Skip to content

Đối đầu với Mỹ, tàu sân bay Trung Quốc chỉ ‘sống’ được vài giờ

15/08/2011

Đối đầu với Mỹ, tàu sân bay Trung Quốc chỉ

‘sống’ được vài giờ

VietnamDefence – Những lợi ích, nhược điểm chiến lược của tàu sân bay Trung Quốc, các sứ mệnh tương lai và tác động chiến lược.

Trong cuộc đối đầu cường độ cao với kẻ thù có khả năng về tàu ngầm, không quân và tàu chiến bố trí trên tàu nổi/đất liền,
tuổi thọ dự tính của một tàu sân bay Trung Quốc có thể sẽ được tính bằng giờ.

Chương trình đóng tàu sân bay của Trung Quốc tạo ra cuộc tranh luận sôi nổi trong các nhà quan sát Trung Quốc và nước ngoài. Tàu sân bay Varyag của Liên Xô mà Trung Quốc mua từ Ukraine năm 1998 và cải tạo lại thành tàu sân bay đầu tiên của họ với tên Thi Lang có lẽ là sự khởi đầu khiêm tốn và tập trung cho nhiệm vụ huấn luyện cho một nhóm tàu sân bay chuyên dụng thế hệ 1 của Trung Quốc và sẽ sử dụng các máy bay trên hạm tự phát triển như J-15 Flying Shark.

Trung Quốc có thể sẽ đóng 3-4 tàu sân bay để ít nhất có 1 tàu hoạt động trên biển, trong khi các tàu khác được sử dụng cho huấn luyện hoặc cải tiến, sửa chữa.

Trong bối cảnh đó, một việc có ý nghĩa quan trọng là đưa ra một hình dung chiến lược chân thực và đánh giá những ưu và nhược điểm của việc phát triển và triển khai các tàu sân bay Trung Quốc. Một năng lực tàu sân bay đáng kể chắc chắn sẽ tạo ra những tiền đề đưa khả năng tung sức mạnh lên một cấp độ mới.

Nhận thức rõ những ưu thế và điểm yếu của các tàu sân bay của hải quân Trung Quốc sẽ giúp Mỹ và các cường quốc khu vực khác hoạch định các kế hoạch và chiến lược hiệu quả hơn để đối phó với khả năng tàu sân bay phôi thai của Trung Quốc.

Những lợi ích chiến lược

1) Mở rộng ảnh hưởng ngoại giao trong khu vực.

Một cụm tàu sân bay sẽ mang lại những lợi thế ngoại giao lớn trong việc tạo ra sự hiện diện hải quân dễ thấy của Trung Quốc ở Biển Đông Việt Nam, Đông Nam Á, dọc theo các tuyến đường biển then chốt ở Ấn Độ Dương, và phục vụ các sứ mệnh nhân đạo như phản ứng với trận sóng thần năm 2004 ở Ấn Độ Dương. Một số cụm tàu sân bay sẽ cần để có sự hiện diện ổn định ở các khu vực này và cho phép thực hiện bảo dưỡng định kỳ.

2) Cải thiện khả năng của Trung Quốc bảo vệ công dân của họ và những lợi ích kinh tế riêng quan trọng tại những khu vực bất ổn giữa Biển Đỏ và Hong Kong.

Tiến lên phía trước, năng lực của Trung Quốc nhiều khả năng sẽ được hoạch định chuyên để đối phó với các mối đe dọa đối với công dân Trung Quốc và các lợi ích của Trung Quốc ở hải ngoại. Chúng bao gồm các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như hải tặc và khủng bố, cũng như rối loạn nội bộ như đang thấy ở Libya.

Quân đội Mỹ, mặt khác, đang nắm giữ năng lực viễn chinh thực sự toàn cầu và mạnh mẽ, giúp họ tiến hành các cuộc chiến tranh lớn hầu như bất cứ đâu trên thế giới.

3) Các tàu sân bay đem lại một tổ hợp những khả năng thay đổi tùy biến để ứng phó với hàng loạt những tình huống bất ngờ.

Các tàu sân bay và hạ tầng hoạt động bảo đảm thực hiện được các sứ mệnh phức tạo cũng có thể vận dụng để ứng phó với các sứ mệnh an ninh phi truyền thống như cứu trợ nhân đạo sau trận sóng thần năm 2004 ở Ấn Độ Dương hay trấn áp hải tặc ngoài khơi Somalia. Quân đội Trung Quốc đang cải thiện khả năng đối phó với các mối đe dọa quy mô nhỏ hơn, không đòi hỏi phải dùng sức mạnh tiến vào một khu vực thù địch, song vẫn đòi hỏi sự triển khai lực lượng tầm xa. Khả năng thể hiện sự hiện diện được cải thiện và trợ giúp các chiến dịch nhân đạo và các hoạt động quân sự phi tác chiến có khả năng cho phép có được một năng lực viễn chinh quân sự hạn chế để đem lại những lợi ích ngoại giao lớn cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu rằng, tiềm lực hải quân, không quân và lục quân thực hiện các hoạt động bên ngoài khu vực của Trung Quốc có lẽ vẫn còn phải mất ít nhất 15 năm nữa mới đạt được mức độ phản ứng tùy biến với các mối đe dọa cường độ cao và thấp mà Bộ Quốc phòng Mỹ hiện có.

Những nhược điểm chiến lược

1) Các tàu sân bay vốn dễ bị tấn công và tổn thương.

Trong một cuộc điều trần tại Thượng viện Mỹ, khi được hỏi các tàu sân bay Mỹ sẽ sống sót được bao lâu trong một cuộc chiến tranh lớn chống các lực lượng Soviet, Đô đốc Hyman Rickover đã có câu trả lời trứ danh: “khoảng 2 ngày”.

Trong cuộc đối đầu cường độ cao với kẻ thù có khả năng về tàu ngầm, không quân và tàu chiến bố trí trên tàu nổi/đất liền, tuổi thọ dự tính của một tàu sân bay Trung Quốc có thể sẽ được tính bằng giờ.

Khả năng tác chiến chống ngầm có lẽ là điểm yếu chí mạng nhất mà Trung Quốc cần phải khắc phục để bảo vệ các tàu sân bay tương lai. Nhiều láng giềng của Trung Quốc, trong đó có Việt nam, Indonesia và  Malaysia, tất cả đều đã mua hoặc đã ký hợp đồng mua các tàu ngầm diesel tiến công khá hiện đại trong những năm gần đây và hải quân các nước Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia tất cả đều có khả năng tấn công tàu ngầm rất mạnh.

2)  Các tàu sân bay cùng các tàu và hạ tầng yểm trợ cho chúng là rất đắt tiền.

Đó một phần là vì tính dễ bị tấn công của tàu sân bay và một phần vì cần có nhiều hệ thống hỗ trợ khác nhau để bảo đảm cho một tàu sân bay có thể hoạt động với hiệu quả tối đa. Nếu hải quân Trung Quốc có ý định tiến hành các hoạt động tàu sân bay đáng kể ở các vùng biển xa, họ chắc chắn sẽ phải mua sắm các tàu phòng không tiên tiến, tăng cường khả năng tiếp vận trên biển và mua sắm nhiều tàu ngầm hạt nhân tiến công hơn và tích hợp tốt hơn các máy bay chỉ huy/báo động sớm (AWACS) và máy bay tiếp dầu với lực lượng máy bay trên tàu sân bay.

3) Khả năng tác chiến bằng tàu sân bay của Trung Quốc chắc chắn sẽ làm các láng giềng của Trung Quốc lo ngại và có khả năng giúp thúc đẩy các liên kết an ninh chính thức hơn nhằm đối trọng với sức mạnh quân sự gia tăng của Trung Quốc.

Các tàu sân bay vốn là công cụ tung sức mạnh. Các láng giềng của Trung Quốc và các đối thủ chiến lược chắc chắn sẽ tìm cách ngăn chặn cái mà họ coi như tín hiệu của tham vọng có được khả năng hải quân hùng mạnh của Trung Quốc vốn có thể nhanh chóng chuyển từ các sứ mệnh mềm sang các sứ mệnh cứng.

4) Quãng thời gian còn dài cho đến lúc các tàu sân bay Trung Quốc có khả năng hoạt động thực sự giúp các địch thủ khu vực của Trung Quốc có thời gian để xây dựng các biện pháp ứng phó mà thường là rẻ tiền hơn và có thể mua sắm tương đối nhanh.

Hạ tầng đóng tàu lớn và tích cực cũng như nền tảng nhân lực của Trung Quốc chắc chắn sẽ làm giảm chi phí đóng và trang bị cho tàu sân bay so với Mỹ chẳng hạn. Tuy vậy, các tàu sân bay tự đóng trong nước vẫn sẽ đắt đỏ với giá cuối cùng chắc chắn sẽ bằng mấy chiếc tàu đổ bộ chở trực thăng lớp Type 071 vốn rất thích hợp để đối phó với các tình huống bất ngờ mà Trung Quốc nhiều khả năng phải đối mặt nhất trong những năm tới và sẽ ít gây lo sợ trong các nước láng giềng của Trung Quốc hơn là một tàu sân bay thực sự.

  • Nguồn: Cá mập bay chuẩn bị lang thang trên biển: Những ưu nhược điểm chiến lược của chương trình tàu sân bay Trung Quốc (The ‘Flying Shark’ Prepares to Roam the Seas: Strategic pros and cons of China’s aircraft carrier program) / Gabe Collins, Andrew Erickson // China SignPost, N.35. 18.5.2011.
Hải quân Mỹ đẩy mạnh chiến lược « ngoại giao mẫu hạm » tại vùng Biển Đông
Tàu sân bay George Washington

Đúng vào lúc Trung Quốc phô trương chiếc tàu sân bay đầu tiên trên biển Hoa Đông, Hoa Kỳ lặng lẽ cho hàng không mẫu hạm của mình tỏa ra khu vực chung quanh Biển Đông, từ Thái Lan, Việt Nam ngược lên Philippines, Hồng Kông. Theo giới phân tích, động thái này rõ ràng là nhằm khẳng định thêm quyết tâm của Mỹ tiếp tục duy trì sự hiện diện hải quân trong vùng, đồng thời trấn an các nước Đông Nam Á đang lo ngại về tiềm lực quân sự gia tăng của Trung Quốc.

Được chú ý nhiều nhất, cho dù không được quảng bá rộng rãi, chính là sự kiện chiếc hàng không mẫu hạm hạt nhân George Washington thuộc Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, dừng lại ngoài khơi miền Nam Việt Nam vào hôm qua, 13/08/2011. Điểm được công luận trong và ngoài nước ghi nhận là một lần nữa, một phái đoàn quan chức Việt Nam cùng với nhiều nhà báo đã được không vận ra vùng biển quốc tế tiếp giáp hải phận Việt Nam, để tham quan chiếc hàng không mẫu hạm, được mệnh danh là ngôi sao của hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ.

Đây không phải là lần đầu tiên mà chiếc George Washington được phái đến vùng biển gần hải phận Việt Nam để thực hiện điều có thể gọi là một « công tác giao tế ». Cách nay đúng một năm, cũng vào tháng Tám, chiếc tàu sân bay này cũng đã đến neo đậu ngoài khơi Đà Nẵng, và khi ấy phía Mỹ cũng mời quan khách chính phủ và quân đội Việt Nam lên thăm.

Trong một chừng mực nào đó, có thể nói rằng bối cảnh của hai chuyến gọi là « ghé thăm hữu nghị » này khá giống nhau. Đó là vào lúc quan hệ Việt Nam Trung Quốc đang căng thẳng vì những động thái hung hăng của Bắc Kinh nhằm áp đặt đòi hỏi chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông.

Vào năm 2010, đó là một loạt hành động bắt giữ tàu đánh cá và ngư dân Việt Nam hoạt động tại các vùng biển vốn là ngư trường truyền thống của Việt Nam, nhưng lại bị Trung Quốc coi là thuộc chủ quyền của họ. Còn năm nay, ngoài các hành vi sách nhiễu ngư dân, Bắc Kinh còn cho tàu của họ vào sâu trong vùng thềm lục địa của Việt Nam ở miền Trung và miền Nam để cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam.

Trong bối cảnh Việt Nam, cũng như nhiều nước châu Á khác, đang lo ngại trước thái độ ngày càng quyết đoán của Trung Quốc, một mối quan ngại đã gia tăng hẳn lên sau khi Trung Quốc cho hạ thủy chiếc tàu sân bay đầu tiên của họ hôm 10/08, việc mời các giới chức chính quyền và quân đội Việt Nam lên tham quan hàng không mẫu hạm Mỹ còn được cho là nhằm mục đích phô trương một cách cụ thể ưu thế của hải quân Hoa Kỳ so với Trung Quốc, qua đó trấn an được các nước đang muốn Mỹ hiện diện trong vùng để cân bằng uy lực của Bắc Kinh.

Dụng tâm này thể hiện rõ trong phát biểu hôm qua của ông David A. Lausman, sĩ quan chỉ huy của tàu sân bay USS George Washington, khi ông xác định với hãng tin Mỹ AP rằng một con tàu trơ trọi không có giá trị gì, nếu không có kinh nghiệm hoạt động và một thủy thủ đoàn lành nghề.

Vào lúc Trung Quốc mới bắt đầu cho chiến đấu cơ J-15 của họ tập bay lên và đáp xuống chiếc tàu sân bay mới hạ thủy, chỉ huy hàng không mẫu hạm Mỹ cho biết : « Thông thường, chúng tôi tiến hành khoảng 100 lần cất cánh và hạ cánh mỗi ngày. Đây là công việc mà chúng tôi có thể làm từ ngày này qua ngày khác, vì cần phải thường xuyên huấn luyện. Chính những điều đó tạo nên một hàng không mẫu hạm thực thụ, chứ không phải là cho một con con tàu lớn nổi lên trên biển là xong. »

Theo giới quan sát, chuyến ghé Việt Nam chỉ là một phần trong hoạt động của hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trong thời gian gần đây. Trước lúc đến vùng biển tiếp giáp Việt Nam, chiếc George Washington đã ghé cảng Thái Lan, và cũng tiếp đón quan khách Thái Lan lên thăm tàu. Sau Việt Nam, chiếc tàu sẽ trực chỉ căn cứ Yokosuka, Nhật Bản, nơi hàng không mẫu hạm này đặt bản doanh.

Ngoài chiếc George Washington, từ ngày 12/08, một hàng không mẫu hạm khác của Mỹ là USS Ronald Reagan với thủy thủ đoàn hơn 5.000 người cũng bắt đầu ghé cảng Hồng Kông trong bốn ngày. Dù chuyến thăm đã được dự tính từ lâu, và được Trung Quốc chấp thuận, thế nhưng sự kiện này cũng có thể được xem là một phương thức mà hải quân Mỹ sử dụng để khẳng định sự hiện diện của họ trong khu vực.

Điều có thể gọi là chiến lược « ngoại giao mẫu hạm » của Mỹ tại vùng Biển Đông sẽ đạt đỉnh cao cuối tháng này, khi toàn bộ hải đội hàng không mẫu hạm tấn công số ba của Hạm đội 7 Hoa Kỳ, với tàu sân bay hạt nhân USS John Stennis cùng tất cả đội tàu và phi cơ hộ tống, sẽ đến Manila biểu dương lực lượng, nhân kỷ niệm 60 năm ngày ký kết Hiệp ước Phòng thủ Hỗ tương Mỹ – Philippines.

Cuộc phô trương thanh thế này cũng diễn ra trong bối cảnh Philipinnes đang bị Trung Quốc lấn lướt ở Biển Đông và đã cầu viện đến đồng minh Mỹ.

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: