Skip to content

Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện Điều Trần: Các Vấn Đề Biển Đảo và Tranh Chấp Chủ Quyền ở Đông Á

12/08/2011

Người Mỹ có tầm nhìn chiến lược xa dài, từ 2 năm trước đã có buổi điều trần tại Quốc hội Mỹ do ông  Jim Webb chủ trì, những chuyên gia chiến lược Mỹ đã nhấn mạnh đến mối nguy hiểm từ Tầu cộng đối với vùng  Đông  Nam Á và thế giới sẽ ra sao khi thế lực của Trung cộng ngày càng mạnh bạo thêm.

15/7/2009
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/sn_hearing_170809.html

Phát biểu khai mạc của Thượng nghị sĩ Webb

Xin chào quý vị, buổi điều trần sẽ được bắt đầu theo trình tự. Trong buổi điều trần giám sát đầu tiên này của Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Quốc hội khoá 111, chúng ta sẽ xem xét những tranh chấp lãnh thổ biển đảo ở châu Á và tác động của các vấn đề chủ quyền đối với khu vực và lợi ích của Mỹ.

Tại châu Á, không vấn đề nào lại đặt ra những thách thức to lớn và phức tạp cho nước Mỹ như các vấn đề này.

Trọng tâm của vấn đề chính là sức mạnh quân sự, ngoại giao và kinh tế đang gia tăng của Trung Quốc không chỉ ở khu vực mà còn cả thế giới. Sự phát triển của Trung Quốc đã làm thay đổi cán cân kinh tế khu vực và giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng chính trị. Trên toàn lục địa Đông Á, từ My-an-ma đến Việt Nam, chúng ta đều thấy sự lo ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc.

Khi Mỹ tiếp tục cố gắng cô lập My-an-ma do chính sách nhân quyền của chính quyền quân sự nước này thì ảnh hưởng của Trung Quốc đã tăng lên với cấp số nhân, trong đó có thông báo mới đây về dự án xây dựng đường ống dẫn dầu trị giá nhiều tỉ đô la cho phép Trung Quốc chuyển thẳng dầu từ Vịnh Péc-xích về tỉnh Vân Nam mà không phải qua “nút cổ chai” là eo biển Ma-lắc-ca.

Tại Việt Nam, hồi tháng 1 vừa qua, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và là cựu Bộ trưởng Quốc phòng, đã gửi thư ngỏ tới chính phủ Việt Nam, trong đó ông kêu gọi dừng dự án khai thác bô-xít khổng lồ trị giá nhiều tỉ đô la của Trung Quốc tại khu vực Tây Nguyên, vì dự án sẽ làm huỷ hoại môi trường, gây tổn hại cho các dân tộc thiểu số trong khu vực và quan trọng nhất là đe doạ tới an ninh quốc gia của Việt Nam.

Một điểm quan trọng là Trung Quốc không chỉ tìm cách mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chính trị mà còn  cả lãnh thổ của nước này. Việc Trung Quốc hiện đại hoá quân đội là nhằm trực tiếp thực hiện nỗ lực này. Hải quân của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đang xây dựng năng lực “hải dương nước xanh”, giúp nước này phát huy ảnh hưởng cả trong và ngoài khu vực. Hải quân Trung Quốc ngày nay có 241 tàu chiến, trong đó có 60 tàu ngầm. Đầu năm nay, Bộ Quốc phòng cho biết “Hải quân Trung Quốc đang xem xét việc đóng nhiều tàu khu trục vào năm 2020”. Bên cạnh việc chế tạo tàu khu trục, Hải quân Trung Quốc cũng đang nhanh chóng hiện đại hoá hạm đội tàu ngầm và tàu chiến trên mặt nước để tăng cường khả năng chiến đấu xa bờ. Diễn biến này tạo ra mối đe doạ nghiêm trọng đối với cân bằng địa chiến lược hiện nay ở châu Á.

Đặc biệt quan trọng là những đòi hỏi về chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Hoa Nam. Đài Loan ở trên tuyến đầu trong những những tranh chấp này. Tuy nhiên, xung đột tiềm tàng này đã làm lu mờ những tranh chấp khác trong khu vực.

Trung Quốc cũng đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Senkaku, Hoàng Sa và Trường Sa. Bất chấp việc Nhật Bản kiểm soát đảo Senkaku kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II – và việc các nước khác trong đó có Mỹ công nhận chủ quyền của Nhật Bản đối với những đảo này – Trung Quốc vẫn công khai đòi hỏi chủ quyền đối với đảo Senkaku. Hơn thế nữa, Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bao giờ chính thức công nhận chủ quyền của Nhật Bản đối với đảo Ryukyu, gồm cả Okinawa.

Ở Biển Nam Trung Hoa, nhiều tranh chấp chưa được giải quyết liên quan tới một số nhóm đảo mà các bên Trung Quốc, Việt Nam, Phi-líp-pin, Đài Loan, Ma-lai-xi-a và Brunei đòi hỏi toàn bộ hoặc một phần. Các đòi hỏi chủ quyền chính tập trung vào quần đảo Trường Sa, gồm 21 đảo và đảo nhỏ, 50 đảo chìm và 28 bãi đá chìm. Diện tích đất của các đảo này rất nhỏ, nhưng chúng trải rộng trên hơn 340.000 dặm vuông. Trung Quốc và Việt Nam đều khẳng định chủ quyền đối với đảo Hoàng Sa – một nhóm đảo nhỏ hơn nằm ở phía nam đảo Hải Nam của Trung Quốc.

Những tranh chấp này ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nước thứ ba trong khu vực, và cũng phải nhấn mạnh rằng chỉ có Mỹ mới có cả vị thế và sức mạnh quốc gia để đối phó với sự bất cân bằng rõ ràng về quyền lực mà Trung Quốc tạo ra. Ở góc độ này, chúng ta có nghĩa vụ phải làm việc đó nếu muốn duy trì cân bằng địa chiến lược trong khu vực nhằm bảo đảm sự công bằng cho tất cả các quốc gia ở châu Á và bảo vệ tiếng nói của tất cả các nước muốn tìm kiếm giải pháp hoà bình cho các tranh chấp của họ. Sự tham gia của Mỹ trong những tranh chấp này cũng tác động tới nhận thức của các quốc gia về các mối đe doạ trong môi trường khu vực và những lựa chọn có thể có đối với họ khi muốn bảo vệ lợi ích của mình. Trung Quốc đã cho thấy nước này sẵn sàng phô diễn sức mạnh quân sự mới và đôi khi tỏ ra sẵn sàng dùng vũ lực để đòi hỏi chủ quyền trên biển. Để đối phó, các nước trong khu vực cũng đang hiện đại hoá khả năng hải quân của họ, chẳng hạn như Việt Nam quyết định mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga.

Bên cạnh đó, nhiều nhà quan sát thấy rằng kiểu đe dọa của Trung Quốc có thể cản trở sự phát triển kinh tế tự do và công bằng trong khu vực. Ví dụ, việc Trung Quốc mới đây giam giữ các ngư dân Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa và công khai đe doạ các công ty dầu khí Mỹ đang hoạt động tại Biển Nam Trung Hoa làm gia tăng bất trắc đối với hoạt động hàng hải và đánh bắt và hạn chế công việc thăm dò khai thác. Nếu không có phản ứng trước những hành động này sự thịnh vượng của khu vực sẽ bị đe doạ.

Những tranh chấp này cũng khiến Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì chúng đe dọa hoà bình và an ninh khu vực. Cuộc khủng hoảng tên lửa ở Eo biển Đài Loan năm 1995-96 cho thấy Mỹ là cường quốc thế giới duy nhất có khả năng phản ứng trước những hành động gây hấn và đe doạ của Trung Quốc. Xem xét những sự kiện gần đây, cách Mỹ phản ứng trước những va chạm trên biển có vẻ giống như là cách phản ứng trước các thách thức chiến thuật mang tính đơn lẻ, trong khi đó Trung Quốc có vẻ như đang hành động với một tầm nhìn chiến lược. Những sự kiện rắc rối này gồm cuộc khủng hoảng máy bay EP-3 năm 2001, vụ tàu ngầm Trung Quốc nổi lên trong phạm vi hoạt động của nhóm tàu khu trục USS Kitty Hawk năm 2006, vụ quấy rối tàu USNS Impeccable tháng ba năm nay và vụ tàu ngầm Trung Quốc va chạm thiết bị định vị của tàu hải quân Mỹ John McCain tháng trước. Tôi rất muốn được nghe suy nghĩ của các nhân chứng về cách Mỹ nên phản ứng trước những sự kiện này như thế nào.

Là một quốc gia biển, Mỹ phải duy trì chất lượng và sức mạnh hải quân của mình nếu không muốn nói là phải cải thiện nó hơn nữa. Quỹ đạo của sức mạnh ấy trong thời gian gần đây không thực sự đáng khích lệ. Khi tôi lần đầu tiên tham gia Binh chủng Hải quân Mỹ năm 1968, Hải quân Mỹ lúc đó có 931 tàu chiến. Khi tôi giữ chức Bộ trưởng Hải quân năm 1988, lực lượng này là 569 tàu. Hiện nay, Hải quân Mỹ có 284 tàu chiến có thể được triển khai, với 42% số đó đang được triển khai. Mặc dù chất lượng của 241 tàu chiến của Trung Quốc không thể đuổi kịp Mỹ nhưng khoảng cách chất lượng đang được thu hẹp dần.

Nếu Mỹ muốn tiếp tục là một quốc gia châu Á và là một quốc gia biển, các nhà lãnh đạo của chúng ta phải đưa ra sự lựa chọn. Ngành ngoại giao và quân đội chúng ta – và đặc biệt là Hải quân – phải có những nguồn lực cần thiết để bảo vệ các lợi ích của Mỹ và lợi ích của các đồng minh chúng ta. Sức mạnh thông minh phải được củng cố bằng sức mạnh quân sự.

Để thấy tính chất phức tạp của các tranh chấp biển đảo ở châu Á, buổi điều trần hôm nay sẽ có hai phiên. Tôi xin cảm ơn Chính phủ đã cử Phó trợ lý Ngoại trưởng Scot Marciel và Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher đến để trình bày quan điểm của Chính phủ về những vấn đề này. Bên cạnh đó, trong phiên hai, ba chuyên gia khác sẽ trình bày về những tác động chiến lược và ảnh hưởng về kinh tế của những tranh chấp này. Xin cảm ơn tất cả quý vị có mặt tại đây hôm nay và tôi trông đợi ý kiến của quý vị.

Điều Trần: Các Vấn Đề Biển Đảo và Tranh Chấp Chủ Quyền ở Đông Á

Điều trần của Dan Blumenthal, uỷ viên thường trú, AEI trước Tiểu ban đối ngoại của Thượng viện phụ trách các vấn đề Châu Á

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_blumenthal_150709.html 15/7/2009

Thưa Thượng Nghị sĩ Webb và các thành viên khác trong uỷ ban, tôi rất vinh dự có mặt tại đây ngày hôm nay. Tôi đánh giá cao việc các vị tổ chức phiên điều trần quan trọng này và chú ý đến thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong việc khẳng định lãnh hải của mình.

Đã một thập kỷ trôi qua kể từ khi ngài, thưa Thượng Nghị sĩ Webb, bắt đầu viết về chủ đề này, và lực lượng hải quân Trung Quốc cũng đã được hiện đại hóa nhanh hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Trong thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã triển khai 38 tàu ngầm mới chạy bằng diesel và năng lượng hạt nhân, tức là triển khai 2,9 tàu mỗi năm. Bên cạnh việc mua lại bốn tàu khu trục lớp Sovremenny của Nga, Trung Quốc cũng đã triển khai 9 tàu khu trục và tàu chiến mới do chính Trung Quốc sản xuất và được trang bị tên lửa tầm thấp chống tàu chiến có sức phá hủy ghê gớm.

Ngoài ra, bên cạnh việc mở rộng triển khai hơn một nghìn tên lửa đạn đạo, Giải phóng quân Trung Quốc (PLA) còn xây dựng một cơ sở tên lửa đạn đạo chống hạm đặt trên mặt đất được trang bị các thiết bị có tính cơ động cao với mục đích chống các tàu nổi cơ động của chúng ta, bao gồm cả thành phần cốt tử trong năng lực biểu dương sức mạnh của chúng ta là tập hợp tàu sân bay tác chiến. Chúng ta chưa từng chứng kiến điều gì tương tự trong hoạt động xây dựng và củng cố lực lượng hải quân kể từ đầu thời kỳ Chiến tranh lạnh. Và hải quân Hoa Kỳ cũng chưa từng đối mặt với mối đe doạ về tên lửa đạn đạo có khả năng tấn công các mục tiêu di động trên biển. Và ngài cũng đã đúng khi viết rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc đang có ý đồ và toan tính mở rộng không gian chiến lược của Trung Quốc trong khu vực.

Động cơ đằng sau những động thái củng cố sức mạnh quân sự này là gì? Chắc chắn không phải là những mối đe doạ đối với Trung Quốc – khách quan mà nói thì Trung Quốc không đứng trước bất kỳ mối đe doạ nào về quân sự. Với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, Trung Quốc không còn cần phải bận tâm tới việc bảo vệ đường biên giới lãnh thổ khỏi sự xâm lấn từ bên ngoài. Từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khu vực này nhìn chung đã có hoà bình.

Thay vào đó, tôi cho rằng động thái củng cố quân đội của Trung Quốc bắt nguồn từ các nhân tố bên trong, từ mong muốn phô trương thanh thế quốc gia, và cảm giác bất an của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trung Quốc đang thể hiện hành vi của một cường quốc đang lớn mạnh. Điều ngạc nhiên duy nhất là chúng ta đã dự báo rằng họ sẽ ứng xử theo cách khác. Chính phủ Hoa Kỳ qua nhiều đời tổng thống và nhiều chuyên gia đã nhắc đi nhắc lại với người dân Mỹ rằng sự nổi lên của Trung Quốc có thể sẽ khác với sự lớn mạnh của tất cả các cường quốc khác trong lịch sử. Song đơn giản là điều đó không xảy ra.

Khi Trung Quốc đã trở nên lớn mạnh hơn và dành nhiều nguồn lực hơn bao giờ hết cho các lực lượng quân đội, chính quyền Bắc Kinh muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổ theo hướng có lợi cho mình, mở rộng lãnh hải và thiết lập các con đường mới nhằm tiến ra đại dương rộng lớn. Thực vậy, một trong những động thái thú vị nhất trong các hướng đi chiến lược của Trung Quốc là cuộc tranh cãi đang diễn ra về tầm quan trọng của Alfred Thayer Mahan, nhà lý luận về sự lớn mạnh của chính Hoa Kỳ ở vị thế đứng đầu thế giới hiện nay. Về chủ đề này, các đồng nghiệp của ngài Dutton tại trường đại học Hải quân đã nhắc đến rất nhiều trong các bài viết của họ.

Các quan chức trong lực lượng hải quân Trung Quốc đang bắt đầu cố gắng tìm hiểu xem những khái niệm như quyền lãnh hải và mối liên hệ giữa sức mạnh hải quân và các lợi ích thương mại quốc tế sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Nhưng chúng ta không thể không quan ngại, dù cho cách ứng xử của Trung quốc cũng không khác gì so với các cường quốc mới nổi khác. Lý do để quan ngại là:

Kể từ khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, Châu Á bắt đầu được hưởng nền an ninh tương đối ổn định, chủ yếu là nhờ sức mạnh của quân đội Hoa Kỳ và hàng loạt các cam kết an ninh khác. Chính trong cái ô an ninh này mà hầu hết các nước Châu Á đều được hưởng hoà bình, thịnh vượng và dân chủ ngày càng tăng. Châu Á ngày nay – xét trên tất cả các phương diện – kinh tế, chính trị, nhân khẩu học hay quân đội – đang nhanh chóng trở thành trung tâm chú ý của đời sống chính trị quốc tế. Thế nhưng sự nổi lên của Trung Quốc đã bắt đầu làm thay đổi trạng thái ổn định và an ninh, vốn là nền tảng cho tăng cường hoà bình, thịnh vượng và dân chủ. Với tư cách là một cường quốc tại khu vực Thái Bình Dương, chúng ta muốn thấy một Châu Á tiếp tục tăng trưởng và thịnh vượng trong hoà bình. Một Châu Á mà trong đó Hoa Kỳ không còn được xem như một cường quốc dẫn đầu về quân sự chắc chắn sẽ không còn là một Châu Á ổn định như trước đây. Một khu vực không an toàn sẽ quan tâm nhiều hơn đến cạnh tranh an ninh chứ không phải là cạnh tranh về thương mại, cải cách nội bộ và hợp tác vùng.

Chính trong bối cảnh này, tôi muốn nói về các tranh chấp lãnh hải tại Biển Nam Trung Hoa và Biển Đông Trung Hoa. Tôi xin phép được bắt đầu với Nhật Bản và tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, vì Nhật Bản từ lâu đã và hiện vẫn đang là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ tại khu vực này.

Trong tất cả các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực này, tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại Biển Đông Trung Hoa là gây nhiều tranh cãi nhất và cũng có thể coi là chứa đựng nhiều nguy hiểm nhất. Tranh cãi này có nguyên nhân từ chạy đua sức mạnh quân sự, thù oán trong lịch sử, mong muốn khai thác nguồn năng lượng tiềm tàng dưới đáy biển và cuối cùng là mối lo ngại về Đài Loan. Tất cả những điều này phối hợp với nhau khiến cho vấn đề trở nên đặc biệt nhạy cảm.

Cả hai quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và cả hai đều đưa quần đảo này vào khu vực đặc quyền kinh tế/thềm lục địa của mình. Đối với Trung Quốc, quần đảo này có vai trò quan trọng vì lý do an ninh năng lượng và tham vọng mở rộng lãnh hải của họ.

Tôi xin được bắt đầu bằng vấn đề an ninh năng lượng. Cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền đối với mỏ khí đốt Chunxiao, mà theo Trung Quốc thì mỏ này nằm ngoài đường ranh giới Nhật Bản 5km trên vùng biển Đông Trung Hoa. Hiện nay, công ty năng lượng Trung Quốc CNOOC là nhà khai thác mỏ khí đốt này và các chuyên gia năng lượng ước tính rằng Chunxiao có trữ lượng tới 250 tỷ tỷ feet khối khí tự nhiên và khoảng từ 70 tới 160 tỷ thùng dầu.

Bởi vì cả Trung Quốc và Nhật Bản đều muốn đa dạng hoá các nguồn cung cấp năng lượng của mình, nên trữ lượng khí đốt tự nhiên và dầu mỏ ở khu vực biển Đông Trung Hoa quả thực vô cùng quan trọng đối với cả hai quốc gia.

Một mối quan ngại nữa đối với Trung Quốc là khoảng cách trên biển giữa các cảng của Trung Quốc với các nhà cung cấp dầu mỏ chính ở khu vực Vịnh Péc-xích. Chính quyền Bắc Kinh ngày càng cảm thấy không thoải mái vì việc phải nhờ cậy vào thiện chí của Hoa Kỳ để tuần tiễu vùng biển này. Cả lòng tự kiêu dân tộc lẫn sự ngờ vực đối với Hoa Kỳ khiến Trung Quốc phải tìm kiếm các nguồn cung ứng và các con đường cung ứng năng lượng khác, càng gần với đại lục càng tốt – nơi Trung quốc có thể triển khai sức mạnh quân sự của họ. Khu mỏ Chunxiao chính là một phần quan trọng trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Hoa.

Một mối quan ngại khác của các nhà chiến lược Trung Quốc là quần đảo Senkaku/Điếu Ngư nằm trong cái mà Trung Quốc gọi là chuỗi đảo đầu tiên – dựa trên sự phân định ranh giới bắt đầu từ hòn đảo phía Nam Nhật Bản Kyushu xuyên qua biển Đông Trung Hoa và biển Nam Trung Hoa. Khu vực này bao gồm Đài Loan, đảo Ryukus của Nhật Bản và hầu như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc, với hành động ngày một cứng rắn của mình, đã thể hiện mong muốn thống lĩnh chuỗi đảo này. Đối với các nhà chiến lược Trung Quốc, có cả các mục tiêu phòng thủ lẫn các mục tiêu tấn công đằng sau những tuyên bố chủ quyền này.

Phía Trung Quốc cho rằng họ bị bó hẹp bởi liên minh Mỹ – Nhật đang hoạt động quá

gần đường bờ biển của họ. Các nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng liên minh này – trước kia từng được xây dựng để bao vây các hạm đội của Liên bang Xô viết trên Thái Bình Dương – nay trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách ngăn chặn nhằm vào Trung Quốc. Điều này phần nào lý giải thái độ khiêu khích của Trung Quốc mới đây đối với tàu USNS Impeccable, cũng như vụ buộc hạ cánh máy bay tuần tiễu của Hoa Kỳ tại đảo Hải Nam năm 2001. Trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn đang tranh cãi về những điều khoản trong Luật Biển và về cái gọi là những hoạt động hợp pháp trong khu đặc quyền kinh tế Trung Quốc, song tôi không nghĩ rằng những vấn đề này có thể được giải quyết trong tương lai gần đây. Chiến lược địa chính trị và chiến lược trên biển của Trung Quốc có vai trò quan trọng đối với chính quyền Trung Hoa hơn là đạo luật này. Đơn giản là Trung Quốc muốn đẩy Mỹ ra càng xa càng tốt đường bờ biển và những vùng đã tuyên bố thuộc ảnh hưởng của họ.

Nhiều nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng nước này không thể trở thành một cường quốc chừng nào nó vẫn còn bị bó buộc bởi liên minh trên biển giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. Liên minh này cũng có vai trò bảo vệ Đài Loan và ngăn chặn người Trung Quốc bành trướng lực lượng của họ sang phía Tây Thái Bình Dương. Từ chiến lược phòng thủ, các nhà chiến lược Trung Quốc muốn cản trở Hoa Kỳ xâm nhập khu vực này – chuỗi các hòn đảo đầu tiên, nếu như xung đột về vấn đề Đài Loan nổ ra.

Theo quan điểm của Nhật Bản, Senkakus là một phần lãnh thổ Nhật Bản trong suốt lịch sử hiện đại – nước Nhật chưa bao giờ từ bỏ phần lãnh thổ này ngay cả khi thua trận trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi Nhật Bản phải từ bỏ nhiều phần lãnh thổ theo Hiệp ước San Francisco. Lâu nay, nước Nhật đã cai quản Senkakus mặc dù cả Trung Quốc và Đài Loan đều tuyên bố hòn đảo này thuộc về họ.

Nước Nhật đã cho các chủ sở hữu tư nhân thuê một phần diện tích quần đảo nhằm kiểm soát bất kỳ hành vi mua bán quyền lãnh thổ nào. Cả Đài Loan và Trung Quốc đều phản đối hành động này. Cũng trong khoảng thời gian năm 2003, CNOOC đã tham gia vào đối tác sản xuất khí đốt tự nhiên ở Chunxiao.

Nhật Bản đã phản đối và yêu cầu Trung Quốc chuyển giao các dữ liệu địa chấn. Trong khi chính quyền Bắc Kinh tỏ ra không khoan nhượng thì Nhật Bản vẫn tiếp tục trao quyền cho các công ty quốc gia bắt đầu khoan thăm dò ở vùng biển Đông Trung Hoa. Trung Quốc đáp trả bằng việc gửi một đội tàu hải quân quy mô nhỏ, trong đó có cả tàu lớp Soveremmeny tới khu vực này và phát đi những lời cảnh báo nghiêm khắc yêu cầu nước Nhật ngừng mọi hoạt động khai thác năng lượng trong vùng lãnh thổ Trung Quốc. Phía Nhật đã ngừng mọi hoạt động khai thác.

Hạm đội mà Trung Quốc đưa tới khu vực biển Đông Trung Hoa năm 2005 không phải là lần đầu tiên Trung Quốc chứng tỏ sức mạnh trên biển của nước này. Các hồ sơ ghi chép từ phía Nhật Bản đã chỉ ra rằng quân đội, các tàu nghiên cứu dân sự và tàu ngầm của Trung Quốc đã xâm nhập vào vùng đặc khu kinh tế của Nhật Bản hơn chục lần trong các năm 2004 và 2005. Mục tiêu của các cuộc xâm lấn trên biển này bao gồm cả việc lập bản đồ khai thác khí đốt và dầu mỏ tại những khu vực tranh chấp, và việc tiến hành nghiên cứu đường đi cho tàu ngầm để vào và ra khỏi Thái Bình Dương.

Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng đã rất quan ngại khi tàu ngầm động cơ diesel lớp Tống của Trung Quốc tiến quá gần tới tàu USS Kitty Hawk trong lần tập trận của Hoa Kỳ ở gần Nhật Bản vào năm 2007. Dường như chiếc tàu ngầm này đã rình mò ở Nhóm Tàu sân bay Tấn công mà không bị phát hiện.

Như vậy, theo quan điểm của Nhật Bản, tranh chấp Senkaku/Biển Đông Trung Hoa không chỉ là tranh cãi về lợi ích năng lượng và luật pháp quốc tế. Tranh cãi này là biểu hiện của sức mạnh và thái độ khẳng định chủ quyền ngày càng cứng rắn của Trung Quốc. Nhật Bản đã từng trải qua một quá trình lịch sử lâu dài phải đối phó với nỗi sợ hãi bị cô lập và trừng phạt về kinh tế. Sức mạnh trên biển và các cuộc phô diễn lực lượng ngày càng leo thang của Trung Quốc chỉ làm tăng thêm những nỗi lo sợ trên mà thôi.

Cuối cùng, tranh cãi về tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế và quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đã làm sáng tỏ những mối quan ngại của Nhật Bản đối với Đài Loan. Đối với các nhà chiến lược Nhật Bản, sự kiểm soát của Trung Quốc đối với Đài Loan có thể đẩy các căn cứ hải quân Trung Quốc tiến gần tới chuỗi đảo Okinawa và Ryuku, và mở rộng vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc tiến xa hơn về phía Thái Bình Dương. Cảm giác bất an của chính quyền Nhật Bản – vốn đã căng thẳng do những bất ổn trên bán đảo Triều Tiên – nay lại càng trở nên lớn hơn.

Mặc dù hai bên đã đi tới được một số thoả thuận năm 2008 nhằm hợp tác khai thác các nguồn năng lượng và bỏ lại sau những tranh chấp lãnh hải trong thời gian này song với những gì mà tôi vừa trình bày trên đây, cả Trung Quốc và Nhật Bản đều đang thủ thế để toan tính cho những mưu đồ riêng của họ.

Biển Nam Trung Hoa Tranh chấp tại vùng biển Nam Trung Hoa, bao gồm tranh chấp tại các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cũng cần phải được phân tích trong bối cảnh địa chính trị tương tự. Tranh chấp này đụng chạm đến lợi ích an ninh của cả 3 cường quốc tại Châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời cũng ảnh hưởng không nhỏ tới các liên minh và các đối tác yếu hơn của chúng ta tại khu vực như Việt Nam và Philippine.

Về bản chất, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của mình trên toàn bộ khu vực biển Nam Trung Hoa. Việt nam, Philippine, Brunei và Đài Loan tranh cãi về tuyên bố này, đặc biệt là tuyên bố về chủ quyền và quyền khai thác các đảo nhỏ quanh quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Vì tại khu vực biển Nam Trung Hoa, tất cả các bên tuyên bố lãnh hải trong vùng biển này đều cho rằng khu vực này có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt rất lớn. Trung Quốc đã có tranh chấp với Việt Nam và Philippine ở quần đảo Trường Sa và với Việt nam ở quần đảo Hoàng Sa. Mặc dù Trung Quốc đã ký Tuyên bố ứng xử của các bên tại khu vực biển Nam Trung Hoa năm 2002 song các bên liên quan không tin rằng Trung Quốc sẽ thực hiện đúng những cam kết này. Có thể cho rằng sức mạnh quân sự ngày càng lớn và thái độ kiên quyết của Trung Quốc tại khu vực này là động cơ để Việt Nam muốn xây dựng mối quan hệ an ninh gần gũi hơn với Hoa Kỳ, và việc Philippine muốn ký kết Thoả ước Lực lượng Thăm viếng với Hoa Kỳ năm 1999.

Vùng biển Nam Trung Hoa cũng là con đường dẫn tới eo biển Malacca – khu vực được coi là một trong những địa điểm hàng hải và đường giao thương trên biển quan trọng nhất thế gới. Có khoảng 50.000 tàu biển chuyên chở một phần tư tổng lượng hàng hoá thương mại trên thế giới và một nửa tổng lượng dầu mỏ của thế giới

đi qua eo biển Malacca mỗi năm. Vì 90% lượng dầu mỏ của Trung Quốc và hầu hết lượng dầu mỏ của Nhật Bản đến từ đường biển nên cũng là lẽ tự nhiên khi cả hai quốc gia này đều rất quan tâm đến việc thiết lập an ninh riêng tại eo biển này cũng như tại khu vực biển Nam Trung Hoa.

Năm ngoái, mối lo ngại đã gia tăng ở khu vực Đông Nam Á, Nhật bản và Ấn Độ khi các tin tức báo chí cho biết một căn cứ hải quân mới của Trung Quốc đã được xây dựng tại đảo Hải Nam – căn cứ này có thể phục vụ các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo và tên lửa tấn công cũng như các loại tàu chiến trên biển khác. Lực lượng Hải quân Trung Quốc (PLAN) có thể sử dụng căn cứ này để lén lút đưa quân vào khu vực biển Nam Trung Hoa và xâm nhập các tuyến đường biển thuộc lãnh hải quốc tế.

Các quốc gia Đông Nam Á lo ngại Trung Quốc có thể gây áp lực quân sự đối với họ để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Nhật Bản lo ngại Trung Quốc có thể thống trị đường biển, cưỡng bức và cô lập nước Nhật.

Chính quyền Ấn Độ lo lắng vì hai lý do. Thứ nhất là việc phát hiện ra căn cứ trên đảo Hải Nam đã củng cố thêm mối nghi ngờ đang ngày càng tăng của Ấn Độ về việc Trung Quốc đang tìm đường tiến tới Ấn Độ Dương và xây dựng một mạng lưới các căn cứ hải quân dọc Ấn Độ Dương – ở Miến Điện, Srilanka và Pakistan – vốn là khu vực mà Ấn Độ vẫn coi là vùng ảnh hưởng của họ. Thứ hai, Ấn Độ hiện đang đóng vai trò kinh tế ngày càng lớn, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á, và muốn có khả năng tiếp cận vào khu vực này mà không bị cản trở . Ấn Độ lo ngại rằng điều mà chúng ta đang chứng kiến tại khu vực này chính là sự thể hiện Học thuyết Monroe theo kiểu Trung Quốc.

Phản ứng trong khu vực Hiện nay, tất cả các bên liên quan đều tìm cách tạo đối trọng với sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc. Cả chính quyền Hà Nội và Manila đều bày tỏ mong muốn xây dựng quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Chính quyền Nhật Bản với cương vị là một cường quốc nhưng bị ràng buộc về các vấn đề quân sự do hiến pháp hoà bình cũng đang nỗ lực củng cố và tăng cường hơn nữa liên minh song phương. Sự liên kết với Ấn Độ cũng là một phần không nhỏ trong kế hoạch chia sẻ các quan điểm chung giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ về môi trường an ninh trên biển.

Nói tóm lại, chúng ta chia sẻ với các đối tác của chúng ta trong khu vực về mong muốn không để Trung Quốc trở thành một cường quốc nắm vai trò bá chủ. Câu hỏi mà nhiều quốc gia trong khu vực bắt đầu đặt ra hiện nay là liệu chúng ta có đủ ý chí và sức mạnh lâu dài để đối chọi được với sự lớn mạnh của Trung Quốc hay không. Và điều này dẫn đến những kết luận sau đây của tôi.

Kết luận và khuyến nghị

Chúng ta đã không có chính sách rõ ràng về những tuyên bố gây tranh cãi ở khu vực biển Nam Trung Hoa, cũng đã không thể hiện quan điểm rõ ràng về hiện trạng của các quần đảo đang tranh chấp. Điều mà chúng ta đã tuyên bố là chúng ta sẽ bảo vệ tự do hàng hải và các đặc quyền tại các khu đặc quyền kinh tế phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.

Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc chung về giải quyết một cách hoà bình các tranh chấp lãnh thổ và tự do hàng hải có thể là quá thận trọng, trước sự nhạy cảm mang tính lịch sử của những tranh chấp này và do chúng ta muốn có mối quan hệ hợp tác với Trung Quốc.

Nhưng đồng thời, chúng ta phải nhận thức rõ rằng Trung Quốc muốn khẳng định vị trí thống lĩnh tại vùng biển Nam và Đông Trung Hoa, mở rộng lãnh hải, tự do hành động và cản trở chúng ta tiếp cận các vùng biển này.

Chúng ta cũng cần phải đảm bảo để bạn bè và đồng minh của chúng ta có đủ sức mạnh và sự ủng hộ để đứng lên chống lại nguy cơ bị chèn ép và đảm bảo rằng chúng ta có thể thực hiện tốt các cam kết ngoại giao của mình.

Chúng ta vừa không muốn thấy những cuộc chạy đua quân sự tốn kém diễn ra ở Châu Á, vừa không muốn thấy Trung Quốc thống trị Châu Á mà không có sự hiện diện của Hoa Kỳ. Để đạt được những mục tiêu này, chúng ta cần tăng cường hơn nữa ngoại giao đồng minh để trấn an họ rằng họ sẽ không bị chèn ép bắt nạt. Chúng ta phải phân định rõ ranh giới đối với Trung Quốc trong các nguyên tắc chủ chốt về ứng xử trên biển.

Tuy nhiên chúng ta không có ý định phải viện đến lực lượng quân sự của chúng ta.

Trung Quốc càng phát triển lực lượng hải quân của họ bao nhiêu thì Hoa Kỳ lại càng thu hẹp bấy nhiêu. Trung Quốc đã triển khai hàng chục tàu ngầm mới trong khi chúng ta lại để cho năng lực chống tàu ngầm của chúng ta bị teo đi. Trong khi Trung Quốc triển khai hàng chục tàu ngầm mới thì chúng ta lại giảm số lượng tàu ngầm đi khoảng 25 chiếc.

Chính quyền Trung Hoa không chỉ nhận ra sự mất cân đối này mà còn đang tính toán tới sự cắt giảm sắp tới trong lực lượng hải quân Hoa Kỳ. Đô đốc hải quân Trung Hoa Yang Yi đang sung sướng hả hê khi thấy rằng Trung Quốc đã vượt gấp năm lần Hoa Kỳ trong sản xuất tàu ngầm … con số 18 chiếc (là số lượng tàu ngầm của Hoa Kỳ thường xuyên có mặt ở Thái Bình Dương) so với 75 chiếc (hoặc nhiều hơn thế) tàu ngầm của Trung Quốc rõ ràng là không hề lạc quan chút nào [nhìn từ góc độ của nước Mỹ]. Người đứng đầu lực lượng hải quân Trung Hoa đã đúng khi đánh giá rằng các tàu ngầm của Mỹ có tính năng vượt trội hơn mặc dù khoảng cách về chất lượng hiện đang được rút ngắn. Và khoảng cách về số lượng khiến cho việc theo dõi hành tung các hạm đội của Trung Hoa trở nên khó khăn hơn.

Tôi đã được yêu cầu phát biểu về vai trò của lực lượng hải quân Mỹ trong việc duy trì đối trọng trên biển. Tôi đã làm điều đó với tinh thần khiêm tốn, vì tôi đang phát biểu trước ngài cựu Bộ trưởng Hải quân và cũng vì tôi nhận thức rõ ràng rằng việc đem ra bàn cãi về lực lượng quân sự của chúng ta là một vấn đề nhạy cảm.

Viện nghiên cứu của tôi đã triệu tập một nhóm các chuyên gia an ninh và chuyên gia quân sự để có cái nhìn sâu sắc hơn về yêu cầu đối với lực lượng quân đội của chúng ta trên toàn thế giới trước khi chính phủ tiến hành chương trình Xét duyệt Quốc phòng bốn năm một lần (QDR).

Chúng tôi đã xem xét yêu cầu quân sự tại khu vực Thái Bình Dương và tôi xin phép được chia sẻ với các vị một số kết luận như sau:

Trước hết, tôi xin nhấn mạnh rằng chiến lược phòng thủ của chúng ta ở Thái Bình Dương cần không chỉ tập trung vào việc đối phó với các tình huống chiến đấu khi chiến tranh thực sự nổ ra. Vì Trung quốc đã thay đổi cán cân quân sự trong vùng nên lực lượng quân sự của chúng ta cũng phải thay đổi theo để lập lại đối trọng quân sự. Một cách để chúng ta đáp ứng đòi hỏi quân sự của chúng ta ở Thái Bình Dương là suy nghĩ về một sự hiện diện và điều động quân đội mạnh mẽ hơn tại khu vực này đồng thời cũng phải nghĩ tới lực lượng tăng cường khẩn cấp trong trường hợp có xung đột. Tôi sẽ chủ yếu đề cập đến vế đầu tiên của nhận định này:

Chưa bao giờ các hạm đội của chúng ta lại có quy mô nhỏ như hiện nay kể từ đầu thế kỷ 20. Mặc dù chúng ta có quân trang quân giới tốt hơn nhưng nếu so với khu vực Thái Bình Dương rộng lớn thì quy mô của các hạm đội là một vấn đề cần cân nhắc. Lực lượng của chúng ta ở Thái Bình Dương có rất nhiều nhiệm vụ bên cạnh việc duy trì đối trọng quân sự – họ còn phải xây dựng năng lực quan hệ đối tác, ứng

phó với thiên tai và thực hiện nhiệm vụ chống lại nạn cướp biển.

Tôi xin tập trung vào nhiệm vụ về Trung Quốc. Sơ qua, có thể thấy về yêu cầu đối với lực lượng hải quân ở Thái Bình Dương, cần gia tăng số lượng tàu ngầm tấn công chớp nhoáng hiện diện gần như liên tục ở vùng biển Đông và Nam Trung Hoa cũng như ở khu vực biển Nhật Bản. Chúng ta cần có nhiều tàu ngầm hơn để bảo vệ các Nhóm Tàu sân bay Tấn công, để theo dõi tàu ngầm tuần tiễu của Trung Quốc và để tiến hành các hoạt động tình báo, do thám, trinh sát (ISR). Cũng cần trang bị thêm các máy bay do thám P8 và các bộ phận cảm biến dưới mặt biển.

Lực lượng tên lửa và các hạm đội phòng thủ của chúng ta chưa tương xứng với sự lớn mạnh ngày càng nhanh chóng của Trung Quốc trong sản xuất tên lửa đạn đạo và

tên lửa tìm diệt trên biển. Đáng tiếc là đã đến lúc nếu chúng ta muốn giữ các căn cứ và các tàu chiến đã được triển khai thì chúng ta cần tập trung nhiều hơn nữa trong việc bảo vệ chúng.

Các thiết bị hữu dụng để bảo về tài sản trên biển bao gồm hệ thống phát hiện mục tiêu qua vệ tinh được kết nối trực tiếp với hệ thống ra đa dò tìm mục tiêu, sự có mặt thường trực của các tàu chiến được triển khai ở tiền phương có khả năng chống lại tên lửa đạn đạo và hệ thống tin tức tình báo cung cấp thời điểm chính xác tàu chiến có thể bị đe doạ và cảnh báo về các đợt phóng tên lửa chống tàu.

Mặc dù chúng ta cần triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa song năng lượng trực tiếp chính là công cụ đầy hứa hẹn để chống lại những mối đe doạ này, đặc biệt là tên lửa đạn đạo chống hạm (ASBM). Việc triển khai nhiều hơn nữa các tàu chiến duyên hải có thể đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng tác chiến chống hạm (ASW) mạnh mẽ.

Tẩt cả các biện pháp quân sự này sẽ giúp chúng ta phản ứng nhanh khi cần thiết. Nếu quân đội của chúng ta cần gửi thêm nhiều tàu chiến nữa tới khu vực này thì các biện pháp để tăng cường khả năng sống sót của chúng sẽ khiến chúng trở nên mạnh mẽ hơn và có hiệu quả hơn. Một hệ thống ASW mạnh hơn sẽ làm tăng khả năng tự do hành động của chúng ta trong các cuộc chiến đấu. Tôi muốn nói rằng chúng ta cũng cần phải chú trọng tới sự tồn vong của các căn cứ quân sự trên mặt đất. Chúng ta cần có nhiều cơ sở hậu cần hơn tại các nước thân thiện để lực lượng không quân của ta có thể thâm nhập vào trong vùng. Chúng ta cũng cần đảm bảo rằng chúng ta có các máy bay tuần tiễu và tàu chở dầu đủ để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp hơn và khó khăn hơn bất kỳ nhiệm vụ nào mà chúng ta đã thực hiện trước đây.

Ngài đã tỏ ra có lý, thưa Thượng nghị sĩ Webb, khi nhận định rằng chúng ta đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan: ngân sách quốc phòng của chúng ta đã được công bố trước khi Chính quyền Obama thông qua QDR. Tôi muốn thúc giục Quốc hội hãy đảm bảo sao cho việc rà soát quân sự của chính phủ không chỉ đơn giản là quyết định cắt giảm ngân sách quốc phòng.

Cuối cùng, tôi tin tưởng rằng con đường ngoại giao có thể sẽ thành công và Châu Á có thể hưởng nền hoà bình và thịnh vượng lâu dài hơn khi mà mọi người đều biết rằng Hoa Kỳ có khả năng thực hiện những cam kết của mình. Điều cần thiết giờ đây chính là tài năng và nghệ thuật điều hành đất nước vốn có từ lâu đời của người Mỹ – nghệ thuật sử dụng đường lối ngoại giao mềm mỏng nhưng có tính răn đe và mang lại hiệu quả cao.

Điều Trần: Các Vấn Đề Biển Đảo và Tranh Chấp Chủ Quyền ở Đông Á

Điều trần của Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher đặc trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng trước Tiểu ban các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, Uỷ ban Đối ngoại, Thượng viện Mỹ Các vấn đề biển đảo và tranh chấp chủ quyền ở Đông Á

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_scher_170809.html 15/7/2009

Thưa Chủ tọa, xin cảm ơn vì đã mời tôi đến Tiểu ban để điều trần về các tranh chấp lãnh hải và chủ quyền. Đây là những vấn đề trọng tâm trong cán cân an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương và cũng là những vấn đề mà chúng tôi ở Bộ Quốc phòng đang theo dõi chặt chẽ. Tôi đánh giá cao sự quan tâm liên tục của Tiểu ban đối với chủ đề quan trọng này và mong rằng chúng ta sẽ còn tiếp tục thảo luận về những diễn biến xung quanh chủ đề này.

Trong bài phát biểu ngày 30/5/2009 tại Hội nghị Quốc phòng thường niên tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Sing-ga-po, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gate đã khái quát những thay đổi đáng chú ý trong môi trường an ninh châu Á kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Cụ thể hơn, trong khi ca ngợi người dân châu Á giờ đây đã có mức sống cao hơn và giàu có hơn, Bộ trưởng Gates nhấn mạnh tương quan giữa sự ổn định và thịnh vượng về kinh tế – một trong những đặc điểm chủ chốt của môi trường an ninh châu Á trong giai đoạn này. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong hai thập kỷ qua nhìn chung là hoà bình và ổn định. Sự ổn định này góp phần mang lợi ích cho tất cả các bên.

Dù có sự ổn định, song một trong những nhân tố mà chúng ta thấy có khả năng thách thức môi trường an ninh khu vực, đồng thời là chủ đề của buổi điều trần ngày hôm nay, là một loạt tranh chấp lãnh thổ dai dẳng, đặc biệt là tranh chấp biển đảo ở Đông Nam Á và Biển Hoa Nam giữa một số quốc gia trong khu vực. Trong những năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến căng thẳng và mâu thuẫn gia tăng về những tranh chấp này. Điều đó đi ngượclại tinh thần chủ đạo là hòa bình và hợp tác nhằm tìm kiếm các giải pháp ngoại giao cho vấn đề này như được nêu trong Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa năm 2002.

Tranh chấp gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân: nhu cầu về dầu khí gia tăng khiến các bên tranh chấp quan tâm hơn nữa về đảm bảo quyền đối với các nguồn lợi; các quốc gia trong khu vực quan tâm hơn tới các đòi hỏi chủ quyền khi việc nộp đơn xin mở rộng thềm lục địa theo Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc chuẩn bị hết hạn vào tháng 5/2009; chủ nghĩa dân tộc gia tăng khiến chính phủ và nhân dân các nước càng nhạy cảm trước sự coi nhẹ và xâm phạm về lãnh thổ và chủ quyền. Bên cạnh đó, khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc đã trở thành yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần và nội dung cuộc đối thoại về các tranh chấp biển đảo trong khu vực.

Khi phân tích các hoạt động của Trung Quốc trên biển, tôi nghĩ cần có sự tách biệt giữa việc các tàu hải quân Mỹ bị cản trở ở gần Trung Quốc và cách tiếp cận của Trung Quốc đối với những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Hoa Nam nói chung. Mặc dù phải có sự phân biệt rõ như vậy, song cơ sở để Mỹ đưa ra phản ứng đều giống nhau.

Việc các tàu cá của Trung Quốc quấy rối các tàu hải quân Mỹ khi đang tiến hành các hoạt động quân sự thường lệ và hợp pháp ở Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc xảy ra năm nay là một điểm tối trong quan hệ Trung – Mỹ. Tuy nhiên, tôi cũng xin nhấn mạnh là kể từ tháng Năm đến nay chưa có thêm vụ tàu cá mang cờ Trung Quốc nào quấy rối các tàu hải quân Mỹ.

Mặc dù bất cứ vụ va chạm trên biển nào cũng đều đáng lo ngại, song số vụ va chạm giảm dần sau một sự kiện cụ thể cho thấy cam kết của lãnh đạo hai nước là giải quyết những vấn đề này một cách hoà bình và thông qua con đường ngoại giao.

Bộ Quốc phòng coi hành vi của Trung Quốc trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của nước này và rộng hơn trong khu vực Biển Hoa Nam – mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với phần lớn khu vực này – là dựa trên hai cơ sở.

Thứ nhất, Trung Quốc có ý đồ chiến lược trong việc khẳng định chủ quyền đối với phần lớn vùng Biển Hoa Nam. Điều này chủ yếu thể hiện trên lĩnh vực chính trị và kinh tế, như đồng nghiệp của tôi ở Bộ Ngoại giao vừa trình bày chi tiết, nhưng đủ để nói rằng Trung Quốc chủ động phản đối bất cứ hoạt động nào của các bên khác nhằm khẳng định những đòi hỏi về chủ quyền của họ. Việt Nam, Đài Loan, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây đều đòi hỏi chủ quyền đối với các phần khác nhau ở Biển Hoa Nam; những đòi hỏi này xung đột với nhau, đặc biệt những khu vực xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ hai, để củng cố ảnh hưởng chính trị và chiến lược đang gia tăng ở khu vực này, Trung Quốc đã và sẽ tiếp tục tăng cường vị thế quân sự ở Biển Hoa Nam. Ví dụ, khi Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc nâng cấp các công trình ở đảo Hải Nam, chúng ta thấy có sự liên hệ trực tiếp với tư thế chủ động của Trung Quốc khi phản ứng trước các hoạt động của Mỹ trên biển và trên không phận.

Hiểu được ý đồ chiến lược của Trung Quốc không có nghĩa là Bộ Quốc phòng chấp nhận cách Trung Quốc khẳng định vị thế trong khu vực. Chúng ta phản đối mạnh mẽ hành vi khiến sự an toàn của các tàu của chúng ta bị đặt vào tình thế rủi ro và hành vi đó là sự vi phạm rõ ràng các chuẩn mực quốc tế về hành vi ứng xử ở vùng biển quốc tế bên ngoài vùng lãnh hải. Bộ Quốc phòng sẽ tiếp tục sử dụng tất cả các kênh để truyền đạt quan điểm này tới những người đồng nhiệm của chúng ta ở Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Cụ thể, tại cơ chế Tham vấn Quốc phòng gần đây tổ chức ngày 23-24/6 tại Bắc Kinh, chủ đề này đã được đưa vào chương trình nghị sự. Hai bên nhất trí tổ chức một hội nghị đặc biệt theo các điều khoản của Thoả thuận Tham khảo Quân sự trên biển Mỹ-Trung (MMCA, 1998) trong những tuần tới để xem xét cách thức thúc đẩy tiến trình này, tăng cường thông tin liên lạc, giảm khả năng xảy ra va chạm hoặc tai nạn giữa lực lượng hai nước khi hoạt đồng gần nhau.

Hơn thế nữa, chúng ta phản đối bất kỳ nỗ lực của quốc gia nào nhằm hạn chế các quyền tự do trên biển khơi trong phạm vi các khu vực đặc quyền kinh tế. Luật tập quán Quốc tế, như ghi nhận tại điều 58, 87 trong Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp Quốc, đảm bảo tất cả các quốc gia đều có quyền hoạt động trong khu vực đặc quyền kinh tế; tự do hàng hải và tự do hàng không trên các vùng biển khơi và các hình thức sử dụng đại dương truyền thống liên quan tới các quyền tự do này. Kể từ khi Công ước Luật biển 1982 ra đời, quan điểm của Mỹ là các quyền hàng hải và các quyền tự do hàng hải áp dụng trong vùng đặc quyền kinh tế, về định tính và định lượng, đều giống với các quyền tự do áp dụng ở vùng biển khơi. Chúng ta ghi nhận rằng gần 40% vùng biển thế giới thuộc phạm vi vùng đặc quyền kinh tế kéo dài 200 hải lý, do vậy, vì nền kinh tế toàn cầu và vì hoà bình và an ninh quốc tế, chúng ta cần phải khẳng định và duy trì mạnh mẽ các quyền tự do và quyền hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế.

Như đã đề cập ở trên, hoạt động quân sự của chúng ta trong khu vực là hoạt động thường xuyên và phù hợp với luật tập quán quốc tế như ghi nhận trong Công ước Luật biển 1982. Chúng ta đã kiên trì khẳng định chính sách cơ bản đối với các đòi hỏi mâu thuẫn nhau ở Biển Hoa Nam – mà mới đây nhất là ở Đối thoại Shang-ri La tháng 5/2009 khi Bộ trưởng Gates khẳng định rằng Mỹ không đứng về bên nào trong các tranh chấp chủ quyền và ủng hộ một giải pháp hoà bình bảo vệ quyền tự do hàng hải. Trong bài phát biểu tại cơ chế đối thoại này, Bộ trưởng Gates khẳng định “dù là trên biển, trên không trung, trên vũ trụ hay không gian mạng, những không gian chung của thế giới là những vùng mà ở đó chúng ta phải hợp tác, ở đó chúng ta phải tuân thủ pháp quyền và các cơ chế khác giúp duy trì hoà bình khu vực.”

Bộ trưởng Gates nói: “chúng tôi ủng hộ sự cởi mở, phản đối sự độc quyền, và ủng hộ việc cùng sử dụng các không gian chung một cách có trách nhiệm nhằm duy trì và thúc đẩy sự thịnh vượng chung.” Mỹ có lợi ích trong việc duy trì các tuyến hàng hải mở, tránh bị kéo vào các xung đột khu vực; ủng hộ tìm kiếm một giải pháp cho tranh chấp lãnh thổ thông qua cơ chế đa phương, tránh thói quen tạo tiền lệ; và bảo vệ uy tín của Mỹ ở Đông Nam Á.

Để hỗ trợ các mục tiêu chiến lược của chúng ta, Bộ Quốc phòng đã khởi động một chiến lược theo nhiều hướng:

1) Thể hiện rõ bằng lời nói và hành động cho thấy các lực lượng Mỹ tiếp tục hiện diện và là lực lượng quân sự có ưu thế vượt trội trong khu vực.

2) Cân nhắc và xác định các đòi hỏi về quyền tự do hàng hải của các tàu hải quân Mỹ.

3) Xây dựng quan hệ an ninh chặt chẽ hơn với các đối tác trong khu vực, cả ở cấp độ chính sách và thông qua các cơ chế đối thoại chiến lược, lẫn cấp độ triển khai thông qua xây dựng năng lực cho đối tác, đặc biệt về lĩnh vực an ninh biển, và

4) Củng cố các cơ chế quan hệ quân sự-ngoại giao đã có với Trung Quốc nhằm cải thiện thông tin liên lạc và giảm bớt rủi ro về tính toán sai.

Hiện diện về quân sự có lẽ là bộ phận quan trọng nhất trong thành tố đầu tiên của chính sách đề cập ở trên. Ở khía cạnh này, thì căn cứ quân sự ở Guam được coi là cái neo vĩnh viễn cho sự hiện diện của Mỹ trong khu vực và củng cố vị thế “cường quốc khu vực” của chúng ta. Chúng tôi tin rằng điều này sẽ có tác dụng ổn định các chính sách và chiến lược của các bên đòi hỏi chủ quyền ở Biển Hoa Nam. Nếu chúng ta thực hiện một chính sách khác tức là Mỹ rút khỏi khu vực và tạo khoảng trống quyền lực, điều đó sẽ khiến những quốc gia yếu kém nhất trong số các bên sẽ không còn chút không gian chiến lược nào để hoạt động.

Về thành tố thứ hai trong chiến lược của chúng ta, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ sẽ tiếp tục khẳng định các quyền tự do hàng hải trong khu vực. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động ở Biển Hoa Nam; tuân thủ nghiêm ngặt luật tập quán quốc tế ghi nhận trong Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Hoạt động của Mỹ sẽ được điều chỉnh bởi lợi ích của chúng ta trong khu vực và mong muốn duy trì an ninh và ổn định trên toàn bộ Tây Thái Bình Dương.

Thành tố thứ ba trong chiến lược của chúng ta tập trung vào việc mở rộng và củng cố các chương trình ngoại giao quốc phòng và xây dựng năng lực trong khu vực như những nỗ lực hỗ trợ quan trọng nhằm ngăn chặn không cho căng thẳng ở Biển Hoa Nam phát triển thành mối đe doạ đối với các lợi ích của Mỹ. Để đạt mục tiêu đó, gần đây chúng ta đã thiết lập cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng cấp cao với Việt Nam và Ma-lai-xi-a, bổ sung cho các cơ chế tham vấn vốn đã rất mạnh của chúng ta với Phi-líp-pin, Thái Lan, và In-đô-nê-xi-a. Thông qua hàng loạt hoạt động hợp tác an ninh từ hội thảo đến tập trận đa phương chúng ta đang giúp các quốc gia trong khu vực vượt qua các trở ngại lâu đời về lịch sử và văn hoá vốn cản trở nỗ lực hợp tác an ninh đa phương.

Cuối cùng, chúng ta cần củng cố các cơ chế đã có nhằm lôi kéo Trung Quốc thảo luận về vấn đề này và các vấn đề an ninh khác, trong đó có Cơ chế Tham vấn Quốc phòng Mỹ-Trung, Cơ chế Phối hợp Chính sách Quốc phòng Mỹ-Trung, Thỏa thuận Tham khảo các vấn đề quân sự trên biển Mỹ-Trung. Các cơ chế này là kênh thông tin liên lạc mở và liên tục để xây dựng lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau hơn nữa, để thảo luận thẳng thắn về những bất đồng, tăng cường hiểu biết và áp dụng các tiêu chuẩn về an toàn và các nguyên tắc hoạt động cơ bản nhằm tăng cường an toàn cho các thuỷ thủ và phi công của tất cả các quốc gia trong khu vực.

Tất cả những nỗ lực này đều nhằm giảm thiểu biến động. Chúng tôi tin rằng các bên tranh chấp ở Biển Đông sẽ đánh giá Mỹ là nhân tố giúp ổn định trong khu vực. Mặc dù chúng ta không đề xuất làm trung gian hay hoà giải xung đột, nhưng sự hiện diện của chúng ta mang lại cảm giác ổn định và mở ra không gian cho các bên tranh chấp

nhằm tìm kiếm các biện pháp chính trị giải quyết những vấn đề này.

Tôi rất sẵn lòng trả lời các câu hỏi của quý vị.

Điều trần của Richard P. Cronin, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á Trung tâm Stimson, Washington, DC

Kính thưa Thượng Nghị sĩ Webb và các thành viên của Tiểu Ban Đối Ngoại Thượng Viện Khu Vực Đông Á Thái Bình Dương. Tôi xin cám ơn quí ngài đã tạo cơ hội cho tôi trình bày trước Tiểu Ban Thượng Viện về các vấn đề ở khu vực Đông Á Thái Bình Dương, nơi có tầm quan trọng đối với nền hòa bình, ổn định, và phát triển cân xứng của thế giới, và có ảnh hưởng lớn đến Hoa Kỳ. Về những lý do mà ngài đã đề cập trong thư mời tham gia buổi tường trình, đơn phương tuyên bố về chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc đi ngược lại các nguyên tắc của Luật Biển, và việc Trung Quốc sẵn sàng dùng vũ lực và đe dọa để đạt được mục tiêu của mình, đã trở thành những vấn đề đáng quan tâm ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Cách hành xử của Trung Quốc đã đe dọa đến lợi ích của các nước Đông Nam Á và Hoa Kỳ, kể cả quyền tự do lưu thông, khả năng khai thác nguồn dầu thô và khí đốt dồi dào dưới lòng biển, vấn đề hợp tác và phát triển bền vững trong việc khai thác các nguồn tài nguyên khác ở thềm lục địa, đánh bắt hải sản, và khai thác cửa biển. Hậu quả của cách hành xử của Trung Quốc ở vùng biển Nam Trung Hoa bao gồm đe dọa đến hòa bình và ổn định của khu vực, đến sự phát triển kinh tế, đến sự sinh kế, và an ninh lương thực.

Cách hành xử của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa giống như là cách họ áp dụng trong tranh chấp với Nhật Bản và trong các cuộc tranh chấp, hiện nay đang bế tắc, với Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên và Hàn Quốc; và liên quan đến việc khai thác tiềm năng thủy điện trên sông Mê Kông, Trung Quốc đã không màng đến quyền lợi của hơn 60 triệu người ở năm quốc gia khu vực hạ lưu, nơi mà sông Mê Kông chính là mạch máu, là nguồn lợi chính của các nước về an ninh lương thực. Tôi rất vui lòng đề cập đến những vấn đề này nếu quý ngài yêu cầu, nhưng bây giờ tôi sẽ tập trung vào vấn đề biển Nam Trung Hoa.

Đầu tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ không phải là nước có tham gia vào bất kỳ một cuộc tranh chấp chủ quyền nào ở châu Á, nhưng các nước đồng minh và một số quốc gia quan trọng có giao hảo với Hoa Kỳ đang tham gia vào các cuộc tranh chấp chủ quyền, và những vấn đề tranh chấp có liên quan đến lợi ích của chúng ta. Những lợi ích này bao gồm những lợi ích cơ bản nhất như hòa bình và ổn định của khu vực, quyền lưu thông của tàu chiến Hoa Kỳ, những lợi ích quan trọng về thương mại trong khu vực, và vấn đề đầu tư. Việc không công nhận những luật lệ quốc tế của Trung Quốc mở rộng sang cả vùng trời và góp phần vào vụ máy bay thám thính Hoa Kỳ và chiến đấu cơ của Trung Quốc đâm vào nhau hối năm 2001, khiến cho máy bay thám thính phải đáp xuống đảo Hải Nam, Trung Quốc.

Ở cấp độ toàn cầu, chúng ta có những quan tâm to lớn ở khu vực biển Nam Trung Hoa, liên quan đến việc biến đổi của khí hậu và hiện tượng trái đất nóng dần lên, việc hợp tác khai thác thủy hải sản bền vững và việc bảo vệ các rặng san hô. Về việc tranh chấp lãnh hải, tôi sẽ chủ yếu đề cập đến vấn đề “Những lợi ích an ninh không chính thống” (NTS) như: ảnh hưởng của tranh chấp đối sự phát triển kinh tế, an ninh lương thực, sinh kế, và lợi ích kinh doanh của Hoa Kỳ ở khu vực biển Nam Trung Hoa và khu vực các nước Đông Nam Á lân cận.

Ảnh Hưởng của Công Ước Quốc Tế về Luật Biển năm 1994

Tầm quan trọng và sự căng thẳng của những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đã gia tăng không ngừng kể từ khi áp dụng Công Ước Quốc Tế về Luật Biển 1994 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS). Luật Biển cung cấp 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế (EEZs) tính từ bờ biển của một quốc gia. Công Ước cũng thông qua đặc quyền khai thác thềm lục địa của một quốc gia ven biển, giới hạn trong khoảng 350 hải lý tính từ “đường cơ bản” (thường là mức trung bình của các số đo mặt nước khi thủy triều xuống thấp) và độ sâu 2500 mét của đáy biển.

Hoa Kỳ đóng vai trò hàng đầu trong việc soan thảo Luật Biển và đã ký thỏa ước tất cả các điều luật, ngoại trừ điều XI, có liên quan đến các nguồn tài nguyên ở tầng biển sâu và một vài tranh chấp khác. Nhìn chung, Hoa Kỳ đồng tình với các điều khoản quan trọng của Hiệp định về Luật Biển, nhưng chưa phê chuẩn do điều XI.

Những căng thẳng ngày càng tăng do các xung đột về quyền lãnh thổ bắt nguồn từ những giả định về các nguồn tài nguyên dầu và khí đốt dưới lòng biển, và nguồn lợi thủy hải sản. Các nguồn tài nguyên năng lượng đang dần trở nên có giá trị và dễ khai thác hơn nhờ vào những tiến bộ kỹ thuật về khoan dò và các hoạt động có liên quan. Việc nguồn cung ứng hải sản tự nhiên bị cạn kiệt cộng với việc tăng giá của hải sản trên thị trường đã đe dọa đến an ninh lương thực thực phẩm của vài quốc gia và khiến ngành đánh bắt thủy hải sản trở thành lý do của những xung đột.

Hầu hết những tranh chấp về lãnh thổ đang nóng lên trong thời điểm hiện nay là do UNCLOS yêu cầu các quốc gia nộp kiến thư chính thức về chủ quyền biển vào ngày 13-05-2009. Một vài nước đã chính thức lên tiếng khiếu nại các nước khác về việc tuyên bố chủ quyền biển chồng lấn lẫn nhau, đáng chú ý nhất là Trung Quốc.

Trung Quốc là cội nguồn của những tranh chấp ở khu vực biển Nam Trung Hoa và vùng châu thổ sông Mê Kông

Bắc Kinh luôn lặp đi lặp lại tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ khu vực biển Nam Trung Hoa và đã dùng vũ lực để cưỡng chiếm lãnh thổ. Vào năm 1974, Trung Quốc lợi dụng sự sụp đổ của chính quyền Nam Việt Nam đã tấn công hải quân Nam Việt Nam và chiếm đóng các hòn đảo ở Quần Đảo Hoàng Sa. Chính phủ Việt Nam thống nhất sau đó tiếp tục duy trì các tuyên bố chủ quyền của chính quyền Sài Gòn cũ. Năm 1988, hơn 70 lính hải quân Việt Nam đã tử trận do đụng độ với tàu Trung Quốc gần rặng đá ngầm Johnson thuộc khu vực quần đảo Trường Sa. Năm 1995, Trung Quốc chiếm giữ thêm các dãy san hô nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa, cách Palawan của Philippines 130 hải lý, hoàn toàn nằm trong khu vực đặc quyền kinh tế của Philippines theo Công Ước 1994, trong khi nằm cách Trung Quốc đến 620 hải lý.

Sự kiện năm 1995 ở dãy đá ngầm Mischief đã kích hoạt đồng loạt những phản ứng của các nước Asean khiến cho Trung Quốc phải ngạc nhiên. Kết quả là Trung Quốc đã phải hứa hẹn hợp tác khai thác chung nguồn tài nguyên dưới biến cho đến khi các bất đồng được giải quyết. Tuy nhiên, Trung Quốc thật ra vẫn đang từ chối đàm phán đa phương với các nước có liên quan và đơn phương dùng sức mạnh vượt trội để tranh giành chủ quyền.

Những hoạt động vượt quá giới hạn của Trung Quốc là việc nhiều lần khoan thăm dò dầu và khí đốt ở vịnh Bắc Bộ và các khu vực lân cận ở biển Nam Trung Hoa, nơi xét theo những điều luật của UNCLOS về hoàn cảnh cư trú lịch sử, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Trung Quốc cũng ngăn cấm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam và các nước láng giềng hoạt động trong vùng lãnh hải do Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Hiện nay, Trung Quốc đang trực tiếp thách thức Hải quân Hoa Kỳ. Vào tháng 3-2009, 5 tàu nhỏ của Trung Quốc đã can thiệp vào các hoạt động của tàu thăm dò Impeccable Hoa Kỳ, ở vị trí cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 75 hải lý. Trung Quốc cho rằng tàu Impeccable đã vi phạm những điều luật về vùng đặc quyền kinh tế của UNCLOS qua việc tiến hành các hoạt động khảo sát dưới đáy biển. Ngay cả khi tàu của Hoa Kỳ dùng các vòi cứu hỏa xịt nước sang boong tàu của Trung Quốc, họ vẫn tiếp tục ngăn cản bằng cách chắn ngang đường tiến của tàu Impeccable. Trung Quốc cũng đã đe dọa đưa tàu vũ trang đến để bảo vệ các tàu nhỏ đang quấy rối hoạt động của tàu Hoa Kỳ và tăng cường quyền quản lý khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các Tranh Chấp Khác ở Biến Nam Trung Hoa

Một số các tranh chấp chưa được giải quyết bao gồm những tranh chấp giữa các nước trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN). Một số các tranh chấp trong đó có liên quan đến cả chủ quyền biển và đất liền. Những tranh chấp nổi bật bao gồm:

– Thái Lan và Campuchia, gồm có tranh chấp quyền sở hữu đền Preah Vihear nằm trên dãy núi vắt ngang biên giới của hai nước, cũng như tranh chấp về đường lãnh hải. Việc giành quyền sở hữu đền Preah Vihear là vấn đề nóng hiện nay giữa hai nước do Campuchia dự định sẽ đơn phương yêu cầu Liên Hiệp Quốc công nhận ngôi đền và khu vực lận cân là Khu vực Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Của Thế Giới. Quân đội giữa hai nước đã có các cuộc giao tranh lẫn nhau. Tranh chấp lãnh hải bao gồm khu vực chồng lấn có nguồn tài nguyên dầu và khí đốt, đang được Chevron và ConocoPhillips cùng với các hãng khác tiến hành thăm dò và khai thác. Việc giải quyết vấn đề này của chính phủ tiền nhiệm Thái Lan đóng vai trò quan trọng đến tình trạng rối loạn chính trị đang diễn ra ở Thái Lan hiện nay.

– Thái Lan và Việt Nam cũng có những xung khắc lợi ích ở Vịnh Thái Lan, nơi rất giàu nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt. Rất khó để phân ranh Vịnh Thái Lan do khu vực này được bao quanh bởi Campuchia, Malaysia, Thái Lan, và Việt Nam. Sẽ không thể vẽ một đường ranh giới sao cho có thể đảm bảo mỗi nước có được 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế. Campuchia đã phản đối những dàn xếp riêng về lãnh hải giữa Thái Lan và Việt Nam.

– Malaysia cũng tuyên bố chủ quyền một phần của biển Nam Trung Hoa, khu vực mà Thái Lan, Việt Nam, Philippines, và Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền. Một ký thư tuyên bố chủ quyền chung giữa Thái Lan và Malaysia gởi cho UNCLOS hồi đầu năm đã kích hoạt một phản ứng giận dữ của Trung Quốc và một quốc gia khác vốn không được hổ trợ bởi Luật Biển.

Ảnh Hưởng Cách Hành Xử Của Trung Quốc Đến Khả Năng Họat Động Của Các Công Ty Hoa Kỳ tại Các khu Vực Tranh Chấp

Cho đến nay, chỉ có các công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp từ cách hành xử của Trung Quốc khi tiến hành các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí tại các lô do Việt Nam và các nước khác mời thầu. Hoạt động thăm dò và khai thác này bao gồm các hoạt động trực tiếp hoặc liên doanh giữa các công ty đa quốc gia với các công ty ở các nước Đông Nam Á. Một số lượng lớn các báo cáo cho biết Trung Quốc đã nhắc nhở các công ty của Hoa Kỳ và các công ty đa quốc gia khác rằng nếu họ muốn làm ăn ở Trung Quốc, họ không được tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ở các khu vực thuộc vùng vịnh Bắc bộ do Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền.

Năng suất dầu khí của Việt Nam đang suy giãm và sẽ không thể tăng thêm nếu các công ty đa quốc gia không vào khai thác. Trừ phi Việt Nam và Trung Quốc đạt được vài thỏa hiệp, Việt Nam có ít cơ hội để phát hiện thêm các mỏ dầu khí ngoài khơi. Bắc Kinh đang ở “chiếu trên” và đã đang áp lực các công ty đa quốc gia ngừng khảo sát và khoan thăm dò ở các lô có giá trị thương mại do Việt Nam mời chào.

Thật dễ hiểu tại sao các công ty năng lượng đa quốc gia của Hoa Kỳ ngần ngại công khai các rắc rối do Trung Quốc gây ra, nhưng các báo cáo về việc hăm dọa của Trung Quốc đối với các công ty Hoa Kỳ đang gia tăng. Vào năm 2007 và 2008, Trung Quốc buộc ExxonMobil cũng như BP ngừng thăm dò tại các khu vực do Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Những quốc gia nào không đủ lực để tuần tra ngư nghiệp trong vùng đặc quyền kinh tế của mình sẽ bị thiệt thòi trong tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc và trở thành nạn nhân của các tàu bắt trộm cá nước ngoài. Giống như trường hợp của Somali, ngành công nghiệp đánh bắt thủy hải sản của quốc gia này bị hủy hoại bởi các tàu đánh bắt và chế biến cá cỡ lớn có thể góp phần vào nạn cướp biển ở khu vực Nam Trung Hoa và eo biển Malacca. Trong những năm gần đây, toàn bộ tàu chở hàng bị mất tích và lại xuất hiện với những cái tên khác và cờ đăng ký khác, và cướp biển tấn công tàu, giữ con tin và đòi tiền chuộc ở eo biển Malacca. Kể từ khi có thỏa thuận giữa Indonesia, Malaysia và Singapore, và sự hỗ trợ của hải quân Hoa Kỳ trong việc giám sát đường vận tải biển, tình trạng cướp biển đã giảm dần trong những năm qua.

Tuy nhiên, do tính lịch sử lâu đời, nạn cướp biển xảy ra ở các quần đảo của Indonesia, Philippines, và một phần bờ biển của Malaysia thuộc vùng Borneo vẫn tồn tại. Khi tiềm năng đánh cá cạn kiệt, khi rừng nhiệt đới bị mất dần làm giảm đi các chuyến hàng vận chuyển gỗ xẻ, các nhóm tham gia băng cướp trước đây có thể sẽ quay trở lại với nghề cướp biển.

Những Ảnh Hưởng Đến Môi Trường, Kinh Tế Xã Hội, và An Toàn cho Con Người

Một trong số những hậu quả tiêu cực của các tranh chấp chủ quyền là rào cản đối với sự hợp tác và quản trị bền vững nguồn tài nguyên ở vùng biển Nam Trung Hoa. Nhiều nỗ lực hợp tác trong việc quản lý nghề cá, bảo vệ các rặng san hô, và kiểm soát những ảnh hưởng tiêu cực của nạn phá rừng, khai thác mỏ, và chất thải cho đến nay không có lối thoát.

Việc khai thác nguồn hải sản quá mức ở biển Nam Trung Hoa và các vùng lân cận của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đang đe dọa đến sự tuyệt chủng của những loài cá quan trọng trong công nghiệp thực phẩm. Các quốc gia ven biển có thể không kiểm soát được những gì đang diễn ra vùng biển thượng nguồn, nhưng nếu những tranh chấp có thể được giải quyết ổn thỏa, ít nhất những quốc gia này có được quyền, nếu không phải là sức mạnh, quản lý vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Số lượng các tranh chấp lãnh hải trực tiếp gây cản trở sự phát triển kinh tế và ít nhất là gây khó khăn đến sự phát triển bền vững và thân thiện với môi trường. Những tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia và giữa Trung Quốc và Việt Nam làm tổn hại đến lợi ích phát triển của quốc gia tranh chấp yếu hơn. Hơn nữa, ví dụ như nếu Campuchia phát hiện ra các mỏ dầu và khí đốt ngoài khơi và trên đất liền, chính phủ Campuchia có thể không cảm thấy cần thiết triển khai các dự án thủy điện tại các khu rừng bảo tồn trên núi Cardamom hay trên dòng Mê Kông. Khi đó, chi phí điện năng cao của Campuchia sẽ là một trong những cản trở trở chính cho sự phát triển.

Vai Trò Tiềm Năng Của Hoa Kỳ Trong Việc Hỗ Trợ Hòa Bình và Ổn Định

Mặc dù không phải là quốc gia trực tiếp tham gia vào các tranh chấp chủ quyền, có một vài cách Hoa Kỳ có thể thu được lợi ích cho mình và đóng góp cho các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt thông qua ngoại giao, hỗ trợ khoa học kỹ thuật, và khả năng ứng phó với những tàn phá do bão tố và sự thay đổi của khí hậu. Các phương cách để đạt được những mục tiêu trên bao gồm:

– Tham gia nhiều hơn vào các hoạt động trong khu vực, đặc biệt là giúp đỡ các nước Asean. Tôi xin chia xẻ nỗi thất vọng của nhiều người rằng ngoài một vài ngoại lệ quan trọng, Hoa Kỳ rõ ràng đã vắng bóng trong các giai đoạn phát triển chính của Đông Nam Á trong vài thập kỷ qua. Nhờ vào những cố gắng tột bực của các viên chức chúng ta ở các Đại sứ quán và Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại các nước sở tại nhằm thu hút sự quan tâm của Washington, việc thiếu quan tâm vào khu vực này đã được cải thiện kể từ những năm cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Bush. Việc bổ nhiệm Scot Marciel, Phó Giám đốc Bộ phận Đông Á Thái Bình Dương của Bộ Ngoại giao làm Đại sứ của Hoa Kỳ ở Asean năm 2007 là một ví dụ của xu hướng tích cực về sự quan tâm của Hoa Kỳ đối với khu vực Đông Nam Á.

– Hiện nay, chính quyền Obama, đặc biệt là Bộ Ngoại giao đang xúc tiến việc tham gia của Hoa Kỳ vào khu vực. Tất cả các lãnh đạo của các nước Đông Nam Á sẽ chăm chú lắng nghe Ngoại trưởng Clinton phát biểu khi bà ta tham dự Hội nghị Bộ Trưởng Cao Cấp Asean (PMC) giữa các nước Asean và các nước đối thoại và tham dự Diễn Đàn Khu Vực Asean (ARC) kéo dài trong vài ngày. Một vài mong đợi tại Hội nghị là Clinton sẽ mang đến những đóng góp ban đầu của Hoa Kỳ để giúp các nước Asean trong việc thích ứng với những thay đổi của khí hậu và các vấn đề hỗ trợ liên quan đến an toàn lương thực và con người.

– Hoa kỳ có thể giúp đỡ khu vực Đông Nam Á và chính mình qua việc đáp ứng yêu cầu hổ trợ khu tam giác Coral Triangle Initiative (CTI) của Asean. CTI bao phủ một khu vực tam giác biển rộng lớn giữa Indonesia, Malaysia, Philippines, Papua New Guinea, Đông Timor, và quần đảo Solomon. Với hàng ngàn loài cá sinh sống có giá trị khai thác nhiều tỉ đô là hàng năm, CTI đang ngày càng bị hủy hoại bởi phương pháp khai thác thương mại của các tàu đánh cá cỡ lớn của Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật Bản, và bị hủy hoại bởi nạn phá rừng, nạn đổ chất thải ra biển. Nhiều dự án cải tạo khu tam giác của các nước Asean đã được đề xuất, nhưng tất cả chỉ là lời hứa hơn là hành động, và không một nước nào có đủ các nguồn lực cần thiết để thực hiện lời hứa của mình. Có thể sẽ có một dự án thích hợp để cải tạo khu tam giác qua việc hợp tác với Úc Châu, nước có những mối quan tâm về vấn đề này và là nước có mối quan hệ đặc biệt với Papua New Guinea, Timor Leste, và Solomons.

– Hoa Kỳ sẽ giúp giải quyết các tranh chấp lãnh hải giữa các quốc gia có thiện chí qua việc hỗ trợ khảo sát cấu trúc đáy biển và các nguồn tài nguyên, và thu thập dữ liệu. Những trợ giúp bước đầu như thế sẽ có thể làm cho các nước Asean trở thành một điển hình tốt đối với Trung Quốc và ngay cả có thể giúp Trung Quốc chịu nhân nhượng trong tranh chấp mà không bị mất mặt.

– Trực tiếp khẳng định quyền hạn và lợi ích của Hoa Kỳ trong khu vực. Hơn hết, chính quyền Obama nên rút kinh nghiệm cách ứng xử thụ động của các chính phủ tiền nhiệm tính từ năm 1995 đối với những hành xử không tuân theo Luật Biển của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa và các nơi khác. Ít nhất chính quyền Obama nên có hổ trợ về tinh thần đối các nước Đông Nam Á trước sự đe dọa của Trung Quốc, và nên cương quyết đòi hỏi quyền tự do lưu thông trước sự khiêu khích của Trung Quốc.

– Hoa Kỳ có thể thực hiện điều đó dựa trên khuôn khổ Cuộc Đối Thoại Kinh Tế và Chiến Lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.Cuộc họp sắp tới ở Washington từ 27 đến 28 tháng 7, tiếp theo sau Hội nghị Bộ Trưởng Cao Cấp Asean và Diễn Đàn Khu Vực Asean tại Phuket, Thái Lan từ 17 đến 23 tháng 7. Ngoại trưởng Clinton sẽ quay trở lại Hoa Kỳ sau các buổi gặp gỡ đó, sau khi có được những kiến thức sơ bộ về những mối lo lắng của các nước Asean đối với Trung Quốc.

– Điều không may là Trung Quốc đã tự đặt mình vào vị trí đối nghịch với luật lệ quốc tế và cách ứng xử thông thường trong các cuộc tranh chấp lãnh hải. Tuy nhiên để Hoa Kỳ và các nước tham gia tranh chấp có hướng giải quyết tích cực hơn, cần nhớ rằng Trung Quốc đã mất khá nhiều lãnh thổ trong quá khứ và đang cố gắng thu hồi lại những thứ đã mất. Những mất mát đó của Trung Quốc bắt đầu bằng các cuộc chiếm đóng của thực dân Châu Âu và Nhật Bản và họ đã ép Trung Quốc từ bỏ những lãnh thổ hợp pháp của mình, ngay cả Trung Quốc cũng mất lãnh thổ vào tay của các nước láng giềng ở biển Nam Trung Hoa trong thời kỳ Cách mạng văn hóa hổn loạn của Mao Trạch Đông, do khi ấy Trung Quốc chỉ tập trung vào nội vụ.

– Quốc hội Hoa Kỳ có thể đóng vai trò xây dựng và quan trọng bằng cách tổ chức các buổi điều trần tương tự buổi điều trần hôm nay để xem xét những vấn đề tranh chấp này, và bằng việc phê chuẩn và tài trợ, sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng, cho những chương trình trợ giúp ban đầu của Hoa Kỷ đối với các nước Đông Nam Á một cách thường xuyên hơn. Sự quan tâm của Hoa Kỳ không cần nhằm mục đích cô lập hay bêu xấu Trung Quốc. Đơn giản là cách đó không có tác dụng. Thay vào đó chúng ta phải thể hiện sự tôn trọng những khát vọng của Trung Quốc muốn trở thành quốc gia lãnh đạo và hùng mạnh, nhưng phải nằm trong khuôn khổ của luật lệ quốc tế và lề lối ứng xử thông thường, cũng như Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ các đồng minh của mình và các quốc gia bè bạn.

Xin cám ơn quý ngài rất nhiều về sự ưu tiên dành cho buổi điều trần này. Tôi sẽ rất vui khi trả lời các câu hỏi của quý ngài nếu có hoặc sẽ hồi đáp sau một cách rõ ràng hơn.

 

Điều trần của Phó trợ lý Ngoại trưởng Scot Marciel, Vụ các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương

15/7/2009

Kính thưa Chủ toạ Webb và các thành viên Tiểu ban. Tôi vinh dự được điều trần trước quý vị ngày hôm nay về các vấn đề biển đảo và chủ quyền ở Đông Á. Những tuyến đường hàng hải qua khu vực Đông Á nằm trong số những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất trên thế giới và quan trọng nhất về mặt chiến lược. Đó là những tuyến thương mại huyết mạch tạo ra tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của khu vực và mang lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế Mỹ. Trao đổi thương mại trị giá nhiều tỉ đô la, phần lớn trong thương mại của châu Á với thế giới, kể cả Mỹ, được trung chuyển qua các vùng biển này mỗi năm Chỉ riêng ở Biển Nam Trung Hoa, mỗi năm có tới hơn một nửa số tàu buôn có trọng tải hàng tấn của thế giới đi qua.

Hoa Kỳ từ lâu có lợi ích sống còn trong việc duy trì ổn định, tự do hàng hải và quyền tiến hành các hoạt động thương mại hợp pháp trên các tuyến đường thuỷ tại Đông Á. Nhiều thập kỷ qua và cho đến tận hôm nay, sự can dự tích cực của Hoa Kỳ ở Đông Á, trong đó có sự hiện diện của các lực lượng quân sự Hoa Kỳ, vẫn là nhân tố chủ chốt duy trì hoà bình và bảo vệ những lợi ích này. Bằng các biện pháp ngoại giao, thương mại và sự hiện diện về quân sự trong khu vực, chúng ta đã bảo vệ được những lợi ích sống còn của nước Mỹ. Mối quan hệ của chúng ta với các đồng minh vẫn rất chặt chẽ, khu vực hiện nay đang có hoà bình và, như quý vị đều biết, Hải quân Mỹ tiếp tục thực hiện đầy đủ mọi sứ mệnh cần thiết để bảo vệ đất nước và duy trì lợi ích của chúng ta.

Sự hiện diện và chính sách của chúng ta còn nhằm hỗ trợ việc tuân thủ luật biển quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Mặc dù Hoa Kỳ chưa phê chuẩn Công ước này, như Ngài Chủ toạ cũng biết, chính quyền Mỹ hiện nay và các chính quyền tiền nhiệm đều ủng hộ việc tuân thủ công ước này, và trên thực tế tàu thuyền của chúng ta đều tuân thủ các quy định về việc sử dụng đại dương theo truyền thống.

Những vấn đề liên quan đến tranh chấp biển đảo và chủ quyền ở Đông Á đa diện và rất phức tạp. Được phép của Ngài Chủ toạ, tôi xin tập trung vào ba chủ đề sau:

– Thứ nhất, các tranh chấp chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa;

– Thứ hai, những vụ va chạm gần đây liên quan đến Trung Quốc và các hoạt động của tàu hải quân Mỹ trong vùng biển quốc tế thuộc Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc (EEZ);

– Và cuối cùng là bối cảnh chiến lược của những vấn đề này và phản ứng nước Mỹ nên có.

Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Brunei mỗi bên đều khẳng định chủ quyền đối với các phần thuộc Biển Nam Trung Hoa, kể cả các phần đất phụ thuộc. Phạm vi và mức độ đòi hỏi chủ quyền của từng bên cũng khác nhau. Đòi hỏi về chủ quyền của các bên tập trung vào hơn 200 đảo nhỏ, bãi đá và các đảo chìm thuộc quầndãy đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngoại trừ tranh chấp chủ quyền, Biển Nam Trung Hoa nhìn chung là hoà bình. Căng thẳng giữa các bên lúc gia tăng, lúc lắng dịu. Cho đến nay, các tranh chấp chưa đến mức trở thành xung đột quân sự kéo dài. Năm 2002, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký “Tuyên bố về Ứng xử của Các bên ở Biển Nam Trung Hoa.” Mặc dù tuyên bố này không mang tính ràng buộc nhưng nó quy định những nguyên tắc hữu ích, chẳng hạn như tất cả các bên phải “giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình” và “tự kiềm chế”, đồng thời các bên “tái khẳng định tôn trọng và cam kết về quyền tự do hàng hải và tự do bay trên vùng trời Biển Nam Trung Hoa, như được quy định trong các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận toàn cầu, trong đó có Công ước Luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc.”

Quan trọng hơn, văn kiện ký kết năm 2002 này cho thấy các bên sẵn sàng tiếp cận đa phương về vấn đề này. Chúng ta hoan nghênh thoả thuận này, vì nó giúp làm giảm căng thẳng giữa các bên và củng cố ASEAN với tư cách một tổ chức. Mặc dù không loại trừ được căng thẳng và cũng không loại trừ được hành động đơn phương của các bên ở Biển Nam Trung Hoa, nhưng văn kiện này là bước khởi đầu, là một cơ sở tốt để giải quyết xung đột trong khu vực bằng biện pháp ngoại giao.

Mỹ sẽ tiếp tục chính sách không đứng về bên nào trong các tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa. Nói cách khác, chúng ta không đứng về bên nào trong những đòi hỏi chủ quyền đối với các đảo và các phần đất phụ thuộc ở Biển Nam Trung Hoa, hoặc các vùng biển (vùng lãnh hải) xuất phát từ các phần đất đó. Tuy nhiên chúng ta quan ngại về những lời tuyên bố về “hải phận” hoặc bất kỳ vùng biển nào không bắt nguồn từ lãnh thổ. Đòi hỏi chủ quyền đối với những vùng biển này không phù hợp với luật pháp quốc tế, như được ghi nhận trong Công ước Luật biển.

Chúng ta lo ngại về căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam, vì hai quốc gia này đều đang tìm kiếm trữ lượng dầu và hơi đốt dưới đáy Biển Nam Trung Hoa. Bắt đầu từ mùa hè năm 2007, Trung Quốc đã yêu cầu một số công ty dầu khí của Mỹ và nước ngoài phải dừng hoạt động thăm dò với các đối tác Việt Nam ở Biển Nam Trung Hoa nếu không sẽ phải chịu hậu quả không báo trước khi họ làm ăn với Trung Quốc.

Chúng ta phản đối bất cứ nỗ lực nào nhằm đe doạ các công ty Mỹ. Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 9/2008, cựu Thứ trưởng Ngoại giao John Negroponte đã khẳng định các công ty Mỹ có quyền hoạt động tại vùng Biển Nam Trung Hoa và khẳng định việc chúng ta tin rằng các tranh chấp phải được giải quyết một cách hoà bình, không sử dụng bất cứ biện pháp cưỡng ép nào. Chúng ta đã trực tiếp nêu với phía Trung Quốc những lo ngại này. Tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia không thể giải quyết bằng cách gây áp lực lên các công ty không liên quan gì đến các bên tranh chấp.

Chúng ta cũng kêu gọi tất cả các bên kiềm chế và tránh có các hành động gây hấn nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền và khẳng định rõ chúng ta phản đối việc đe doạ hoặc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp, cũng như bất kỳ hành động nào khác nhằm cản trở tự do hàng hải. Chúng ta muốn thấy một giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc.

Có rất nhiều tranh chấp biển đảo khác ở Đông Á. Nhật Bản và Trung Quốc cũng có tranh chấp về giới hạn của Vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Hoa Đông, và chủ quyền đối với đảo Senkaku. Những tranh chấp này không được chú ý bằng tranh chấp ở Biển Hoa Nam. Chúng ta tiếp tục theo dõi diễn biến của tất cả các chấp này khi mà những tranh cãi về chủ quyền có thể leo thang rất nhanh ở một khu vực nơi mà tinh thần quốc gia dân tộc được thể hiện rất mạnh mẽ.

Bây giờ tôi xin trình bày về những diễn biến mới xảy ra liên quan đến Trung Quốc và tàu của Hoa Kỳ họat động tại hải phận quốc tế bên trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc. Tháng 3/2009, tàu khảo sát của Hải quân Mỹ USNS Impeccable tiến hành hoạt động thường lệ, phù hợp với luật quốc tế tại vùng biển quốc tế trên Biển Hoa Nam. Hành động quấy rối tàu Impeccable của các tàu đánh cá Trung Quốc khiến tàu của cả hai bên bị đặt vào tình thế nguy hiểm, gây cản trở cho tự do hàng hải, và không phù hợp với nghĩa vụ đối với các tàu trên biển đó là đảm bảo an toàn cho các tàu khác. Chúng ta ngay lập tức đã phản đối những hành động này với Chính phủ Trung Quốc, và đòi hỏi rằng những khúc mắc phải được giải quyết thông qua các cơ chế đối thoại đã được thiết lập, chứ không phải bằng sự đối đầu trực tiếp giữa các tàu, khiến các thuỷ thủ và tàu ở trong tình trạng nguy hiểm.

Mối lo ngại của chúng ta xung quanh vụ va chạm đó chủ yếu là lo ngại về nhận thức của Trung Quốc về thẩm quyền pháp lý của nước này đối với tàu thuyền các nước khác hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, và cách Trung Quốc khẳng định cái mà họ coi là các quyền trên biển của mình.

Ở điểm này thì quan điểm của Trung Quốc về các quyền của họ không được luật quốc tế ủng hộ. Chúng ta đã nêu rất rõ vấn đề này trong các cuộc thảo luận với phía Trung Quốc và nhấn mạnh rằng các tàu của Mỹ sẽ tiếp tục hoạt động hợp pháp tại các vùng biển quốc tế như trước kia.

Tôi muốn lưu ý là kể từ giữa tháng 5 các tàu đánh cá Trung Quốc không tiến hành thêm vụ quấy rối nào nữa.

Để kết thúc, tôi xin đánh giá về cả hai mối lo ngại này, những lo ngại về Vùng đặc quyền Kinh tế với Trung Quốc và những đòi hỏi chủ quyền chồng chéo ở Biển Nam Trung Hoa trong bối cảnh chiến lược lớn hơn. Cụ thể là, những vấn đề này ảnh hưởng như thế nào tới luật pháp quốc tế và đối với những thay đổi quyền lực đang diễn ra ở Đông Á và Mỹ nên phản ứng như thế nào?

Vụ va chạm của tàu Impeccable và tranh chấp chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa là những vấn đề riêng rẽ đòi hỏi Mỹ phải có những chính sách phản ứng riêng. Trên tầm chiến lược, ở mức độ nào đó cả hai vấn đề này cho thấy rõ quyết tâm ngày càng tăng của Trung Quốc đối với những gì nước này coi là quyền của họ trên biển. Trong một số trường hợp chúng ta không đồng quan điểm hoặc thậm chí không hiểu cách Trung Quốc hiểu luật biển quốc tế.

Tuy nhiên, chúng ta tin rằng có những cách thức mang tính xây dựng để giải quyết những vấn đề khó khăn này. Về việc tôn trọng tự do hàng hải của các tàu hải quân Mỹ ở Vùng đặc quyền kinh tế, chúng ta đã yêu cầu Trung Quốc giải quyết bất đồng thông qua đối thoại. Tháng trước, tại chương trình Hội đàm Tham vấn Quốc phòng tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Quốc phòng phụ trách vấn đề Chính sách Michele Flournoy đã nêu vấn đề này, và phía Trung Quốc đã nhất trí tổ chức một kỳ họp đặc biệt theo Thoả thuận Tham vấn Quân sự Trên biển ký năm 1998 để xem xét vấn đề này và tìm cách giải quyết những bất đồng.

Về các đòi hỏi chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa, chúng ta khuyến khích tất cả các bên tìm kiếm giải pháp phù hợp với Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc và các thoả thuận khác đã đạt được giữa ASEAN và Trung Quốc.

Sự khẳng định chủ quyền của một số bên trong tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa làm nảy sinh những vấn đề quan trọng và đôi khi rất phức tạp đối với cộng đồng quốc tế liên quan đến việc tiếp cận các tuyến đường hàng hải và các nguồn lợi biển. Tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Hoa Nam rất mập mờ. Trung Quốc không cho thấy rõ đòi hỏi chính xác về biên giới của họ. Cũng không rõ là họ khẳng định chủ quyền lãnh hải đối với toàn bộ vùng biển hay chỉ đối với các phần đất phụ thuộc nằm trong vùng biển đó. Trước đây, sự mơ hồ này không ảnh hưởng nhiều lắm tới lợi ích của Mỹ. Tuy nhiên, giờ đây nó đã trở thành một mối lo ngại vì áp lực đối với các công ty năng lượng của chúng ta khi một số khu vực ngoài khơi cũng nằm trong đòi hỏi của Trung Quốc khi những khu vực này không nằm trong công bố chủ quyền của họ. Có thể sẽ tốt hơn cho tất cả các bên nếu Trung Quốc nêu rõ hơn thực chất những đòi hỏi của họ.

Chúng ta cần cảnh giác để đảm bảo rằng lợi ích của ta được bảo vệ và thúc đẩy. Khi chúng ta lo ngại, chúng ta sẽ nêu ra những lo ngại đó một cách thẳng thắn, như chúng ta đã làm khi các công ty của mình bị gây áp lực.

Chúng ta ghi nhận rằng Trung Quốc đã có cách tiếp cận hoà giải hơn trong việc giải quyết một số tranh chấp về biên giới trên bộ. Ví dụ, năm ngoái Trung Quốc và Việt Nam đã ký kết hiệp định phân định biên giới trên bộ. Cách tiếp cận ngoại giao của Trung Quốc đối với Đông Nam Á nhấn mạnh tinh thần hữu nghị và láng giềng tốt. Tương tự, việc Trung Quốc triển khai lực lượng tới Vịnh Aden để chống hải tặc là một đóng góp tích cực nhằm giải quyết mối lo ngại chung của cộng đồng quốc tế. Chúng ta phấn khởi trước những bước tiến này và hy vọng rằng Trung Quốc cũng sẽ áp dụng tiến trình mang tính xây dựng như vậy khi giải quyết vấn đề biên giới và các quyền trên biển của họ.

Thưa Ngài Chủ toạ, chúng ta có mối quan hệ rất rộng với Trung Quốc, mối quan hệ đó bao hàm nhiều vấn đề có tầm quan trọng chiến lược sống còn đối với cả hai nước. Chúng ta nhất trí cao về một số vấn đề; còn đối với những vấn đề khác phải thừa nhận là chúng ta có những khác biệt. Quan hệ song phương của hai bên có thể giúp dàn xếp và tôn trọng những khác biệt này và giải quyết chúng một cách có trách nhiệm thông qua con đường đối thoại.

Xin cảm ơn, và tôi xin vui lòng trả lời các câu hỏi của quý vị.

 

Điều trần của Peter Dutton, Phó Giáo sư, Viện Nghiên cứu Hàng Hải Trung Hoa Trường Đại học Hải Quân Hoa Kỳ

15/7/2009

Tôi xin cảm ơn Ngài Chủ tịch và Uỷ ban vì đã cho tôi cơ hội hiện diện trước quý vị ngày hôm nay.

Với bản điều trần này, tôi hy vọng làm sáng tỏ những điều sau đây:

1. Đòi hỏi pháp lý về biển Nam Trung Hoa của Trung Quốc và những hoạt động mà nước này đã tiến hành nhằm tăng cường khả năng thách thức đối với lợi ích hàng hải toàn cầu và Khu vực của Hoa Kỳ.

2. Trung Quốc coi đòi hỏi pháp lý mà họ đang củng cố về chủ quyền biển Nam Trung Hoa là căn bản, không thể thương lượng.

3. Trung Quốc là một cường quốc hải quân đang trên đà phát triển, tuy nhiên có thể nói là việc phát triển hàng hải này chủ yếu để tăng cường cho chiến lược đại lục của họ hơn là để trở thành một cường quốc hải quân viễn chinh.

4. Hoa Kỳ cần tiếp tục thể hiện khả năng vượt trội về hàng hải để bảo đảm tiếp cận toàn cầu và khu vực cần thiết cho nền quốc phòng và cho an ninh của hệ thống hàng hải nói chung.

Đầu tiên là những đòi hỏi thực tế của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa, trái với những gì mà một số nhà bình luận đã nêu ra, chính quyền Trung Quốc không giành chủ quyền đối với diện tích mặt biển của biển Nam Trung Hoa. Tuyên bố của Trung Quốc về sự kiểm soát pháp lý đối diện tích biển Nam Trung Hoa phần nào dựa trên lời khẳng định của nước này về toàn vẹn lãnh thổ đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa được nhấn mạnh trong Đạo luật về Lãnh hải và vùng kế cận-theo đó Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Điếu Ngư (tức Senkaku) trong vùng biển Hoa Đông, và ở biển Nam Trung Hoa Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Đông Sa (Pratas) và quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa (Bãi Macclesfield) và Nam Sa (Trường Sa)1. Ngoài những tuyên bố về chủ quyền đối với các quần đảo, luật về vùng Đặc quyền Kinh Tế 1998 của Trung Quốc khẳng định lời tuyên bố đối với “vùng đặc quyền kinh tế … trải rộng trên 200 dặm biển tính từ đường cơ sở”2 . Vì các đảo trong biển Nam Trung Hoa được tự cho là lãnh thổ Trung Quốc và bao gồm cả khu vực đường cơ sở theo Luật Lãnh Hải 1992, hiệu lực của đạo luật 1998 là để khẳng định đặc quyền kinh tế quanh mỗi đảo. Vì vậy, kết hợp cả hai luật, Trung Quốc đều yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc là bao quát gần như toàn bộ biển Nam Trung Hoa .

Như vậy chính phủ Trung Quốc không đòi hỏi rằng những vùng biển này là lãnh hải, vùng nội thuỷ hoặc vùng quần đảo hoặc bất cứ một loại vùng biển quốc gia nào để thảo luận quyền chủ quyền trên những dải rộng trong vùng biển của khu vực. Điều đó nói lên rằng việc kết hợp giữa yêu sách lãnh thổ đối với các quần đảo của biển Nam Trung Hoa và “cách diễn giải độc đáo” về luật quốc tế về biển có liên quan đến các quốc gia biển nhằm hạn chế hoặc cấm các hoạt động quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế 3 như là một phần mục tiêu của Trung Quốc nhằm đạt được tại biển Nam Trung Hoa đặc quyền kiểm soát quân sự trên vùng biển hình chữ U có tới 9 vạch ranh giới. Sự kiểm soát như vậy chẳng khác gì quyền kiểm soát các cuộc diễn tập trên những vùng chủ quyền biển của những nước này.

Nêu lên sự khác biệt này xem ra như là việc chẻ tư sợi tóc, tuy nhiên điều quan trọng là phải thấy được ngụ ý trong chính sách của Trung Quốc đối với luật quốc tế nói chung. Trung Quốc không yêu sách chủ quyền đối với vùng biển Nam Trung Hoa cũng như quyền lợi đi kèm để tiến hành kiểm soát các hoạt động quân sự như là một quyền của nước có chủ quyền – Trung Quốc tuyên bố quyền hạn chế, thậm chí cấm các hoạt động quân sự nước ngoài trong các vùng biển này thuộc quyền quốc gia biển và đưa ra luật quản lý vùng đặc quyền kinh tế, mà nó lại là vùng không có chủ quyền của pháp lý đối với nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường của mình. Nếu Trung Quốc đòi hỏi quyền kiểm soát đối với các cuộc diễn tập quân sự vì họ đòi hỏi chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa, thì Hoa Kỳ chắc chắn sẽ phản đối yêu sách này trước hết trên cơ sở thực tiễn; tuy nhiên chúng ta cũng phải thoả thuận với nhau về tiền đề pháp lý rằng chỉ khi có chủ quyền hoàn toàn về hải phận thì mới có vấn đề quyền kiểm soát các hoạt động quân sự. Hiểu như vậy tác động pháp lý của các vụ tranh chấp sẽ chỉ hạn chế trong hải phận của biển Nam Trung Hoa, như trường hợp của Li Bi tuyên bố chủ quyền đối với việc kiểm soát hoạt động quân sự nước ngoài, trong vịnh Sidra trên yêu cầu thái quá về chủ quyền đối với hải phận đó.

Điều gì đã khiến cho trường hợp Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng đối với lợi ích của Hoa Kỳ – đó là tác động của các cuộc tranh chấp giữa chúng ta với Trung Quốc về cách thức mô tả các vùng đặc quyền kinh tế của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tất cả các vùng đặc quyền kinh tế khác trên thế giới.

Bằng cách gắn triển vọng pháp lý với mô tả đặc trưng pháp lý của các vùng đặc quyền kinh tế nói chung, nếu triển vọng của Trung Quốc được chấp nhận, nó sẽ ảnh hưởng đến cách thức mà luật pháp quốc tế nhìn nhận các vùng đặc quyền kinh tế tại khắp mọi nơi. Như vậy chừng nào mà các vùng đặc quyền kinh tế trải rộng hơn 1/3 đại dương của toàn thế giới và tất nhiên, một phần trăm của các vùng biển, hải đảo và các điểm chiến lược của thế giới và các tuyến giao thông hàng hải, triển vọng pháp lý của Trung Quốc sẽ xói mòn những lợi ích của các cường quốc hải quân nói chung và Hoa Kỳ với tư cách là người bảo vệ hàng đầu về an ninh hàng hải nói riêng.

Tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc và yêu sách quyền sở hữu các vùng đặc quyền kinh tế trên hầu hết toàn bộ biển Nam Trung Hoa thôi cũng đã gây ra những cuộc tranh cãi, vì có ít nhất 04 nước cộng với Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền của họ ít nhất trên một số đảo, thậm chí nhiều hơn nữa, bởi vì nhiều đảo ở biển Nam Trung Hoa quá bé nhỏ để có thể được tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế về mặt pháp lý theo các quy định và điều khoản như đã được đề cập trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tuy thế, ngoài những quy chế đối nội, cách diễn giải về luật pháp quốc tế về biển, Trung Quốc đòi hỏi quyền pháp lý vùng giới hạn bao quát hoặc điều chỉnh các hoạt động quân sự nước ngoài trong và trên các vùng đặc quyền kinh tế 4 . Điều đó, đối với Hoa Kỳ, là khía cạnh thách thức và đáng bàn cãi nhất trong yêu sách pháp lý của Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc đang xây dựng một cơ cấu hải quân mà cơ cấu này sẽ ngăn cản một cách hữu hiệu các nước láng giềng – mà nhiều nước trong số đó là bè bạn hoặc đồng minh của Hoa Kỳ – đang bảo vệ các đòi hỏi về hải đảo của mình, do Trung Quốc đã gia tăng sử dụng sức mạnh hải quân nói riêng và quân sự nói chung nhằm làm rối loạn các cuộc diễn tập của hải quân Hoa Kỳ trong và trên biển Nam Trung Hoa.

Theo quan điểm của tôi, Trung Quốc coi mình như đang ở trong giai đoạn có thể nắm được quyền thống trị biển Nam Trung Hoa. Có lẽ một trong những lý do để Trung Quốc gia tăng các hoạt động chống lại các chiến hạm của hải quân Hoa Kỳ ở biển Nam Trung Hoa là vì họ có tính đến một số yếu tố gây trở ngại trên con đường củng cố các đòi hỏi về hải đảo của mình đó là hải quân Hoa Kỳ và các ý đồ chính trị Mỹ nhằm ủng hộ nhu cầu tự do thông thương biển của các nước bạn bè và đồng minh trong vùng. Tôi hoài nghi rằng Trung Quốc đã nhận thấy điều nói sau là dễ bị tổn thương và dễ gây hại đối với ảnh hưởng của mình, nhất là trong giai đoạn kinh tế đầy thách thức và lực lượng quân sự quốc gia đang tập trung vào cuộc chiến tranh trên bộ tại Iraq và Afghanistan. Điều này, theo ý kiến tôi, là một trong những lý do mà Trung Quốc đã tiến hành các chiến dịch mới đây nhằm quấy rối các hoạt động của hải quân Hoa Kỳ ở trong vùng. Nếu họ có thể làm xói mòn ý đồ chính trị đối với các hoạt động của hải quân Hoa Kỳ trong biển Nam Trung Hoa, thì họ chẳng cần phải đương đầu với sức mạnh của hải quân Hoa Kỳ để đạt được mục tiêu của mình. Họ có thể làm xói mòn sức mạnh của hải quân Hoa Kỳ một cách gián tiếp mà vẫn đạt được kết quả như mong muốn.

Thực vậy, một số nhà phân tích và học giả am hiểu đã gợi ý rằng những toan tính của Trung Quốc về sức mạnh Hoa Kỳ cho thấy họ đã hung hăng đến mức độ nào khi theo đuổi yêu sách về biển Nam Trung Hoa. Theo đường lối tư duy này, trong suốt vài thập kỷ qua Trung Quốc đã lợi dụng tình thế chuyển biến ít nhiều có lợi cho mình bằng sức mạnh cục bộ trong biển Nam Trung Hoa 5 . Một số hoạt động của Trung Quốc có thể mang tính chất cơ hội như là trận chiến năm 1974 với lực lượng hải quân bị phong toả của Việt Nam Cộng hoà để giành quyền kiểm soát một số đảo trong quần đảo Hoàng Sa trong khi Hoa Kỳ đang hoàn tất việc rút khỏi Nam Việt Nam, rồi lại xâm lấn giành quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa năm 1976 khi Việt Nam mới tái thống nhất. Sau đó đến mùa xuân năm 1988, trong khi các tàu chiến Mỹ đang tập trung vào hộ tống an toàn cho các tàu chở dầu qua eo biển Hormous thì Trung Quốc đã cho Hải Quân giao chiến với Việt Nam nhằm kiểm soát nhiều đảo nữa trong quần đảo Trường Sa. Cuối cùng vào năm 1994 và đầu năm 1995, khoảng chừng 2 năm sau khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi căn cứ hải quân vịnh Subic, Trung Quốc lặng lẽ chiếm Rặng Mischief, một rặng san hô nhỏ bé trong biển Nam Trung Hoa gần quần đảo Palawan của Philippines mà trước đó do chính quyền Philippines quản lý. Chiến hạm Trung Quốc vẫn bao quanh Rặng Mischief để Trung Quốc củng cố thành quả của mình bằng cách xây dựng lực lượng quân sự trên hòn đảo nhỏ bé này.

Những động thái quân sự mới đây ở biển Nam Trung Hoa cho thấy không chỉ dừng lại ở mức cơ hội nữa. Thay vào đó, nó là sản phẩm của những năm nghiên cứu, phát triển và đầu tư của Trung Quốc trong ngành công nghệ quân sự nhằm tạo ra những thách thức đối với việc hải quân Hoa Kỳ tiến vào vùng biển Đông Á. Những công trình của Lyle Goldstein và William Murray chứng minh sức mạnh tầu ngầm ngày càng gia tăng của Trung Quốc cùng với sức mạnh thuỷ lôi của nước này; và công trình nghiên cứu Andrew Erickson và David Young 6 đã làm sáng tỏ chương trình tên lửa đạn đạo chống chiến hạm của Trung Quốc. 7

Ngoài những thay đổi trạng thái cân bằng tiềm lực quân sự, chiến dịch lâu dài của Trung Quốc nhằm làm xói mòn tính hợp pháp của các cuộc diễn tập của hải quân Hoa Kỳ trong biển Nam Trung Hoa như là một mưu đồ nhằm thay đổi ưu thế chính trị trong vùng. Việc quan sát này được tiến hành qua học thuyết “Ba cuộc chiến mới” của Trung Quốc. Ba cuộc chiến mới gắn liền với nhau theo học thuyết quân sự này là: cuộc chiến pháp lý, cuộc chiến dư luận công chúng và cuộc chiến tâm lý. Tiêu điểm của mỗi chiến dịch này cơ bản nhằm tạo nên và phát huy tính hợp thức trong nước đối với quan điểm của nhà cầm quyền Trung Quốc về chủ quyền của mình đối với các quần đảo của biển Nam Trung Hoa cũng như quyền kiểm soát các hoạt động quân sự trên toàn bộ biển Nam Trung Hoa. Cách đây vài năm một bài báo in trên tờ Hải quân Nhân dân đã lên tiếng rằng mục tiêu của chiến tranh pháp lý là “Hãy nhìn xa trông rộng để phân biệt các vấn đề trước khi chúng xảy ra “trên thực tế” nhằm “cung cấp một bằng chứng pháp lý cho hành động quân sự và “tham gia cuộc chiến pháp lý để giành giật lấy tính chủ động pháp lý” để “bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ” 8 . Như vậy, những phương thức”mới” về chiến tranh này được tiến hành nhằm đạt các mục tiêu chiến lược mà thực tế không phải dùng đến sức mạnh quân sự bằng cách gây ảnh hưởng dư luận trong quần chúng đi đôi với việc ngầm đe doạ bằng sức mạnh quân sự đang ngày càng phát triển của mình.

Trung Quốc dường như nhận thức được cơ hội thuận tiện để củng cố đòi hỏi về biển Nam Trung Hoa. Tôi nhận thấy rằng, cuộc thương lượng tay đôi hiện đang diễn ra về tranh chấp biển Nam Trung Hoa dườngnhư đang giậm chân tại chỗ. Uỷ ban Chỉ đạo Hợp tác Việt-Trung đã ra một bản thông cáo sau cuộc họp lần thứ hai vào năm 2008 nói rằng cả hai bên đã “đồng ý giải quyết tranh chấp qua thương lượng nhằm duy trì nền hoà bình và ổn định ở biển Nam Trung Hoa”. Tuy nhiên tuyên bố này vẫn mâu thuẫn với việc Trung Quốc khăng khăng rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi được” về các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa, kể cả động thái mới đây vào tháng 5 năm 2009 khi Trung Quốc nộp bản tuyên bố cho Liên Hợp Quốc để trả lời các đòi hỏi khu vực của Việt Nam và Philippines 9 . Nếu Trung Quốc vẫn không muốn nhượng bất cứ đảo nào cho bên yêu sách thì khó mà có thể mường tượng được còn có gì để thương lượng. Trong tranh chấp biển đảo với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc dường như sẵn lòng sống miễn cưỡng dưới sự kiểm soát của Nhật Bản trên Quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) ngay cả khi đôi lúc Trung Quốc có những hành động khiêu khích nhằm kiên trì đòi hỏi về chủ quyền của mình, và chờ đợi hoàn cảnh nào đó trong tương lai khi Trung Quốc ở một vị thế mạnh hơn trong quan hệ đối với Nhật Bản để thúc bách những đòi hỏi ấy 10. Theo quan điểm của tôi, Trung Quốc như có cùng một cách tiếp cận đối với những đòi hỏi của họ ở biển Nam Trung Hoa. Nếu ngày nay Trung Quốc chưa có một vị thế đủ mạnh để giành được sự chấp thuận về những đòi hỏi chủ quyền đối với các quần đảo này thì hãy đừng thương thuyết để kiếm từng kết quả đơn lẻ mà đợi cho tới một thời gian tương lai thích hợp khi mà vị thế của mình được củng cố để hoàn tất mọi yêu sách của mình.

Tuy nhiên, với sự tham gia tích cực của Mỹ thì ít ra cũng có thể đưa tất cả các bên ngồi lại với nhau và bắt đầu các cuộc thảo luận đa phương để tránh va chạm và ngăn ngừa việc tranh giành các đòi hỏi về chủ quyền, các đòi hỏi về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, các đòi hỏi về an ninh, và các quyền tiếp cận lãnh hải. Trong bối cảnh các cuộc thảo luận như vậy sẽ giúp Mỹ tỏ rõ quan điểm rằng Mỹ ủng hộ cho việc giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ bằng biện pháp hoà bình như đã quy định trong Luật Ứng xử ở biển Nam Trung Hoa, tôn trọng những cam kết của chúng ta đối với các bạn bè và đồng minh trong khu vực bằng việc ủng hộ họ trong trường hợp có đụng độ, và rằng gần đây Trung Quốc gia tăng các cuộc tuần tra quân sự và vũ trang trên biển là không giúp ích gì. Cũng vậy, người ta trông chờ ở các bên sự kiềm chế. Kết quả cuối cùng có thể là một cơ hội lịch sử để Trung Quốc chứng tỏ rằng việc tăng cường quân sự của mình quả thật là một phần của chính sách Phát triển Hoà bình rộng mở hơn của mình và các ý đồ đối với những nước láng giềng quả thực là có thiện chí.

Về điểm sau, đã gây ra một vài sự hoài nghi trong khu vực, đặc biệt là ở Nhật Bản. Quả vậy, ngay tại Trung Quốc cũng có một cuộc tranh luận trong các giới học thuật và phân tích về mức độ phát triển của hải quân Trung Quốc phải gắng sức phát triển, các khả năng “blue water” (giữ được biển xanh). Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, không có dấu hiệu gì chứng tỏ rằng các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã bị thuyết phục để xây dựng một lực lượng hải quân có thể thách thức hải quân Mỹ nhằm kiểm soát vùng biển trong thời gian gần và trung bình. Kết quả tất yếu của việc Quân đội Trung Quốc phát triển mạnh mẽ trong hai thập niên qua, và đặc biệt là sau khi một hạm đội của Trung Quốc được triển khai ở Vịnh Ađen nhằm hỗ trợ những hoạt động chống cướp biển tại khu vực, là mối lo ngại rằng có lẽ việc tăng cường hải quân của Trung Quốc báo hiệu ý đồ của Bắc Kinh rằng một ngày nào đó Bắc Kinh sẽ vượt qua tầm khu vực ở Đông Á nhằm thách thức với sự chỉ huy toàn cầu của Mỹ. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, việc này khó có thể xảy ra vì ba lý do sau:

Thứ nhất, Trung Quốc không chắc sẽ xây dựng được một hải quân viễn chinh lớn mạnh bởi vì một cường quốc chủ yếu là đại lục không có lợi ích chiến lược gì khi chú ý quá nhiều và dành các tài nguyên vào việc kiểm soát biển toàn cầu, đặc biệt là khi đã có một siêu cường về biển tồn tại và cung ứng dịch vụ không mất tiền 11 . Thứ hai, những người khác đã đưa ra giả thuyết là Trung Quốc có quá nhiều thách thức ở trong nước về kinh tế, chính trị và dân số mà những thách thức này sẽ luôn cạnh tranh nhằm gây được sự chú ý về chính trị và nguồn tài nguyên trong suốt phần còn lại của thế kỷ để Trung Quốc có thể thực hiện được công cuộc này 12. Thêm vào những quan sát này, tôi còn có một lý do thứ ba là tại sao tôi không dự đoán Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc viễn chinh trên biển: Nếu Trung Quốc có ý đồ phát triển mạnh mẽ hải quân của mình thách thức sức mạnh trên biển của Mỹ bên ngoài Biển Đông và Nam Trung Hoa, thì dấu hiệu chính của ý đồ này sẽ là một sự thay đổi về lâu dài đối với luật biển quốc tế, từ việc chống đi vào đến việc đi vào các vùng biển này, bởi vì khả năng sử dụng sức mạnh hải quân mà không có luật pháp quốc tế hỗ trợ thì sẽ là một sự đầu tư tốn kém mà lại ít tính hữu dụng thực tế. Như vậy, thực là một nghịch lý, điều này có thể có lợi nhất cho Mỹ để chấp nhận sự bất đồng để chúng ta chú tâm tới các triển vọng khác nhau về luật biển quốc tế như là một trong những chi phí có thể khống chế được để phân biệt những lợi ích cơ bản của một cường quốc đại lục hùng mạnh với những lợi ích cơ bản của một cường quốc biển lớn mạnh.

Điều đó không nói rằng nước Mỹ phải bằng bất cứ cách nào thoả hiệp với những giá trị hoặc những triển vọng có liên quan tới quyền của luật pháp quốc tế cho hải quân đi vào những đại dương của thế giới vì những nhiệm vụ liên quan tới hoà bình và an ninh quốc tế, hoặc những nhiệm vụ có liên quan tới an ninh của biển từ những mối đe doạ phi truyền thống. Mặc dù những triển vọng của Mỹ về luật biển được gần 140/157 nước thành viên hiện nay của Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc chia sẻ, những nước còn lại đồng ý với Trung Quốc tới một mức độ này hay một mức độ khác chính là các quốc gia ven biển, họ có quyền đặt ra những sự hạn chế về luật pháp đối với những hoạt động quân sự của nước ngoài trong các Vùng Kinh tế đặc quyền của họ, chúng ta không thể cho đó là chuyện đương nhiên. Quả thực, triển vọng của Trung Quốc có một vài điều hấp dẫn ngay cả trong các nước láng giềng của Trung Quốc. Mặc dù trên thực tế là các quốc gia này vẫn được ghi nhận là chấp nhận sự tự do quân sự truyền thống trong Vùng Kinh tế đặc quyền, đại diện của các nước Philippines, Indonesia và các quốc gia trong khu vực khác đôi khi cũng lặng lẽ bày tỏ sự ủng hộ chung đối với triển vọng của Trung Quốc, nếu không phải là vì lý do gì khác hơn là triển vọng này có thể giúp họ ngăn chặn được sức mạnh hải quân đang lớn mạnh của Trung Quốc. Sự phát triển không ổn định này gợi ý rằng các đối tác khu vực của chúng ta ở Châu Á cũng cảm thấy có sự thay đổi về động thái ở biển Nam Trung Hoa, và có thể cần nhiều điều bảo đảm hơn là chúng ta đang bảo đảm rằng nước Mỹ vẫn còn cam kết đầy đủ đối với những cam kết an ninh khu vực của chúng ta và duy trì một sự hiện diện hải quân vượt trội trong khu vực.

Bảo vệ tự do hàng hải truyền thống vì những mục đích quân sự bằng việc duy trì một sự cam kết cường quốc biển vượt trội toàn cầu sẽ có những hậu quả nghiêm trọng đối với khu vực Đông Á và xa hơn nữa. Một vòng cung chống đi vào đang phát triển khắp lục địa Nam Á từ biển Ả-rập cho tới Biển Nhật Bản. Một số quốc gia còn lại vẫn chính thức duy trì các triển vọng hợp pháp để thách thức tự do quân sự truyền thống về hàng hải trong và ngoài khu vực Kinh tế đặc quyền. Các quốc gia này nằm dọc bờ biển phía Nam của Châu Á trên một số tuyến giao thông đường biển rất quan trọng trên thế giới. Trong khu vực này, Iran, Pakistan, Ấn Độ , Bangladesh, Myanmar, Malaysia, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên có các luật khẳng định một số quyền kiểm soát đối với các hoạt động quân sự của nước ngoài trong khu vực Kinh tế đặc quyền. Việt Nam cũng nằm ở danh sách này, mặc dù Việt Nam đã lựa chọn vẽ các đường cơ sở vượt quá ngoài tầm hơn là khẳng định việc kiểm soát khu vực Kinh tế đặc quyền như là phương pháp lựa chọn hợp pháp chống đi vào khu vực. Đôi khi các học giả và các quan chức ở một số ít các quốc gia trong khu vực còn lại chưa liệt kê ở đây cũng đưa ra quan điểm của mình. Một số nước này đã và đang xây dựng hải quân khu vực hùng mạnh, trong khi các nước khác đang tích cực tìm kiếm khả năng hạt nhân hoặc các công nghệ chống đi vào khu vực thông thường giống như của Trung Quốc để tăng thêm sức mạnh cho các triển vọng hợp pháp của họ.

Để đối phó với những quan ngại chống đi vào khu vực của các quốc gia có bờ biền này, Mỹ sẽ cần phải ưu tiên thúc đẩy và chứng tỏ những lợi ích an ninh biển có thể có được bởi ưu thế cường quốc biển hùng mạnh kết hợp với quyền đi vào các đại dương. Đặc biệt là Mỹ sẽ cần phải tìm kiếm những cơ hội để cam kết với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực hành động hợp tác quốc tế để bảo đảm an ninh biển đối với những nhân tố gây bất ổn truyền thống và phi truyền thống. Thêm vào đó, vì Trung Quốc rõ ràng là muốn đóng một vai trò quan trọng hơn trong việc lãnh đạo toàn cầu, cụ thể như là cam kết ngày càng tăng của Trung Quốc đối với các nỗ lực gìn giữ hoà bình quốc tế, thì việc cùng làm việc với Trung Quốc trên một cơ sở bình đẳng ở nơi nào đó có thể sẽ giúp vào mối quan hệ chung 13. Việc mời các tàu hải quân Trung Quốc tham gia vào những chiến dịch an ninh hàng hải trong khi tương lai-thậm chí chúng ta còn có bất đồng về quyền lực hợp pháp có thể áp dụng-nên trở thành thường xuyên hơn. Đạt được một mục tiêu hàng hải chung bằng việc hoặc là hoạt động trong các khu vực riêng rẽ hoặc là hoạt động trong cùng một khu vực trong khi thực hiện những nhiệm vụ khác nhau là các phương pháp đã được chứng tỏ trong các hoạt động gần đây ở Vịnh Ađen. Điều này đang được nghiên cứu kỹ như là kiểu mẫu và hợp tác trên biển trong tương lai nơi mà các bên không nhất thiết phải đồng ý về các quyền lực thích hợp.

Quả vậy, quyết định của Trung Quốc tham gia vào những hoạt động chống cướp biển ở Vịnh A Đen là một cơ hội đáng khích lệ để chứng tỏ sức mạnh về cộng tác hàng hải toàn cầu nhằm mang lại trật tự và ổn định cần thiết cho kinh tế và sức mạnh hệ thống chính trị toàn cầu mà các nước lớn phải dựa vào. Thêm vào đó, những hoạt động như vậy làm cho Trung Quốc có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào việc cung ứng hàng hoá toàn cầu xuất phát từ những hoạt động hàng hải nhân đạo và cảnh vệ vũ trang được chứng minh bởi những giải thích hợp lý để đi vào khu vực biển theo luật quốc tế.

Một điểm cuối cùng về sự hợp tác trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc. Vì các biển Đông và Nam Trung Hoa là những khu vực quan trọng về chiến lược đối với cả Trung Quốc và Mỹ và những bất đồng trong khu vực có thể vẫn tiếp tục, sự hợp tác có thể sẽ diễn ra nhiều hơn giữa các lực lượng hải quân Trung Quốc và Mỹ khi mà hai lực lượng này hoạt động từ các khu vực bờ biển Đông Á. Thách thức đối với Mỹ trong hành động phối hợp với Trung Quốc sẽ là chế ngự các sự căng thẳng ở Đông Á trước khi khuyến khích sự hợp tác toàn cầu lớn hơn. Các khát vọng của Trung Quốc muốn đóng vai trò toàn cầu như là một cường quốc có trách nhiệm và việc sẵn sàng đảm nhận những hoạt động an ninh song song với nhau, nếu không phải là hợp tác trực tiếp với Mỹ và các quốc gia ở gần biển trong Vịnh Ađen thì những gợi ý cho chúng ta thấy rằng những cơ hội như vậy trong tương lai sẽ tự xuất hiện và nên được hoan nghênh. Hơn nữa, nếu Trung Quốc càng làm việc nhiều hơn với Mỹ và những quốc gia có cùng suy nghĩ như vậy cách xa những bờ biển của Đông Á thì càng có cơ may lớn hơn về độ tin cậy để điều chỉnh những quan hệ Mỹ-Trung ở Đông Á. Nếu những cơ hội về hợp tác ở Đông Á xuất hiện, như là việc hỗ trợ nhân đạo hoặc cứu trợ thảm hoạ thì nên hoan nghênh Trung Quốc như là một cộng sự. Con tàu bệnh viện mới của Trung Quốc có thể tạo các cơ hội về mặt này và việc triển khai cùng khu vực những tàu bệnh viện của Mỹ và Trung Quốc nên được xem là mang lại các lợi ích của y học hiện đại cho các vùng chưa có dịch vụ này ở Đông Nam Á. Cuối cùng thì những hoạt động như vậy có thể mở đầu cho việc xây dựng yếu tố chủ yếu của sự tin cậy, dựa trên các tiếp xúc quân sự đang tăng lên mà các giao lưu này sẽ giúp vào việc phát triển sự ổn định chiển lược mà mọi bên đều mong muốn.

Tóm lại, có lẽ hai hành động chỉ đạo quan trọng nhất mà nước Mỹ có thể đảm nhận để duy trì tự do hàng hải đó là tầm quan trọng về chiến lược đối với an ninh quốc gia của Mỹ, trước hết là khẳng định vị thể của chúng ta như là người đưa ra các quan điểm định hướng tới việc đi vào khu vực theo luật biển quốc tế. Đã quá lâu rồi chúng ta không quan tâm tới trụ cột cơ bản của an ninh của Mỹ. Chúng ta đã hoặc mặc nhiên coi những lợi ích của triển vọng của chúng ta là điều hiển nhiên và trông đợi ở những nhân vật của các quốc gia biết điều khác cuối cùng sẽ được thuyết phục theo triển vọng của chúng ta, hoặc chúng ta chỉ dựa trên sức mạnh của một cường quốc để thực hiện những gì về lợi ích biển thì có thể làm mà không quá quan tâm đến những điều khác liên quan. Tuy nhiên, hiện nay chưa có thống nhất hoàn toàn về triển vọng biển trong các cơ quan liên bang khác nhau để đóng góp vào chính sách đại dương. Chính phủ liên bang sẽ được hưởng lợi từ chính sách đại dương quốc gia toàn diện và chính sách đó sẽ mang lạimột kế hoạch thông tin chiến lược toàn diện nhằm làm sáng tỏ những lợi ích và sức mạnh về viễn cảnh của Hoa Kỳ trên các đại dương.

Thứ hai, từ tháng 10 năm 2007 Hải quân Hoa Kỳ đã hoạt động theo chiến lược hàng hải với sự hợp tác quốc tế như là một trong những nền tảng quan trọng nhất về nền an ninh hàng hải toàn cầu để đáp lại những mối đe doạ truyền thống và phi truyền thống. Như Đô đốc Hải quan Willard mới đây đã xác nhận: “Tình trạng phi bè phái hiện tại của chúng ta đã hạn chế “, chúng ta đang tìm kiếm đối tác liên kết nhằm đạt được an ninh quốc tế và quốc gia, đô đốc Hải quân Willard cũng nhận xét rằng UNCLOS có tầm quan trọng bởi vì nó đem lại cho chúng ta một “cơ chế pháp lý hùng mạnh cho các cuộc hoạt động toàn cầu của chúng ta” nhằm đương đầu với mối đe doạ cả truyền thống và phi truyền thống. Với các lý do này tôi muốn nói thêm rằng sự xúc tiến tích cực của Trung Quốc về các triển vọng chống đi vào khu vực của họ-và việc nghe-tiếp nhận thông điệp đang đạt tới phần quan trọng của thế giới -điều này nhắc nhở chúng ta thấy rằng mức độ tự do hàng hải hiện tại cho các mục đích quân sự mà chúng ta đang có lợi thế không phải được coi như là đương nhiên. Hơn nữa, Trung Quốc thực hiện quyền lãnh đạo về những vấn đề này ở vị trí đã có trong Công ước. Trong khi đó Hoa Kỳ lại không có. Một vị quan toà người Trung Quốc ngồi xử tại toà án Quốc tế về luật biển, trong khi không có một vị chánh án Hoa Kỳ nào. Khi các cuộc thương lượng được tiến hành nhằm xem xét các thay đổi Công ước, Trung Quốc sẽ có một ghế tại bàn thương thảo và một lá phiếu còn Hoa Kỳ lại không có. Để khuyến khích vị trí lãnh đạo toàn cầu của chúng ta đối với các vấn đề về Luật biển nhằm bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia của chúng ta trên đại dương khỏi bị vi phạm theo quan điểm của tôi là Hoa Kỳ nên tham gia liên minh với 157 quốc gia khác hiện đang là thành viên và tán thành Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển một khi có cơ hội thuận lợi nhất.

Để kết luận vấn đề này, Luật biển quốc tế là quan trọng và Hoa Kỳ cần thận trọng để thấy rằng lợi ích của chúng ta trong các cách tiếp cận có định hướng với Luật biển phải được bảo toàn. Tuy nhiên, sức mạnh có sức thuyết phục hơn lời nói. Theo ý kiến của tôi, điều cơ bản đối với nền an ninh quốc gia của chúng ta cũng như của nhiều quốc gia khác là sức mạnh hải quân của chúng ta cần được bảo vệ để tránh bị tổn hại. Sức mạnh này hiện đang chuyển dịch ở Đông Á, tuy không tương đương nhưng cũng là đã thay đổi. Cơ hội tốt nhất của Hoa Kỳ là gìn giữ hoà bình trong vùng nhằm tỏ rõ sự tôn trọng của chúng ta đối với vị trí vùng mới được thiết lập của Trung Quốc bằng cách mở rộng hợp tác hàng hải. Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích căn bản của chúng ta và lợi ích của bè bạn và liên minh của chúng ta, chúng ta phải duy trì sức mạnh hàng hải vượt trội của mình.

1 Luật của CHND Trung Hoa về Lãnh hải và Vùng kế cận, 25.02.1992

2 Luật của CHND Trung Hoa về Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa, 26.06.1998

3 Peter Dutton, “Những bằng chứng trình bày trước Uỷ ban Xem xét về An ninh và Kinh tế Mỹ-Trung”, 11.06.2009, http://www.uscc_gov/hearings/2009/written_testimonies/90_06_11_wrts/09_06_11_dutton statement.pdf.

4 Xem, ví dụ như Khảo cứu và khái quát Luật của nước CHND Trung Hoa, 29.08.2002; và các quy định của nước CHND Trung Hoa về Quản lý Công tác Nghiên cứu Hải dương học có liên quan đến vấn đề Đối ngoại, 01.10.1996. Đối với những mối quan hệ có thẩm quyền của cac triển vọng pháp lý đối với các quốc gia biển nhằm hạn chế những hoạt động quân sự nước ngoài trong các đặc quyền kinh tế, xin xem Ren Xiaofeng & Cheng Xizhong, “Viễn cảnh Trung Hoa”, chính sách Hàng hải 29 (2005) trang 139.

5 Xem, ví dụ như Bonnie S. Glaser & Lyle Morris, “Đánh giá về sự suy thoái của cường quốc Hoa Kỳ, tạp chí Quỹ tài trợ Jamestown, 09.07.2009 (trực tuyến) ; và Richars Fisher, “Cuộc cạnh tranh trên biển Nam, Trung Hoa: Trung Quốc thèm khát rặng Mischief, Trung tâm chiến lược và đánh giá tình hình quốc tế, 28.06.2009 (trực tuyến)

6 Lyle Goldstein và William Murray, Rống biển, Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc, An ninh quốc tế, tập 28, số 4, Mùa xuân 2004, trang 161-196

7 Andrew S. Erickson và David D.Yang, Trên giới tuyến của cuộc chơi thay đổi , biên bản lưu của Viện hải quân Hoa Kỳ, mùng 1 tháng 5 năm 2009.

8 Jin Honbing, Cuộc chiến chính nghĩa: Một công cụ sắc bén để nắm lấy cơ hội giành quyền chủ động, báo cáo hải quân Trung Quốc, ngày 29 tháng 5 năm 2006.

9 . Brian McCarten, Giỡn sóng trong quần đảo Spratlys, người lính canh của Châu Á, mùng 4 tháng 2 năm 2008; và Trung Quốc cần phải báo những láng giềng tránh xa những quần đảo tranh chấp, Reuters, ngày 12 tháng 5 năm 2009.

10 Xiong Qu, Trung Quốc bắt đầu xem xét vấn đề An toàn Hàng hải ở biển Nam Trung Hoa, đài truyền hình Trung Quốc, CCTV, ngày 3 tháng 7.

11 Xem, ví dụ: Robert S.Ross, Điạ lý Hoà Bình: Đông Á trong thế kỷ 21. An ninh Quốc tế, tập 23, số 4, xuân 1999, các trang 81-118.

12 Xem, ví dụ: Susan Shirk, siêu cường không vững chắc: Làm sao chính trị Đối nội của Trung Quốc có thể đi chệch khỏi sự thăng tiến hoà bình của mình, Nhà xuất bản Trường Đại học Oxford (2007).

13 Peter Dutton, vạch ra Một đường lối hành động: Hợp tác Trung-Mỹ về Biển cả, tập san An ninh Trung Quốc, số tháng 3/2009.

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: