Skip to content

Tiên tri Malachi O’Margair và Huyền Khải Fatima

14/02/2013

*** Qua đầu năm Quý Tỵ (02/01/Quý Tỵ), tín đồ Thiên Chúa Giáo cả thế giới bàng hoàng như sét đánh trước thông tin Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố từ chức, điềm trời hiện ngay sau đó là 2 lần sét đánh xuống đỉnh thánh đường St Peter ở Vatican .

Trong lúc cả thế giới vẫn đang chưa hết bất ngờ về tin Đức Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố từ chức, lại có thêm tin sét đánh ở Vatican chỉ vài giờ sau đó. Nhưng lần này, đó là sét thật.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2013/02/130213_vatican_lightning_photos.shtml

Thiên Chúa Giáo là một trong 3 tôn giáo lớn nhất thế giới, sự ảnh hưởng cộng đồng trong tâm linh của hàng tỉ tín đồ Thiên Chúa Giáo cộng lực với trời đất (Thiên-Địa-Nhân) sẽ tạo ra một một lực vô hình thúc đẩy nhân loại tiến nhanh vào thời kỳ mới, trước khi qua thời kỳ mới ắt hẳn phải theo định luật “cùng cực tắc biến”, vậy chúng ta có thể cảm nhận rằng 2 câu sấm ký: “Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh, Can qua xứ xứ khởi đao binh” có lẽ là thời gian này.

Đọc lại lời tiên tri của Linh mục Malachi O’Margair xem Giáo Hoàng cuối cùng của Thiên chúa giáo có phải là trong thế kỷ này không?

Tiên Tri Về Các Đức Giáo Hoàng Cuối Cùng
http://www.memaria.org/default.aspx?LangID=38&ArticleID=41862
TIÊN TRI VỀ CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG CUỐI CÙNG
Thánh Malachy(Hình sét đánh trên Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô vào ngày Đức Thánh Cha tuyên bố từ chức do một nhà báo chụp.)Lời ngỏ:
Bài dịch dưới đây của tác giả Hồn Nhỏ vào năm 2005 trong thời gian Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời, và Giáo hội lúc đó đang chuẩn bị bầu một vị Giáo Hoàng thay thế. Đức Thánh Cha Bênêđíctô 16 sau đó đã được bầu làm Giáo Hoàng thứ 264 của Giáo Hội Công Giáo. Hôm nay ngày 11/02/2013 Đức Thánh Cha Bênêđíctô 16 bố từ chức vì lý do sức khỏe và tuổi già.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, theo lời tiên của thánh Malachy về các Đức Giáo Hoàng thời kỳ cuối, Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 111 và từ chức vào đúng ngày 11. Có nhiều bài viết và sự tranh luận về tính xác thực của lời tiên tri của thánh Malachy. Người thì cho là lời tiên tri rất đúng với những gì đã xảy ra, người thì dè dặt. Nếu như lời tiên tri của thánh Malachy đúng thì có tất cả 112 Giáo hoàng, tức chỉ còn 1 vị Giáo hoàng nữa với danh hiệu Phêrô người Rôma (La mã) là đến thời tận cùng. Chúng tôi xin đăng lại bài viết để thông tin không nhằm mục đích gây hoan mang, lo sợ và xin dành sự biện phân thuộc về quí vị.

Thánh Malachy sinh năm 1094 với tên gọi O’Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh ngữ hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo.

Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachy qua đời trong lúc hành hương Rôma thứ thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachy là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế.

Thánh Malachy có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng từ thời của ngài cho tới ngày tận cùng của thời gian – từ Đức Giáo Hoàng Celestine II cho tới thời tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachy, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng của thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu “Thánh Phêrô người Rôma”.

Thánh Malachy viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu có liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô III làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachy mô tả là “từ một người đàn ông nhỏ”. Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là “người đàn ông nhỏ”. Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachy. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý ở Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachy mô tả với biệt hiệu là “Hoa hồng của Umbria”.

Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachy, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm gây ngạc nhiên. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.

10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG

1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Lửa cháy bừng”, tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.

2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Tôn Giáo Tiêu Tàn”, tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.

3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Đức tin sắt son”, tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới.

4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Mục tử thiên thần”, tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng  trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.

5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Chủ chăn và thuỷ thủ”, tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachy tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một “thuỷ thủ rao giảng” bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là “biển cả”.

6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Hoa của muôn hoa” tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng trong thời gian 15 năm. Danh hiệu của ngài là là ba bông hoa Iris.

7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 – 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy”trăng bán nguyệt” (nửa vầng trăng), tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội  trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình “trăng bán nguyệt”.

8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Nhật thực” hay cũng còn có nghĩa là “Mặt trời lam lũ”. Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sảng sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/11920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ.

9. Đức Giáo Hoàng kế Đức Giáo Hoàng chót, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Ngành Ô-liu rực rỡ”. Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Olive. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là “những người của hòa bình”. Thánh Benedict đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ.

10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy “Phêrô người Rôma”. Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: “trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố trên 7 đồi (Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân”.

Có chút vấn đề về những lời tiên tri được liệt kê trong sách “Những Lời tiên tri của Thánh Malachy” xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachy chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachy.

Hồn Nhỏ chuyển dịch

Tiên tri về các Đức Giáo Hoàng cuối cùng của Thánh Malachi

Lời ngỏ: Nhân việc Giáo hội đang bầu một vị Giáo hoàng mới, MLCN giới thiệu bài dịch về lời tiên tri của thánh Malachi về các Đức Giáo Hoàng thời cuối. Bài này không có ý gây lo sợ, bởi vì những người tin vào Kitô thì không có gì phải sợ và chính Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã nhất mạnh: “Đừng sợ!”. Vì lời tiên tri là của một Giám mục đã được Giáo hội phong thánh, vì thế MLCN phổ biến để quý vị hiểu biết thêm, mỗi người hãy cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng khi phân định lời tiên tri này.

Thánh Malachi sinh năm 1094 với tên gọi O’Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo.

Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachi qua đời trong lúc hành hương Rôma thứ thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachi là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế.

Thánh Malachi có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này – từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachi, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu “Thánh Phêrô thành Rôma”.

Thánh Malachi viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachi mô tả là “từ một người đàn ông nhỏ”. Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là “người đàn ông nhỏ”. Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachi. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachi mô tả với biệt hiệu là “Hoa hồng của Umbria”.

Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachi, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.

10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG

1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Lửa Cháy”, tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.

2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Tôn Giáo Tiêu Tàn”, tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.

3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Đức tin sắt son”, tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới.

4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Mục tử thiên thần”, tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng  trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.

5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Chủ chăn và thuỷ thủ”, tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachi tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một “thuỷ thủ rao giảng” bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là “biển cả”.

6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Hoa của các loài Hoa” tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng 15 năm. Danh hiệu của ngài là ba bông hoa huệ Iris.

7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 – 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “trăng bán nguyệt”, tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội  trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình “trăng bán nguyệt”.

8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Nhật thực” hay cũng còn có nghĩa là “Mặt trời lam lũ”. Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sảng sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/11920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ.

9. Đức Giáo Hoàng kế Đức Giáo Hoàng chót, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Ô-liu rực rỡ”. Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Olive. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là “những người của hòa bình”. Thánh Benedict đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ.

10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Phêrô thành Rôma”. Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: “trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố trên 7 đồi (Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân”.

Trở ngại với những lời tiên tri được liệt kê trong sách Những Lời tiên tri của Thánh Malachi xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachi chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachi.

MALACHY O ‘ MORGAN (1094 – 1148)

http://tientri.net/tien-tri/tuong-lai-the-gioi-qua-cac-nha-tien-tri/

Malachy O’Morgan là một tu sĩ Ái Nhĩ Lan có tài tiên tri đặc biệt về tên tuổi xuất xứ của 112 vị Giáo hoàng La Mã , từ Celestin II năm 1143 tới hiện tại. Theo nhà tu biệt tài này thì sau Giáo hoàng John Paul II hiện tại, người sẽ kế vị tên là “Gloria Olivae”, sau đó “vị Giáo hoàng cuối cùng mang danh “Petrus Romanus” là người sẽ chứng kiến cảnh binh lửa đại họa xẩy ra tại Rome nơi “đô thành trên bẩy ngọn đồi bị tàn phá” (the seven hilled city will be destroyed ).

Sinh trưởng trong một gia đình giầu có và trí thức tại vùng Armagh, từ nhỏ Malachy đã say mê tôn giáo huyền bí và theo học với một nhà tu khổ hạnh. Năm 20 tuổi đã được phong làm cha xứ Armagh, ông thực hiện nhiều cải cách trong nhà thờ và nổi danh về tài chữa bệnh bằng phép lạ. Gần tuổi 40, ông được thăng chức Tổng Giám mục nhưng 5 năm sau từ bỏ giáo quyền để trở về với đời sống bình dân. Năm 1139, là một thường dân, ông đi hành hương Vatican. Tại đây ông lại được cử làm Khâm sứ Tòa thánh cho Ái Nhĩ Lan. Năm 1148, lần cuối viếng Vatican, ông tự đoán cho mình: sẽ chết vào ngày lễ cầu hồn 2 – 11 – 1148 tại Clairvaux, một tỉnh nhỏ ở Pháp. Lời tiên tri đúng một trăm phần trăm !

Trong những ngày hành hương, Malachy “nhìn” thấy tên hiệu chư vị giáo hoàng và ghi lại vắn tắt không quá 4 chữ, ngoại trừ đối với vị cuối là Petrus Romanus. Bản tiên tri này bằng chữ La tinh, dùng ẩn ngữ, chơi chữ… chỉ tên tuổi, hương quán, phù hiệu tông phái hoặc chức vụ trước khi lên ngôi của vị Giáo hoàng.

– Thí dụ như Giáo hoàng Adrian IV lên ngôi năm 1154 được tiên đoán bằng câu “De Rure Albo” có nghĩa đen là “từ xứ Alban” (Anh quốc), hoặc nghĩa bóng là “từ một xứ trắng”, vị này đích thực là một người Anh từ tu viện St Albans, từng làm khâm sai tại các nước Bắc Âu tuyết trắng như Thụy Điển, Na Uy…

– Giáo hoàng Pius III trị vì ngắn ngủi 26 ngày vào năm 1503 được bảng tiên tri ghi là “De Parvo Homine” có nghĩa đen là “từ một người bé nhỏ”, vị này tên tục tiếng Ý Piccolomoni là một người bé nhỏ !

Mặc dù lời tiên tri viết ra từ khoảng 1139 – 1148, mãi tới năm 1595 một nhà tu kiêm sử gia Arnold Wion, dòng Benedictine, mới tìm thấy trong thư các Vatican và đã mang ra công bố tại Venice. Theo nhiều tài liệu, Malachy đã mang bản tiên tri trao cho Giáo hoàng Innocent II và ngài đã niêm phong cất đi! Thấy những câu tiên tri quá đúng, Giáo hội và các học giả vội phủ nhận giá trị và cho rằng bản tiên tri của Malachy từ thế kỷ 16 trở đi chỉ là giả tạo. Nhưng từ thế kỷ 16 đến giờ lời tiên đoán của Malachy vẫn không sai mảy may !

– Thí dụ: Giáo hoàng Benedict XV trị vì vào năm 1912 – 1922 trong thời Đệ Nhất Thế chiến được ghi danh trong bảng là “Religio de populata” có nghĩa là tôn giáo bị phí thải (religion laid waste), nghĩa bóng là tôn giáo bị đàn áp tiêu diệt ở Nga Cộng, nhân mạng bị phí hoài cả triệu vì chiến tranh, vì chết dịch…

– Giáo hoàng Clements XIV, 1769 – 1775, được ghi là “Ursus velox” có nghĩa là “con gấu nhanh”, đích danh hiệu vẽ con gấu chạy trên tấm khiên của gia tộc vị này!

– Giáo hoàng Gregory XVI, 1831 – 1846, có tên trên bảng là “De balneis Etruriae” nghĩa là từ bồn tắm ở Etruria (Ý). Vị này quả thực trước đó thuộc dòng tu ở Etruria và đã đôn đốc việc khảo cổ đào bới các bồn tắm ở địa điểm đó.

– Giáo hoàng John XXIII, 1958 – 1963, được tiên đoán là “Pastor et Nauta” tức “pastor and sailor“, trước khi lên Giáo hoàng, ngài đã làm chánh tòa Venice, một hải cảng nổi tiếng, khi họp đại hội Ecumenical Council năm 1962 biểu hiệu được chính ngài lựa chọn là một thập tự giá và một con tầu !

– Giáo hoàng kế vị, Paul VI có câu tiên tri chỉ danh “Flos Florum” tức “hoa của các loài hoa” (flower of flowers). Trên tấm khiên huy hiệu của ngài quả có 3 cánh hoa fleurs – de – lis !

– Giáo hoàng John Paul I lên chức năm 1978 và mất 34 ngày sau đã được Malachy thấy trước là “De Medietate” nghĩa là từ vầng trăng khuyết (from the half moon). Có thể hiểu theo hai nghĩa: nửa đường đứt gánh, hoặc vì tên tục của ngài là Albino Luciani với nghĩa đen là “ánh sáng trắng” (white light) tức vầng trăng khuyết.

– Lời tiên tri ý nhị nhất là về Giáo hoàng: “De Labore Solis” có nghĩa là từ lao lực mặt trời (from the toil of the sun), vị Giáo hoàng đầu tiên sau 456 năm này không phải gốc Ý mà lại là con dân xứ Krakow thuộc Ba Lan, là nơi Corpernicus đã lao lực hồi thế kỷ XVI để minh chứng trái đất xoay quanh mặt trời! Cũng có học giả cho là solis, mặt trời, còn ám chỉ tuổi trẻ, John Paul II khi lên kế vị mới có 58 tuổi!

– Vị tiếp theo sẽ mang danh “Gloria Olivea” tức vinh quang của cành olive (glory of the olive). Theo giải đoán  thì Olive chỉ dòng tu Benedictine còn được gọi là Olivetans. Dòng tu này từ thế kỷ thứ VI có St Benedict cũng tiên tri là một người trong dòng sẽ lãnh đạo Cơ Đốc giáo chống lại ác lực trong trận chiến kinh thiên động địa Armageddon trước ngày Apocalypse.
– Vị Giáo hoàng cuối trong bản tiên tri mang danh “Petrus Romanus” tức Peter of Rome là vị gánh chịu cơn binh lửa thiêu hủy thành đô trên bẩy ngọn đồi (the seven hilled city will be utterly destroyed) và đúng vào lúc “Phán quan ghê tởm sẽ phán xét người đời” (the awful Judge will judge the people).

Điều tiên tri trên rất giống lời tiên tri của Nostradamus về cảnh tượng chiến tranh xẩy ra khắp Âu châu bao trùm nước Ý, Vatican. Chính Giáo hoàng Pius X trong một thoáng huyền cảm vào năm 1909 đã tiên kiến được cảnh hãi hùng “Điều ta thấy thật kinh khủng ! không biết sẽ xẩy ra vào thời ta hay vào thời sau? vị Giáo hoàng nào sẽ phải rời Rome, bỏ Vatican, vượt trên bao xác nhà tu mà đi ?”. Bản tiên tri của Malachy có lẽ không dựa trên khoa chiêm tinh hay lý số mà là loại huyền khải, được “mở ra” trong phút giây huyền diệu và ghi lại. Bản in năm 1902 tại Paris do chính Chánh xứ Baume, Abbott Joseph Maitre bảo trợ. Đã từng là một vị Tổng giám mục và Khâm sai Tòa thánh, Malachy không phải là người ngoại đạo đặt điều phương hại tới tôn giáo của mình. Vị tu sĩ này chỉ ghi lại những gì đã được huyền khải, góp phần vào lịch sử kỳ diệu của nhân loại. Suốt non 1000 năm tiên tri không sai sót một câu, quả là thần ngôn thánh ngữ!

Sấm Malachy và lời tiên tri về sự sụp đổ

của Giáo hội Công giáo

Cách đây hơn 800 năm, Thánh Malachy đã tiên tri rằng khi nào đến thời đại của vị Giáo hoàng thứ 112 Giáo hội Công giáo sẽ sụp đổ, tức người kế nhiệm sau Giáo hoàng Benedict XVI hiện nay sẽ nhìn thấy đống “tro tàn” của Vatican. Trước những bê bối tranh giành quyền lực trong Giáo hội Công giáo diễn ra trong thời gian qua, nhiều người đã nghĩ đến một cảnh tượng bi đát như lời sấm truyền.
Cuộc đời của Thánh Malachy
Thánh Malachy (1094-1148) ra đời tại thành phố Armagh, Bắc Ireland, với tên khai sinh là O’Margair. Sau khi lễ rửa tội Ngài được đặt tên theo đạo là Maelmhaedhoc.
Thời trai trẻ O’Margair dành thời gian cho việc học hành để trở thành một linh mục và theo đuổi môn thần học. Nhiều truyền thuyết nói rằng Malachy có tài năng thấu thị, chữa lành mọi bệnh tật bằng đôi bàn tay và nhìn thấy được tương lai.
Năm 1119 ông được phong linh mục, năm 1132 được phong làm Tổng Giám mục Armagh. Trong thời gian hành đạo Malachy được xem như một nhà cải cách Ki-tô giáo. Ngài ra sức chấn hưng Giáo hội Armagh vốn đang suy đồi vào thời đó, cho loại bỏ các tập tục man rợ và thiết lập lại nền tản luân lý cơ bản.
Năm 1139, trong chuyến đi Roma diện kiến Giáo hoàng Innocent II, Malachy nhiều lần nhìn thấy linh ảnh về các triều đại của Giáo hội, Ngài bèn viết lại thành sách dưới dạng thơ ca và dâng nó lên Giáo hoàng.
Sách tiên tri Malachy
Thời kỳ đầu, quyển lời tiên tri của Malachy được xem như sách cấm và chỉ có các giáo hoàng mới được quyền tiếp xúc.
Đến năm 1595, lần đầu tiên những lời tiên tri của Malachy được xuất bản trong quyển “Lignum Vitæ” của Arnold de Wyon. Ban đầu, lời tiên tri mặc nhiên được thừa nhận trong thời gian rất lâu, tuy nhiên trong phiên bản gần đây nhất của cuốn Bách khoa toàn thư Công giáo lại cho rằng các lời tiên tri là giả mạo vào cuối thế kỷ 16.
Dù có nhiều lời phủ định Malachy là tác giả của sấm truyền nhưng sự thật lời tiên tri đã đúng với nhiều vị giáo hoàng trước đó. Tác giả John Hogue viết trong quyển “Vị Giáo hoàng cuối cùng: Sự suy tàn và sụp đổ của Giáo hội Công giáo La Mã: Lời tiên tri của Thánh Malachy về Thời đại Hoàng kim” (The Last Pope: The Decline and Fall of the Church of Rome : The Prophecies of St. Malachy for the New Millennium), cho rằng dù người dự đoán là ai thì lời tiên tri đã chứng tỏ giá trị của nó.

Trang 11 quyển Lignum Vitae (1595)
Giống như sấm truyền Nodtradamus, sách tiên tri Malachy không đưa ra một dự đoán rõ ràng nào về tên tuổi các vị giáo hoàng mà dùng lối ẩn dụ để miêu tả biệt danh, quê hương hoặc đặc điểm dòng tu của họ. Ví dụ: Vị giáo hoàng thứ 111 được tiên tri là “Vinh Quang của Cành Ô-liu”. Dòng thánh Benedict có biểu tượng là cành ô liu. Dù Hồng y Josef Ratzinger không thuộc dòng thánh Benedict nhưng sau khi được chọn làm Giáo hoàng Ngài đã lấy tên là Benedict XVI.
Trước đó, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachy mô tả là “từ một người đàn ông nhỏ”. Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là “người đàn ông nhỏ”. Hay Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachy mô tả với biệt hiệu là “Hoa hồng của Umbria.”
Theo sấm Malachy, Giáo hoàng Benedict XVI sẽ cai trị Giáo hội Công giáo trong một tình trạng suy đồi, sau đó thì một người có biệt danh là “Peter thành Roman” sẽ đăng quang. Vị giáo hoàng cuối cùng “sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại”, ông ta là người nhìn thấy “thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân”.
Hiện tại nội tình Vatican đang rối như một mớ bòng bong với các vụ tung tài liệu mật tố tình trạng tham nhũng, bê bối tình dục… liên quan đến Tòa thánh.
Lại sắp đến kỳ bầu chọn giáo hoàng trong số 120 Hồng Y trên thế giới. Sau Benedict XVI, người kế vị có phải “Peter thành Roman” như dự đoán? Điều gì sẽ xảy ra nếu sấm Malachy một lần nữa đúng.

HUYN KHI FATIMA

      http://www.kynguyentamlinh.com/news.aspx?nid=407

Huyền khải Fatima đã đuợc ghi nhận vào năm 1917, còn có tên khác là Huyền khải của Đức Mẹ hiện ra ở Fatima (Portugal, Bồ Đao Nha). Nhân chứng của Huyền khải này là ba em bé chăn cừu: Lucia dos Santos (10 tuổi), Francisco (9 tuổi) và Jacinta Marto (7 tuổi).

Các nhân chứng cho biết rằng, Đức Mẹ đã hiện hình tại Fatima, thuộc tỉnh nhỏPortugal của Bồ Đao Nha, vào thời điểm cai trị của một chính quyền chống đạo Thiên Chúa. Nhóm chống đạo đã toan tính trong 2 thế hệ sẽ dẹp sạch đạo Thiên Chúa trên đất nước này.

Đức Mẹ hiện hình 6 lần, mỗi lần cách nhau một tháng: lần đầu vào ngày 13–5-1917, lần thứ hai vào ngày 13–6–1917, lần thứ ba vào ngày 13–7-1917, lần thứ tư và thứ năm vào tháng 7 và tháng 8-1917, và lần cuối cùng vào ngày 13-10-1917.

Trong lần thứ nhất hiện hình Đức Mẹ, chỉ có ba đứa trẻ chăn cừu nói trên nhìn thấy và nghe đuợc những lời huyền khải. Trong lần hiện hình Đức Mẹ sau đó, có thêm 50 người đi theo; còn lần thứ ba – có tới 5000 tín hữu. Ba đứa trẻ nhân chứng đã mô tả Đức Mẹ như một giai nhân trẻ và đẹp ở trên Trời; những người khác không nhìn thấy hình dáng gì mà chỉ thấy một đám mây sáng láng.

Trong lần thứ ba, bé Lucia đã nghe thấy Đức Mẹ dặn như sau: “Mỗi tháng đúng ngày 13 con hãy tới đây, vào tháng 10 Ta sẽ nói cho con biết Ta là ai và Ta muốn gì, rồi Ta sẽ làm phép thần thông để cho mọi người thấy và tin!”.

Vào ngày 13-8-1917, ba đứa trẻ đã không tới đuợc để xem Đức Mẹ hiển linh vì bị chính quyền bắt nhốt. Mặc dù bị dọa nạt, hỏi cung, dọa cho luộc sống, nhưng ba đứa trẻ vẫn một mực nói sự thật.

Rốt cuộc, chính quyền phải thả các em. Vào ngày 19-8-1917, ba đứa trẻ lại đuợc Đức Mẹ hiển linh và nhắc lại là tháng 10 Bà sẽ hiện ra lần chót. Nguồn tin này lan truyền khắp nơi, cho nên vào ngày 13-10-1917 mặc dầu trời mưa gió, vẫn có khoảng 50.000 – 80.000 người, kể cả giới báo chí, kéo tới chật kín cả khu quanh làng.

Và rồi chuyện lạ đa xẩy ra: Mặt Trời bỗng nhiên xoay tròn, phóng ra tia sáng trắng, xanh lơ, xanh lá cây rồi tới mầu đỏ như máu. Người ta nhìn thấy Mặt Trời như tới gần Trái Đất, rồi lại nẩy lên như trái bóng về vị trí cũ, cứ như thế ba lần. Hiện tượng này đuợc những người chứng kiến gọi là “Mặt Trời nhảy múa”.

Bà Tiên (lúc đầu đuợc gọi như vậy) đã tiết lộ những điều bí ẩn có ý nghĩa lớn cho ba đứa bé, tự xưng mình là Đức Mẹ Đồng Trinh. Bà nói rằng, nhân loại phải ăn năn sám hối và giác ngộ, nếu không thì 3 lời tiên tri của Bà tất yếu sẽ xảy ra.

Lời tiên tri đầu tiên mô tả Địa ngục, nơi giam giữ vong hồn của những kẻ không chịu hối cải. Lời tiên tri thứ hai nói về Đại chiến thứ hai sẽ xảy ra trừ phi nhân loại cải hóa – khi nào trên trời hiện ra một luồng sáng lạ, khi ấy là điềm chiến tranh bộc phát và sẽ bắt đầu vào thời Giáo hoàng kế tiếp.

Giáo hoàng kế tiếp, Pius XI mất năm 1939, đa thấy khởi đầu Thế chiến khi Đức Quốc xã xua quân xâm chiếm Ba Lan.

Đúng như lời huyền khải tiên tri, vào đem 25 tháng 1 năm 1938, một tia sáng lạ chiếu sáng rực cả bầu trời Tây Âu; có nơi ánh sáng mạnh đến nỗi nhân công làm ca đem không cần thắp đen! Báo chí thời đó gọi tia sáng lạ đó là “ánh lửa địa ngục“.

Vào đem hôm đó, Hitler đang sắp đặt kế hoạch tấn công Ba Lan. Hai tháng sau, tháng 3-1938, mở đầu Thế chiến điên rồ! Thật đúng như lời Đức Mẹ đã nói: khi nào các con thấy luồng sáng kỳ lạ là dấu hiệu của Thượng Đế cho biết chiến tranh, đói khát sẽ trừng phạt nhân loại và phương hại tới Giáo hội và Thánh Cha.

Lời huyền khải thứ ba đã đuợc giữ kín trong một thời gian dài. Đây là lời tiên tri về thế giới và giáo hội La Mã sau Thế chiến thứ hai. Những lời này đa đuợc Lucia ghi chép vào năm 1943 và trao cho Giáo hoàng với lời căn dặn là chỉ đuợc mở ra vào năm 1960.

Theo Omar Garrison, tác giả tập Bách khoa Tiên tri, nguồn tin từ giới thân cận Giáo hoàng John XXIII là tu sĩ Padre Pio, cho biết sau khi đọc lời tiên tri huyền khải thứ ba, ngài đa “run sợ đến gần như muốn ngất xỉu vì kinh hoàng“!

Năm 1968, Padre Pio chết, phóng viên chuyên môn về giáo sự Vatican là Domenico Del Rio dường như đa có đuợc tài liệu bí mật ấy. Theo nhà báo Del Rio, sau khi phỏng vấn Giáo hoàng John Paul II, Ngài chỉ nói “nội dung bản tiên tri rất đáng chú ý, nói tới cả triệu triệu người chết bất ngờ từ phút giây này tới phút giây khác“.

Vào ngày 13-5-1981, đúng 64 năm sau ngày Đức Mẹ hiện hình ở Fatima lần đầu (ngày 13-5-1917), Giáo hoàng John Paul II bị mưu sát tại quảng trường Peter Square.

Lời tiên tri thứ ba này đa là đề tài nghiên cứu, tranh luận từ lâu trong giới lý số học Tây phương. Năm 1963, một tờ báo Đức đăng tải toàn bản tiên tri thứ ba, theo đó một cuộc Đại chiến sẽ bùng nổ vào nửa cuối thế kỷ 20, tàn phá tan tành nhiều nước, xúc phạm giáo hội Thiên Chúa La Mã cùng với việc ám sát một vị Giáo hoàng. Đa số các nhà nghiên cứu đều đồng ý về hai điểm trên, mặc dù tài liệu báo chí không đuợc Vatican công nhận hay phủ nhận.

Theo nhiều tài liệu tiết lộ thì lời tiên tri thứ ba còn bao gồm những chi tiết kinh hoàng như Satan mưu đồ lên đứng đầu Giáo hội, đặt người chỉ huy dũng mãnh cầm quân gây chiến, sản xuất vũ khí giết người hàng loạt, tạo tranh chấp nội bộ khiến hồng y, giám mục chống đối lẫn nhau.

Thời kỳ đen tối đó sẽ xuất hiện bệnh dịch, bão lụt lớn, binh đao khói lửa, vũ khí tối tân… làm cho triệu triệu người chết trong giây phút!

Nhưng rồi một bậc Thiên Tử sẽ xuất hiện để tiêu diệt cái ác và mang lại thanh bình vĩnh cửu cho thế gian vào Kỷ nguyên mới.

Thực tế thì lời huyền khải thứ ba đã đuợc công bố ngày 13-5-2000 ngay sau Thánh lễ phong Chân phước cho hai em Francisco và Jacinta Marto, cử hành tạiFatima. Theo đó, nội dung chính của bí mật thứ ba nói đến sự bách hại của những chế độ vô thần chống lại Kitô giáo, nhất là nói đến vụ mưu sát Đức Giáo hoàng. Nguyên văn của lời huyền khải thứ ba do bà Lucia dos Santos ghi lại như sau:

Chúng con đa nhìn thấy phía bên trái của Ðức Mẹ, hơi cao hơn một chút, một Thiên Thần cầm một gươm lửa nơi tay trái; gươm nầy chớp sáng và chiếu ra những tia lửa dường như thể muốn đốt rụi thế giới; nhưng những tia lửa nầy bị tắt đi khi gặp phải ánh sáng phát ra từ tay phải của Ðức Mẹ chỉ về phía Thiên Thần. Tay phải của vị Thiên Thần chỉ vào Trái Đất, và vị Thiên Thần nói lớn: “Ðền tội, Ðền tội, Ðền tội!” Và chúng con đa nhìn thấy trong một ánh sáng bao la là Thiên Chúa: Một cái gì giống như thể người ta xuất hiện trong tấm gương khi đi ngang qua nó, một vị Giám Mục mặc áo trắng. Chúng con có cảm giác như thể đó chính là Ðức Thánh Cha. Nhiều vị giám mục khác nữa, những linh mục, những tu sĩ nam nữ, đang leo lên một núi dốc cao, trên chóp núi nầy có một cây Thập Giá lớn có thân sần sù, giống như thể bằng cây sồi có võ cứng. Trước khi lên đến nơi, Ðức Thánh Cha đi ngang qua một thành phố lớn phân nửa đa bị tàn phá và phân nửa bị rung động. Ðức Thánh Cha bước đi run rẩy, chịu đau đớn và sầu muộn. Ngài cầu nguyện cho những linh hồn của những người chết mà ngài gặp trên đuờng. Khi lên đến chóp núi, quỳ gối phủ phục dưới chân Thập Giá lớn, ngài bị giết bởi một toán lính cầm súng bắn vào ngài và phóng các mủi tên vào ngài. Và bằng cách thức như vậy, hết người nầy đến người khác, các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và nhiều giáo dân thuộc hàng ngũ và địa vị khác nhau, cũng lần lượt bị giết chết nơi đó. Bên dưới hai cánh của Thập Giá có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm một bình thủy tinh, trong đó các vị hứng máu của những người tử đạo, và dùng máu nầy vẩy lên các linh hồn đang tiến tới gần Thiên Chúa”.

Trong số ba đứa trẻ chăn cừu, Lucia lớn nhất đã qua đời ngày 13 tháng 2 năm 2005, thọ 97 tuổi. Vào năm 1982, bà đa đuợc Giáo hoàng viếng thăm tận nơi. Bà sống biệt lập để tránh mọi phỏng vấn. Hai đứa trẻ khác đã bị bệnh cúm và mất năm 1918. Chính Đức Mẹ đa nói trước về sinh mệnh của ba đứa trẻ đặc biệt này ngay từ lần hiển linh đầu tiên.

Nguyễn Hiếu (St)

Một đám mây xanh đứng giữa trời

Ba thằng nho nhỏ đánh nhau chơi

Thiên hạ mười phần còn có một

Bây giờ Bạch Sỷ mới ra đời

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: