ ngày đó, cuộc sống của đồng bào đã được cải thiện, sự cùm kẹp, ức hiếp, của kẻ cai trị đã được nới rộng. nhất là những nạn nhân phải chịu cảnh tù đày trong tuyệt vọng, vậy mà đã được phóng thích, lại còn được ưu đãi đem gia đình đến những nơi an toàn sung sướng hơn… trong nước thì các tầng lớp dân chúng đều được tự do hơn, có cơ hội lập nghiệp và xây dựng mái ấm gia đình của mình. Những nạn nhân của chế độ, sau khi đã được cứu thoát, song vẫn còn nuôi lòng “thù hận” muốn tìm cách báo oán nhưng Đức Bà đã không đồng ý. Vì vậy, tất cả các (sát tinh) đã được sai xuống để đánh phạt các kẻ ác tâm nay đã bị rút về và được thay thế bằng các (thiện tinh). Chỉ có những ai có lòng từ ái, quảng đại, tha thứ và sẵn sàng tuân hành theo kế hoạch của Đức Bà thì mới được Đức Bà sử dụng.
    Tôi ngắt lời cụ:
    – Nếu vậy, hai câu sấm sau:
    Mã Đề,Dương Cước anh hùng tận
    Thân, Dậu niên lai kiến thái bình
    Sẽ còn ứng nghiệm không? Và làm thế nào để đất nước ta sẽ có thể trở lại vương quốc. Con cháu nhà Nguyễn đâu còn ai xứng đáng để toàn dân suy tôn lên làm vua?
    – Vương quốc đây không hiểu theo nghĩa trần gian, phàm tục.
    Suy tư đắn đo cụ Trạng đã tiết lộ:
    – Phải trong nay mai, một con dân họ Nguyễn sẽ được tôn phong làm Hoàng Tử. Vị này đã được xức dầu. Chính nhờ vị này mà mọi người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, phe tả cũng như phe hữu đều mến phục, đoàn kết lại. Con còn nhớ ta có câu sấm:
    Có thầy nhân thập đi về
    Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh
    Những người phù giúp thánh minh
    Quần tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai/.
    Đấy đấy, câu này sẽ ứng vào vị này: “Nhân Thập” có hai ý nghĩa: người đeo Thập Tự ở cổ và cũng là người nhân nghĩa thập toàn. Vị này sẽ bị đẩy đi rồi sau sẽ tự mình tìm về, vai trò của vị ấy sẽ phải đi đi về về để mà cứu dân cứu nước. Thôi, ta chỉ cho con biết bấy nhiêu, kẻo lại bị tội vì tiết lộ thiên cơ.
    Tôi cố kèo nài:
    – Cụ có thể cho con biết rõ hơn chút nữa vị đó là ai không? Bao giờ thì xuất hiện?
    – Không lâu đâu, chỉ bằng giờ năm sau là con sẽ hiểu ra vị ấy là ai. Thôi nhé, ta phải đi rồi.
    Tôi giật mình thức giấc, các em tôi không thấy tôi ở trong đền nên bổ ra đi tìm. Họ đánh thức tôi dậy sau một giấc chiêm bao đầy lý thú. Tôi bồi xúc động, thầm cảm ơn Quan Trạng rồi lặn lẽ theo các em ra xe tiếp tục cuộc thăm viếng thành phố Hà Nội.
    Em họ tôi đề nghị: “hay là mình đi thăm lăng Bác Hồ?” Tôi từ chối khéo: “Hình như lăng đó đang đóng cửa để tu sử lại. Mục đích của chúng ta là đi thăm các nơi Thánh địa, Linh Thiêng lâu đời, còn ‘Lăng Bác’ chỉ có cái xác ướp nằm đó thôi, linh hồn đâu có ở đó mà mong được gặp…”
    Chúng tôi đi ra đường Cổ Ngư thăm Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch, ghé chợ Đồng Xuân ăn cơm trưa rồi thuận đượng đi về Ninh Bình thăm quê ngoại ở Phát Diệm.

  143. chinhkie permalink

    Chương IX trong cuốn ĐỊA LINH NHÂN KIỆT còn nói về Vua Hùng Vương thứ VI và nói về Trạng TRình và Nhân Vật Thiên Tử

  144. chinhkie permalink

    Chương VIII – Động Hương Tích
    Hà Đông

    Hương Tíchà một thắng cảnh nổi tiếng nhất ở Việt Nam từ bao ngàn qua. Nhiều danh hào đã đề thơ vịnh cảnh này, như cụ Tiến Sĩ Chu Mạnh Trinh đã gọi Hương Sơn là Đệ Nhất Động trong bài hát nói của ông:

    Bầu trời cảnh Bụt
    Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu này
    Kìa non non nước nước mây mây
    Đệ nhất động hỏi rằng đây có phỏng?
    Nguyễn Nhược Pháp cũng có bài thơ “Đi Chùa Hương” tuyệt diệu, các nhạc sĩ sau này đã phổ nhạc và hầu như mọi người Việt đều biết và khen ngợi.

    Động Hương Tích thuộc Huyện Mỹ Đức – Phủ Ứng Hòa Tỉnh Hà Đông, cách làng Vân Đình, quê nội của tôi độ mười lăm cây số. Có hai phương tiện để đến động Hương Tích, bạn có thể ngồi đò dọc để đi theo song Đáy rồi đến thẳng Bến Yến; hoặc có thể ngồi xe đò, hay xe nhà chạy trên các hương lộ để cũng đến Bến Yến, rồi từ Bến Yến bạn phải ngồi thuyền nhỏ do các cô lái đò chèo vào động. vì dòng suối rộng, dưới đáy lại có nhiều đá ngầm và rong rêu nên thuyền không thể dung máy đuôi tôm vì dễ bị rong rêu cuốn vào chân vịt. Thuyền làm bằn tôn, sắt hàn lại, nhờ đó dù thuyền cóa chạm đá ngầm hay va vào mỏm đa bên bờ động cũng không bị thủng. vì là thuyền chèo nên đi hơi chậm, phải mất một giờ rưỡi từ Bến Yến mới vào tới động. Đã từ lâu lắm hôm nay tôi mới lại có dịp để thả thuyền trên dòng nước lững lờ. từng đoàn thuyền nhẹ lướt trên song êm ả nối đuôi nhau vòng vèo theo dòng suối chảy quanh ven núi. Mọi người đều lặng thinh, ngước nhìn bầu trời xanh trong mát. Thỉnh thoảng có một vài thiếu nữ tinh nghịch buông đôi chân trắng ngà, thả trôi trên nước, tạo thành những gợn song nhẹ từ từ dội vào hai bên bờ suối. các cụ bà luôn miệng tụng kinh Nam Mô A Di Đà Phật. Ven bờ suối thỉnh thoảng bắt gặp một đàn vịt trắng phau, có xen một hai con lông màu đang chổng đuôi cắm sâu đầu mò dưới nước. Nước khá sâu nên khó khăn lắm mới có chú vịt may mắn bắt được một con tép nhỏ hay một con cá con. Nó vội chạy lui ra xa bầy rồi ngửa cổ lên, hai mỏ cạp cạp cho con mồi vào sâu trong cổ họng. Khi đã yên trí con mồi vào lọt trong bao tử, chú vịt ta mới lặng lẽ bơi lại nhập đoàn như một chú bé ăn vụng chiếc kẹo vừng, cố nhai tóm tém rồi nuốt vội để che giấu không cho bạn biết để đòi chia phần.
    Động Hương Tích tọa lạc trên một dãy núi trùng điệp. Chung quanh chân núi là làn nước bạc bọc quanh. Không có con đường bộ nào đưa ta vào động nếu không ngồi thuyền vòng vèo chạy theo khe suối. Thỉnh thoảng mới gặp một gò đất nhỏ như một hòn đảo cô quạnh ở giữa biển khơi, trên đó thấp thoáng chừng mười nóc nhà. Nhưng dân cư ở đây sống biệt lập và phải dùng thuyền để đi lại. Tôi có cảm tưởng mình lạc vào vùng Lương Sơn Bạc bên Trung Quốc. Bốn bể là nước, chỉ có hàng lau thưa mọc ngầm từ dưới khe tạo thành những thủy đạo như các mê lộ rất dễ lạc lối nếu không được sự chỉ dẫn của người địa phương.
    Sát bên núi dẫn lên cửa động là một bến đò. Nơi đây thật là yên tĩnh, vì thuyền đã giảm tốc độ, nối đuôi nhau từ từ cập bến. Làn nước trong xanh có thể nhìn thấy rõ dưới đáy khe. Có lẽ vì đây là địa giới của cảnh thần tiên, nước từ trên núi đárỉ rả chảy xuống trong mát. Khách hành hương đã sửa lại y trang. Ai nấy đều lặng thinh, đi trong trầm tư mặc tưởng. Gặp người quen chỉ khẽ cúi đầu chào hoặc niệm Nam Mô một cách thì thầm như sợ phá tran bầu không khí linh thiêng của chốn này. Có lẽ vì vậy mà người dân địa phương gọi bến đò này là Bến Trong, nơi đây cái gì cũng trong sạch, thanh tịnh, con người đến đây như trút bỏ được mọi sự trần tục của cuộc sống. trái lại Bến Yến thật ồn ào náo nhiệt khách hành hương tấp nập từ xa về mang theo tất cả những thứ trần tục ô trược của xã hội phồn hoa, có lẽ vì vậy mà người ta gọi là Bến Đục. Bến Đục luôn ồn ào vì cảnh chợ búa, ồn ào vì cảnh giành khách, mời khách, và cũng ồn ào vì khách thập phương gặp gỡ chào hỏi, trò truyện huyên thuyên.
    Từ Bến Trong bạn phải chuẩn bị leo lên núi gồm nhiều bậc đá được dựng vào sườn núi. Đường đi quanh co.
    Hương Tích bao gồm nhiều chùa, miếu, đền và hang động. Nơi bao gồm được cả ba tôn giáo lớn thời xưa: Phật, Lão, Nho. Những cảnh chùa thì theo nghi lễ của Phật Giáo, thường có sự cầu cúng, tụng niệm. Các đền miếu thì theo Lão Giáo với các lễ nghi lại có các bài văn, bài thơ vịnh cảnh Hương Tích của các nho gia từ vua cho đến các bậc văn sĩ, thi sĩ.
    Cuộc sống tinh thần của người Việt xưa thường có sự pha trộn các ý niệm tôn giáo. Khách hành hương khi đến viếng Hương Tích đều thi hành cả ba nghi lễ. Họ trước tiên vào chùa đốt nhang niệm Phật. Sau thì đến các đền miếu để xin quẻ, xin xăm (xâm), hoặc tham dự những cuộc lên đồng. Rồi thả bộ vòng quanh tìm kiếm các bia ký để thưởng thức các bài thơ văn của các văn hào xưa. Sau này khi Đạo Thiên Chúa truyền vào Việt Nam thì cũng có những tín hữu mặc dù theo luật Đạo vốn cấm các tín hữu không được cúng bái, xem bói, lên đồng… nhưng họ vẫn lén lút tham dự, nhất là vào các dịp đặc biệt như ngày hội, ngày tết và gặp lúc cuộc sống có nhiều trắc trở, khó khăn.
    Động Hương Tích thật là hùng vĩ, chia làm nhiều quả núi, đường đi càng cao càng khó khăn. Muốn đi từ chân núi lên cho đến đỉnh cao nơi có Chùa Hương Tích, bạn phải mất ít ra ba giờ đi bộ và dừng ngồi lại nghỉ lâu ở các chặng đường. Ba giờ lên, ba giờ xuống, tổng cộng sáu giờ. Vậy bạn khởi hành từ Bến Đục hay Bến Yến từ sáng sớm để có thể bắt đầu leo núi vào lúc tám giờ sáng khi mặt trời còn mát dịu không thì mồ hôi chảy ra sẽ làm bạn mệt, nhất là từ lâu ít đi bộ, ít leo trèo như các vị Việt Kiều từ ngoại quốc về. Sau ba giờ leo núi, bạn phải có thì giờ ở lại mỗi chùa, đền, miếu để vãn cảnh và nghỉ ngơi. Bạn phải chuẩn bị xuống núi ít ra từ lúc hai giờ chiều để có thể kịp chuyến đò từ Bến Trong trở lại Bến Đục vào lúc sáu giờ chiều. Nhiều người ở xa muốn viếng Hương Tích cho đầy đủ, họ phait ngủ đêm tại khách trọ ở Bến Yến, rồi thuê đò vào Huong Tích ngay từ mờ sáng để có thể lên tới đỉnh núi vào lúc chín giờ. Nhờ đó họ có cả một khoảng thời gian dài từ chín giờ sáng đến hai giờ chiều để đi tham quan các chỗ. Chúng tôi không biết trước nên không ước lượng được thời gian vì vậy khi đến Bến Yến thì trời đã gần trưa. Thời gian leo núi chỉ còn ba giờ thành ra không dám leo lên tới đỉnh. Vả lại tuổi già sức yếu, gối đã mỏi, chân đã chồn nên ở mỗi chặng phải ngồi ngỉ khá lâu. Tuy nhiên, theo lịch trình của chuyến công du, thì Hạ Long cũng như Hương Tích chỉ là nơi tôi đến để tham quan chứ không có vị nào cần phải hội ngộ. tôi cũng ngạc nhiên là ở tại thủ đô, tôi chỉ được yêu cầu đến Đền Hùng để gặp Vua Hùng Vương Thứ Sáu mà mộ Ngài vẫn còn chôn tại đó, còn các nơi khác, theo tôi nghĩ, tôi cũng phải đến như Đền Hai Bà Trưng, Đức Thánh Trần Hưng Đâọ. Các vị này cũng là những người có công chống ngoại xâm, bảo vệ giang sơn Việt Nam. Tôi định bụng khi trở lại La Vang sẽ trình lên Đức Trinh Vương.
    Rời Động Hương tích, tôi ghé làng Vân đình, quê nội của chúng tôi. Vân Đình là một làng nhỏ nằm bên bờ Sông Đáy. Làng này đã có từ lâu đời, ngày còn nhỏ tôi đã về sống ở đây với bà nội tôi. Vào thập niên ba mươi, làng đã có nhiều nhà ngói xây cất khang trang. Lối vào làng đổ đá tuy chưa được tráng nhựa, còn các lối đi trong làng đều lót gạch. Nhà nào cũng có cổng xây, có tường lũy bao bọc. phần đông được xây cất theo một kiểu giống nhau: cổng thường làm bằng gỗ, hai cánh vào qua cổng là một sân gạch khá rộng. phía trước sân là một bể xi măng để chứa nước mưa xử dụng quanh năm cho gia đình. Hai bên bể nước là hai mảnh vườn nhỏ trồng bông. Nhà thường có ba gian chính và hai bên chái. Gian giữa lập bàn thờ gia tiên, phía trước có mành mành, hai gian bên thường là hai buồng ngủ. chái bên phải là chỗ để cối xay và cối giã, phần cửa thông ra vườn sau. Làng tôi không có nhiều ruộng thành ra đa số đều sống bằng nghề buôn bán. Nhiều người có thuyền đi buông bán ở xa. Những người ở nhà thì chuên nghề dệt lụa. Lụa Hà Đông nổi tiếng là vì các làng quanh vùng cung cấp. Nhiều gia đình cũng nuôi mộng công danh cho con cái đua đòi nghiên bút. Dòng họ Dương liên tiếp hai khoa có con đậu tiến sĩ đó là hai anh em cụ Dương Lâm và Dương Khuê. Cụ Dương Lâm làm quan ở ngoài Bắc còn cụ Dương Khuê thì vô Huế làm quan. Các con cháu hai dòng họ này sau cũng có người hiển đạt. Ông nội tôi cũng là đồng môn với hai cụ Dương, nhưng thi cử lận đận sau về làng dạy học.
    Những hình ảnh trong ký ức thời thơ ấu về ngôi làng cũ vẫn sống động trong tôi. Đây là ngã tư Đình, cứ hai tuần một lần có phiên chợ. Những người ở xa gánh hàng về bán. Họ bầy ra hai bên lề đường trước các căn phố có cửa hàng. Thím ba tôi có cửa hàng bán vải tại đây. Tôi thường theo bà nội từ làng lên thăm chú thím vào những ngày có phiên chợ.
    Kia là chiếc đình làng, nơi hội họp của các vị chức sắc vào các dịp hội xuân, tết và họp việc làng. Tôi thường hay đến đó cùng các trẻ trong làng để xem đô vật, choi gà, chọi trâu vào các dịp hội xuân. Bên cạnh đình là chiếc ao sen rộng lớn, dân làng thường ra gánh nước về dùng. Con đường mòn có àng tre xanh dẫn vào làng vẫn còn đây. Một điều làm tôi kinh ngạc là đã sáu mươi năm trôi qua, làng tôi vẫn thế, không có gì thay dổi. Tôi rời quê nội vào năm mười một tuổi, nay tuổi đã gần bảy mươi mà được nhìn lại quê cũ vẫn nghèo nàn, đói khổ, những con đường, lũy tre, ao sen, đình làng, và các căn nhà gạch cũ kỹ vẫn còn đó, chỉ khá một điều là những người sống trong các căn nhà này nay đã ra người thiên cổ. Chúng tôi bốn anh em, tôi, em gái tôi và hai vợ chồng chú út cố đi lùng xem còn ai quen biết. Mãi sau mới gặp được vợ chồng chú em họ, năm nay đã hơn bảy mươi, có bốn người con đều đã có gia thất. Đây là gia đình duy nhất còn lại làng của dòng họ Trần. Chú thím đưa chúng tôi ra thăm mộ của bà hai và cô Xiêm. Cô Xiêm con gái út của ông nội tôi với bà nội hai. Cô bị lòa từ ngày còn trẻ và ở vậy cho đến khi qua đời vào năm chín mươi tư tuổi. Ông nội tôi có hai bà, bà cả sinh được ba con trai. Bà cả Ổn thì ở Ninh Bình, bố tôi là thứ hai thì ở Hà Nội, duy chú ba Minh thì ở lại Vân Đình. Cả ba anh em đều làm nghề sửa xe hơi và chạy xe đò. Điều hy hữu là hai bà sống chung vui vẻ với nhau dưới một mái nhà. Kể cả khin ông nội tôi đã mất, hai bà vẫn sống chung với nhau.
    Chúng tôi không có nhiều thì giờ để ở lại thăm hỏi các ông bà láng giềng vì phải về lại Hà Nội ngay chiều hôm đó để còn đi thăm Đền Hùng vào sáng hôm sau.

  145. chinhkie permalink

    Chương VII – Vịnh Hạ Long

    Nếu tìm hiểu theo ‎ nghĩa của tên gọi thì đây là một vịnh thuộc vùng biển phía Đông – Bắc Việt Nam mà có rất nhiều con rồng đáp xuống. không phải vô cớ mà các tổ tiên chúng ta đặt tên cho vịnh này là Hạ Long. Hạ Long cũng có nghĩa là con rồng ở dưới, con rồng dất, trong khi Thiên Long là con rồng ở trên trời.
    Về phương diện hữu hình thì Vịnh Hạ Long là một vịnh lớn chứa đựng cả mấy ngàn hòn núi đá vôi nhỏ bọc vòng quanh vịnh và rải rác hầu khắp mặt vịnh. Hòn núi này chắn gió cho hòn núi kia khiến cho mặt nước biển luôn phẳng lặng như mặt nước hồ. Tuy nhiên khi trời có giông bão lớn thì gió cũng làm cho mặt biển nổi sóng nhưng không đủ gây thiệt hại cho các thuyền bè đi lại.
    Về phương diện siêu hình thì nơi đây là chỗ hội tụ đầu tiên của Cha Lạc Long cùng với bốn mươi chín con từ giã Mẹ Âu Cơ để xuống ven biển lập nghiệp. Hiện nay các nhà khảo cổ học đã tìm được nhiều dấu tích của Tổ Tiên thời tiền sử đã tình sinh sống tại đây, lúc đó vịnh này vẫn còn là đất liền.
    Rời Hà Nội từ sáng sớm đi về hướng Hải Dương rồi rẽ về Bãi Cháy để xuống Hạ Long. Vào khoảng giữa trưa thì xe chúng tôi đến bến Hạ Long. Vì đã vào hè, các nơi du khách đổ về tấp nập vừa để nghỉ hè vừa thăm các di tích, thắng cảnh. Nhiều khách sạn các quán ăn đã được dựng lên vòng theo vành đai vủa vịnh. Bến đò đón khách đi tham quan các động trên vịnh cũng được tổ chức qui mô, thứ tự như kiểu tổ hợp taixi trên bờ. Muốn xuống bến đò phải mua vé. Ban tổ chức sẽ hướng dẫn bạn xuống một chiếc đò máy hoặc đi chung với các hành khách hoặc bạn có thể bao cả chuyến để chỉ gia đình hay đoàn mình đi thôi. Có hai loại tua: bốn tiếng hoặc sáu tiếng. Loại bốn tiếng thì có thể đi từ chín hay mười giờ sáng và về đến bến khoảng một hay hai giờ chiều. Còn loại sáu tiếng thì phải khởi hành từ tám giờ để trở về cũng khoảng bốn giờ. Theo đề nghị của tôi thì phái đoàn chọn đi loại bốn tiếng: khởi hành từ bến lúc mười giờ và sẽ trở về vào lúc hai giờ. Với tôi thì chỉ cần vào thăm độ một hay hai động là đủ, còn thì nên dành thì giờ để đi quan sát cảnh trí chung vịnh. Chúng tôi dự tính ngủ lại đêm ở Hạ Long, nên chưa vội mua vé xuống đò. Đàng khác trời đã trưa, các chuyến đò đều đã khởi hành, chúng tôi tìm chỗ ăn và khách sạn để trọ đêm. Có nhiều loại khách sạn, giá cả khá chênh lệch từ một trăm năm chục ngàn một phòng một đêm cho đến hai trăm năm chục ngàn. Chúng tôi chọn loại trung bình một trăm tám chục ngàn một phòng với tám giường chiếc. đây là loại khách sạn dành riêng cho gia đình công nhân muốn ra nghỉ vào lúc cuối tuần. Giá phải chăng so với các loại khách sạn có đủ tiện nghi như các khách sạn ngoại quốc.
    Thu xếp xong chỗ ngủ, chúng tôi thả bộ ra bãi biển dạo chơi. Các hàng quán, tiệm cơm, quán giải khát, quầy bán các món đồ mỹ phẩm, nghệ phẩm cho du khách mua làm kỷ niệm… đều do tư nhân kinh doanh rồi nộp thuế cho chính phủ. Các hình thức buôn bán theo các kiểu quốc doanh đã không còn. Trước khi có chương trình “cải cách theo kinh tế thị trường” thì các quán ăn, tiệm bách hóa đều do nhân viên nhà nước quản lý. Nhưng sau mấy chục năm cố gắng, gò ép, người dân vẫn không cảm thấy thích thú đi vào cách thức làm ăn buôn bán của chủ nghĩa xã hôi. Cái gì do tư nhân làm, tự quản cũng có thành quả tốt đẹp hơn là làm theo lối tập thể hóa. Nguyên nhân chủ yếu là tại con người chưa đạt trình độ lý thuyết Xã Hội Chủ Nghĩa, lấy xã hội làm căn bản chứ không phải cá nhân. Khi con người vẫn còn tư kỷ, còn lòng tham cá nhân muốn dành cho mình những gì tốt đẹp hơn: vợ tôi là nhất, con tôi là hơn cả, nhà tôi, tôi phải bảo vệ… thì không sao có thể áp đặt một chủ thuyết lấy xã hội làm căn bản được. muốn áp dụng được nếp sống theo Xã Hội Chủ Nghĩa cho một tập thể thì trước hết phải làm sao giúp cho tập thể này đạt tới một trình độ tiến hóa Tâm Linh cao hơn, biết quí trọng của giá trị tinh thần, của cuộc sống Tâm Linh, và nhận thấy rõ vật chất là đồ hư ảo, tạm thời, chóng qua. Khi họ đã hiểu được giá trị của đời sống Tâm Linh, đời sống tật, vĩnh cửu, trường tồn thì họ sẽ gạt bỏ được tham, sân, si. “Không tham cầu” thì không lập mưu kế để độc chiếm. Chiến tranh, đấu tố, mưu đồ nảy sinh cũng do lòng tham của một số người có tài mà ra. Lòng sân hận, ghen tức cũng là cái cớ cho những kẻ thua kém quyết tâm vùng lên tranh dành. Họ sẽ tạo ra nhiều lý do, nhiều thủ đoạn để trả thù, để chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thực tài, khồn ai ăn hiếp được họ. Sau cùng là lòng si mê, cuồng tín cũng là cái cớ cho thế giới trở nên xáp trộn, chiến tranh bùng nổ. Những người có lòng si mê về một chủ thuyết nào thường đi đến độc tài cố chấp và muốn bắt mọi người phải tin theo chủ thuyết mà mình đề ra. Những ai đạt đến giác ngộ, đã thoát khỏi vòng kiểm tỏa của tham, sân, si thì rất trọng sự tự do. Tự do cho bản thân mình cà tự do cho người chung quanh mình. Con người phàm trần, khi chưa giác ngộ thường hay quá khích rồi đi đến sự độc tài, độc đoán,: độc đoán với chính bản thân mình, độc đoán giữa vợ với chồng giữa cha mẹ với con cái, với hàng xóm láng giềng rồi khi có cơ hội, có điều kiện thì sẽ độc đoán với cả dân tộc, đất nước và nhân loại. Từ xưa đến nay, con người đã trải qua biết bao chế độ, biết bao chủ nghĩa nhưng vì “kẻ chủ xướng” chưa gạt bỏ dược tham, sân, si mà thành ra loài người vẫn luôn “Đau Khổ”, “chiến tranh”, “chém giết”, “cướp đoạt…”.
    Ngồi bên bờ đá ngắm khách du lịch ra vào tấp nập nơi hàng quán, nay đã trở thành hình thức tư doanh, tôi miên man nghĩ đến chuỗi ngày qua, nghĩ đến nỗi khốn khổ của kiếp người tại thế. Người ta chịu biết bao cơ cực, tủi nhục, vất vả suốt cuộc đời để rồi khi nằm xuống, đã chẳng đem đi được chút gì vì sự họ tìm kiếm chỉ là “những vật chất”, danh vọng, tiền của chóng qua, huyền ảo…
    Ánh tà dương đã xuống dần trên mặt biển. Cảnh trí tuyệt đẹp. Nhất là vào những ngày trời trong mây tạnh như hôm nay. Nhìn ra mặt nước mênh mông, xa xa những hòn núi đá vôi nhỏ mọc đầy trong vịnh trông như hàng ngàn co khủng long đang đắm mình trong nước, tôi mong cho tới sáng để đi thăm cảnh trí nơi danh lam thắng cảnh thuộc loại đệ nhất kỳ quan thế giới. Chỉ tiếc mình là dân tộc nghèo, hèn, thấp kém nên những gì của mình dù hay dù đẹp cũng bị thiên hạ xét đoán sai lệch, bỏ quên, ếm nhẹm.
    Mặc dù lạ giường, lạ chiếu, nhưng vì đường xa mệt mỏi nên chúng tôi đã ngủ một giấc ngon lành cho tới sang. Ăn điểm tâm xong, chúng tôi sửa soạn ra bến đò để đi thăm vịnh. Chúng tôi bảy người, bao luôn cả thuyền, vì vậy không mất thì giờ đợi cho thuyền đầy. Sáng hôm ấy trời trong, gió lặng, mặt biển chỉ có làn song nhẹ lăn tăn. Ió Đò máy chạy với tốc độ vừa phải như người đi bộ. Ngồi trên thuyền nhìn cảnh nước mênh mông, gió hiu hiu thổi, tôi thả tâm hồn về cõi xa xưa để hình dung ra nơi lập cư đầu tiên của going giống Lạc Long – Âu Cơ. Vì sự bất hòa của Mẹ Tiên (Chim) Cha Rồng mà thành ra gia đình phải chia lìa đôi ngả. những đứa con theo Mẹ lên Núi sau lập thành những bộ lạc người Thượng, còn những đứa con theo Cha xuống đồng bằng thì lập thành những xã hội của người Kinh. Tùy theo nhu caaufcuar cuộc sống mà mỗi dân tộc đã phát triển theo các chiều hướng khác nhau.
    Theo tua bốn giờ, chúng tôi chỉ đủ thời gian thăm hai động lớn: Đọng Thiên Cung và Động Đầu Gỗ, thì giờ còn lại thì đi vòng quanh các hòn núi, khe đá để nhìn chung cảnh trí của Hạ Long.
    Động Thiên Cung và Động Đầu Gỗ ở gần kề nhau. Từ bờ ra đến cửa động, thuyền đuôi tôm chạy chậm nên mất hơn một giờ. Khoảng gần trưa thì chúng tôi tới động. Đây là một hang động mới khám phá được cách đây chỉ có ba năm do người dân địa phương trong lúc kiếm củi, tình cờ phát hiện. Các nhà địa chất học cho chúng ta biết toàn bộ các núi rải rác trên Vịnh Hạ Long đều là loại núi đá vôi. Do vậy sẽ có rất nhiều hang động mà hiện nay chúng ta chưa tìm ra vì còn thiếu phương tiện và tiền bạc. Sự soi mòn của đã vôi do hiện tượng thạch nhũ đã tạo ra rất nhiều hang động trong mỗi quả núi và cũng nhờ sự tạo hình của thạch nhũ mà bên trong các hang động có rất nhiều hình tượng lạ lùng, kỳ bí. Động Thiên Cung là một động lớn vừa cao, vừa rộng lại khá dài. Vào trong mát lạnh như đi vào một hầm chứa băng đá hay có hệ thống máy lạnh. Tôi đã có dịp đi thăm nhiều hang động ở Mỹ. Nổi tiếng nhất là hang Mammouth Cave ở Louisville, Kentucky, nhưng so với Động Thiên Cung thì thua xa. Thua về kích thước rộng lớn mà thua cả về sự huy hoàng rực rỡ của cảnh trí trong hang do thạch nhũ tạo nên.
    Tôi lặng lẽ đi theo sát bên cô hướng dẫn viên để nghe những lời dẫn giải về các hình tượng tạo thành trên vách hang động. Đây là Cha Rồng ngũ sắc thân mình uốn khúc vắt ngược lên trần cao của nóc động với với vô vàn các vân trông như vẩy rồng. Kia là Mẹ Âu Cơ, với chiếc vú vĩ đại Mẹ đã nuôi cả trăm con sau ngày hạ sinh. Vây chung quanh Cha Rồng, Mẹ Chim là các đoàn thú vật đủ loại: nào voi, nào sư tử, nào lạc đà, ngựa… Theo lới cô hướng dẫn ví von thì đây là ngày đại hội bách thú về chầu Cha Rồng. Tôi sực nhớ đến khúc giao hưởng của Saint Saen: Le Carnival des animaux (đại hội quần thú). Với sức rung kỳ diệu của hang động hay là do sự ký ức hồi tưởng vì đã nghe khúc nhạc tuyệt vời của Saint saen mà tôi như nghe thấy muôn vàn tiếng kêu, gầm, hú của các loại thú vui mừng về chầu vua Lạc Long.
    – Chỗ kia là một dòng suối, tiếng cô hướng dẫn viên tiếp lời, có bầy tiên nữ trừ trời xuống tắm. Tắm rồi, các nàng hóa thành đàn hạc trắng bay về bồng lai.
    Còn nhiều, còn nhiều cảnh trí khác mà tôi muốn tự mình khám phá hay hình dung lấy mà không phải do người khác suy diễn hộ. Về mầu sắc thì tuyệt vời, ánh nắng và ánh đèn phản chiếu trên các giải thạch nhũ long lanh đủ màu của cầu vồng.
    Trên đây chỉ mới là hình ảnh và màu sắc, các bạn cần phait định tâm, định thần để lắng nghe những điệu nhạc du dương, lúc khoan thai, lúc dồn dập, lúc nhẹ nhàng êm ái, lúc rầm rộ nhộn nhịp… Tất cả tạo thành do tiếng gió luồn lách qua khe đá trong hang động. Ấy là chưa kể những hình ảnh và âm thanh siêu hình vẫn tồn tại mãi mãi nơi đây mà chúng ta chỉ có thể tiếp nhận được khi sử dụng huệ năng của ngũ quan.
    Rời Động Thiên Cung, chúng tôi đi bộ qua thăm Động Đầu Gỗ. Một cái tên thô sơ, bình dân có lẽ do những người địa phương đã đặt cho khi vừa khám phá được.
    So với Thiên Cung thì Đầu Gỗ không đẹp và huy hoàng bằng vì ít thạch nhũ và ít hình ảnh tạo thành trên vách.
    Hang Đầu Gỗ rộng và sâu hơn Hang Thiên Cung, nhất là chiều sâu của hang động. Bạn phải leo hàng mấy trăm bậc thang mới xuống đáy hang. Tôi tuổi già, sức yếu nhắm chừng chỉ có thể xuống mà khó có thể leo lên, vì vậy đành chỉ đứng ở trên cao mà nhìn các em tôi, tuổi trẻ sung sức, có thể leo lên một cách dễ dàng. Tuy vậy, nhiều em xuống rồi mà khi lên phải bò từng bậc!
    Trở xuống thuyền, chúng tôi lại tiếp tục hành trình đi thăm các quả núi nhỏ hơn và luồn lách qua các hang ngầm dưới nước. Luồn qua các thủy đạo ngầm dưới chân núi, các bạn phải cẩn thận kẻo đầu sẽ bị va vào nóc hang. Các thủy đạo dài cả trăm thước chia thành nhiều khúc, có thể dẫn bạn vào sâu trong lòng quả núi. Thỉnh thoảng lại có những chỗ cao lên trên mặt nước, rộng rãi, bằng phẳng, có thể làm nơi trú ngụ cho mấy chục người. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy có nhiều di tích chứng minh đã có người sinh sống trong các hang động này cả ngàn năm trước. Hiện nay bao quanh các hang động có khá nhiều người sinh sống trên các chiếc ghe, chiếc thuyền nan nhỏ. Tất cả vợ chồng, con cái của một gia đình đều thu vén trên diện tích nhỏ của một con thuyền bề dài khoảng năm đến sáu mét; bề ngang khoảng ba mét. Họ sống bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ trên ghe, cho các gia đình cư ngụ nơi “làng thủy cơ” này và các khách du lịch ghé thăm hang động. cuộc sống lênh đênh trên nước, trôi dạt đó đây, không biết họ làm cách nào mà lo cho con em học hành, sống đạo, tham dự những sinh hoạt văn hóa? Thật là tội nghiệp cho các em nhỏ lớn lên cũng sẽ chịu cảnh dốt nát, mù chữ như cha ông các em.
    Thuyền chúng tôi có ghé ngang qua một hai hòn đảo nhỏ, có nhà cửa xây cất khang trang, có lẽ là nhà của những thành phần có của, có quyền hành tại vùng này. Lúc đi cung như lúc về, biển luôn êm tịnh, mặt nước phẳng lặng như nước mặt hồ. Quả là một kỳ quan trên thế giới, một chiếc vịnh bao la, bát ngát có hàng ngàn vách núi bao bọc khiến cho mặt nước biển luôn yên tĩnh. Thỉnh thoảng lại bắt gặp những chiếc hồ bán nguyệt do dãy núi đá vôi bọc vòng quanh như người ta thường xây cất. Với cảnh trí thiên nhiên như nơi đây, thật là hiếm thấy.
    Trở lại đất liền vào lúc ba giờ chiều. Thuyền đã cập bến từ lâu, mà lòng tôi vẫn còn vang động những âm thanh, hình ảnh kỳ diệu của Vịnh Hạ long. Muốn tìm hiểu hết các cảnh trí, các hang động nơi đây, chúng ta phải dành cả tháng hay cả năm, nhiều năm mới có đủ thì giờ để tìm hiểu, còn một chuyến tham quan mấy tiếng đồng hồ thì chỉ là cuộc “cưỡi ngựa xem hoa” mà thôi.
    Chúng tôi còn đủ thì giờ để về Hà Nội nên khi xuống thuyền, chúng tôi đã trả phòng và đem đi tất cả hành lý. Rời Vịnh Hạ Long, xe chúng tôi trực chỉ Hà Nội. Sau gần năm giờ xe chạy, đến khoảng chín giờ tối thì chúng tôi đã về đến phố nhà chung. Chương trình của ngày hôm sau là đi thăm quê nội và Chùa Hương Tích.

  146. chinhkie permalink

    Những chương tiếp theo cuốn “ĐỊA LINH NHÂN KIỆT” của tác giả có nói đến tên củacác vị HOÀNG TỬ của LẠC LONG QUÂN và ÂU CƠ

  147. chinhkie permalink

    Chương VI – Bà Liễu Hạnh
    Đền Sòng
    Đã từ lâu người Việt Nam từ vua quan cho đến ngườidân quê ít học đề có lòng úy kỵ, tôn kính Bà Liễu Hạnh. Vua Lê Thần Tông (1626) cùng với bá quan trong triều đã phải suy tôn Bà là vị nữ thần có quyền uy nhấ. Các nho gia văn thi sĩ đều phục tài “ứng khẩu thành thi” của Bà như Trạng Nguyên Phùng Khắc Khoan đã có nhiều lần xướng họa thơ văn với Bà. Nói chi đến người thứ dân, ai nấy đều rất sợ Bà, vì Bà tính tình cương trực: giúp đỡ người dân cũng nhiều mà rat ay đánh phạt kẻ bất lương, ngỗ ngược cũng lắm phen. Theo truyền thuyết kể lại thì Bà là Đệ Nhị Công Chúa của Ngọc Hoàng Thượng Đế, vì lỡ tay làm bể chén Ngọc mà phải đày xuống trần gian. Bà giáng sinh làm con gái của gia đình họ Lê ở xã Vân Cát, Huyện Thiện Bản đời vua Lê Anh Tông (1557) Cha Mẹ đặt tên là Giáng Tiên. Lớn lên thì kết nghĩa vợ chồng với con trai nhà họ Trần tên Đào Lang. Vợ chồng ăn ở với nhau sinh được hai con một trai một gái. Nhưng khi được hai mươi mốt tuổi Liễu Hạnh mãn hạn đi đầy được gọi về thượng giới, Bà đang khỏe mạnh bỗng nhiên qua đời nhằm ngày 3 tháng 3 âm lịch. Tiên nữ về trời nhưng lòng còn vấn vương duyên trần nên thường tỏ ra u buồn, nhỏ lệ. Ngọc Hoàng Thượng Đế thương tình phong cho là Liễu Hạnh Công Chúa và cho phép được lui tới cõi trần. Từ đó Liễu Hạnh Công Chúa thường xuất hiện nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người. Trong ngày giỗ lần thứ hai củ nàng, nàng đi về gặp Cha Mẹ để tạ lỗi vì “”ra đi” đột ngột không một lời từ tạ. Nàng cũng gặp lại chồng là Đào Lang và hẹn sau này sẽ có lúc vợ chồng lại được đoàn tụ một nhà. Nàng đã nhiều lần gặp Trạng Nguyên họ Phùng lúc thì ở Lạng Sơn, lúc thì ở trên bờ Hồ Tây, đối đáp thơ văn. Sau cùng nàng đã xin Thượng Đế cho phép xuống ngụ tại Sùng Sơn – Phố Cát, Tỉnh Thanh Hóa. Từ đó Liễu Hạnh Công Chúa thường hay Hiển Linh tại đây làm cho Đền Sòng (Sùng Sơn) trở thành linh thiêng có tiếng. Dân chúng đã có câu ca: Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh.
    Được biết Đền Sòng nằm bên trái quốc lộ cách không xa Cầu Hàm Rồng. Tuy nhiên dọc đường hầu như không có một tấm bảng nào chỉ dẫn. Muốn đến nơi chúng tôi phải ngừng lại hỏi người đi đường. Nhưng rất ít có ai muốn chỉ lối vào, có thể vì lệnh cấm của chính quyền địa phương không cho phổ biến các nơi nổi tiếng linh thiêng vì chính sách bài trừ mê tín, tôn giáo. Dù vậy, chúng tôi đã được chính Bà cho người mời vào khi tôi nhìn thấy một thiếu nữ áo đỏ đi trước xe rồi rẽ vào một đường nhỏ. Tôi bảo bác tài lái xe vào “con đường ấy thì” thì quả nhiên Đền Sòng đã hiện ran gay trước mặt.
    Đền Sòng vừa được trùng tu, sơn phết lại nhâ dịp Đại Hội tháng Ba vừa qua. Đền chính đã được quét vôi, xây sửa cho cao hơn và rộng rãi hơn. Cây cầu bắc ngang Suối Thần truocs đền cũng được xây lại bằng xi măng. Chỉ tiếc ngọn suối đã bị khô cạn và bụi tre sau đền cũng bị chặt gần hết.
    Tôi còn nhớ vào năm lên bảy đã được đi theo phụ than vào thăm Đền Sòng trước khi ông quyết định vào Nam lập nghiệp. Những hình ảnh trong ký ức của thời thơ ấu vẫn sống động trong tôi. Đền Sòng ngày ấy là một nơi u tịch thanh vắng, đền được xây cất không to lắm. Tường đã rêu phong, phía sau đền là bụi tre rất xum xuê vì không ai dám chặt phá. Phía trước đền là ao Cá Thần tạo thành do một dòng suối. Nước suối trong và chạy lững lờ từ phía Đông Nam sang phia Tây Bắc. Dòng suối mở rộng ở khúc giữa tạo thành một khoảng rộng. Nước nhưng chạm vào bờ rồi dội ra làm thành chín xoáy do đó người dân gọi tên là Chín Giếng để chỉ ngôi đền nhỏ xây lên ở gần chỗ có chín cái xoáy này. Hai bên bờ suối cây cối um tùm. Phu Thân tôi có kể cho nghe câu chuyện một ông thợ săn tài tử, theo Tây học nên thường không úy kỵ những nơi linh thiêng. Một lần ông đến gần bờ suối thấy có một bầy chim nhỏ màu lông sặc sỡ rất đẹp. Ông rút súng bắn một con rơi xuống suối. Con chim không chết, nằm trên mặt nước từ từ trôi xuống phía dưới. Ông thợ săn liền bước xuống nước rồi lội theo định bắt con chim nhỏ ấy. Nước suối tuy không sâu nhưng không biết vì sao mà ông thợ săn bị ngả chìm xuống rồi chết đuối. Có người giải thích theo khoa học cho là dưới đáy khe suối có nhiều khí độc do lá ung thối. Ông này bị ngộ độc, ngất xỉu mà chìm xuống dù nước suối không sâu. Nhưng dân chúng địa phương thì cho là “Mẫu vật chết” vì ông này dám bắn cả chim của Mẫu nuôi.
    Vào thập niên ba mươi, việc cúng bái, lên đồng ở Đền Sòng được tổ chức rất là long trọng, nhất là vào ngày vía của Bà. Theo nhận xét của tôi thì Công Chúa Liễu Hạnh tuy tính tình cương trực, nhưng Bà là một nhà thơ, thi hứng dồi dào, lại có tình có nghĩa với Cha Mẹ, và chồng con, Bà không phải là một hung thần, ác quỉ để động một chút là ra tay trừng trị, giết chóc. Tuy dền Bà ở Sùng Sơn nhưng tính Bà thích đi ngao du sơn thủy, thích kết bạn với những người văn sĩ có tài. Nguyễn Quỳnh (Trạng Quỳnh) là một nhà thơ có tài ứng biến, tuy ngỗ ngược nhưng Bà yêu tài mà không trừng phạt dù Quỳnh đùa cợt cả Bà. Đa số các cuộc trừng trị, trách phạt đều do các thần canh giữ đền, ỷ vào quyền năng của Bà mà tác oai, tác quái.
    Lần trở lại thăm đền này, tôi thấy cảnh trí đã đổi thay. Cây cối um tùm đã bị chặt phá, suối nước cũng cạn. Bắc qua suối là một cây cầu xi măng kiến trúc theo kiểu hiện đại. Trong đền việc bói toán, xin xăm, xin quẻ đã bịn giới hạn tối đa. Nhiều người chỉ thực hành một cách âm thầm. Nhà nước cách mạng đã đồng ý cho trùng tu nơi này là cốt để biến nó thành một di tích lịch sử, một thắng cảnh du lịch hơn là một nơi linh thiêng. Tuy nhiên trong cõi vô hình thì các sinh hoạt vẫn tồn tại như cũ.
    Bà Liễu Hạnh tiếp đón phái đoàn chúng tôi rất nồng hậu. Bà tỏ ra quí mến vì tôi cũng có chút khả năng về thơ, văn và âm nhạc.
    Rời Đền Sòng chúng tôi trở lại quốc lộ một, thẳng đường ra Hà Nội. Cầu Hàm Rồng ở ngay trước mặt. Cây cầu sắt nổi tiếng nhất Đông Dương vì cấu trúc đặc biệt của nó. Cầu chỉ có một nhịp duy hất bắc vào hai mỏm núi qua dòng sông Mã, nước luôn luôn chảy xiết. Từ xa nhìn xuống hình dáng như hàm con rồng. Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, máy bay Mỹ đã nhiều lần bỏ bom phá cầu mà không lần nào trúng. Cầu vẫn còn nguyên vẹn dù trải qua mấy chục năm chiến tranh (1939 – 1975).
    Muốn đi Hà Nội, chúng tôi phải ngang qua Ninh Bình, Phủ Lý – Nam Định. ở mỗi tỉnh đều có những di tích linh thiêng cần phải thăm viếng, như ở Ninh Bình có Động Hoa Lư, có Chùa Non Nước, có Núi Cánh Diều, có Hang Dịch Lộng, nhất là có di tích của cố đô dựng nên từ đời Đinh Bộ Lĩnh và sau được Lê Hoàn trùng tu, mơ rộng. Nam Định là một giải đất linh thiêng đã thấm máu của biết bao vị anh hùng Tử Đạo. Mong rằng sau này sẽ được trùng tu, còn hiện nay vì chính quyền VÔ THẦN, vùng đất linh thiêng này hãy còn bị bỏ hoang phế. Con đường Ninh Bình – Nam Định – Hà Nội, tôi đã một lần đi qua vào năm 1952 khi tham dự kỳ thi tú tài Việt Nam Đầu Tiên được tổ chức ở Hà Nội. Trong thời kỳ “tiêu thổ kháng chiến” từ năm 1946 – 1948, Việt Minh đã hủy đi biết bao tỉnh thành, “dinh thự, đường xá, cầu cống, “. Vì vậy đường di lúc đó gồ ghề, lồi lõm với bao ổ gà, chân rết. Ngày nay, con đường này đã được sửa lại, tráng nhựa bằng phẳng nên xe chạy từ Ninh Bình lên Hà Nội chỉ mất vài tiếng đồng hồ.
    Chúng tôi vào đến thành phố Hà Nội lúc đèn phố vừa lên. Hà Nội ngày nay đã biến đổi bộ mặt: đường phố tuy được sửa sang nhưng vẫn chật hẹp vì số người từ các nông thôn đổ về quá đông, khiến nhà ở khan hiếm, cuộc sống bon chen. Hà Nội đã theo kịp với Sài Gòn về số lượng xe Honda và xe hơi nhà, không như mấy năm về trước, nhìn trên màn ảnh ti vi thời sự, Hà Nội chỉ gồm đa số xe đạp đủ loại, một vài chiếc xe hơi của cơ quan và các cán bộ cao cấp. Đa số người dân vẫn còn đi bộ. Vào năm 2000, Hà Nội đã có nhiều quán ăn sang trọng, nhiều khách sạn được mở cửa cho du khách nước ngoài vào trọ. Đời sống ở Hà Nội nngayf nay thật là nhộn nhịp, sô bồ, chênh lệch. Có những phố xá điều kiện sáng choang rực rỡ đủ màu, nhưng cũng không thiếu những phố xá tối tăm, lầy lội, tiêu điều. Hà Nội ngày nay có khá nhiều đường một chiều thành ra người tài xế không nắm vững lộ trình sẽ bị lạc dễ dàng hoặc phải đi lòng vòng mất nhiều thì giờ.
    Mặc dù đã tìm được một quán ăn ngon, nhưng thật khó mà tìm ra chỗ đậu xe, đành phải đậu ở một nơi xa rồi đi bộ trở lại quán ăn.
    Món ăn Hà Nội quả là có hương vị đặc biệt hơn ở các tỉnh nhỏ. Chúng tôi tìm vào một quán cơm bình dân, chật hẹp, bàn ghế thô sơ, nhưng khách vào ăn tấp nập, phải đứng xếp hàng chờ chỗ. Chúng tôi chỉ gọi vài món ăn bình dân như cơm cá kho, tôm rang, canh cải, dưa chua… ăn cho xong bữa để rồi còn đi tìm chỗ ngủ đêm.
    Phòng trọ ở Hà Nội thực là đắt đỏ. Một phòng nhỉ cho hai người giá một đêm từ một trăm tám chục ngàn đến hai trăm ngàn tương đương với mười đến mười hai đô la Mỹ. Chúng tôi bảy người phải mướn ít nhất bốn phòng lại phải chia ra thành hai khách sạn vì hôm nay đông khách phòng khan hiếm.
    Em gai tôi ra ý kiến tìm vào nhà chung ngủ nhờ vì ở trong đó cũng có nhiều nhà được sửa lại thành phòng trọ tập thể cho khách hành hương từ xa về trọ đêm.
    Chúng tôi cho xe chạy vào trong khuông viên nhà chung, rồi được thầy quản lý chỉ cho hai phòng rộng rãi, một nam, một nữ. Mỗi phòng có nhiều giường chiếu có đủ chỗ cho tám người. Trong mỗi phòng có đủ buồng tắm, buồng vệ sinh, nước ấm, nước lạnh… Cách bài trí đơn sơ, giản dị như thường thấy trong các tu viện, chủng viện, nhưng cũng đủ tiện nghi, sạch sẽ cho các người khách trọ dễ tính như chúng tôi. Suốt ngày bôn ba trên xe, chúng tôi ai nấy đều thấm mệt và buồn ngủ. chúng tôi không thể thức khuya xem ti vi, hay trò chuyện.
    Tôi dự tính ở Hà Nội ba ngày để từ đó có thể lái xe đi thăm Vịnh Hạ Long, Chùa Hương, và Đền Hùng Vương.
    Sau một đêm ngủ ngon giấc, tôi đã phục hồi sức khỏe, dậy sớm để kịp giờ xem Thánh Lễ tại Nhà Thờ Chánh Tòa nơi tôi đã lãnh nhận Bí Tích rửa tội khi mới sinh ra. Dù đã gần một trăm năm, nhà thờ Chánh Tòa Hà Nội vẫn chưa được phép trùng tu, sửa chữa. Hai tháp chuông và các vách tường chung quanh vẫn rêu bám đen sì. Hệ thống điện trong nhà thờ vẫn chưa thay đổi vì vậy Thánh Lễ buổi sáng sớm vẫn được cử hành trong cảnh mờ ảo của vài ngọn đèn néon và vài ngọn nến. Tuy nhiên số giáo dân tham dự Thánh lễ buổi sáng sớm này rất đông, ngồi kín cả nhà thờ. Tôi có cố chụp vài tấm ảnh quang cảnh buổi lễ, nhưng vì không đủ ánh sáng nên hình ảnh không rõ. Sau Thánh lễ, chúng tôi tìm chỗ ăn sáng rồi thẳng đường đi thăm Vịnh Hạ Long.

  148. chinhkie permalink

    CỤ RÙA = RÙA GIÀ nhìn TTD leo cây cười khẹt khẹt…???…

  149. chinhkie permalink

    Thánh Nhân nào mà Bác gaden sai ông ta xuống NUUUIUIÚIÚIÚI THẾ?

    Năm trước vào dịp 30/4/2015 em đã có gửi đến Nhà Chớp cuốn sách có TỰ ĐỀ là: ĐỊA LINH NHÂN KIỆT của tác giả VÂN HÀ, năm nay theo Dương Lịch 2016 chưa tới tâé TA, em xin tiếp tục gửi tác phẩm này đến NHÀ CHỚP để tham khảo nhé!……..
    ———————————————————————————————————————–

    ĐỊA LINH NHÂN KIỆT (tt chương IV)

    Chương V – Đền Bà Triệu
    Thanh Hóa
    Bà Triệu sinh quán tại vùng Na Sơn, Quận Cửu Chân Tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Cha Mẹ là một bậc phú hộ trong làng, nhưng ông bà dung tiền của có để cứu giúp những người dân nghèo. Bà Triệu có một người anh trai tên Triệu Quốc Đạt, cũng là người nghĩa hiệp, một lòng rắp tâm mưu đồ để đánh đuổi quân Ngô đang dày xéo trên đất nước.
    Sinh ra vốn có dị tướng, Bà tuy là phận gái nhưng khí phách ngang tang, cương trực hơn cả bọn tu mi nam tử.
    Cha Mẹ đặt tên là Trinh, nhưng lớn lên có lẽ vì tính tình không nhu mì, khép nép như phần đông các cô khuê nữ con nhà khã giả đương thời, nên xóm làng tặng cho Bà một hốn danh là Ẩu. Từ đó cái tên Triệu Ẩu được nhiều người biết đến hơn là Triệu Thị Trinh.
    Sau ít năm Cha Mẹ thân sinh đều qua đời để lại cho hai an hem một gia sản khá lớn. Anh Triệu Quốc Đạt của Bà đã dung tài sản này mà chiêu hiền nạp khách và đã làm tới hung Trưởng trong vùng. Nhưng ông lấy phải bà vợ độc ác nham hiểm, chuyên quyền. Giữa chị dâu em chồng vì đó mà có sự xung khắc mãnh liệt. Bà Đạt rắp tâm dung quyền chị dâu ép gả em đi lấy chồng cho rảnh nợ. Nhưng cô Trinh thì tuy bề ngoài ngang bướng, hùng hổ, nhưng lòng lại là một cô gái trinh trong, thanh bạch. Cô quyết tâm dâng hiến cuộc đời cho công cuộc cứu dân cứu nước mà không chịu lấy chồng. Cô hiên ngang quả quyết: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng song dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi lũ quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không them bắt chước người đời cúi đầu, khom lưng làm tì thiếp cho người ta…”
    Bà chị dâu bụng dạ hẹp hòi, sinh lòng thù ghét em, bầy mưu chia rẽ tình an hem của cô Trinh, lại còn ngầm báo cho quân Ngô về ‎ đồ khởi nghĩa của hai an hem nhà chồng. Cô Trinh không cầm lòng nhẫn nại được đã giết chết chị dâu rồi trốn vào rừng lập nghiệp. Hàng ngàn tráng sĩ theo cô, tôn cô lên làm thủ lãnh. Ngày ngày luyện tập, chiêu mộ hiền tài.
    Dù giận em vì đã giết vợ mình, nhưng thấy em có chí lớn nên ông Đạt cũng nguôi ngoai, tha thú. Hai an hem lại liên kết với nhau rắp tâm dựng nghiệp đánh đuổi xâm lăng. Chỉ tiếc nghiệp lớn chưa thành mà ông Đạt đã bị bạo bệnh qua đời đột ngột để lại cho cô em một mình gánh vác.
    Cô đau đớn vì mất đi người thân duy nhất, lại mất đi người đồng chí hướng trong sự nghiệp khởi nghĩa. Dù vậy, cô không nản chí, lại còn quyết tâm thực hiện mộng lớn đến cùng.
    Khi đã chuẩn bị quân lương đầy đủ, cô Trinh quyết định dựng cờ khởi nghĩa. Lúc sắp ra quân, bỗng nghe có một con voi trắng một ngà từ đâu xuất hiện. Cô Trinh cho đây là vật quí Trời ban, nên một cùng một số tướng lãnh đích thân đi bắt con bạch tượng. Dù là phận gái, nhưng cô Trinh võ nghệ phi phàm, lại có sức mạnh vô song. Tay cầm búa, cô từng lưng ngựa nhảy lên lưng voi chỉ một hiệp là đã thu phục được con vật hung dữ. Cô dùng con voi trắng này cưỡi đi dẹp giặc. Nhiều trận ác chiến diễn ra, quân Ngô thua chạy, chết nhiều vô kể.
    Viên chỉ huy bên quân Ngô lúc đó là Lục Dận, một viên tướng mưu lược, nham hiểm. Bị thua lien tiếp nhiều trận gần như sắp phải rút chạy về Tàu, hắn liền tìm mưu kế. Đánh bằng trực diện bằng võ lực không được, hắn mới dò la đi tìm nhược điểm của bên ta. Sau khi được biết cô Trinh là một dũng tướng tài ba, sức mạnh vô địch nhưng phải một cái cô là con gái đồng trinh, không thể chịu đựng được những cảnh ô uế, dâm dật. Lục Dận bèn dung một kế đê tiện, bỉ ổi là cho quân lính trần truồng ra đối trận. Trước cãnh lõa lồ, thô bỉ đó, cô chủ tướng e thẹn đỏ mặt đành cắm đầu chạy dài, khiến cho quân địch thừa thắng xông lên đánh đuổi quân ta thua chạy về Bồ Điền. Cô bị địch vây tứ phía, lại vẫn dung phương pháp đê tiện là cho binh lính trần truồng ra đối trận. Cô Trinh đành phải bó tay, không có gì thắng được tính e thẹn bẩm sinh của người con gái đồng trinh. Quân thiếu chủ tướng nên không đánh mà tan. Cô đành tự thiêu để bảo toàn sự trinh khiết của mình.
    Trên phương diện hữu hình thì Triệu Thị Trinh là một bại tướng, nhưng trên phương diện vô hình thì Triệu Thị Trinh là một Thánh Nữ vì đã liều mạng sống để bảo toàn tấm lòng trinh trong của mình giống như Bà Chúa Xứ Núi Sam, Bà Đen Núi Tây Ninh. Trong cõi linh thiêng, sự trinh trong của người thiếu nữ được đánh giá rất cao. Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương Các Thánh Đồng Trinh yêu mến tất cả các thiếu nữ này dù họ thuộc bất cưa tôn giáo nào. Đức Mẹ muốn mời Bà Triệu gia nhập phái đoàn để cùng đi tiêp kiến Bà Chúa Liễu Hạnh hẵn đã có ‎ muốn tiếp nhận Bà vào công cuộc Kiến Tạo Hòa Bình cho đất nước Việt Nam.
    Rời đền Bà Triệu, chúng tôi hướng về phía Bắc tiếp tục lộ trình.

    ĐỊA LINH NHÂN KIỆT

  150. Cụ Rùa ra đi báo hiệu một thông điệp Tổng trọng sẽ trượt. Tổng trọng thắng Dũng nhưng không thắng được vận trời.
    Gà kêu vươn hót vang lừng
    Đường đi thỏ thẻ rặm trưng khôn dò
    Các bạn ơi Thánh nhân suống núi tìm đường giúp dân cứu nước rồi.

  151. chinhkie permalink

    Các Thánh nhà Ta đang Cưỡ Dê Cụ xem Cụ Khỉ leo cây gãi Ngứa… kêu khẹ khẹt…

  152. tieuhan permalink

    Tôi không biết người dân miền Trung và Miền nam thế nào, còn người dân miền bắc không quan tâm nhiều tới chính trị. Bởi có quan tâm cũng chẳng được bầu cử chỉ là diễn diễn mà thôi, ví như ở xóm tôi chưa bao giờ đi bỏ phiếu cử tri mà toàn giao cho tổ trưởng thích bầu thế nào thì bầu. Còn nhớ khi còn học tại đại học, bầu lớp trưởng và bí thư lớp, cả lớp phải bầu đi bầu lại tới mấy lần khi nào được thầy giáo chủ nhiệm gật đầu mới được về… Điều mà người dân mong mỏi là môi trường hòa bình, kiếm tiền và hưởng thụ cuộc sống. Không quan tâm ai là người cai trị họ.

    Dân mong mỏi như vậy cán bộ còn mong mỏi hơn, vì họ sở hữu nhiều tài nguyên có giá trị. Điều mà họ muốn là tạo ra một cam kết đáng tin về môi trường hòa bình ở Việt nam, khi đó các nguồn vốn nước ngoài sẽ ùn ùn đổ vào làm tăng giá trị tài sản của họ.

    Muốn có cam kết đáng tin thì thế lực được Trung quốc ủng hộ phải đắc đạo, bác Trọng bác Quang phải trúng cử, Bác Dũng đã để lại sự thù hằn ở các tỉnh quá nhiều nên chắc không có cơ hội gì, thay thế bác chỉ có bác Phúc và bác Đam, nhưng bác Đam thì dòng họ vũ đức ở Việt nam mộ tổ được an thế là không bao giờ làm vua. Nên bác Phúc là lựa chọn hợp lý.

    Điểm thâm nho của Trung quốc là ở đây, thế lực mà được họ ủng hộ thì sau này sẽ theo đuổi con đường hòa hảo với họ, nhẫn nhịn với họ. Trong khi đó Trung quốc sẽ gia tăng áp lực ở Biển đông, tạo ra sự căm phẫn của người dân. Trong khi chính quyền phong nhẫn thì sự phản đối của người dân càng cao. Các thế lực đối lập sẽ nhân cơ hội nước nên thuyền nên mà làm cho mâu thuẫn trong nội bộ đất nước thêm phần gay gắt. Đây là cục diện vô cùng nguy hiểm của đất nước..

    Có ba mối nguy hại lớn nhất mà dân việt phải đối mặt:

    – Thứ nhất : Bất kể biến động ra sao thì nguy cơ nợ công vẫn là nguy cơ cao nhất, thậm trí vỡ nợ là nguy cơ số một của nước ta. Những hậu quả sau đó chỉ nghĩ thôi mà gai cả người.
    – Thứ nhì : Bị cuốn vào tranh chấp của các nước lớn, Mỹ Trung lại một lần nữa quyết chiến trên biển đông và kéo Việt nam vào.
    – Thứ ba : Nội bộ Việt nam rối loạn, không đoàn kết. Tạo điều kiện cho các thế lực bên ngoài đấu giá hưởng lợi. Chúng sẽ ủng ai cho chúng nhiều lợi ích nhất của đất nước.

    Mong rằng sau đại hội Đảng ba nguy cơ này sẽ được giải quyết.

    Nền kinh tế Trung quốc vỡ chỉ là vấn đề thời gian, giá Dầu càng giảm càng đặt Trung quốc vào thế hiểm, chỉ cần giá dầu quay đầu tăng giá khi đó chính thức khai tử cho nền kinh tế này. Một khi biến động Trung quốc buộc phải tiết giảm sự ham muốn của người dân bằng cách đem ra biển làm mối cho cá, nhờ bom đạn của Mỹ xử lý hộ. Quả bóng Trung quốc sẽ phình ra nó sẽ căng ra ở điểm mỏng nhất, đó là Biển đông và Việt nam. Đây cũng là chiến trường trọng điểm. Suy cho cùng cũng chỉ là kiếm cơm,…

    Cụ rùa ở hồ gươm chắc chết từ nâu rồi, lại đợi đúng lúc đại hội mới công bố, đủ thấy tình hình Việt nam rất phức tạp, nội bộ Việt không hề yên ổn như vẻ bề ngoài của nó…

  153. chinhkie permalink

    Tin tức / Việt Nam

    Mạng xã hội Việt Nam ‘nóng’ vì rùa Hồ Gươm qua đời

    Thành viên của đội cứu hộ đứng xung quanh ‘cụ Rùa’ sau khi vây bắt được ‘cụ’ để mang đi chữa bệnh hồi tháng 4 năm 2011.

    Rùa Hồ Gươm nhiều năm tuổi mà nhiều người Việt Nam gọi là “cụ Rùa” đã chết hôm nay, khiến mạng xã hội phát “sốt”.

    Phó Giáo sư TS Hà Đình Đức, chuyên gia nghiên cứu về rùa Hồ Gươm, cho biết, khoảng 18h ngày 19 tháng 1, Ban quản lý Hồ Hoàn Kiếm đã gọi điện thông báo cho ông thông tin này.

    Theo ông Đức, lần cuối rùa nổi lên là từ 10h đến 12h ngày 21/12/2015.

    Ông Đức đề nghị thành phố Hà Nội trình lên Thủ tướng ra quyết định công nhận rùa hồ Gươm, tiêu bản rùa ở đền Ngọc Sơn và bộ xương rùa hồ Gươm ở bảo tàng là bảo vật quốc gia.

    Năm 2011 rùa hồ Gươm được đưa lên bờ để chữa trị các vết lở loét trên thân trong hơn ba tháng. Sau đó rùa được trả về môi trường tự nhiên trong hồ. Khi đó rùa có chiều dài toàn thân là 185 cm, chiều rộng mai 100 cm, chiều dài đuôi là 35 cm, nặng 169 kg.

    ‘Cụ Rùa’ nổi lên ở hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, ngày 3/4/2011. Cái chết của ‘cụ Rùa’ được xem là linh thiêng 1 ngày trước khi Đại hội Đảng khai mạc khiến nhiều người sử dụng Facebook coi đây là “điềm xấu”.
    ‘Cụ Rùa’ nổi lên ở hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, ngày 3/4/2011. Cái chết của ‘cụ Rùa’ được xem là linh thiêng 1 ngày trước khi Đại hội Đảng khai mạc khiến nhiều người sử dụng Facebook coi đây là “điềm xấu”.
    Có nhiều thông tin chưa nhất quán về tuổi của cụ rùa, tuy nhiên vào tháng 4 năm 2011, hội đồng chữa trị cho Rùa Hồ Gươm đã tiến hành phân tích ADN cho cụ Rùa và khẳng định, Rùa Hồ Gươm là rùa cái, tuổi thọ có thể hơn 100 năm.

    Hình ảnh rùa Hồ Gươm gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm thần Thuận Thiên cho thần rùa Kim Quy. Theo truyền thuyết, thần Kim Quy còn giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa và tặng nhà vua cái móng để làm lẫy nỏ chống quân của Triệu Đà.

    Cái chết của rùa được xem là linh thiêng 1 ngày trước khi Đại hội Đảng khai mạc đã khiến nhiều người sử dụng Facebook coi đây là “Điềm Xấu”.

    Một số tờ báo ban đầu được cho là phải gỡ bỏ tin được coi là “nhạy cảm” này vì “chỉ thị trên”.

    Tuy nhiên, sau đó các báo đã được phép đăng tin này.

    Theo VnExpress, Vietnamnet, Soha

  154. chieukinh permalink

    (CÓ PHẢI CỤ TRẠNG TRÌNH ĐANG VUỐT RÂU MỈM CƯỜI VỚI CÁC ĐỒNG CHÍ?…)

    SƯU TẦM…

    Ai dám khủng bố Đại hội XII?
    Vũ Thạch – Web Việt Tân

    Thực Hiện Bureau CTM Media Mỹ Châu – 10/01/2016 3 6106
    Chia sẻ Facebook Tweet

    Quảng trường Mỹ Đình, Hà Nội, nơi diễn ra các buổi diễn tập chống khủng bố nhằm “bảo vệ Đại hội Đảng 12”.

    Khác với tất cả các đại hội đảng trước đây, kể cả trong những giai đoạn mờ khói chiến tranh, một lễ xuất quân và diễn tập chống khủng bố đã diễn ra tại Hà Nội với con số 5300 công an đủ loại, la liệt xe bọc thép, xe gắn súng trên nóc, xe gắn bệ nâng, xe phá sóng, xe liên lạc, xe chữa cháy, v.v… Mức tốn kém lên đến hàng nghìn tỉ đồng. Đặc biệt tạo ấn tượng sâu đậm là cảnh diễn công an giải phóng các con tin bị nhóm khủng bố đầy súng ống bắt lên một xe buýt, và cảnh chống lại một đám đông với hàng ngàn gậy gộc, củi lửa.

    Công luận khá ngạc nhiên khi đọc tin này vì lãnh đạo luôn khẳng định “tình hình bình ổn” tại Việt Nam, và lúc nào công an cũng đã đập tan mọi loại “phản động” trong trứng nước. Vậy ai là kẻ khủng bố? Ai có khả năng khủng bố Đại hội đảng CSVN sắp tới?

    Câu trả lời đầu tiên: dứt khoát không thể là dân oan. Trong suốt những năm qua, bà con dân oan, đa số là phụ nữ, thiếu niên, người cao tuổi, sống tiều tụy dưới những tấm bạt che ở lề đường mà vẫn bị công an, trật tự cướp đi. Họ không có một tấc sắt trong tay và cũng chẳng hề dùng gậy gộc. Thực tế này khác quá xa đám đông mà công an diễn kịch trong buổi thực tập vừa qua. Hơn thế nữa, cũng trong suốt những năm qua, con số bà con dân oan tụ tập được tại Hà Nội để phản đối bất kì chuyện gì chưa bao giờ lên quá ba trăm người. Ở đâu ra đột nhiên có con số hàng ngàn, chục ngàn người bạo động như công an diễn tập?

    Câu trả lời kế tiếp: cũng dứt khoát không thể là ISIS hay các tổ chức hồi giáo quá khích. Đơn giản là vì số người theo đạo Hồi tại Việt Nam quá nhỏ, sống quá xa Hà Nội, và rất hiền lành, không dính dáng gì đến các nhóm hồi giáo quá khích quốc tế. ISIS lại càng không có lý do gì để đưa người đến Việt Nam khủng bố vì cả vị trí địa lý lẫn mức độ ảnh hưởng quá thấp của Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như đối với các nước mà ISIS coi là kẻ thù. Ngay cả các nhóm Hồi giáo Ngô Duy Nhĩ mà Trung Quốc cố dán nhãn khủng bố cũng chẳng dùng Việt Nam làm bàn đạp vì quá dễ bị lộ và chẳng tạo được tác động gì. Ngư dân Việt đang chết hàng tuần, hàng tháng dưới tay khủng bố Tàu trên Biển Đông vẫn chẳng tạo được áp suất gì lên nhà nước Việt Nam. Hơn thế nữa, nhà nước còn cho cán bộ đến bịt miệng các nạn nhân, không cho làm lớn chuyện. Thế thì bắt con tin nhằm áp lực nhà nước Việt Nam có ích gì?

    Vậy còn ai khác dám khủng bố Đại Hội XII?

    Trước khi trả lời câu này, cần mở ngoặc nói về 2 phe cánh chính đang kình nhau trước thềm Đại Hội XII. Khá nhiều người đang chia họ thành cánh thân Mỹ và thân Tàu. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, cách phân chia này không hợp lý vì cả 2 phe đều có hướng hành xử rất giống nhau trong quan hệ với Mỹ và Tàu:

    – Tất cả các nhân sự chính của 2 phe đều đang cất giữ tài sản và chuẩn bị cho ngày hạ cánh ở Mỹ và các nước đồng minh cật ruột của Mỹ. Họ dư biết các cơ quan FBI, Bộ Nội An, Bộ Tư Pháp của Mỹ và các cơ quan tương tự tại các nước phương Tây có khả năng truy nguồn các tài sản của họ, nhưng họ vẫn chọn vì đó là những nơi an toàn duy nhất. Vì vậy, quan chức thuộc cả 2 phe đều muốn “chơi” với chính phủ Mỹ.

    – Cùng lúc, cả 2 phe đều muốn dựa vào Tàu để giảm bớt áp suất dân chủ, nhân quyền, mà họ gọi là “diễn biến hòa bình” của Mỹ, ăn dần vào thân thể. Dựa vào Tàu sẽ kéo dài thêm tuổi thọ của chế độ được năm nào tốt năm đó. Vì vậy, mỗi khi có các quan lớn của thiên triều đến, hay khi Tập hoàng đế triệu hồi, lãnh đạo của cả 2 phe đều răm rắp đến thủ phục đầy đủ. Trong nhiều năm dài suốt từ thời Mao Trạch Đông, Bắc Kinh luôn theo chính sách nuôi dưỡng, phủ dụ, ban bố quyền lợi cho ít là 2 phe kình nhau ở thượng tầng đảng CSVN.

    Nhưng nay chính sự hằn thù quá thâm sâu giữa 2 cánh lãnh đạo đảng – đang lan đến cả hàng gia đình và con cái của cả 2 phía – cùng với sự có mặt của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã dồn Bắc Kinh vào thế phải chọn một trong hai nếu không muốn mất cả hai. Với chuyến đi của Nguyễn Sinh Hùng sang chầu Tập Cận Bình ngay sau Hội Nghị 13 và được dẫn đi bái Mao Trạch Đông rồi sau đó ra về ca ngợi mối tình hữu nghị Việt – Trung, ai cũng có thể thấy Bắc Kinh đã dứt khoát và công khai chọn phe nào rồi.

    Cái ôm nồng ấm giữa Nguyễn Tấn Dũng và Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày nào.
    Nguyễn Tấn Dũng và Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì.
    Phe ông Nguyễn Tấn Dũng, sau mấy năm liền đeo đuổi chiến thuật vừa làm eo với những câu tuyên bố thuộc loại “không đổi lấy quan hệ viển vông”, vừa làm lành với những quyết định cho mở thêm các khu biệt lập của hàng chục ngàn “công nhân” Tàu tại từng tỉnh, cũng như ôm hôn thắm thiết từng quan lớn từ Bắc Kinh như Dương Khiết Trì cho báo chí chụp hình, nay đã chính thức bị Bắc Kinh từ khước, không nhận làm thuộc hạ nữa.

    Và đó mới là lý do đằng sau 2 tình huống đã được diễn tập tại sân vận động Mỹ Đình. Phe “mất chủ” của ông Dũng, dựa hoàn toàn vào công an, muốn dằn mặt đối thủ và chứng minh rằng họ có đầy đủ súng ống, phương tiện và nhân lực để chống lại cả 2 loại chiến thuật quen thuộc của Trung Quốc:

    – Chiến thuật thứ nhất, các đội đặc công Trung Quốc nhân danh chống khủng bố ở nước ngoài theo luật mới vừa được Bắc Kinh thông qua, hay ngay cả hợp tác với đặc công quân đội Việt Nam để xông vào bắt các các lãnh tụ thuộc phe ông Dũng tại Đại hội XII, để rồi cánh ông Trọng buộc lên họ đủ loại tội trạng trước khi đem đi giam giữ. Khi dùng đúng chữ “diễn tập chống KHỦNG BỐ”, ông Dũng muốn chỉ thẳng mặt điều luật mà Bắc Kinh vừa thông qua.

    – Chiến thuật thứ nhì, Bắc Kinh dùng “biển người” bao gồm hàng vạn công nhân Trung Quốc đang đóng sẵn quanh vùng Hà Nội. Hàng vạn người này sẽ giả dạng dân chúng Việt Nam tràn vào Đại hội đảng XII và cũng tiến hành các việc nêu trên. Khối người này chắc chắn sẽ không chỉ đem theo gậy gộc mà còn có cả AK và lựu đạn.

    Tóm lại, chữ “chống khủng bố” ở đây chỉ diễn tả nỗi lo lắng tột cùng của phe không được Bắc Kinh chọn. Họ không đang lo sợ viển vông. Đã có rất nhiều đòn đe dọa từ ngoài khơi đến trong bờ, nhưng rõ ràng nhất vẫn là việc thông qua luật mới chống khủng bố của Bắc Kinh như một món quà cho ông Nguyễn Sinh Hùng đang đứng trên đất Tàu. Và với hiện trạng Bộ trưởng Quốc phòng chuyên bênh vực Tàu, Phùng Quang Thanh, đang đứng cùng phe với ông Nguyễn Phú Trọng, cánh ông Dũng không thể an lòng dù đã mánh lới thay thế gấp rút được 2 ông tướng cao nhất của Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.

    Nguyễn Sinh Hùng dâng hoa tại khu tưởng niệm Mao Trạch Đông.
    Nguyễn Sinh Hùng dâng hoa tại khu tưởng niệm Mao Trạch Đông.
    Liệu các đòn dằn mặt tiền Đại Hội này có đủ để chận đứng các ý đồ của phe đang đeo lủng lẳng ấn tấn phong của Bắc Triều không? Đặc biệt khi cả 2 cánh đều biết rõ chiêu thức: yếu chỗ nào thì phải dương oai diễu võ khỏa lấp chỗ đó.

    Bắc Kinh lại càng rành rẽ cái trò Trương Phi quậy bụi mù để giả bộ đông quân. Nhiều Tào Tháo đang mỉm cười ở Trung Nam Hải.

  155. chinhkie permalink

    SƯU TẦM

    XIN XEM:

    “MÃ ĐỀ DƯƠNG CƯỚC
    Anh Hùng Tận THÂN DẬU
    NIÊN LAI Kiến Thái Bình”.

    (Trích phần 7)
    Phần 7: Hoàng Sa Và Tội Bán Nước Của CS Hà Nội Đầu năm 1974, lợi dụng Mỹ không can thiệp vào Việt nam, VNCH bận lo chống đỡ sự tấn công từ cộng sản Bắc Việt, Tàu cộng đưa chiến hạm xâm chiếm Hoàng sa. Hải quân VNCH nghênh chiến, đổ máu cố giữ Hoàng sa cho Việt Nam. Trong lúc đó Hà nội vui mừng tuyên bố: “Thà để Hoàng sa cho anh em đồng chí XHCN chiếm còn hơn là để cho “ngụy Sài gòn”.

  156. chinhkie permalink

    TRẦN KỲ TRUNG

    NHỮNG CÁI “NHẤT” CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XII – Bình luận

    Đại hội đảng lần tứ 12 chưa diễn ra, nhưng chỉ quan sát thôi, đã thấy nhiều cái nhất , so với những lần đại hội trước.

    Trước hết đây là đại hội đảng được dư luận trong và ngoài nước quan tâm nhiều nhất. Quan tâm không phải tính chất hoàng tráng hay nhiều đại biểu mà dư luận quan tâm sự mất đoàn kết trong nội bộ lãnh đạo đảng ngày càng bộc lộ, bộc lộ rõ ràng. Những phe nhóm trong đảng hiện nguyên hình, không cần che đậy. Sự sát phạt, nói xấu nhau không còn bó gọn trong phạm vi của một hội nghị TW mà lan ra toàn xã hội. Một điều chưa từng có trước đây, khi chuẩn bị đại hội đảng . Những điều “ thâm cung bí xử” huỵch toẹt ra trước bàn dân thiên hạ, đến độ ông bộ trưởng bộ công an phải thốt lên, những điều bí mật trong nội bộ đảng đã bị lộ một cách nghiêm trọng.

    Cũng chuẩn bị cho đại hội đảng lần này, cũng là lần đầu tiên mọi người thấy một lực lượng quân đội, công an hùng hậu cùng những khí tài đàn áp, chổng khủng bố hiện đại được đưa ra. Nhiều người dân tự hỏi, các đại hội lần trước, như đại hội đảng họp năm 1951 trong chiến khu Việt Bắc chỉ ở trong một ngôi nhà lá, hay như đại hội đảng lần thứ III tổ chức ở Hà Nội năm 1960, khi kết thúc đại hội, trong buổi liên hoan giữa vườn Bách Thảo ông Hồ còn đứng lên vung tay bắt nhịp cho cả dàn hợp xướng hát bài “kết đoàn”…xung quanh đại hội này toàn là dân, nếu có lực lượng công an, quân đội, họ chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ, hòa lẫn vào người dân, tuyệt nhiên không có công khai những khí tài đàn áp, chống khủng bố. Vậy để bảo vệ đại hội đảng lần thứ 12, lực lượng chống khủng bố của quân đội, công an cùng những khí tài “khủng” triển khai như trên, vậy hóa ra, đảng cầm quyền, thêm một đại hội lại thêm nhiều kẻ thù hay sao?

    Chưa có đại hội đảng nào như đại hội đảng lần thứ 12, tâm tư người dân được bày tỏ nhiều nhất. Từ kiến nghị của hơn một trăm trí thức, tướng lĩnh yêu nước chân chính gửi thẳng đến ông tổng bí thư, ngoài ra còn có hành trăm, hàng nghìn, hàng vạn lời thỉnh nguyện thể hiện bằng đơn gửi đến TW đảng, rồi viết lên các trạng mạng, tựu chung lại cùng chung một ý nguyện, chỉ mong lãnh đạo đảng sáng suốt nhận rõ những chủ thuyết sai lầm kiên quyết sửa chữa, không giáo điều, không đặt quyền lợi đảng trên quyền lợi dân tộc, đồng hành cùng dân tộc chống lại sự phục thuộc, xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc. Rõ ràng điều này, nếu như những nhà lãnh đạo đảng tỉnh tảo mà nhận rẳng, đây là hồng phúc của dân tộc, đi với dân tộc đảng sẽ giữ được vai trò lãnh đạo. Còn không phải như thế thì ngược lại, vai trò lãnh đạo của đảng yếu đi. Và đảng không thể giữ được vai trò lãnh đạo khi cả dân tộc quay lưng phản đối.

    Cũng chưa có đại hội đảng nào như đại hội đảng lần này, hội nghị trung ương họp liên tục, sát đại hội vẫn họp mà nội dung chủ yếu vẫn là chuyện nhân sự, ai sẽ là tổng bí thư? Nếu thực hiện dân chủ rộng rãi, chưa nói với dân, chỉ cần trong nội bộ đảng, có lẽ sẽ không có thư của ông Lê Đức Anh, Phan Diễn cùng một loạt các tướng lĩnh , nguyên lãnh đạo cao cấp khác gửi trung ương đề nghị này, nọ. Chuyện này, so với các đại hội lần trước, cũng là lần đầu tiên người dân được chứng kiến. Đến bây giờ câu nói của ông Hồ : “ Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của đảng ” đã trở thành dĩ vãng, phần nào đó, phù phiếm!

    Một đại hội đảng, không giống như các đại hội đảng lần trước, người dân nhìn về tương lai, sau đại hội đảng này có một tâm lý bi quan, ít hy vọng. Hy vọng thế nào, khi đại hội đảng chưa diễn ra, ngoài chuyện Trung Quốc cho rải quân khắp nước Việt dưới danh nghĩa “công nhân”, “khách du lịch”… còn trực tiếp cho máy bay xâm phạm không phận Việt Nam tới 46 lần, bây giờ lại cho máy bay hạ cánh xuống đảo của Việt Nam mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép… Cứ thế này, với sự phản đối chiếu lệ, trong tương lai không xa liệu Việt Nam có mất vào tay nhà cầm quyền Trung Quốc hay không? Còn nền kinh tế, nợ công ở mức đáng lo, nạn thất nghiệp lan tràn, đồng lương không đủ sống ở mức tối thiếu của công nhân, cán bộ báo động đỏ, nạn tham nhũng hết thuốc chữa, xã hội không ổn định, giết người, tai nạn giao thông, nạn cát cứ, con ông cháu cha…ngày nào cũng diễn ra, chỗ nào cũng có… Vậy cứ thế này sau đại hội đảng lần thứ 12, đất nước sẽ đi về đâu?

    Một câu trả lời không hề dễ dàng.

    Thực ra, với một đại hội đảng, ý nguyện của người dân đều mong muốn, ý đảng lòng dân là một, sau đại hội đảng điều này được nhân lên, củng cố. Đảng vẫn giữ được uy tín, ở đây không phải dựa vào sức mạnh quân đội, công an mà dựa vào lòng tin của người dân. Đảng vẫn nắm được vai trò lãnh đạo bằng cách điều hành để nền kinh tế thị trường đi đúng hướng, xây dựng một nền hành pháp dân chủ, dân chủ văn minh thực chất, người dân có quyền thực sự với lá phiếu được tự do bầu người lãnh đạo mà minh ưa thích. Đảng lắng nghe ý kiến người dân, không trù dập, phản đối bằng cách đàn áp, bắt bớ…

    Nếu được như vậy, thì cái “nhất” này so với các đại hội đảng khác được nhân dân chờ mong, ủng hộ.

    Còn những cái “nhất” đã nêu, so với các đại hội đảng lần trước, là điều người dân không bao giờ mong muốn, muốn loại bỏ.

  157. chinhkie permalink

    SƯU TẦM

    Xin xem:

    “ĐẠI HỘI ĐẢNG VIỆT CỘNG LẦN THỨ 12 “MƯỚN” LỰC LƯỢNG AN NINH CHƯA TỪNG THẤY TRONG LỊCH SỬ CỘNG SẢN !!!”.

    Posted on January 5, 2016 by chrisvietstar
    unnamed

    AN NINH TỐI ĐA ĐỂ BẢO VỀ ĐẠI HỘI ĐẢNG VIỆT CỘNG KỲ THỨ 12. PHẢI CHĂNG SẮP CÓ SỰ ĐẢO CHÍNH (hoặc) ĐẤU ĐÁ NỘI BỘ ĐẾN QUYẾT SANH- TỬ ?

    Trong nổ lực loại trừ đối thủ của mình, càng đến gần ngày Đại hội đảng lần thứ 12 diễn ra, liên tiếp trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có rất nhiều động thái khiến cho dư luận cảm thấy bất an. Nhiều người cho rằng, dường như tại thủ đô sắp diễn ra một trận thư hùng một mất một còn.

    Ngay trong ngày đầu năm mới 2016, thay vì nghỉ ngơi, ông Tống Bí thư Nguyễn Phú Trọng trên cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương đã đi thăm Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô. Tại đấy, ông Trọng đã kêu gọi quân nhân phải tuyệt đối trung thành với đảng Cộng sản, không được giao động. Đặc biệt, ông chú trọng đến công tác an ninh cho Đại hội đảng lần thứ 12 sắp diễn ra.

    Chưa dừng ở đó, sáng ngày hôm sau, ngày 2/1, cũng chính ông Trọng đến thăm, làm việc với Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động. Cùng đi với ông Trọng là ông Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang. Tại buổi làm việc, vấn đề được ông Trọng đặt lên hàng đầu là công tác bảo đảm an ninh cho Đại hội đảng.

    Dien_tap_phong_chong_khung_bo_27_zing_1Song song với những việc làm đó, ông Trọng còn đăng đàn kêu gọi chống tham nhũng, chống bè phái, không đưa người tham vọng quyền lực vào Ban Chấp hành Trung ương, loại khỏi bộ máy những kẻ có đạo đức không trong sáng, những kẻ giàu lên bất minh…Việc làm này không nằm ngoài mục đích chỉa mũi nhọn công kích về phía ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

    Bằng việc thăm Quân khu Thủ đô, Bộ tư lệnh Cảnh sát cơ động, huy động 5,200 cảnh sát cơ động để phục vụ công tác bảo đảm an ninh cho đại hội đảng lần thứ 12, ông Trọng đang làm công tác chuẩn bị cho tình huống xấu nhất có thể xảy ra.

    Theo giới quan sát, Đại hội đảng lần thứ 12 là cuộc chiến sống còn giữa một bên là hai ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, còn bên kia là ông Nguyễn Tấn Dũng. Cũng như lần Đại hội đảng lần thứ 11, bộ đôi Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang song thủ nhưng vẫn không thể loại được ông Nguyễn Tấn Dũng. Cho dù vào thời điểm đó, uy tín của ông Dũng đã xuống thấp đến trầm trọng do sự thua lỗ, sụp đỗ từ Vinashin, Vinalines.

    11_58136Vào tháng 10/2012, Bộ Chính trị mà đi đầu là ông Nguyễn Phú Trọng đề nghị Ban Chấp hành Trung ương phải kỷ luật ông Nguyễn Tấn Dũng, cùng với đó là bầu Nguyễn Bá Thanh, ông Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị. Song, Ban Chấp hành Trung ương đã lật ngược yêu cầu của ông Nguyễn Phú Trọng. Đó là không kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng và cũng không bầu 2 ông Nguyễn Bá Thanh, Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị. Thay vào đó là đưa 2 người miền Nam, ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân vào Bộ Chính trị. Cả hai người miền Nam này nếu không phải phe cánh của ông Dũng thì ít ra cũng không phải đối thủ chính trị, muốn thanh trừng ông Dũng. Cùng với đó, qua các đợt thăm dò gần đây, ông Nguyễn Tấn Dũng được tín nhiệm rất cao, cao hơn hẳn những đối thủ chính trị của ông. Điều đó cho thấy ông Dũng có sức ảnh hưởng rất lớn đến Ban Chấp hành Trung ương.

    Theo Điều lệ đảng CSVN có từ năm 2011, vào giai đoạn giữa hai kỳ đại hội toàn quốc thì Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan nắm quyền lãnh đạo tối cao. Do đó, việc tạo ra được ảnh hưởng hoặc nắm giữ được Ban Chấp hành Trung ương trong tay có thể làm cho ông Dũng có thể thoải mái rung đùi, mặc cho các đối thủ chính trị của mình tung những ngón đòn ra nhằm triệt hạ mình.

    1483124ông Trọng còn đăng đàn kêu gọi chống tham nhũng, chống bè phái, không đưa người tham vọng quyền lực vào Ban Chấp hành Trung ương, loại khỏi bộ máy những kẻ có đạo đức không trong sáng, những kẻ giàu lên bất minh…Việc làm này không nằm ngoài mục đích chỉa mũi nhọn công kích về phía ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Từ những nguồn tin được tung lên Internet cho thấy, trước kỳ Đại hội đảng lần thứ 12, ông Nguyễn Phú Trọng đã tỏ ra rất quyết đoán, một hình ảnh rất khác so với người chỉ quen với những giáo điều, lý luận. Trong tất cả những phương án bầu chọn lãnh đạo cho Đại hội đảng lần tới, ông Trọng thẳng thừng loại trừ Nguyễn Tấn Dũng. Cùng với đó là có nguyện vọng muốn được tái cử thêm một nhiệm kỳ làm Tổng Bí thư nữa. Tham vọng của ông Trọng liệu có đạt được ý nguyện, chúng ta cần phải chờ đến khi Đại hội đảng lần thứ 12 hạ màn, kết quả mới được công bố.

    Sáng ngày 5/1, màn sơ duyệt của 5,200 của các binh sĩ thuộc lực lượng vũ trang chuẩn bị cho Đại hội đảng lần thứ 12 khiến cho dân chúng bàng hoàng. Cùng với 5,200 binh lính là 125 chiếc xe đặc chủng chủ yếu làm nhiệm vụ chống khủng bố, bạo loạn. Bên cạnh đó còn có khoảng 100 chiếc xe chở binh lính, xe dẫn đường, xe cứu thương…

    Trong khi chờ đợi kết quả để biết được ai là Tổng Bí thư đảng CSVN sắp tới thì hãy coi màn chuẩn bị triệt hạ nhau giữa các đối thủ trong nội bộ đảng CSVN. Cuộc chiến sống còn này sẽ cực kỳ hấp dẫn, mà có khi kết thúc cuộc chiến đảng CSVN cũng khó có thể tồn tại.

    NGƯỜI QUAN SÁT

    – Cụ Trạng Trình thật có Thần Trời vô Biên mách bảo nên đã thấy trước sự chia rẽ của các phe phái trong ĐCSVN

  158. chinhkie permalink

    (SƯU TẦM)

    30 tháng 4: Bốn mươi năm nhìn lại

    Lại 30 tháng 4! Bốn mươi năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, “lại 30 tháng 4” như những lời thở dài than thở của hàng chục triệu người trong nước và hải ngoại.

    30thang4

    Bốn mươi năm trước, định mệnh cho TÔI làm một trong những chứng nhân của ngày lịch sử, chứng kiến đoàn quân Cộng Sản tiến vào Sài Gòn, đứng ở góc Công Lý và Thống Nhất cho đến khi xe tăng cộng quân cán sập cổng Dinh Độc Lập. Qua 40 năm, từ ngày cầm bút viết thường xuyên cho báo Ngày Nay năm 2001, mỗi năm ngày 30 tháng 4 đến tôi lại viết về chủ đề 30 tháng 4. Bốn mươi năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 từ một người trẻ 25 tuổi nay thành ông già 65, viết về 30 tháng 4 như một gợi nhớ về những kỷ niệm cũ, những cơ duyên trong đời, sau ngày chứng nhân của lịch sử, lại cho tôi gặp những nhân vật lịch sử của những năm tháng định mệnh.

    “Trải qua những cuộc biển dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng.” Cụ Nguyễn Du có sống lại chắc cũng cãm thấy câu thơ của mình buồn cười không đủ diễn tả được những cuộc biển dâu ở đất nước xứ sở của mình trong thế kỷ thứ hai mươi, thân phận Thúy Kiều không thể so được thân phận của người Việt Nam. “Biển Dâu” không thể so được với “Biển Máu” gây ra bởi một người cùng tỉnh Nghệ An với cụ Tiên Điền, kẻ hậu bối tên Nguyễn Tất Thành mang biệt hiệu “Ái Quốc,” không làm việc được cho Pháp và cộng tác với OSS của Mỹ, đi tìm đường “bán nuớc,” qua Pháp gia nhập Đảng Cộng Sản bán tổ quốc cho Cộng Sản Quốc Tế dưới Chủ Nghĩa Mác-Lênin. Chiến tranh giải phóng thực chất là chiến tranh nô lệ cho chủ nghĩa Cộng Sản bắt đầu khi ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản xé nát Hiệp Định Genève 1954.

    Trong khi miền Nam cố xây dựng kinh tế với nền Cộng Hòa thì Cộng Sản chỉ biết máu, lửa, hận thù và sức mạnh phá hoại cả hai miền. Đảng CSVN bắc chước Cộng Sản Nga và Trung Hoa từ cải cách ruộng đất, sang bằng giai cấp tư sản cho đến bạo lực cách mạng. Chiến tranh từ 1954 đến 1975 đã kết thúc vì sự phản bội của Hoa Kỳ sau Hiệp Định Paris năm 1973. Một cuộc chiến phức tạp, bên phía Hoa Kỳ gọi là chiến tranh Việt Nam, bên phía Cộng Sản gọi là chiến tranh Mỹ còn phía Việt Nam Cộng Hòa gọi là chiến tranh chống cộng. Bốn mươi năm sau nhìn lại, sau khi khối Xô Viết sụp đổ, sau khi Cộng Sản Trung Quốc biến thể thành tư bản đỏ thì cuộc chiến đúng “nhân nghĩa thắng cường bạo” phải được gọi là chiến tranh chống cộng (cuộc chiến tranh có chánh nghĩa như nhà văn Nguyên Vũ đã đặt tên là “cuộc Thánh Chiến Chống Cộng”).

    Bốn mươi năm sau nhìn lại hai chế độ Cộng Hòa dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu dù là hai chế độ Dân Chủ với những khuyết điểm vẫn hơn hẳn chế độ Cộng Sản miền Bắc sau năm 1954 và cả nước sau 1975 trên phương diện tự do, quyền làm người và bình đẳng giai cấp. Cuộc chiến chống cộng khởi đầu bằng một tổng thống Dân Chủ, Tổng Thống John F. Kennedy, chấm dứt bằng Hiệp Định Paris đạo diễn bởi Tiến Sĩ Henry Kissinger người tạo trật tự thế giới mới sau chuyến đi thăm Trung Hoa của Tổng Thống Richard Nixon năm 1972. Năm nay, 2015, Tiến Sĩ Kissinger lại xuất hiện với trật tự thế giới mới đã bị giới tiến bộ chỉ trích lần nữa khi họ nhắc lại vai trò của Kissinger qua Hiệp Định Paris năm 1973. Năm ngày trước kỳ tranh cử tổng thống năm 1968, Tổng Thống Lyndon B. Johnson ra lệnh ngưng bỏ bom Bắc Việt. Kissinger hai ngày sau đó, qua bà Anna Chenault, đã nói với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không đến Hiệp Định Paris vì Tổng Thống Nixon sẽ có một hiệp định hoà bình tốt hơn cho VNCH. Đối với thành phần cấp tiến Tiến Sĩ Kissinger là một tội phạm, đối với miền Nam VNCH, tội của ông nặng hơn là tội đã làm gia tăng con số tử vong của Việt và Mỹ trong thời chiến tranh Việt Nam.

    Tổng Thống John F. Kennedy sau buổi lễ nhậm chức đã hứa, “Chấp nhận gian khổ, khó khăn để giúp đỡ bất cứ đồng minh nào của Hoa Kỳ chống lại bất cứ kẻ thù nào để bảo đảm cho sự sống còn và thành công của tự do.” Hoa Kỳ từ con số cố vấn quân sự 865 người qui định bởi Hiệp Định Genève đã tăng số quân lên 16 ngàn. Năm 1965, Tổng Thống Johnson đổ thêm quân vào Việt Nam. Sau năm 1968, quân Mỹ ở Việt Nam lên đến hơn 1/2 triệu. Năm 1968, trong kỳ tranh cử tổng thống, ứng cử viên Nixon đã hứa rút hết quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tháng 6 năm 1969 Tổng Thống Nixon đã tỏ ý này với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ở Hội Nghị Midway.

    Trong những năm sau đó những nỗ lực chánh trị và quân sự của chính quyền Nixon đều nhắm vào mục đích này cũng giống như Tổng Thống Johnson trước đó bỏ bom Bắc Việt để đưa Cộng Sản vào bàn hội nghị và Hoa Kỳ có cớ rút quân về. Hành quân Hạ Lào năm 1970 và 1971 do Tổng Thống Nixon thực hiện lời khuyên của Tổng Thống Eisenhower với Tổng Thống Kennedy trong ngày lể nhậm chức mà Tổng Thống Kennedy đã bỏ qua: Chặn đứng đường tiếp tế qua đường mòn Hồ Chí Minh. Tổng Thống Nixon ghi lại trong Hồi Ký “the real war,” Hành quân Mỹ Việt ở Cambodia năm 1970 và 1971 thành công đã giúp Hoa kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam.

    Năm 1972, Tiến Sĩ Kissinger đi đêm với Trung Cộng, Nga và Bắc Việt với Lê Đức Thọ không màng đến ý kiến của VNCH: “Hà Nội, Hoa Thịnh Đốn, Moscow và Bắc Kinh đều đồng ý: Quân đội Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam sẽ không được đề cập đến trong Hiệp Định Paris.” Kissinger đã đến Sài Gòn với văn bản của Kissinger và Lê Đức Thọ. Năm ngày ở Sài Gòn từ 17 tháng 10 đến 22 tháng 10 năm 1972 là “thất bại ngoại giao” lớn nhất trong đời như Kissinger tự thú. Tiến Sĩ Kissinger đã đụng vào “bức tường kiên cố của thế giới tự do Tổng Thống Thiệu đã từ chối bản dự thảo lúc đầu là 23 điểm sai biệt, sau lên đến 65 điểm (theo ông Hoàng Đức Nhã) hay 69 điểm (theo ông Nguyễn Xuân Phong).” Thái độ độc lập của Tổng Thống Thiệu đã khiến Kissinger xử dụng đủ mánh khoé chánh trị từ đe dọa, vuốt ve, thân thiện hứa hẹn. Tất cả trí tuệ và năng động của ông Kissinger dùng để áp lực đồng minh thay vì để đối phó với kẻ thù. Tiến Sĩ Kissinger đã đe dọa Tổng Thống Thiệu: “Ông không nên muốn thành thánh tử đạo,” sai tướng Alexander Haig đến Sài Gòn dọa, “Nếu Việt Nam không ký thì chúng tôi sẽ có biện pháp tàn bạo.” Ông Hoàng Đức Nhã đã đoán biện pháp ấy là ám sát.

    Muốn Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký Hiệp Định Paris, ông Kissinger tuyên bố, “Có vấn đề thì có giải pháp” (một câu nổi tiếng Kissinger lập đi lập lại trong hơn 40 năm) giải pháp là bỏ bom Bắc Việt áp lực Cộng Sản trở lại bàn hội nghị sau đó Tổng Thống Nixon gởi lá thư ngày 16 tháng 1, 1973 đến Tổng Thống Thiệu: “Tôi đã nhất định ký Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1, 1973 và nếu cần tôi sẽ ký một mình và cho thế giới biết các ông cản trở hòa bình. Kết quả không tránh khỏi là tôi sẽ chấm dứt viện trợ cho VNCH.” Sau khi đe dọa, cả Tổng Thống Nixon và Tiến Sĩ Kissinger hứa hẹn chính phủ Hoa Kỳ sẽ bảo đảm nền an ninh cho VNCH trong trường hợp Sài Gòn đồng ý ký Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1, 1973 (sách NX Phong). Trong hồi ký The Real War Tổng Thống Nixon lặp lại là Hoa Kỳ sẽ dùng biện pháp mạnh và cứng rắn để trả đũa khi Bắc Việt cố ý vi phạm Hiệp Định Paris.

    Từ tháng tư năm 1973 trở đi quyền của Tổng Thống Nixon yếu dần vì vụ Watergate nên Tổng Thống Nixon không thực hiện những lời cảnh cáo của ông. Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 15 tháng 8, 1973 cấm dội bom Cambodia và đòi hỏi phải có sự chấp thuận của Quốc Hội trước khi có những can thiệp quân sự trong thời gian đó “suốt năm 74, Nga tiếp tục đổ vũ khí vào Bắc Việt để giúp xâm lăng miền Nam. Tháng 3, 1974, Hà Nội đưa 185,000 quân và 500 đến 700 xe tăng vào Nam (The Real War). Nga tiếp tục viện trợ quân sự còn Hoa Kỳ cắt viện trợ cho miền Nam theo đạo luật Quốc Hội tháng 11 năm 1973. Sau trận Phước Long anh dũng của quân lực VNCH đầu năm 75, Bắc Việt biết Hoa Kỳ không can thiệp nữa nên Hà Nội phát động Tổng Tấn Công mùa Xuân 1975 thay vì năm 1976 như dự định. Kết quả đưa đến ngày 30 tháng 4, 1975.

    0521a-huacc82n2bchucc9bocc9bng2bgpmn2bvacc80ng2bbacca3c2bc490occ82cc80ng-babui-danlambao

    Tổng Thống Nixon đổ lỗi cho Quốc Hội và khen ngợi Quân Lực VNCH: “Quân Lực VNCH đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu dũng cảm và đủ khả năng đánh bại quân Bắc Việt từ năm 1972.”

    40 năm nhìn lại, chiến tranh Việt Nam đã thay đổi trước ngày Tổng Thống John F. Kennedy bị ám sát. Năm 2013 tài liệu cho thấy sau Vịnh Con Heo ở Cuba, Tổng Thống Kennedy đã tính đường rút lui khỏi Việt Nam. Từ Johnson đến Nixon con đường bỏ bom ở Bắc Việt và chiến thuật quân sự ở Nam Việt Nam chỉ là chiến thuật rút lui của Hoa Kỳ trái với ý chí của VNCH với miền Nam là tiền đồn chống cộng.

    Daniel Ellsberg, nhà báo đã tiết lộ hồ sơ mật Ngũ Giác Đài đã xem “đây là tội ác của Nixon và Kissinger, sự phản bội chứ không phải là thay đổi thế cờ.”

    Báo Ngày Nay số kỷ niệm 30 năm Hiệp Định Paris 1973 đã có bài viết đầu tiên của ông Hoàng Đức Nhã cựu bí thư của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cựu Bộ Trưởng Dân Vận Chiêu Hồi người đã trực tiếp đối đầu với Tiến Sĩ Kissinger đã tiết lộ những bí mật hậu trường cùng với ông Nguyễn Xuân Phong đại diện cho VNCH từ 1968 đến 1975 trực tiếp đối diện với phe Mỹ, Bắc Việt và giải phóng và nhà báo Việt Nguyên trong cùng số chủ đề với những tài liệu trong sách hồi ký của Tổng Thống Nixon, Tiến Sĩ Kissinger, sách “không hoà bình chẳng danh dự: Nixon, Kissinger và sự phản bội ở Việt Nam” của Tiến Sĩ Larry Bergman do Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng dịch đã trả lời được câu hỏi: “Mỹ có thật sự cam kết bảo vệ miền Nam rồi bỏ rơi hay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã bịa đặt để chạy tội?”

    Bảy năm trước, tôi có dịp được nói chuyện riêng hai lần với cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Ông đã nói cho tôi, “Anh không thể khui những chuyện bí mật từ tôi.” Tôi vẫn biết ông nổi tiếng là “tủ lạnh” giữ kín những bí mật lịch sử từ năm 1963, nhưng ông cho tôi biết tài liệu trong cuốn sách “Khi đồng minh tháo chạy” của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng do ông cung cấp và “Nguyễn Tiến Hưng đã có công lớn trong Hiệp Định Paris.” Khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu còn sống, cuốn “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” của ông Nguyễn Tiến Hưng đã do các anh em thương gia trẻ Houston ấn hành làm vui lòng ông Thiệu về những sự thật được ông xác nhận nhưng cuốn “Khi đồng minh tháo chạy” viết sau khi Tổng Thống Thiệu mất có nhiều điểm sai vì đó tôi có bài viết phê bình trên Ngày Nay và đã làm cho ông Nguyễn Tiến Hưng không được vui nhưng câu của cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đã khiến tôi nói ngay là những điều ông nói đã khác những gì tôi được biết qua sách của Nixon, Kissinger, Larry Bergman, Nguyễn Phú Đức, các bài hồi ký của ông Nguyễn Văn Ngân phụ tá của Tổng Thống Thiệu cũng như khác những gì Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cựu Đại Sứ Bùi Diễm, ông Nguyễn Xuân Phong và ông Phan Hòa Hiệp đã nói cho tôi biết về vai trò của ông Hoàng Đức Nhã trong Hiệp Định Paris 1973. Cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đã im lặng không trả lời, im lặng là đồng ý chăng?

    Tôi chỉ muốn cái gì của lịch sử trả về với lịch sử. Năm ngoái tôi có dịp nói chuyện với ông Hoàng Đức Nhã, tôi hỏi ông, “Tại sao Tổng Thống Nixon và Kissinger có thể bội hứa với VNCH dễ dàng?” Theo ý ông Nhã là vì Hiệp Định Paris 1973 đã không được phê chuẩn bởi Quốc Hội Hoa Kỳ. Năm nay nhân dịp hiệp định nguyên tử giữa Hoa Kỳ và Iran, tôi tìm thấy câu trả lời theo sự tìm hiểu của tôi: Tổng Thống Nixon đã xem Hiệp Định Paris như là một thỏa hiệp chánh trị chứ không phải là hiệp định. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh theo chủ thuyết “One voice Doctrine” một tiếng nói của tổng thống có quyền thỏa hiệp mà không qua Quốc Hội vì vậy Tổng Thống Nixon đã bội hứa với VNCH.

    Hai mươi năm trước tôi có dịp về Việt Nam, đi qua nghĩa trang Biên Hòa cũ vắng bóng bức tượng Tiếc Thương đã làm tôi nhớ đến người lính VNCH và câu của ký giả chiến tranh nổi tiếng Jean Lartéguy “khác biệt giữa chiến thắng và chiến bại khác nhau một trời một vực. Thua trận, người lính phải chịu tất cả những phán xét khắc nghiệt của lịch sử ngược lại những kẻ chiến thắng được lịch sử tha thứ cho tất cả những tội ác và bạo lực trong thời chiến tranh.”

    Lính VNCH chịu nhục vì Tiến Sĩ Kissinger bán đứng Việt Nam vì quyền lợi (Tiến Sĩ Kissinger đang làm tham vấn cho công ty China Adventure tiếp tục theo quyền lợi Trung Cộng) và vì lỗi của Đại tướng William Childs Westmoreland.

    Trong cuốn sách của Lewis Sorley ông đã cho thấy những lỗi lầm của tướng Westmoreland. Quân Lực VNCH anh dũng đã chịu thảm cảnh gây ra do tướng Westmoreland. Năm 1963, ngày 13 tháng 12, sau đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vị tướng trẻ tuổi được gởi qua Việt Nam dưới quyền tướng Harkins tư lệnh quân Hoa Kỳ ở Việt Nam (COMVS-MS) sau đó ông thay thế tướng Harkins làm chỉ huy trưởng. Ông là trung tướng trẻ tuổi nhất quân đội nên tánh kiêu ngạo thêm vào đó người cao lớn nên ông đã đối xử với tướng lãnh và sĩ quan VNCH như là các sinh viên trường sĩ quan võ bị West Point. Làm tư lệnh quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam mà không hề gặp Tổng Thống Lyndon Johnson trong những năm Johnson nhậm chức. Từ ngày 1 tháng 8, 1964 sau khi được Đại Sứ Maxwell Taylor gắn lon bốn sao, ông không hề hỏi ý kiến các tướng lãnh VNCH, ông không cần biết chiến lược Hoa Kỳ có phù hợp với những điều kiện phức tạp ở Việt Nam, chánh sách Hoa Kỳ hóa chiến tranh Việt Nam (chữ của Đại Sứ Bùi Diễm), đã tạo ra chữ American War.

    Tướng Westmoreland xem thường Quân Lực VNCH: “Các anh có thể chiến đấu nhưng chúng tôi không muốn các anh cản đường.” Từ 1966, quân Hoa Kỳ chủ động, quân đội VNCH không được tân trang cho đến sau trận Mậu Thân nhờ phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ phàn nàn. Chiến dịch “dùng địch diệt địch” của ông gây thất nhân tâm và cho phe phản chiến có cơ hội chống đối khi nhìn thấy những hình như Trần Kim Phúc bị bom Napalm chụp bởi ký giả Huỳnh Công Út (được tuần báo Vanity Fair phỏng vấn cho 40 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc) hay gây ra thảm cảnh Mỹ Lai do Trung Úy William Calley (ký giả Seymour Hersch trở về Mỹ Lai kỷ niệm 40 năm chiến tranh Việt Nam để Việt Cộng có dịp tuyên truyền về hơn 500 nạn nhân và quên đi những tội ác của Việt Cộng như mồ chôn tập thể ở Huế Tết Mậu Thân). Các tướng Fred Weyland tư lệnh ở Việt Nam và Norman Schwarkoff đã chê tướng Westmoreland và trường võ bị West Point không nhắc đến tướng Westmoreland.

    Nguyên nhân gần dẫn đến sự kết thúc chiến tranh Việt Nam là “cuộc triệt thoái Tây Nguyên.” Hồi chủ nhiệm Trọng Kim còn sống, mỗi 30 tháng tư chúng tôi đều tự đặt câu hỏi, “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tự ra lệnh hay vì áp lực của Mỹ?” Câu hỏi chưa có câu trả lời và bà Nguyễn Văn Thiệu cho tôi biết ông không viết hồi ký để lại.

    Lịch sử sẽ phê phán hai nền Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Một lịch sử trung thực chứ không phải lịch sử như sử gia Toynbee viết, “Lịch sử là ghi nhận những nói dối của kẻ chiến thắng,” một lịch sử của Đảng Cộng Sản viết cho dân Việt Nam học. Riêng về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, quan điểm quần chúng khắt khe về ông trong thập niên đầu sau 30 tháng 4 năm 1975 đã thay đổi. Báo chí đã dùng những lời lẽ không lịch sự khi nói về ông, có lẽ họ không quên những câu tuyên bố của ông “hy sinh đến giọt máu cuối cùng” trước ngày 30 tháng 4 hay lời kêu gọi lập chiến khu chống cộng của phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ. Đến năm 1990 khi ông xuất hiện ở Nam California, giới truyền thông bắt đầu lắng nghe dù còn phê bình nặng lời. Người Việt bắt đầu hiểu qua “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập,” người lãnh đạo VNCH như võ sĩ lên đài một tay đánh một tay bị đồng minh trói, đằng sau lưng bị đánh lén bởi thành phần thứ ba phản chiến.

    Năm 1990 ông đến ở Galveston một tuần, ngày Chúa Nhật ông đi lễ nhà thờ ở Port Arthur nhằm ngày lễ tro, dân Việt Nam đi lễ đã đón và chào ông như ngày ông còn làm tổng thống không có cảnh chửi bới hay phỉ nhổ như người ta tưởng tượng. Sống lưu vong ông không có một đời sống xa hoa như các lãnh tụ lưu vong khác như Tổng Thống Ferdinand Marcos của Phi Luật Tân, hay như người làm chủ 16 tấn vàng như lời tuyên truyền của Việt Cộng (theo như sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức số vàng đem về Bắc hay theo Nguyễn Bửu Xuân báo Thanh Niên viết: Ngày giao kho bạc cho “quân giải phóng” số vàng 16 tấn vẫn còn nằm trong kho không bị tẩu tán hay nằm ở phi trường Tân Sơn Nhất khi quân Văn Tiến Dũng vào như ông Nguyễn Tiến Hưng viết).

    Ông nói chuyện bình dị dễ hiểu, xem lại phim 10,000 Ngày Chiến Tranh Việt Nam, người xem thấy ông chịu học nói cả về diễn văn lẫn Anh văn hơn ông Nguyễn Cao Kỳ. Ông là người nhã nhặn. Tôi được xem những bản tường trình của Đại Sứ Bùi Diễm gởi về cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ Hoa Thịnh Đốn, những lời viết trả lời của Tổng Thống Thiệu lễ độ đối với người lớn tuổi dù ông bất đồng quan điểm với ông Bùi Diễm.

    Lịch sử trớ trêu, sau khi ông mất năm 2001, người Việt hiểu rõ ông hơn nhờ những sách hồi ký cả Việt và Mỹ. Người Việt sống trong chế độ Cộng Sản tham nhũng trong 40 năm cũng đã hiểu ông không tham nhũng, gia đình trị như Đảng Cộng Sản. Tham nhũng là cái cớ của chánh quyền Hoa Kỳ để rút lui khỏi Việt Nam như cái cớ Hoa Kỳ đang dùng ở A Phú Hãn. Câu nói ngày ông còn cầm quyền không ai nghe, “Đừng tin những gì Cộng Sản nói hãy nghe những gì Cộng Sản làm” bây giờ trở thành ca dao tục ngữ. Một câu nói khác của ông đã đi vào lịch sử, trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 khi VNCH đã bị cắt viện trợ quân sự, ông ra lệnh, “Không để một tấc đất mất vào tay địch,” trận đánh với anh hùng Ngụy Văn Thà đã chứng tỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và quân lực VNCH là những người yêu nước. Sau 40 năm, dân Việt Nam cả hai miền đều rõ ai yêu nước ai bán nước.

    Bốn mươi năm nhìn lại ngày 30 tháng 4, 1975, Hoa Kỳ bỏ Việt Nam trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới (xem 2015: Trật tự thế giới mới) và Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền không thay đổi bản chất. Năm 1995 (sau 20 năm thất bại trong Hòa Bình) khi Hoa Kỳ sắp bang giao với Việt Nam, tôi có dịp về thăm nhà. Các ông lớn trong Đảng Cộng Sản nhũn nhặn hứa sẽ thay đổi những “anh” như Tư Sang chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố hứa “sẽ thay đổi từ từ.” Họ ngại một thay đổi như Đông Âu năm 1989 nhất là thay đổi với cái đầu Nicolae Ceausesca ở Hung Gia Lợi. Ngoài Bắc, ông Vũ Khiêu (quốc phụ, chú Trường Chinh) nhắc đến cải cách ruộng đất và những lỗi lầm của đảng, trong Nam ông Phạm Xuân Ẩn gián điệp hoàn hảo (không hoàn hảo gì khi ngày học xong ở California về nước ông định quăng hộ chiếu để ở lại Mỹ khi đứng trên cầu Golden Gate vì sợ chánh quyền Ngô Đình Diệm bắt, lúc nào cũng sợ VNCH biết được là điệp viên) không được tin dùng khi các ông “Cách mạng thật” lên cầm quyền phải ra Bắc học tập một thời gian vì bị nghi ngờ thân Mỹ đã luôn luôn hỏi bạn bè “bên ngoài họ nghĩ gì về ông.”

    Sợ thay đổi nhưng sau 1995, bang giao với Hoa Kỳ, đảng một lần nữa được “chánh sách ổn định Đông Nam Á” của Tiến Sĩ Kissinger bảo đảm nên chỉ cho dân làm kinh tế mà không được làm chánh trị. Làm kinh tế với định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Đảng CSVN đi vào con đường nô lệ Đảng CSTQ thay vì nô lệ Mác-Lênin cũ kỷ. Jean Paul Sartre, triết gia Pháp, sau chiến tranh Việt Nam, tỉnh mộng khi nhìn thấy cảnh khổ thuyền nhân Việt Nam đã viết, “Chủ Nghĩa Cộng Sản như con chó chết” (Le chien mort). Con chó chết ấy đang vẫy đuôi phá hoại xã hội Việt Nam càng ngày càng ung nát với quyền lợi đảng.

    Gần đây nhà báo Huy Đức tác giả “Bên thắng cuộc” đã đề nghị làm “bức tượng hòa giải.” Đề nghị này quá sớm. Các quốc gia Đông Âu dù đã thoát khỏi chế độ Cộng Sản vẫn kêu gọi một “bức tượng nạn nhân Cộng Sản.” Bức tượng ấy ở Việt Nam sẽ tưởng niệm các nạn nhân Cộng Sản cả hai miền: Những nạn nhân cải cách ruộng đất năm 1954, nạn nhân Mậu Thân Huế, nạn nhân chiến tranh Việt Nam, nạn nhân tù cải tạo, tù chánh trị, nạn nhân trên những chuyến tàu vượt biển, nạn nhân tham nhũng, nạn nhân của nạn côn đồ cướp nhà cướp đất, nạn nhân của một chế độ vô luật pháp.v.v…

    Viết đến câu kết luận này, xem lại lịch tháng 4 năm 1975, hôm nay 21 tháng 4, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức trao quyền cho cụ Phó Tổng Thống Trần Văn Hương.

    Việt Nguyên

    – See more at: http://namviet.net/blog-thoisu/30-thang-4-bon-muoi-nam-nhin-lai/#.VotKIbZ94sY

  159. chinhkie permalink

    Đừng nghe những gì Cộng sản nói. Hãy nhìn những gì Cộng sản làm !
    Đừng sợ những gì Cộng sản làm. Hãy làm những gì Cộng sản sợ !

    ————-oo0oo————–

    [Trang Sưu Tầm]

    Vietlist.us

    ——–o0o——–

    NHỮNG CÁI CHẾT BÍ ẨN TRONG ÐẢNG CSVN

    Thưa quí vị và các bạn!

    Cộng Sản là một chủ nghĩa khát máu với chủ trương bao lực cách mạng nên đảng viên CS cuồng tín quen thanh toán, giết người. Chúng không chỉ tàn ác với người mà chúng cho là kẻ thù, mà chúng tàn ác ngay với cả chính đồng chí của chúng.

    1/ Stalin đã sát hại 2/3 Ủy Viên Chính Trị Bộ, khoảng 3/4 Ủy Viên Trung Ương thời Lênin và khoảng 20 triệu dân Nga.

    2/ Mao Trạch Đông cũng đã hãm hại nhân vật thứ 2 như Lâm Bưu, rồi Chủ Tịch Lưu Thiếu Kỳ, Bành Chân, Bành Đức Hoài…, chính Đặng Tiểu Bình cũng 3 lần bị hạ bệ và khoảng 60 triệu dân TQ đẫm máu.

    3/ CSVN cũng không thoát khỏi những hành vi man rợ thuộc loại này. Nhưng do bưng bít nên dư luận ít biết đến các cuộc thanh trừng nội bộ tàn ác trong đảng CSVN.

    A- MỘT LOẠT NHỮNG CÁI CHẾT BÍ ẨN:

    – Lâm Đức Thụ (1890-1947), tên thật là Nguyễn Công Viễn, Thư Ký Thường Trực Tổng Bộ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, là một trong mấy người sáng lập tổ chức Tâm Tâm Xã (1923), Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925), người cùng Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu. Bị HCM vu cho là chỉ điểm, mật thám, tay sai thực dân đế quốc… để rồi kết thúc cuộc đời trước họng súng của dân quân vào năm 1947 tại quê hương Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

    – Đại Biểu QH Dương Bạch Mai (1904-1964), từng du học Pháp, Liên Xô, bị đột tử khi uống ly bia giữa 2 phiên họp Quốc Hội trước khi đọc diễn văn phản đối xã hội kiểu trại lính của Trung Quốc.

    – Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, bút hiệu Hạ Sĩ Trường Sơn (Con trai út là Nguyễn Chí Vịnh, năm 2010 là Trung Tướng, nguyên Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 2, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng). Nguyễn Chí Thanh bị chết thình lình sau khi dùng cơm chia tay với HCM ở Phủ Chủ Tịch về nhà, thì đêm hôm đó, gần sáng ngày 6/7/1967 bị ói ra máu chết, đúng vào ngày định trở lại miền Nam lần thứ 2 (nhà cầm quyền nói chết vì bệnh tim).

    – Đại Tướng Chu Văn Tấn (1909-1984), nguyên là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bị cho là theo phe Hoàng Văn Hoan đã chết bất đắc kỳ tử.

    – Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái (1915-1986), có mặt trong đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, sui gia với Võ Nguyên Giáp. Khi chuẩn bị lên làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thay thế Văn Tiến Dũng thì chết đột ngột chết ngày 2/7/1986. Có tin là bị Lê Đức Thọ sát hại vì e ngại người khác phe sẽ khui ra nhiều chuyện của Dũng và Thọ… để đưa Đại Tướng Lê Đức Anh lên Chủ Tịch nước vào tháng 2/1987.

    – Đại Tướng Lê Trọng Tấn, tên thật là Lê Trọng Tố (1914-1986), Viện Trưởng Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân VN, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân dân Việt Nam, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam. Chết thình lình ngày 5/12/1986. Có tin cũng bị Lê Đức Thọ sát hại khoảng 5 tháng sau khi sát hại Hoàng Văn Thái.

    – Thượng Tướng Đinh Đức Thiện (1913-1987), người hùng đường mòn Hồ Chí Minh, Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần, Phó Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải, tên thật là Phan Đình Dinh, em ruột của Lê Đức Thọ (tên thật là Phan Đình Khải, 1911-1990, Bí Thư Thường Trực Ban Bí Thư, phụ trách tổ chức kiêm Trưởng Ban Chính Trị Đặc Biệt) (*), và là anh của Mai Chí Thọ (tên thật là Phan Đình Đống, 1922-2007, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, Đại Tướng Công An).
    Khi thấy Lê Đức Thọ tác oai, tác quái, tùy tiện bắt giam nhiều đồng chí cao cấp không cần chứng cứ, không cần xét xử, Đinh Đức Thiện đã phải nói với anh mình rằng: “Anh không thể làm những việc thất đức như thế được. Anh đừng có làm nhục dòng họ Phan, anh không lo rồi họ đào mả bố chúng ta lên à?” thì bị “lạc đạn” chết trong lúc đi săn, nhưng nhà cầm quyền nói là tai nạn giao thông. Mộ của Lê Đức Thọ chôn ở nghĩa trang hàng đầu là Mai Dịch ở Hà Nội vẫn bị có người đem phân đến ném nên sau phải đưa về quê ở Nam Định. Họ Phan Đình với 3 anh em đều lên đến tột đỉnh danh vọng thế mà đều tuyệt tự!?

    – Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1944-2013) có mấy đứa con học ở nước ngoài đều bị mật vụ của Thọ chiếu cố tận tình, như Võ Điện Biên học ở Đông Đức, Võ Thị Hòa Bình học ở Ba Lan, Võ Thị Hồng Anh học ở Nga. Do những hệ luỵ này mà tướng Giáp phải trả giá quá đắt. Chúng ta cũng biết con gái của Tổng Bí Thư Lê Duẩn là Lê Vũ Anh, học ở Nga, vì lấy viên sĩ hàn lâm học Maslov, mặc dù đã có 3 con với nhau, vẫn bị mật vụ của Thọ giết chết một cách rất thảm chỉ vì cái luật quái gở cấm các sinh viên không được lấy người nước ngoài. Luật này không thành văn, mà chỉ là luật miệng giữa các lãnh tụ với nhau.

    – Trung Tướng Phan Bình (1934-1987), Cục Trưởng Cục Quân Báo, sau khi vừa bị Lê Đức Anh tước mất quyền, bị giết bằng cách bắn vào đầu ngày 13/12/1987 tại Sài Gòn, nhưng nhà cầm quyền cho là tự sát, 1 tháng sau con trai cũng trong quân báo, cũng bị ép vào bệnh viện với lý do “tâm thần”.

    – Thủ Tướng CSVN Phạm Hùng (1912-1988), tên thật là Phạm Văn Thiện, tại nhiệm 1987-1988. Chết đột ngột (vì bệnh tim) ngày 10/3/1988 tại Sài Gòn, khi đang tại chức.

    – Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám (1948-2008), đặc trách tình báo gián điệp đột tử trong lúc khỏe mạnh và đi công tác đó đây liên tục vào ngày 12/12, mà ngày 15/12, các cơ quan truyền thông mới được đồng loạt loan tin là chết sau một thời gian dài lâm bệnh, mà không nói bệnh gì? Nhiều tin đồn cho rằng bị đầu độc?

    B- CÁC TRƯỜNG HỢP BỊ KẾT ÁN, BỊ TRÙ DẬP:

    – Hoàng Văn Hoan (1905-1991), Ủy Viên Bộ Chính Trị, Phó Chủ Tịch Quốc Hội, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Chính Trị Viên Vệ Quốc Quân Toàn Quốc. Từ năm 1950 đến năm 1957, làm Đại Sứ đầu tiên của CSVN tại Trung Quốc kiêm Đại Sứ tại Triều Tiên và Mông Cổ. Sau bị trù dập, nên năm 1979, nhân một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn qua Trung Quốc, bị kết án tử hình khiếm diện về tội phản quốc, sau mất tại TQ, chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn.

    – Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2011), Bộ Trưởng Quốc Phòng, bị nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn cho là theo xét lại của Liên Xô và chống đảng, tìm cách hạ bệ qua vụ án “Xét Lại Chống Đảng” năm 1967, có tên chính thức là “Vụ án Tổ chức chống đảng, chống nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài.”. Võ Nguyễn Giáp bị bắt lỗi từ việc nhận 1 lá thư của TĐS Liên Xô mà không báo cáo theo nội quy đảng…Năm 1980, Võ Nguyễn Giáp bị thôi chức Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng. Năm 1983, bị hạ nhục khi cho làm Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Gia Dân Số và Sinh Đẻ Có Kế Hoạch khi ủy ban này được thành lập, năm 1991, chính thức nghỉ hưu. Có lúc nhóm Lê Duẩn còn định quản chế Giáp ở một nơi biệt lập.

    Võ Nguyễn Giáp tự nhiên được Hồ Chí Minh đưa lên làm “Đại Tướng”, theo Sắc Lệnh số 110/SL ngày 28/5/1948, đùng một cái mất hết! Phần lớn thành tích đều là tuyên truyền và chiến công đều bằng sự hy sinh xương máu của hàng trăm ngàn bộ đội và dân chúng.

    – Đại Tướng Văn Tiến Dũng (1917-2002), Ủy Viên Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CSVN, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân, tư lệnh “Chiến Dịch Hồ Chí Minh” chiếm miền Nam năm 1975. Tác giả cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” ra vào tháng 5/1976. Từ tháng 12/1980 đến 1986, ông giữ chức Bộ Trưởng Quốc Phòng. Thuộc phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. Vợ Dũng là Nguyễn Thị Kỳ (tên thật là Cái Thị Tám), cũng là cán bộ CS. Sau năm 1975, khi nắm quyền tột đỉnh, hai vợ chồng ngang nhiên tham nhũng, dùng cả quân xa của đơn vị H12, H14 thuộc Tổng Cục Hậu Cần cướp tài sản quân đội… miền Nam chở ra Bắc và máy bay vận tải quân sự như Antonov An-24 hay An-26 buôn lậu hàng từ Bắc vào Nam bán cho người Hoa… Năm 1986, trong Đại Hội Đảng Bộ Toàn Quân, Dũng bị chỉ trích là tướng lãnh mà đi buôn lậu gây tai tiếng chưa từng có cho quân đội nên không được bầu làm Đại Biểu Chính Thức đi dự Đại Hội Đảng VI (dù Lê Đức Thọ bênh vực Dũng, đòi bỏ phiếu lại nhưng vẫn không đủ túc số). Ngay sau đó, Dũng mất ghế trong Bộ Chính Trị và mất chức Bộ Trưởng Quốc Phòng. Từ năm đó cho tới khi chết, tuy được coi là một “tướng tài”, không được nắm giữ bất cứ chức vụ nào và hầu như không còn được nhắc nhở tới nữa.

    – Thượng Tướng Trần Văn Trà (1919-1996), Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn. Khi về hưu, tham gia Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ, nhưng sau được đảng phủ dụ nên tách ra. Viết hồi ký “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm” (có ý chê trách trung ương thiếu hiểu biết tình hình thực tế) bị phê bình “qua mặt” trung ương, cấm xuất bản nên chí có ấn bản dở dang.

    – Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh (1927-), Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân VN, Ủy Viên Quân Ủy Trung Ương…
    Đứng tố giác Tổng Cục 2 lợi dụng chức vụ vu oan giá họa các đồng chí cao cấp kể cả Võ Nguyên Giáp… nên bị trù dập.

    – Trung Tướng Trần Độ, tên thật là Tạ Ngọc Phách (1923-2002), năm 1946, ở tuổi 23, làm Chính Ủy Mặt trận Hà Nội, Phó Chủ Tịch Quốc Hội khóa 7, Chủ Nhiệm Ủy Ban Văn Hóa và Giáo Dục của QH. Ông thuộc Ban Văn Hóa Đảng, là người soạn Nghị Quyết số 5, được Bộ Chính Trị thông qua vào tháng 12/1986, cho phép tự do sáng tạo và sách báo được lưu hành dễ dãi hơn nếu không có nội dung “phản động”. Từ đó nhiều tác phẩm bị cấm như của những nhân vật trong Phong Trào Nhân Văn – Giai Phẩm… được tái bản.

    Nhưng khi Đông Âu lung lay và phong trào sinh viên xuống đường nổ ra ở Thiên An Môn, đảng CSVN e ngại sụp đổ theo, bắt đầu xiết lại. Tháng 3/1989, trong cuộc họp kỳ 6 của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CSVN, Nguyễn Văn Linh đòi đình chỉ những “cởi trói” trong 3 năm vừa qua. Trần Độ vẫn ủng hộ tiến trình nới lỏng, tạp chí “Phê Bình và Dư Luận” do ông chủ trương, có nội dung đả trích nhà cầm quyền, nên sau khi ra được 1 số thì bị cấm. Trần Độ bị chỉ trích và bị Lê Đức Thọ cách chức, khai trừ năm 1999 (lúc đó 58 tuổi đảng). Khi chết tang gia không được đề quân hàm “Trung Tướng”, vòng hoa phúng của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị gỡ chữ “Đại Tướng” ra.

    – Thiếu Tướng Lê Thiết Hùng, tên thật là Lê Văn Nghiệm, (1908-1986), theo Lê Hồng Phong qua Thái Lan, rồi theo lệnh tổ chức, tham gia quân đội Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch làm tới Đại Tá, 2 lần sang Nhật gặp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, làm chính trị viên đội vũ trang đầu tiên gồm 12 người, Tư Lệnh Binh Chủng Pháo Binh, Hiệu Trưởng Trường Lục Quân Việt Nam, Cục Trưởng Cục Quân Huấn, Tổng Thanh Tra Quân Đội, là tướng được phong đầu tiên…, bị bắt vì cho là cùng phe Võ Nguyên Giáp.

    – Thiếu Tướng Đặng Kim Giang (1910-1983), bị Pháp bắt kết án giam 12 năm tù, Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần Quân Đội NDVN, tham gia trận Điện Biên Phủ 1954, Đại Biểu Quốc Hội, bị bắt giam 6 năm (có lúc cũng tại Hỏa Lò nơi bị Pháp giam) và 7 năm quản chế vì cho là chủ trương chia ruộng đất và khuyến khích tư sản, theo xét lại cùng phe Võ Nguyên Giáp.

    – Thiếu Tướng Lê Quảng Ba, tên thật là Đàm Văn Mông, dân tộc Tày (1914-1988), nguyên Tư Lệnh đầu tiên Quân Khu Việt Bắc năm 1949, năm 1951, làm Đại Đoàn Trưởng đầu tiên Đại Đoàn 316, bị kết tội cùng phe Hoàng Văn Hoan (?).

    – Thiếu Tướng Trần Văn Thanh (1953-), Chánh Thanh Tra Bộ Công An vì tố tham nhũng nên bị truy tố.

    – Nguyễn Văn An (1937-), Ủy Viên Bộ Chính Trị, từng du học Liên Xô 5 năm, Chủ Tịch Quốc Hội nhiệm kỳ 2001-2006, phê bình tính mất dân chủ trong đảng, đòi thực thi dân chủ nên bị trù dập.

    – Đoàn Duy Thành (1929-), Cựu Phó Thủ Tướng CSVN tác giả cuốn hồi ký “Làm Người Là Khó”, chủ trương làm khoán (bị cho là phạm chính sách, bị Đỗ Mười trù dập). Được coi là thân với Lê Duẩn, khi dự đám tang Lê Duẩn năm 2006, các con của Lê Duẩn đã hỏi ông Đoàn Duy Thành “Họ có giết chúng cháu không!?”.

    – Trần Xuân Bách, tên thật là Vũ Thiện Tuấn (1924-2006), Ủy Viên Bộ Chính Trị vì có tư tưởng đổi mới, kêu gọi đa nguyên, đa đảng sau khi đi quan sát sự sụp đổ của Đông Âu, bị khai trừ.

    – Hoàng Minh Chính (1920-2008), Viện Trưởng Viện Triết Học Mác-Lênin, bị bắt biệt giam 6 năm không xét xử, bị quản chế ở Sơn Tây từ 1973 đến 1976 vì cho là trong nhóm xét lại. Năm 1995, ông Hoàng Minh Chính còn bị kết án 1 năm tù vì tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của nhà nước”. Năm 2005, ông qua Hoa Kỳ chữa bệnh, đến phát biểu tại đại học Harvard về đề tài dân chủ cho Việt Nam và điều trần trước Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện Hoa Kỳ. Tháng 10/2005, trước khi về lại VN, ông có cuộc họp báo tại San Jose, cho hay từng có âm mưu hãm hại HCM, và nhóm ông tìm cách báo tin này cho HCM… Khi về VN, ông bị công an trả thù, cho bọn côn đồ và cựu chiến binh đến nhà chửi rủa và quăng phân…

    – Nguyễn Hộ (1916-2009), lãnh đạo Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ. Năm 1989, tổ chức này cũng bị nhà cầm quyền giải tán. Bất bình, Nguyễn Hộ từ bỏ đảng năm 1991 sau hơn 53 năm trong đảng. Sau đó ông bị bắt và quản thúc tại gia vì tội “chống đảng”.

    – Nguyễn Văn Trấn (1914-1998), Chính Ủy Bộ Tư Lệnh Khu 9, Năm 1938, ông sáng lập tờ Le Peuple (Dân chúng), Giảng Viên trường Nguyễn Ái Quốc, rồi Vụ Phó Ban Tuyên Huấn Trung Ương…

    Trong những năm cuối đời, ông nghi ngờ về vai trò của đảng CSVN, tham gia Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ và ký vào bản kiến nghị 100 người năm 1988 kêu gọi thay đổi cách thức bầu cử. Ông viết cuốn “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” nói lên mặt trái của chế độ, bị cấm lưu hành trong nước. Năm 1997, ông là một trong 45 nhà văn được Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) trao giải Hellman/Hammett dành cho các nhà văn bị đàn áp chính trị.

    Ngoài ra, bị trù dập còn có Đại Tá Lê Trọng Nghĩa là Cục Trưởng Cục 2, Đại Tá Lê Minh Nghĩa là Chánh Văn Phòng Bộ Quốc Phòng, Đại Tá Đỗ Đức Kiên là Cục Trưởng Cục Tác Chiến, Lê Liêm, Bùi Công Trừng, Hoàng Thế Dũng là Tổng Biên Tập báo Quân Đội Nhân Dân, Minh Tranh là Giám Đốc nhà xuất bản Sự Thật, Nguyễn Kiến Giang là Phó Giám Đốc nhà xuất bản Sự Thật, Trần Minh Việt là Phó Bí Thư thành ủy Hà Nội, Phạm Viết là Phó Tổng Biên Tập báo Hà Nội Mới, Phạm Kỳ Vân là Phó Tổng Biên Tập tạp chí Học Tập, Trần Thư là Tổng Thư Ký báo Quân Đội Nhân Dân… trong bộ tham mưu của Tướng Giáp. Sau này có Nguyễn Trung Thành, Lê Hồng Hà, Vũ Đình Huỳnh là Bí Thư của HCM (bắt ngày 18/10/1967), Vũ Thư Hiên (con của Vũ Đình Huỳnh), Nguyễn Minh Cần… Rồi Nhóm Nhân Văn – Giai Phầm, thêm nhà văn nhà kiêm biên kịch Hoàng Công Khanh (Vụ Trưởng, Giám Đốc Sở Văn Hóa – Thông Tin Hải Phòng).

    Và ngay cả Hồ Chí Minh (1890-1969), cũng bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lấn át, cô lập, cũng chỉ là bù nhìn trong khoảng 10 năm cuối đời…
    Email from Readers

    ——-oo0oo——-