Skip to content

SẤM TRẠNG TRÌNH THIÊN PHÚC NGUYỄN PHÚC ẤM LỤC NHÂM BÁT SÁT ĐỘN THÁI ẤT

02/11/2010

BẢN II * HƯƠNG SƠN 1950?

Lởi giới thiệu: Bản Sấm Trạng Hương Sơn này có nhiều điểm mới lạ hiếm thấy phổ biển, được tác giả Sơn Trung Nguyễn Thiên Thụ còn lưu giữ và cho phổ biên. Xin cảm ơn Tác giả.

http://sontrung.blogspot.com/2010/09/nguyen-binh-khiem-sam-ky-ong-nam.html

SẤM TRẠNG TRÌNH

THIÊN PHÚC NGUYỄN PHÚC Ấ

LỤC NHÂM BÁT SÁT ĐỘN THÁI ẤT 

PHỤ THÊM
SẤM TRẠNG TRÌNH

HƯƠNG SƠN-HÀ NỘI
70 trang 

Hương Sơn tổng phát hành
6 Đại lộ Gia Long, Hà Nội.

Trong bản Hương Sơn, Sấm Ký là một tập hợp các bài thơ, ở đầu mỗi bài có chữ :”Ngạn rằng”, thơ rằng:.Để tiện việc nghiên cứu, Sơn Trung theo đó mà ghi số vào các đoạn thơ.

Bản này soạn giả đời sau ghi chép lại các câu sấm ký có thể là do dân chúng truyền tụng , có thể là do NGuyễn Bỉnh Khiêm hay một ai đó tiên đoán từ nhà Tây Sơn về sau.

Bài 1

Nước Nam thường có thánh tài (tr.48)
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đao sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho
Học cách vật mới dò tới chốn
Chép ghi làm một bản xem chơi
Muôn việc cũng bởi tại trời
Suy thông mới biết sự đời nhường bao
Khéo chẳng sai tơ hào cũng vậy
Truyền hậu thế ai nấy xem cho
Những lời nghiêm ngặt khôn lo
Ai mà biết được trượng phu nên người.

Nay xem chữ một nghĩa mười
Nói xuôi cũng được ngược thời cũng nên
Kể từ Lạc Long Quân dựng nước
Sang Hùng Vương được 18 đời
Tiên Hoàng ngày trước mở ngôi (1)
Cờ lau lập trận thay trời trị dân
Mão được 12 dư xuân (tr.49)
Lê Hoàn kế vị xa gần âu ca (2)
Truyền đã được mười ba rằm lẻ
Đến Ngọa triều nào kể tài năng
Ngôi trời truyền đến Lý nay (3)
Long thành bát diệp đến ngày dực phân
Chiều Hoàng là ả nữ quân
Mê về nhan sắc trào Trần thái tôn
………………………………………………..

………………………………………………..

………………………………………………..

Trăm bảy mươi in dấu thất niên
Đông A chốn ấy còn bền (4)
Quý Ly tiếm thiết thay quyền đã cam
Thái ngu được mười bốn năm (5)
Hậu thập nhị để lại trăm đố hồi
Suy ra mới biết sự trời
Lam Sơn khởi nghĩa là đời Lê gia (6)
Mười đời ngồi ngự ngai vàng
Lại phải Mạc thị thiêu tàn kinh su (7)
Xưa làm lực sỹ đồ du
Trời cho nên trị làm vua một đời
Sáu mươi năm bất tái hồi
Tống Sơn chốn ấy có đời thạch công
Định mưu phù lập Trang Tôn
Phù Lê diệt Mạc anh hùng ai đương
Lại bàn bỉnh chính Sóc Sơn
Trịnh Vương toan chiếm ngai vàng Lê gia (8)
Tây Sơn sừng sực kéo ra (9)
Nghiệm xem thế tục gọi là hiệu chi ?

*

Chú
(1). Đinh Tiên hoàng
(2).Vua Lê Đại Hành, sinh ở xã Bảo Thái, Thanh Liêm
(3) Tên gọi Công Uẩn sinh ở chùa tháp Bắc Ninh khi đẻ có báo điềm rất lạ
(4) Trần Thái Tôn tên là Cảnh, quê ở Tức Mạc, huyện Thiên Trường – Nam Định nhờ có chú là Trần Thủ Độ mà được thiên hạ.
(5) Lê Thái Tổ tên gọi là Lê Lợi quê ở núi Lam Sơn thuộc Thanh Hoá có Thanh kiếm thần mà giết được giặc Liễu Thăng, Hoàng Phúc.
(6). Lê Quý Ly, đạt quốc hiệu Đại Ngu
(7). Mạc Đăng Dung là cháu bảy đời của Mạc Đinh Chi
(8). Trịnh Kiểm
(9).Nguyễn Huệ hiệu là Quang Trung phò nhà Lê diệt nhà Trịnh

Bài 2

Lại có ngạn rằng: (tr.50)

Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.(10)

Bài 3

Có thơ rằng:

Cha nhỏ đầu con lại nhỏ chân (11)
Nào ai có biết nguỵ quân cầm quyền
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi (12)
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê (13)
Nọ nào ngang dọc trong huê
Mà cho thiên hạ khôn bề làm ăn
Chó mừng chủ, gà cũng cục tác
Lợn ăn no tha rác, chuột chơi

Chú:
(10) (11). Nguyễn Huệ 阮惠 (1753 – 1792) tức vua Quang Trung ),光中皇帝; chữ Quang có chữ tiểu 小trên đầu, con là Quang Toản 阮光纘, (1783 – 1802) tức Cảnh Thịnh hoàng đế (景盛皇帝), chữ Cảnh có chữ tiểu dưới chân.
(12). Phụ nguyên: họ Nguyễn, chỉ Nguyễn Ánh, tức vua Gia Long.
(13).Dương 羊là dê, mượn dương này để nói dương 洋. Người Tây phương ở bên kia biển nên được gọi là người Tây dương. Dê chỉ người Pháp. Vua Gia Long tinn dùng người Pháp nên mất nước vào tay thực dân Pháp.

Bài 4

Ngạn lại có câu rằng:

Gà bỏ con kêu cục tác
Chó vẩy đuôi mừng thánh chúa
Lợn ăn no ủn ỉn nằm
Mới kể là đời thịnh thế
Mà thiên hạ sao nỡ sẻ làm hai
Bởi Tần Vương u mê chẳng biết
Rồi phen này dê lại giết dê
Tới khi thực tận binh bì
Âm binh ở giữa ai thì biết sao!
Trời cho ta giơ dao giết quỷ
Khắp dưới trời bằng quỷ khư khư
Ai từng cứu con thơ sa giếng
Giốc một lòng chinh chiến đua nhau
Muôn dân chịu thuở âu sầu
Kể dư đôi ngũ mới hầu khoan cho
Chốn đông nam là nơi khổ ải
Lánh cho xa kẻo phải đao binh
Bắc kinh mới thực đế kinh,
Giấu thân chưa dễ dấu danh được nào
Vả mình là đấng anh hào
Đánh làm sao được ước ao đêm ngày
Bò men lên núi Vu Sơn
Thừa cơ mới nổi một cơn phục thù
Ấy những quân phụ thù thui thủi
Lòng trời xui ai lại biết đâu…

Bài 5

Có thơ rằng:

Dần Mão chư dương giai vị cập (tr. 51)
Lai chiêu lục thất xuất minh quân
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diện trường ức vạn xuân.(14)

Chú:
(14). Năm dần, mão (?), thánh chúa họ Nguyễn ra cứu đời. Quê Hồng Lam dược 500 năm và trường cửu ức vạn năm. Phải chăng nói họ Nguyễn ở Tống Sơn , Thanh Hóa ( Hồng Lam) . Nguyễn Hoàng mất năm quý sửu (1613), con là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp chúa, không nộp thuế cho họ Trịnh, từ đó họ Nguyễn công khai chống Trịnh. Nguyễn Hoàng là người khai sáng nhưng chưa xưng vương, phải đến Nguyễn Phúc Nguyên mới xưng chúa, công khai chống Trịnh.

Bài 6

Có thơ rằng:

Hầu đáo kê lai khởi chiến qua (15)
Thuỳ tri thiên hạ chuyển như sa
Anh hùng mai thảo mã
Tướng suý tận tiêu ma
Phá điền thiên tử xuất (16)
Tràng vỹ tảo sơn hà (17)
Gà kia bên tường khuya sớm gáy
Chẳng yêu ra áy náy bất bình.

Chú:

(15). Năm thân (khỉ) năm dậu (gà) gây sự đánh nhau ( không rõ năm nào). Ai hay thiên hạ xoay chuyển như cát bụi, Anh hùng chôn ở bụi cỏ, da ngựa bọc thây.Tướng sĩ đều chết hết.
(16). Phá điền là phá quốc là nước mất ( chữ Điền 田 giống chữ quốc 国 ).
(17). Tràng Vỹ hay vĩ tinh: sao chổi. Người ta tin khi nào sao chổi xuất hiện là trong nước có biến loạn.

Bài 7

Có thơ rằng:

Một đám mây xanh đứng giữa trời
Ba thằng nho nhỏ đánh nhau chơi
Thiên hạ mười phần còn có một
Bây giờ Bạch Xỷ mới ra đời (18)
Thầy tăng mở nước trời không bảo.(19)
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham của tham giàu
Tìm nơi tam hiểm (20) mới hầu an thân (tr. 52)
Đằng giang chốn ấy cũng gần
Kim ngưu chốn ấy cũng lần tới nơi

Chú

(18): Bạch Xỷ: Răng trắng. Không hiểu nghĩa là gì. Phải chăng chỉ người Pháp trắng răng còn dân ta nhuộm đen. Tại Quảng Bình có Bạch Xỉ Đoàn Chí Tuân nổi lên kháng Pháp thời Hàm Nghi. Đoạn dưới ( bài 19) nói Bạch Xỷ tự, ở Thái Nguyên nơi thánh nhân được nuôi dưỡng ở đó.
(19): Có người giải thích thầy tăng là thằng tây. Không biết có đúng hay không. Bài 19, nói thầy tăng là thầy tu ở chùa Bạch Xỉ tự.
(20). Bản Hương Sơn ghi là tam hiểm, các bản ghi là tham hiểm. Tôi không có bản nôm nên chưa nghiên cứu được.

Bài 8

Thơ rằng:

Ba thục riêng một góc trời
Thái Nguyên một giải là nơi trú đình (21)
Bốn bề núi đá mọc xanh
Có đường tiểu mạch nương mình ai hay
Bốn mùa chim núi đá cây
Trời xanh cỏ biếc hoa bay ngạt ngào
Khuyên ai là đấng anh hào
Đợi chờ Nghiêu, Thuấn ngày nào sẽ hay
Bốn bụt xuất thế đã chầy
Chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân.

Chú:

(21).Thái Nguyên là nơi biên cương, núi non trùng điệp. Đời Mạc, anh em nhà Văn Mật lập nghiệp nơi đây. nhờ Nguyễn Hàng làm bài Đại Đồng phong cảnh phú. Cuối thế kỷ 19, khoảng 1890, cho đến 1913, Hoàng Hoa Thám hoạt động ở Yên Thế và Thái Nguyên, liên kết cùng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.
Năm 1917, Trịnh Văn Cấn tức đội Cấn đã khởi binh chống Pháp cùng với các nhà cách mạng Việt Nam Quang Phục Hội ở Trung Quốc tụ họp nơi đây mưu khởi binh chống Pháp. Sau khi thất bại ở Tà Lùng, hội tiếp tục mở các cuộc tấn công vào đồn khác theo kế hoạch của Việt Nam Quang Phục Hội, hoặc chịu ảnh hưởng của Hội, như cuộc đánh đồn Bát Sát (Lào Cai) ngày 8 – 8 -1916 . Nhà cách mạng Trần Trung Lập đã đem binh về Thái Nguyên, Lạng Sơn chống Pháp nhưng bị Pháp và Nhật đánh bại trong khoảng 1944. Sau Việt Minh cũng lấy Thái Nguyên làm căn cứ. Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Xuân Việt cũng đã ăn ở dầm dề ở nhà bà Nguyễn Thị Năm hiệu là Cát Hanh Long sau bà bị bọn này giết trong Cải Cách Ruộng đất năm 1954. Con trai bà làm Chính uỷ và các anh em bộ đội một số đã tự tử vì thái độ tàn ác của cộng sản phản dân hại nước. Quần tiên là nói chung các nhà cách mạng chống Pháp thời ấy.

Bài 9

Thơ rằng:

Ấy là điềm xuất thánh quân
Hễ ai tìm thấy thì thân mới tường
Chữ rằng “Hữu xạ tự nhiên hương”
Có dễ tầm thường thuốc dấu bán rao
Nắng lâu ắt có mưa rào
Vội chi tát nước xôn xao cày bừa
Nắng rồi thì phải có mưa
Buồm đang đợi gió cày bừa đợi cơn
Tuần này thánh xuất khảm phương
Sự thật đã tường chẳng lọ phải say
Tuần này thiên địa chuyển hồi
Thiên sầu địa thảm lòng người chẳng yên
Trời sai quỷ sứ dọn đường
Để cho thánh xuất khảm phương sau này
Vội chi đua sức ra tay
Người vội cày bừa ta sẻ cấy chơi
Suy cho thấu biết sự đời
Sấm ký mấy lời sự thực chẳng ngoa.

Bài 10

Thơ rằng:

1- Tích nhất đương lang khởi bộ thiền
2- Ưng tri hoàng thước tại thân biên (tr.53)
3- Tước bị lạm nhân cung đạn đả
4- Lạp nhân cách tự hổ lang huyên
5- Tuệ tinh xuất long xà
6- Thần xuất cửu cửu gia
7- Ngưu mã thiên hạ động
8- Đinh hạ nãi Đông A.

Dịch:

1- Con bọ ngựa (Đường lang ) muốn xơi ve sầu ( thiền)
2- Không biết rằng là con chim sẻ ở bên cạnh mình đang chờ dịp.
3- Nhưng con chim sẻ lại bị người ta dương cung bắn
4- Người đi săn cũng bị hổ đuổi
5- Năm Thìn, năm Tỵ có sao chổi ra điềm lạ
6- Thần ra điềm chẳng lành chín chín nhà.
7- Năm sửu ngọ niên thiên hạ không yên,
8. Họ Đinh họ Trần xuất hiện, hoặc họ Trần có tên Đinh hoặc chữ có ghép với chữ đinh??

Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng rằng gặp hội hiển vinh kêu hò
Nhị Hà một giải quanh co
Chính thức chốn ấy cố đô hoàng bào ( 22)
Khắp hoà thiên hạ nghêu ngao
Có bến mưa rào có thứ cùng chăng
Nói đến độ Thầy Tăng mở nước
Đánh quỷ sứ xuôi ngược đi đâu
Bấy lâu những cậy phép mầu
Bây giờ phép ấy để đâu không hào ?
Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình chơi vào quận Ngô Tề.

Chú:

(22). Sau 1945, cộng sản lấy Hà Nội làm thủ đô.

Bài 12

Thơ rằng:

1- Di lặc giáng sinh
2- Sa phù dĩ chỉ
3- Lục thất dĩ thành
4- Kiến long sào kinh
5- Nhật xuất điện thượng (tr.54)
6- Thiên hạ thái bình

Dịch

1- Đức Phật Di Lặc giáng thế
2- Có phép trừ ma quỷ
3- Nhà Nguyễn lên ngôi
4- Dựng kinh đô ở trên hang con Rồng (Thăng Long)
5- Mặt trời chiếu xuống cung điện
6- Thiên hạ được thái bình

Bài 12

Thơ rằng:

Giang Nam nổi trận mạt thù
Bảy mươi hai tướng phò vua ngất trời
Phùng trời nay gặp thái lai
Can qua chiến trận để người phong công
Trẻ già được hết sự lòng
Ghi làm một bản nội phòng mở xem
Rước vua về đến Tràng An
Bao nhiêu nguỵ đảng loài gian diệt tàn
Đời ấy cùng thánh, cùng tiên
Sinh những người hiền giúp nước yên dân.
Này những lúc thánh nhân chưa ra đời
Chó còn nằm đầu khỉ cuối thu
Lợn nằm cũng thấy lợn lo
Thái bình mới động thập thò liền sang
Ngang cung văn vũ khác thường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Thuỷ binh cờ xí vừng hồng ,
Bộ binh rầm rập như ong kéo đàn
Đứng hiên ngang nào ai biết trước
Bắc binh sang có việc gì chăng? (23).
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đòi nơi
Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Bỗng khiến người vu vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng giục dân cày bừa
Đã ngu dại Hoàn Linh đời Hán
Đúc tiền ra bán tước cho dân
Xun xoe những cậy thánh thần
Ai ngờ thiên địa xoay vần đã công
Ngẫm hoá công sẵn tay khôn ví
Xưa phục thù ai sửa ngôi cho (tr.55)
Mạc kia cũng muốn nên trò
Dấy binh hai Quảng cơ đồ ghê thay!(24)
Kẻ thì tự xưng Lê nay
Tam phân rồi chẳng được gì cả ba.
Bốn phương cũng có can qua
Mạc thì chẳng được đã ra lại về
Quân hùng binh dấy giang khê
Kẻ khoe cứu nước, người khoe trị vì…

Chú:
Đoạn này nói cuối cùng Mạc, Lê, Trịnh, ba phe ( tam phân) rồi chẳng thành công.
(23). Bản Mai Lĩnh ghi Bắc binh. Từ Tây Sơn, đến nay thì quân Trung quốc sang Việt Nam nhiều lần , không rõ là chỉ vào lúc nào:
– 1789:Chiêu Thống cầu viện Tôn Sĩ Nghị
-1954: Quân Trung Quốc sang đánh Diện Biên phủ và CCRĐ
-Quân Trung Quốc sang trong chiến tranh Việt Mỹ (1954-1975)
-1997: Đặng Tiểu Bình dạy Việt Nam một bài học.
1988: Đánh hải quân Việt cộng ngoài biển và lấn chiếm biên giới.
-Nay thì từ Nam chí Bắc chỗ nào cũng có quân Trung Quốc ẩn náu dưới danh nghĩa công nhân, doanh nhân và khách du lịch.
Trong bản này nói Lê Mạc, phải chăng nói việc quân Tôn Sĩ Nghị sang Thăng Long? Hoặc ám chỉ thời Cộng sản và Cộng hòa tranh chiến?
(24). Bản Hương Sơn viết hoa, không hiều là gì. Phải chăng Bến Hải ( Quảng Trị). Hoặc quảng là khoảng?

Bài 13

Thơ rằng:

1- Hầu đáo kê lai vị chính kỳ
2- Quốc dân hãm nịch quốc dân di
3- Nhàn giãn dục dĩ Chu nhi Tống
4- Phong nghỉ tung hoàng thị mạc vi

Chú:
Đoạn này nói năm thân, năm dậu thì dân chúng khốn khổ lắm.
Nhưng rồi triều đại cũng phải đổi thay như thời Chu sang Tống.
Ong kiến nổi lên tung hoành.


Bài 14

Thơ rằng

(1) Hạ huyền thượng đảo nhân vô thủ
(2) Tài tận dân hao thế lực suy
(3) Huyết chiến dê đầu nhân huyết chiến
(4) Kham tiếu không huyền tiệm thất ky

Xem thấy những sương sam tuyết lạnh
Loài bất bình tranh cạnh hung hăng
Thành ao cá nước tưng bừng
Kẻ xiêu Đông hải người tàn Bắc lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất người nằm đầy sông.
Sang thu chín huyết vừng hồng
Kẻ mong ngày hạ người mong mưa nhuần
Trẻ con mang lệnh tướng quân
Ngỡ uy đã sợ ngỡ nhân đã nhường
Dùng uy bát là đường ngũ bá (tr.56)
Cũng tưởng rằng đế tá dân hoan
Cỏ cây lá rụng đầy ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết có nhà Đà giang
Tả bạch hạc, hữu thuỷ trường
Kiều môn án trước cao bành tựa sau
Thái nguyên cận bắc đường sau
Hễ mà tìm thấy mới hầu thần cơ
Cùng nhau gặp mặt bây giờ
Trúc mong kỳ úc thung chờ non đông
Vui mừng gặp mặt tam công
Cá được hoá rồng trăm trắm ngôi cao
Mai kia cùng đấng anh hào
Ba người làm bạn ngôi cao lộc lành
Vậy nên một áng phong tình
Mới hay phú quý hiển vinh lạ lùng
Bõ khi chém lợn vẽ rồng
Bõ khi vay mượn điều cùng trượng phu
Bõ khi kẻ Việt người Hồ
Bõ khi kẻ Sở người Ngô xa đường
Ngày thường trông thấy quyển vàng
Của riêng quốc bảo xé mang xem chơi.

Tinh thái ất giờ đời là thực
Sấm trời xem vô giá muôn phần
Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
Một đời có một tôi ngoan
Giúp chưng nhà nước dân an thái bình
Thấy đâu bò đái thất thanh
Ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng nghi
Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuôn buồn
Đàn ghi nó cũng một môn phù trì.

Dịch:
(1).Thời kỳ này mọi sự đảo ngược, trên xuống dưới, dưới lên trên, nước như vô chủ.
(2) . Tài sản mất mát, dân chúng cùng kiệt.
(3) . Chỗ nào cũng đánh nhau, máu chảy khắp nơi.
(4). Không thể nào không chê cười cái cảnh thất bát mất mát này.

Bài 15

Thơ rằng:

Ghê thay thau lẫn với vàng, (tr.57)
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ đuốc sáng rõ ràng mọi nơi
Can qua việc nước bời bời.

Trên thuận lòng trời dưới đẹp lòng dân
Lục thất dư ngũ bách xuân
Bây giờ trời mới xoay vẫn nơi nao
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa (25)

CHÚ:

(25). Đoạn này là đoạn cuối của bản Anh Phương.

Bài 16

Thơ rằng:

Quân hùng binh kéo đầy khe
Kẻ xưng cứu nước người khoe trị đời
Bấy giờ càng khốn ai ơi
Quỷ ma chật vật biết trời là đâu ?
Thương những kẻ ăn rau, ăn muối (26).
Gặp nước buông con cái ẩn đâu ?
Báo thù ấy chẳng sai đâu
Đạo trời chẳng trước thì sau chẳng nhầm
Kia những kẻ hai lòng sự chủ
Thấy đâu hơn thì phụ sở ân
Cho nên phải kiếp trầm luân
Ai khôn mới giữ được thân đời này
Nói cho hay khảm cung ong dậy
Chí anh hùng chiếm lấy mới ngoan
Chữ rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới nên anh tài
Hễ nhân kiến là đời đất cũ (27)
Thì phụ nguyên mới trổ binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quân hùng nổi dậy điều hoà làm tôi
Bấy giờ ruộng mở quy khôi
Thần châu thu cả mọi nơi vẹn toàn.

Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Hoàng phúc kia đã định tay phong
Lồng lộng thế giới rạng trong, (tr.58)
Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ Vương
Giời sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài
Xem ý trời có lòng khải thánh
Giốc sinh hiền điều đỉnh hộ mai
Trên trời thấy những vì sao lạ
Dùng ở tay phụ tá vương gia
Bắc phương chính khí sinh ra
Có ông Bạch Sỷ ( Bạch Xỷ) điều hoà hôm mai
Song thiên nhật tượng sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
Đời này thánh kế vi vương
Thu cả đạo đức văn chương trong mình
Uy nghi trạng mạo khác thường
Thác cư một góc kim tinh phương đoài
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ sẻ mới ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân

Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu.
Khắp đâu đâu anh hùng hẳn biết
Xem sắc mây vẽ rõ vẻ rồng
Thánh nhân cư có thuỷ cung
Quân thần đã định gìn lòng chớ tham
Lại dặn đừng tú man chi cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rông
Học cho biết nhẽ cát hung
Biết phương hướng đúng, chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ nhi ngô tưởng gì đợi mong
Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tý đều không
Ví dù có gặp Ngư ông
Lưới chăng đầu sẵn nên công mà hòng
Xin khuyên đứng trời trung quân tử
Lòng trung nghĩa hãy chứa cho tinh
Âm dương cơ ngẫu ngộ sinh
Thái nhâm, thái ất trong mình cho hay
Văn thi luyện nghiên bài quyết thắng (tr.59)
Học Tử Phòng cùng với Khổng Minh
Võ thông yên thuỷ thần kinh
Được vào chiến trận mới lành biết cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết trao tay miệng tiếng nói không
Ngộ may gặp hội mây rồng
Công danh rực rỡ chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí tài
Lọ là đâu phải ngược xuôi nhọc mình
Vương lương thực có vĩ kinh
Cao tay mới biết ngẫm tình năm nao.
Trên trời có mấy vì sao
Đủ cả hiền tướng anh hào đôi nơi.
Nước Nam thường có thánh tài ( 28)
Ai khôn học lấy hôm mai mới tường.
So mấy lề để tàng kim quỹ
Chờ sau này có chí mới cho.
Trước là biết nẻo tôn phù
Sau là cao trí biết lo mặc lòng
Xem đoài cung thiên thời bất tạo
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham tước, tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân.
Đôi phen ong dấy rầm rầm
Muông sinh ba góc kéo quân dấy loàn
Man mác một lĩnh Hoành sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
Ấy là quân phục thù thai thải
Lòng trời xui ai lại biết chi

Phá điền đầu khỉ cuối thu
Tái binh (29) mọi giống thập thò liền sang
Nọ chẳng thương trong nam khôn xiết
Vả lại thêm hung kiệt mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
Sang thu chín huyết hồng từ giã
Nối đàn dê tranh phá đòi nơi (tr.60)
Đua nhau quần thán đồ lê
Bấy giờ thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải thửa hung hoang
Kẻ thì binh lửa chiến tràng chết oan.
Kẻ thì mắc phải hung tàn,
Kẻ thì bận của bỗng toan khốn mình
Muông sinh giông tố cạnh tranh
Điêu thì làm trước xuất binh thủ thành
Bời bời đua mạnh tranh hành
Ra đâu đánh đấy xuất binh sớm ngày
Bể thành cá phải ẩn cây
Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
Nào ai đã dễ nhìn ru
Thuỷ chiến bộ chiến mặc dầu đòi cơn.
Cây bay lá cháy đôi ngàn
Một làng còn thấy chim đàn bay ra.
Bốn phương cùng có can qua,
Làm sao còn biết nơi hoà bảo thân
Đoài phương thật có chân nhân
Quần tiên dĩ nghĩa chẳng phân hại người.
Hễ đông nam nhiều phen tàn tặc
Lánh cho xa kẻo mắc đao binh
Bắc kinh mới thật đế kinh,
Giấu thân chưa dễ giấu danh được nào!
Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho được chốn mới vào thần kinh.
Cấy cày tu dãi thời mùa
Bây giờ cấy ruộng lo chờ mướn ai
Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền binh nhọc chẳng phiền lương thêm.
Xem tượng trời biết đường đời trị
Ngẫm về sau họ lý xưa nên
Dòng nhà đã thấy dấu truyền
Ngẫm xem thế giới còn in đời đời
Thần quy có nó ở trời
Để làm thần khí sửa nơi trị trường.

Bài 17 

DÂN BỊ KHỔ CHIẾN TRANH

Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh, (tr.61)
Sông Bảo giang thiên định ai hay ?
Lục thất cho biết ngày rầy
Phụ nguyên ấy thực ở dầy (rày) Tào khê (30)
Có thầy Nhân thập đi về (31)
Tả hữu phù trì cây cỏ là quân
Dốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
Ra tay điều đỉnh hộ mai (32)
Bấy giờ mới biết rằng tài an dân
Nọ là phải nhọc kéo quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về

CHÚ

(26). Các bản ghi là ăn rau, ăn giới Giới (rới) là rau.
(27). Nhân Kiến : chữ Khiêm 謙trong có chữ Kiến 建 chỉ Lê Chiêu Thống tên là Lê Duy Khiêm.(Nhân kiến là người tên Kiến, hoặc ngươi Kiến).
Cũng có thể chỉ Nguyễn Quang Toản 阮光纘, khi Quang Toản bỏ chạy ra Bắc thì Nguyễn Ánh đuổi theo. Nói là Nhân Kiến vì chữ Toản có chữ Bối 貝 ở dưới giống chữ Kiến見 .
(28). Câu này lặp lại câu thứ nhất bài thứ nhất.
(29).Tái binh: binh ở ngoài biên cương xâm nhập, chỉ quân Pháp. Đầu khỉ cuối thu: Năm canh thân (1860), Pháp xâm lược nước ta, đánh chiếm Gia Định, phá Đà Nẵng.
(30).Tào Khê: ở tỉnh Quảng Đông bên Trung Quốc, chỉ một người ở ngoại quốc.
(31). Nhân thập: Không rõ tên gì, trở về cứu nước, dân chúng theo rất đông.
(32). Điều đỉnh hộ mai: nói tài trị nước.

Bài 18

Những câu sấm ngắn

Trời sinh thiên tử ở hỏa thôn (33)
Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh thiên tử bảo giang môn

Canh tân tàn phá (34)
Tuất hợi phục sinh
Nhị ngũ dư bình.

Nhân sinh ngọ tuế vi sư
Tị nhân vi tướng
Thìn tuất vi tôn sư

DỊCH:
Người sinh năm ngọ thì làm thầy.
Người tuổi tị làm tướng.
Người tuổi thìn tuất làm bậc tôn sư.

CHÚ:
(33). Bản này ghi hỏa thôn, các bản khác ghi hoa thôn.
(34). Các bản khác ghi tân niên.

Bài 19

Thơ rằng

1- Thánh nhân hương
2- Thuỷ trung tàng bảo cái (35)
3- Thánh nhân chu xứ (tr.62)
4- Tử bích hoàn nhiễu, long hổ chầu vào
5- Chỗ thánh nhân sinh ra
6- Cận bảo giang thuỷ
7- Thuỷ nhiễu chu toàn
8- Thánh nhân danh
9- Mộc hạ liên đinh khẩu (36)
10- Thánh nhân diện bộ đạo đức
11- Nghi quảng tầm chương trích cú
12- Thánh nhân dĩ hữu niên
13- Thuỳ năng thức đắc yên
14- Dãn nhân bất chúc nhĩ
15- Nhập ba thục xuất Thái nguyên
16- Thánh nhân sinh ư bách sỉ tự tối linh
17- Thử nhật thiên giáng ngũ sắc vân xích quang màn tự
18- Tự trung dị hương, tam nhật bất tán
19- Thầy tăng (36) tu tại thử, dĩ vị thánh nhân thị
20- Toại chưởng dưỡng chi
21- Thánh mẫu diện xú như lam
22- Niên tam thập lục sinh thánh nhân (tr.63)
23- Hoài nhâm chi nhật
24- Tam nhật thực nhất lý ngư
25- Cư ư giang thượng
26- Quần ngư tranh dược
27- Mối trạch kỳ, mỗi tiểu chữ thục thực chi
28- Hậu thường tầm thực chi vu bạch sỉ.
29.Tự nhi sinh thánh nhân yên.
30- Nhược ấu thời, cư tại nam nhị thuỷ huyện
31- Cận gia quan thời cư ư Thái nguyên viên sơn .
32- Thất thập nhị hiền diệc tại thử yên(37)

DỊCH:

1- Nơi sinh ra ông Thánh nhân
2- Trong làn nước biếc chứa tàn lọng quý
3- Chỗ trú ngụ của Thánh nhân
4- Long hổ bốn bên chầu cả vào
5- Nơi sinh ra Thánh nhân
6- Gần sông Bảo giang
7- Xung quanh đều có nước
8- Tên hiệu của Thánh nhân
9- Chữ mộc ở dưới chữ đinh
10- Ông thánh nhân diện mão rất có đạo đức
11- Nên tìm rộng từng bài chọn từng câu
12- Thánh nhân sinh ra đã lâu năm
13- Ai đã dễ biết được
14- Vì người ta chẳng biết vậy
15- Vào Ba Thục, ra Thái Nguyên
16- Thánh nhân sinh ở chùa Bạch sỉ rất thiêng
17- Ngày ấy sinh ra ông thánh nhân trời có năm sắc mây
18- Đỏ sáng khắp cả chùa
19- Chùa trong có mùi thơm ba ngày không hết.
20-Thầy tăng tu tại chùa này
21- Nuôi lớn thánh nhân cho đến trưởng thành
22- Mẹ ông thánh nhân mặt xấu như đổ chàm
23- Bà mẹ 36 tuổi sinh ông thánh nhân
24- Tính từ ngày có thai
25- Trong ba ngày lại ăn một con cá chép
26- Trú ở bên sông
27- Lũ cá tranh nhau nhảy vào
28- Chọn xem con nào bé thì nấu ăn
29- Sau thường đi kiếm ăn quanh chùa Bạch xỉ
30- Rồi sinh ra ông thánh nhân
31- Lúc nhỏ sinh ở Nam nhị thuỷ huyện
32- Lúc lớn ở viên sơn tỉnh Thái Nguyên.( Viên sơn là tên núi, cũng có nghĩa là cái núi trong đó có vườn, ruộng rẫy.
(33). Bảy mươi hai hiền thần cùng ở đó.

CHÚ

(35). Trong giòng nước có lọng quý: có người giải thích là cái lá sen như cái lọng trong nước, và tán ra là làng Kim Liên, quê của Hồ Chí Minh. Nhưng mấy câu dưới của bản Sấm Ký thì nói vị này quê ở Thái Nguyên, sinh trên sông ở trong thuyền ( cá hay vào thuyền cho thân mẫu của thánh ăn). Như vậy ông thánh này xuất nhân nhà thuyền chài và không phải là Hồ Chí Minh.Thân mẫu của thánh rất xấu, thường kiếm ăn ở chùa Bạch Xỉ, vậy là thân thế hèn kém. Trong lịch sử nước ta, từ Trịnh Kiểm cho đến Ngyễn Văn Thiệu không ai sinh và lớn lên ở Thái Nguyên và có thân thế như trên..
(36). Bản Hương sơn chú là quẻ Ly 離
(37).Thầy tăng tu tại thử, dĩ vị thánh nhân thị: Đoạn này giải thích thầy tăng là ông thầy tu trong Bạch Xỉ tự nuôi thánh nhân lớn lên. Như vậy là mẹ con nương nhờ Bạch Xỉ tự, lai lịch hơi giống Lý Công Uẩn!
(38). Sấm của Phùng Khắc Khoan có nói đến 72 hiền thần.

Bài 20

Thơ vận niên bằng tên các con súc vật

Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
Có một đàn xà đánh lộn nhau
Vượn nọ leo cành cho hả dạ
Lợn kia làm quá phải xoay đầu
Chuột nọ lăm le mong cắn tổ
Ngựa kia đủng đỉnh chạy về tàu
Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
Tìm về chốn cũ bắt vào tầu
Lợn nằm cũng thấy tên thù
Đại binh đã động phục thù nghênh ngang
Thánh chúa đang ở hang vàng
Khi nào chuột bắc cầu sang mới về


Bài 21

Cửu cửu kiền khôn dĩ định (38)
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An (tr.64)

CHÚ:

(39). Chi năm mậu ngọ (1954), quân Hồ Chí Minh tiếp thu Hà Nội.

Bài 22

Thực vị lai tại thực vi lai
Nam môn vị toả, bắc môn khai
Phong suy ngọc diện lai lai vãng
Nghĩ tụ kim thành khứ khứ hồi
Bách tính âu ca thiền vũ dạ
Cửu châu hoa thảo mả liên đôi
Thử hồi nhị ngũ thiên Chu Tống
Hảo bá sơn đầu tửu nhất bôi

DỊCH

Ai chưa lại vậy hay chưa lại
Chưa khoá cửa nam, đã mở cửa bắc
Lũ kiến ở thành vàng đi rồi lại về
Trăm họ xướng ca mà âu sầu về đêm
Khắp nơi mả chôn như cỏ mọc
Lúc bấy giờ khoảng một thời gian nhà Tống sẽ thay nhà Chu
Không còn chiến tranh, mọi người hưởng thái bình ( cùng uống một chén rưọu)

Bài 23

Thiên địa tuần hoàn âm phục dương
Tứ phương binh khởi tứ phương cường
Tây dương cảnh giới tây dương chủ
Nam quốc sơn hà, nam quốc vương
Lý đỉnh tương huyền, hiềm đỉnh trọng
Mạc thành dục chúc, khủng thành trường
Hoành sơn lộc tẩu nhân dân cộng
Thái lĩnh long phi thục cảm đương

DỊCH

Trời đất xoay vẫn âm đến dương
Bốn phương quân tướng thảy tranh cường.
Dân Âu cai trị vùng Âu Mỹ
Người Việt bảo toàn đất đế vương
Lý đế treo đỉnh hiềm đỉnh nặng
Mạc vương xây lũy sợ lũy trường
Hoành sơn hươu chạy , nhân dân loạn,
Núi Thái rồng bay ai dám đương!

Bài 24

Có thơ rằng

1- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh (tr.65)
2- Can qua xứ xứ khởi đao binh
3- Mã đầu dương cước anh hùng tận
4- Thân dậu niên lai kiến thái bình (40)

CHÚ:

(40). Đoạn này nói năm ất dậu 1945 đệ nhị thế chiến chấm dứt, thế giới hòa bình.

Bài 25

Thơ rằng

1- Bảo giang thiên tử xuất
2- Bất chiến tự nhiên thành
3- Lê dân đào bảo noãn
4- Tứ hải lạc âu ca
5- Dục thức thánh nhân hương
6- Quá kiều cư bắc phương
7- Danh vị Nguyễn gia tử
8-Kim tịch sinh Ngưu lang
9- Bắc hữu kim thành tráng
10- Nam tạc ngọc bích thành
11- Hoả thôn đa khuyển phệ
12- Mục giã dục nhân canh
13- Phú quý hồng trần mộng
14- Bần cùng bạch phát sinh
15- Anh hùng vương kiếm kích
16- Minh cổ đổ thái bình (41)

DỊCH

1- Sông Bảo giang có vị Thiên tử giáng
2- Chẳng đánh mà tự nhiên thành
3- Nhân dân chạy trốn trở về được no ấm
4- Bốn phương vui mừng đều hát xướng
5- Muốn biết làng ông Thánh nhân
6- Qua cầu đi về phương bắc
7- Tên dòng dõi nhà họ Nguyễn
8- Bắc phương có thành vàng bền chặt
9- Phương nam có một viên ngọc biếc
10- Ở xóm lửa nhiều chó cắn
11- Bỏ súc vật để người canh
12- Giầu sang giấc mộng hồng trần
13- Nghèo đói quá sinh tóc bạc
14- Vua ban cho người anh hùng một thanh kiếm
15- Ai cũng thấy được cảnh thái bình

Bài 26

Thơ rằng:

1- Việt Nam hữu Ngưu tinh (42)
2- Quá thất thân thuỷ sinh
3- Địa giới sỉ vị bạch
4- Thuỷ trầm nhĩ bất kinh
5- Kỵ mã khu dương tẩu
6- Phù kê thắng đại minh
7- Trư thử giai phong khởi
8- Thìn mão xuất thái bình
9- Thuỷ trung tàng bảo cái
10- Hứa cập thánh nhân hương
11- Mộc hạ trâm trâm khẩu
12- Danh thế xuất nan lường
13- Danh vị Nguyễn gia tử
14- Tinh bản tại ngưu lang
15- Mại dữ liên viên dưỡng
16- Khởi nguyệt hộ đại giang
17- Hoặc kiều tam lộng ngạn
18- Hoặc ngụ kim lăng cương
19- Thiên dữ thần thực thuỵ
20- Thuỵ trình ngũ sắc vân
21- Kim kê khai lực diệp
22- Hoàng cái xuất quý phương
23- Nhân nghĩa thuỳ vi địch
24- Đạo đức thục dữ đương
25- Tô truyền nhi thập ngũ
26- Vận khải ngũ duyên trường
27- Vận đáo dương hầu cách
28- Chấn đoài cương bất chấn
29- Quần gian đạo danh tự
30- Bách tính khổ tai ương
31- Can qua tranh đấu khởi
32- Phạm địch thán hung hăng
33- Ma vương sát đại quỷ (43)
34- Hoàng thiên tru ma vương
35- Kiến khôn phú tải khôn lường
36- Đào viên đỉnh phú quần dương tranh hùng
37- Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
38- Nẻo Hoành sơn tam liệt ngũ phân
39- Ta hồ vô chủ vô quân
40- Đào viên tan tác ngô dân thủ thành
41- Đoài phương phúc địa giáng linh
42- Cửu trùng thuỵ ứng long thành ngũ vân
43- Phá điền thiên tử giáng trần
44- Dũng sỹ như hai mưu thần nhược lâm
45- Trần công nãi thị phúc tâm
46- Đào Tiềm, xử sỹ giang hồ xuất du
47- Tướng thần hệ xuất y Chu
48- Chư cơ phục kiến, Đường Ngu thị thành
49- Hiệu xứng thiên hạ thái bình
50- Đông tây vô sự nam thành quốc gia
51- Phân phân đông bắc khởi
52- Nhiễu nhiễu xuất đông kinh
53- Bảo giang thiên tử xuất
54- Bất chiến tự nhiên thành

DICH

Đoạn này có nhiều chỗ khó hiểu nên không dịch.

Tên treo ba mối phục thù (tr.68)
55- Khen thay Khắc Dụng bày trò cho con
Ngọn cờ nhô nhấp đầu non
56- Thạch thành mèo lại bon bon chạy về
Dặm trường lai láng máu dê
Con quay ngã trắng ba que cuộc tàn
Trời nam giở lại đế vương
Thần nhân không phải là phường thầy tăng
Đồng giao đã có câu rằng
57- Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ
Bấy giờ quét sạch thử ly
Xin ai nhớ lấy sấm ghi kẻo lầm
Đương khi sấm chớp ầm ầm
Chẳng qua khó số để găm trị bình
Thất phu giám chống thư sinh
Sông ô chấp cả mấy anh thuỷ hoàng
Nực cười những lũ bàng quan
59- Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây

CHÚ:

(42).Nội dung cho biết sau này thánh nhân là họ Trần ra đời cứu dân, không đành mà thắng.
(43). Ma vương sát đại quỷ
Hoàng thiên tru ma vương
Kiến khôn phú tải khôn lường
Đào viên đỉnh phú quần dương tranh hùng .
Nói về cộng sản thắng Pháp, sau đó thì lại có chiến tranh lớn khi Mỹ Trung Cộng và Liên Xô cùng vào. Nhưng sau một thời gian, trời sẽ diệt cộng sản.

5 Comments
  1. Anonymous permalink

    Nhàn giãn dục dĩ Chu nhi Tống, theo tôi nghĩ là Chu Nguyên Chương chứ không phải nhà Chu thời Xuân Thu Chiến Quốc

  2. Son Nguyen permalink

    Tay “KHONG MINH HAI NGOAI” này mượn STT để tuyên truyền cho nhóm Tin Lành đây mà! Thật không hiểu nổi.

  3. thientrungnhan permalink

    “Chờ cho động đất, chuyển trời.
    Bấy giờ Thánh mới ra tay anh hùng”

    Sơn La, Điện Biên rung chuyển bởi động đất lớn nhất năm
    http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/12/3BA24E1D/

    2h sáng nay, người dân Sơn La, Điện Biên giật mình khi thấy nhà cửa rung chuyển, đồ đạc chao đảo. Viện Vật lý địa cầu ghi nhận trận động đất mạnh 5,2 độ richter.
    >Động đất gần thủy điện Sơn La, Hà Nội bị dư chấn

    Anh Quốc Tuấn ở thành phố Sơn La, cách huyện Sông Mã 100 km kể lại, khoảng 2h sáng cả thành phố rung chuyển, vợ con anh hốt hoảng định chạy ra ngoài. “Nhưng tôi cứ nghĩ động đất nhỏ nên đã trấn an mọi người. Sáng nay nghe thông báo, không ngờ động đất mạnh thế”, anh Tuấn nói.

    Ngay tại huyện Sông Mã, nơi tâm chấn động đất, anh Nguyễn Văn Hiếu, cán bộ phòng tái định cư huyện cho biết, gần sáng thấy mái ngói rung chuyển, anh em trong phòng hò nhau chạy ra ngoài đề phòng nhà sập.

    “Chỗ tôi ở vị trí khá thấp, nhà cấp 4 nên chỉ thấy mái nhà và mặt đất rung chuyển. Còn những người ở tầng 2-3 của các ngôi nhà xung quanh thấy cả người bị nghiêng đi trong khoảng gần một phút”, anh Hiếu cho biết.

    Thủy điện Sơn La cách huyện Sông Mã gần 150 km nên theo ông Nguyễn Đình Thảo, Phó giám đốc phụ trách thi công thủy điện Sơn La, công trình này không bị ảnh hưởng gì. “Đêm qua tôi và anh em ngủ ngon lành, đến sang mới nghe nói là ở Sông Mã có động đất”, anh Thảo cho hay.

    Tại huyện Điện Biên Đông (giáp với huyện Sông Mã của Sơn La) và thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên, người dân cũng cảm nhận được rung động.

  4. thientrungnhan permalink

    Trong sấm Trạng cần hiểu câu Thiên thời Địa lợi Nhân hòa, trong phần mở đâu và những câu sau sấm Trạng có nói đến Ngưu tinh:

    Ngưu tinh tụ Bảo giang
    Ðại nhân cư chính trung

    Nam Việt hữu Ngưu tinh
    Quá thất thân thủy sinh.
    Ðiạ giới sĩ vị bạch

    Tinh bản tại Ngưu lang
    …..
    Kim tịch sinh Ngưu lang
    …..

    Vậy chữ Ngưu Tinh (Phục Hy – Thần Nông) là thuộc về Thiên thời, Ngưu tinh là tinh đẩu chủ mệnh tinh của dân tộc Việt, Chức Nữ là chủ mệnh tinh của dân tộc Hán (Mông lai Việt), từ đó suy ra Bảo Giang là dải Ngân Hà tức sông trên trời, “Sông Bảo Giang thiên định ai hay”. Thiêu Bính ca của Lưu Ôn có nói đến câu ‘Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh” là có ý nói thiên thời của dân tộc Hán mấy ngàn năm thịnh vượng đã hết, chủ mệnh tinh của Hán tộc dần lu mờ tăm tối, cũng như thời kỳ thịnh vượng của chủ mệnh tinh dân tộc Bách Việt từ thời Phục hy – Thần Nông và nói riêng dân tộc Lạc Việt (ngành Trưởng của Bách Việt) từ tời Kinh Dương Vương – Hùng Vương mấy ngàn năm thịnh vượng rồi lu mờ, khiến cho dân tộc Hán chiếm toàn bộ vùng Trung nguyên núi Thái Sơn > Động đình hồ > …

    Nhiều người đi tìm sống dưới đất là không chính xác, nếu nói về sống dưới đất thì có những câu “Đà giang sinh Thánh”…

    Vậy tạm suy luận Thánh Nhân giống như Thần Nhân Phù Đổng Thiên Vương, sinh ra từ trên trời giáng (Bảo giang – sông báu – sống quý – Ngân hà)) thế cứu dân tộc Bách Việt thoát khỏi thảm họa diệt vong và giúp nhân loại kiến tạo lại thái bính trong thời gian tới.

  5. tam không permalink

    Rõ rồi đó!sinh ra trong chùa “bạch linh tự”!bêb bờ “bảo giang”.Lại “tiền sinh cha mẹ đà cách trở”.Rất rõ ràng:trước khi sanh ra : cha mẹ đà cách trở = không có cha mẹ: “hoá sanh”không phải bào(tử cung) sanh hay noãn sanh.
    xem lại câu”thiên sinh thiên tử ư hoả thôn…Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn”..tức sanh cháu(tôn) =con nuôi nhà họ Nguyễn.Nhà họ Nguyễn nhận làm con..ruột (giấy khai sanh là con ruột). nhưng kì thực không phải con ruột nên thực sự chỉ là cháu(tôn).Bởi”song thiên nhật nguyệt sáng soi..sinh đặng chùa ấy là ngôi chẳng cầu” tức đối với cõi trần thế(người)là vô cầu.
    Vậy “thánh”sinh ở bờ sông “bảo giang” lại gần một hồ sen ! là đại danh nào?Việt Nam có dòng sông nào mệnh danh “bảo giang”?dạ thưa rằng:chưa từng được nghe nhưng không hẳn là không có…vì thực sự một dòng sông thì không .Nhưng với một khúc sông thì ..có đấy!!!

    (Phần sau sẽ bàn tiếp)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: