Skip to content

CHỮ THỜI TRONG SẤM VÀ TIÊN TRI

06/12/2013

Thời thế hiện nay mịt mùng mờ ảo, người dân Việt trong nội tâm sống trong sự khắc khoải chờ mong một tương lai tươi sáng, tầng lớp lớn tuổi và những người có  nội tâm lo buồn cho đất nước ngày càng ưu phẫn, lớp lớp trẻ thì miệt mài trong cơm áo gạo tiền sống vội hưởng thụ…

Trong nhiều năm tìm hiểu về lý số rồi tìm hiểu về sấm ký, đã sưu tập tổng hợp được từ nhiều nguồn, những bài viết trên Net của nhiều tác giả, nay đưa lên để những ai hướng trông về tương lai nước Việt, củng cố lại niềm tin như Ông, Cha đã trải qua, vững tin vào tương lai của đất Việt và dân Việt chắn chắn không bị diệt vong.

Có những bài viết trong loạt bài này ghi tên tác giả và không rõ tác giả rõ nguồn, nếu có sơ xót xin rộng lòng lượng thứ khi đăng lại mà không liên hệ để được  sự đồng ý.

Những luận bàn trong những bài đăng này đã hơn 10 năm nên không tránh khỏi sai lầm. Quý vị nào đọc và comment xin tôn trọng tác giả và chỉ bàn luận về sấm thôi.

Người Trung Hoa phục tài Trạng Trình Việt Nam nên đã có lời ca tụng “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” : Nước Nam về khoa Lý học có ông Trình Tuyền.

Tương truyền những sự việc sau đây đã ứng nghiệm đúng theo lời sấm truyền của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

1. Tiên Tri về Nhà Tây Sơn dấy nghiệp :

Chân cung xuất nhật

Đoài cung vẩn tinh

Nghĩa là :

Mặt trời xuất hiện ở phương Đông

Sao sa ở phương Tây.

Theo Bát Quái có tám quẻ là : Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Chấn ở phương Đông. Theo kinh Dịch cung Chấn chỉ về người trên. Dù nói người anh cả của họ Nguyễn Tây Sơn là Nguyễn Nhạc sẽ dấy nghiệp. Sao sa ở phương Tây ý nói nhà Tây Sơn xuất hiện.

Sáu câu :

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sao cũng sa ngày chẳng còn

Đầu cha lộn xuống chân con

Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Sáu câu nầy ứng vào việc Tôn Sĩ Nghị đem quân Thanh sang cướp nước Nam. Khi đến Thăng Long,Sĩ Nghị cho quân sĩ lập một chiếc cầu nối bằng tre ngang sông Hồng. Sau khi dẹp được giặc Thanh. Nguyễn Huệ xưng là Quang Trung Hoàng Đế (hai câu 1-2)

Nhờ tài ngoại giao của Ngô Thời Nhiệm Quang Trung được vua nhà Thanh là Càn Long phong chức An Nam Quốc Vương.

Sau hai năm ở ngôi vua, Hoàng đế Quang Trung mất. Đoài cung câu 3 có nghĩa là phương Tây. Theo Kinh Dịch, cung Đoài là kẻ dưới, ý nói người em là Nguyễn Huệ mất. Năm sau, Nguyễn Nhạc vì tức vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản, con của Quang Trung) chiếm thành Qui Nhơn nên thổ huyết mà thác (Chấn cung câu 4 ám chỉ Nguyễn Nhạc, người anh của nhà Tây Sơn). Câu 5 chỉ tên vua Quang Trung và vua Cảnh Thịnh. Chiết tự chữ “Quang” của vua Quang Trung gồm chữ “Tiều” ở trên mà chữ “Cảnh” của vua Cảnh Thịnh lại có chữ “Tiều” ở dưới. Thế nên mới nói : Đầu cha lộn xuống chân con. Câu 6 nói nhà Nguyễn Tây Sơn chỉ làm vua được 14 năm.

2. Tiên Tri về việc Phong hầu cho dân làng vĩnh lại

Bao giờ ngựa đá qua sông

Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng

Nghĩa là :

Khi nào ngựa đá qua sông được thì dân làng Vĩnh Lại đều được phong hầu.

Khi vua Lê Chiêu Thống lánh nạn Tây Sơn trốn qua làng Vĩnh Lãi dân chúng ủng hộ nhà vua chống lại Tây Sơn, vua Lê sẵn ấn tín đem theo mình liên phong tước hầu cho người cầm đất dân làng. Tin truyền ra dân chúng tranh nhau xin vua phong tước hầu cho mình. Sợ dân chúng sinh lòng phản trắc, nhà vua liền phong tước hầu cho tất cả dân làng.

Nhiều người cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ nghiên cứu những điều bí ẩn trong bộ sách Thái Ất Thần Kinh mà thông suốt mọi việc quá khứ vị lai.

3. Tiên tri về tương lại của Nhà Nguyễn :

Phụ nguyên chính thống hẳn hoi

Tin dê lại mắc phải mồi đàn dê

Ý nói nhà Nguyễn mới là dòng dõi chính thống. Vua Gia Long nhờ sự trợ giúp của người Pháp để diệt nhà Tây Sơn. Nhưng nhà Nguyễn cũng mất chủ quyền về tay người Pháp. Chữ “dê” dịch nghĩa Hán là “dương” ám chỉ người Tây Dương.

Bốn câu :

Để loài bạch quỷ Nam xâm

Làm cho trăm họ khổ trăm lưu ly

Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy

Gia đình một ở ba đi dần dần

Hai câu đầu chỉ việc thôn tính của người Pháp ở Việt Nam làm cho dân chúng khốn khổ “Bạch quỷ Nam xâm” làm nhân dân cực khổ điêu đứng vì cảnh chia lìa.

Hai câu kế, vì chống lại sự xâm lăng của Pháp, ba vị vua của nhà Nguyễn là Hàm Nghi (bị đày sang Algérie), Thành Thái và Duy Tân (bị đày sang đảo Réunion) chỉ còn một mình Khải Định ở lại làm vua ứng nghiệm vào câu: “Gia đình một ở ba đi dần dần”.

4. Tiên tri những cuộc khởi nghĩa kháng Pháp

Kìa kìa gió thổi lá rung cây

Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây”

Sau ngày Pháp thôn tính Việt Nam các phong trào Cần Vương trong nước và Văn Thân đều nổi dậy khắp nơi.

Bốn câu :

Tan tác KIẾN kiều AN đất nước

Xác xơ CỔ thị sạch AM mây

LÂM giang nổi sóng mùa THAO cát

HƯNG địa tràn dâng HOÁ nước đầy.

Ứng vào cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quốc Dân Đảng kháng Pháp tại Kiến An, Cổ Am, Lâm Thao và Hưng Hoá. Thật là cảnh đất nước xác xơ như cành cổ thụ cắn trụi. Sóng gió, cát bụi nổi lên mịt trời hoà cùng máu của các chiến sĩ gục ngã để giành lại chủ quyền độc lập. Câu “Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua” chỉ phong trào tranh đấu chống thực dân Pháp ở Đô Lương, Hóc Môn, Nghệ An và Thái Nguyên.

5. Tiên tri toàn quyền Pasquier tử nạn máy bay

Hai câu :

Giữa năm hai bảy mười ba

Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây

Tám gà : Hán văn là Bát kê. Đúng vào năm âm lịch nhuần hai tháng bảy, mười ba tháng, Toàn quyền Đông Dương Pasquier mãn nhiệm trở về Pháp, dọc đường máy bay bị nạn, Pasquier bị chết cháy giữa không trung đúng vào câu “Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây”

Sau đây là Cảm đề và Sấm ký của Trạng Trình

CẢM ĐỀ :

Thanh nhàn vô sự là tiên

Năm hồ phong nguyệt ruỗi thuyền buông chơi

Cơ tạo hoá

Phép đổi dời

Đầu non mây khói toả

Mặt nước cánh buồm trôi

Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi

Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời

Tuổi già thua kém bạn

Văn chương gởi lại đời

Dở hay nên tự lòng người cả

Bút nghiên soi hoa chép mấy lời

Bí truyền cho con cháu

Dành hậu thế xem chơi

THẾ SỰ

Non Đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu;

Có một đàn xà đánh lộn nhau.

Vượn nọ leo cành cho sĩ bóng;

Lợn kia làm quái phải sai đâu.

Chuột nọ lăm le mong cắn Tổ;

Ngựa kia đủng đỉnh buớc về Tàu.

Hùm ở trên rừng gầm mới dậy,

Tìm về quê cũ khúc ngựa Tần.

Bài số 1

SẤM KÝ :

Nước Nam từ họ Hồng Bàng

Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần

Tự Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước

Đã bao lần ngôi nước đổi thay

Núi sông thiên định đặt bày.

Đồ thư một quyển xem nay mới rành

Hoà đao mộc lạc

Thập bát tử thành

Đông Á nhật xuất

Dị mộc tái sinh.

Chấn cung xuất nhật

Đoài cung vẫn tinh

Phụ nguyên chi thống

Đế phế vi đinh

Thập niên dư chiến

Thiên hạ cửu bình

Lời thần trước đã ứng linh

Hậu lai phải đoán cho minh mới tường

Hoà đao mộc hồi dương sống lại

Bắc Nam thế thời đại nhiễu nhương

Hà thời biện lại vi vương,

Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn

Lê tồn Trịnh tại

Trịnh bại Lê vong

Bao giờ ngựa đá sang sông

Thì dân Vĩnh Lại Quận Công cả làng

Hà thời thạch mã độ giang

Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu

Chim bàng cất cánh về đâu?

Chết tại trên đầu hai chữ Quận Công

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn

Đầu cha lộn xuống thân con

Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Phụ nguyên chính thống hẳn hoi

Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh trập trùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày

Nói cho hay khảm cung ong dậy

Chí anh hào biết đấy mới ngoan

Chữ rằng lục thất nguyệt gian

Ai mà giữ được mới nên anh tài

Ra tay điều đỉnh hộ mai

Bấy giờ mới rõ là người an dân

Lọ là phải nhọc kéo quân

Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về

Phá điền than đến đàn dê

Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng

Dê đi dê lại tuồn luồn

Đàn đi nó cũng một môn phù trì

Thương những kẻ nam nhi chí cả

Chớ vội sang tất tả chạy rong

Học cho biết chữ cát hung

Biết cho phương hướng chớ đừng lầm chi

Hễ trời sinh xuống phải thì

Bất kì nhi ngộ tưởng gì đợi mong

Kìa những kẻ vội lòng phú quí

Xem trong mình một tí đều không

Ví dù có gặp ngư ông

Lưới giăng đâu dễ nên công mà hòng

Khuyên những đấng thời trung quân tử

Lòng trung nghiã nên giữ cho mình

Âm dương cơ ngẫu hộ sinh

Thái Nhâm Thái Ất bên mình cho hay

Chớ vật vờ quen loài ong kiến

Hư vô bàn miệng tiếng thì nói không

Ô hô thế sự tự bình bồng,

Nam Bắc hà thời thiết lộ không

Hồ ẩn sơn trung mao tân bạch

Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng

Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc

Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông

Nhược đãi ưng lai sư tử thượng

Tứ phương thiên hạ thái bình phong

Ngõ may gặp hội mây rồng

Công danh rạng rỡ chép trong vân đài

Nước Nam thường có thánh tài

Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường ?

So mấy lề đè tàng kim quỹ

Kề sau này ngu bỉ được coi

Đôi phen đất lở cát bồi

Đó đây ong kiến dậy trời quỷ ma

Ba con đổi lấy một cha

Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền

Mão, Thìn, Tý, Ngọ bất yên

Đợi tam tứ ngũ lai niên cũng gần

Hoành sơn nhất đái

Vạn đại dung thân

Đến thời thiên hạ vô quân.

Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành

Gà kêu cho khỉ dậy nhanh

Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung

Thiên sinh hữu nhất anh hùng

Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà

Thái Nguyên cận Bắc đường xa

Ai mà tìm thấy mới là thần minh

Uy nghi dung mạo khác hình

Thác cư một góc kim tinh phương Đoài

Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi

Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân

Binh thư mấy quyển kinh luân

Thiên văn, địa lý, nhân dân phép mầu

Xem ý trời ngỏ hầu khải thánh

Dốc sinh ra điều chỉnh hộ mai

Song thiên nhật nguyệt sáng soi

Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường

Thông minh kim cổ khác thường

Thuấn Nghêu là trí, Cao Quang là tài

Đấng hiên ngang nào ai biết trước

Tài thao lược yêm bác vũ văn

Ai còn khoe trí khoe năng

Cấm kia bắt nọ hung hăng với người

Chưa từng thấy nay đời sự lạ

Chốc lại mòng gá vạ cho dân

Muốn bình sao chẳng lấy nhân

Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình

Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán

Lại đua nhau quần thán đồ lê

Chức nầy quyền nọ say mê

Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương

Kẻ thì phải thuở hung hoang

Kẻ thì bận của bóng toan khốn mình

Cửu cửu càn khôn dĩ định

Thanh minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo dương đầu mã vĩ

Hồ binh bát vạn nhập Trường an

Nực cuời những kẻ bàng quan

Cờ tan lại muốn toan đường chống xe

Lại còn áo mũ xum xoe

Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang

Ghê thay thau lẫn với vàng

Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng

Thành ra tuyết tán mây tan

Bấy giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi

Can qua việc nước tơi bời

Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân

Oai phong khấp quỷ kinh thần

Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca

Rừng xanh núi đỏ bao la

Đông tàn Tây bại sang gà mới yên

Sửu, Dần thiên hạ đảo điên

Ngày nay thiên số vận niên rành rành

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh (*)

Can qua xứ xứ khổ đao binh

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

*Nostradamus codee: World War III – 2012 -2013 Nhâm Thìn – Quý Tỵ ?

http://nostradamusonline.com/

Sự đời tính đã phân minh

Thanh nhàn mới kể chuyện mình trước sau

Đầu thu gà gáy xôn xao

Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long

Chó kêu ầm ỉ mùa Đông

Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi

Lợn kêu tình thế lâm nguy

Quỷ vương chết giữa đường đi trên trời

Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi

Trâu cày ngốc lại chào đời trước ta

Hùm gầm khắp nẻo gần xa

Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời

Rồng bay năm vẻ sáng ngời

Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng (Satan)

Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng

Cha con dòng họ thầy tăng hết thời (thằng Tây)

Chín con rồng lộn khắp nơi

Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu

Lời truyền để lại bấy nhiêu

Phương Đoài giặc đã đến chiều bại vong

Hậu sinh thuộc lấy làm lòng

Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình

Đầu can vô tướng ra binh

Ắt là trăm họ thái bình âu ca

Thần Kinh Thái Ất suy ra

Để danh con cháu đem ra nghiệm bàn

Ngay thường xem thấy quyển vàng

Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi

Bởi Thái Ất thấy lạ đời

Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân

Kể từ đời Lạc Long Quân

Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian

Mỗi đời có một tôi ngoan

Giúp chung nhà nước dân an thái bình

Phú quí hồng trần mộng

Bần cùng bạch phát sinh

Hoa thôn đa khuyển phệ

Mục giả giục nhân canh

Bắc hữu Kim thành tráng

Nam hữu Ngọc bích thành

Phân phân tùng bách khởi

Nhiễu nhiễu xuất Đông chinh

Bảo giang thiên tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

Rồi đây mới biết thánh minh

Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò

Nhị Hà một dải quanh co

Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào

Khắp hoà thiên hạ nao nao,

Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng ?

Nói đến độ thầy tăng ra mở nước

Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu ?

Bấy lâu những cậy phép mầu

Bây giờ phép ấy để lâu không hào

Cũng có kẻ non trèo biển lội,

Lánh mình vào ở nội Ngô, Tề

Có thầy Nhân Thập đi về

Tả hữu phù trì,cây cỏ thành binh

Những người phụ giúp thánh minh

Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai

Phùng thời nay hội thái lai,

Can qua chiến trận để người thưởng công,

Trẻ già được biết sự lòng

Ghi làm một bản để hòng dở xem

Đời này những Thánh cùng Tiên

Sinh những người hiền trị nước an dân

….

Nầy những lúc thánh nhân chưa lại

Chó còn nằm đầu khải cuối thu

Khuyên ai sớm biết khuông phù

Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngõ hầu

Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ

Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao

Thấy Sấm từ đây chép vào

Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa

*Còn có các tên gọi khác như Hồng Hà (Tiếng Hoa: 紅河 Honghe), hay sông Cái (người Pháp đã phiên tên gọi này thành Song-Koï). Đoạn chảy trên lãnh thổ Trung Quốc được gọi là Nguyên Giang (元江, pinyin yuan2 jiang1), đoạn đầu nguồn có tên là Lễ Xã Giang (禮社江). Đoạn từ Lào Cai đến Việt Trì gọi là Sông Thao, đoạn qua Hà Nội còn gọi là Nhĩ Hà hoặc Nhị Hà. song Hong

không phải tên người, phần sau lại nhắc đến thầy Nhân Thập, là một thánh nhân sẽ xuất hiện

Ðời này thánh kế vị vương

Ðủ no đạo đức văn chương trong mình

Uy nghi trạng mạo khác hình

Thác cư một gốc kim tinh phương đoài

Cùng nhau khuya sớm dưỡng nuôi

Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân

Binh thơ mấy quyển kinh luân

Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu

Thiên sinh hữu nhất anh hùng

Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà

Thái Nguyên cận Bắc đường xa

Ai mà tìm thấy mới là thần minh

Uy nghi dung mạo khác hình

Thác cư một góc kim tinh phương Đoài

Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi

Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân

Binh thư mấy quyển kinh luân

Thiên văn, địa lý, nhân dân phép mầu

Ai đặt quốc hiệu Việt Nam đầu tiên?

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cho biết, ông và một số đồng nghiệp đã phát hiện tổng số 12 bia niên đại thế kỷ 16, 17 có hai tiếng Việt Nam. Ngoài ra, còn một bản in khắc gỗ từ năm 1752 cũng có danh xưng Việt Nam. Như vậy, hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, và theo ông Giác Hải, Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể là người đầu tiên sử dụng tên gọi này như quốc hiệu.

* Vì sao ông lại quan tâm đến vấn đề này?

– Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải: Cách đây nhiều năm, tôi tình cờ đọc được một thắc mắc đăng trên báo quốc hiệu Việt Nam có từ bao giờ. Câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản nhưng tôi dám chắc phần lớn học sinh trung học, thậm chí đại học không trả lời được, vì đại đa số các sách giáo khoa của chúng ta không đề cập đến vấn đề này, còn tại sao thì xin dành cho các nhà biên soạn sách và các sử gia.

Ngay cuốn Lịch sử Việt Nam do Ủy ban Khoa học xã hội xuất bản năm 1976 cũng không hề nói tới điều này. Còn cuốn Bách khoa toàn thư Anh (1992) thì cho nhận định, hai tiếng Việt Nam bắt đầu từ thời Nguyễn do việc nhà Thanh bên Trung Hoa năm 1804 đã đảo ngược hai chữ Nam Việt mà Gia Long đề nghị sắc phong năm 1802. Điều này quả cũng có thực. Trong cuốn chính sử nhà Nguyễn Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất ký có ghi lại sự kiện này.

* Chính sử thời ấy đã khá rõ ràng, vì sao ông, một nhà nghiên cứu về sinh học và ngoại cảm lại không bằng lòng với cách giải thích này?

– Năm 1974, khi công tác ở Viện Khoa học Việt Nam, tôi bắt đầu nghiên cứu về ngoại cảm, về khoa học dự báo và tôi có được đọc tập sách dự báo Sấm Trạng Trình, được coi là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Khi nghiên cứu tập sấm này, đến bản AB 444 trong kho sách của Viện Hán Nôm, tôi bất đồ tìm thấy hai chữ Việt Nam ngay trong những dòng đầu tiên: Việt Narn khởi tổ xây nền. Theo quan niệm chính thống, hai chữ Việt Nam không được phép có mặt trước năm 1804, trong khi cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lại sống cách ta 500 năm. Vấn đề đặt ra là có thật hai chữ Việt Nam đã được dùng cách đây hơn 500 năm để chỉ tên gọi đất nước? Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm còn những ai đã dùng danh xưng Việt Nam? Liệu có những bằng chứng khảo cổ về vấn đề này? Song lúc đó không có điều kiện tiếp xúc với bản gốc nên phải tạm gác lại. Đến 1980, khi được tiếp xúc với bản gốc, tôi đã dành hơn 20 năm nay để nghiên cứu. Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (thế kỷ 19), thì từ thời nhà Trần, tiến sĩ Hồ Tông Thốc đã viết bộ sách Việt Nam thế chí. Cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi, trong thế kỷ 15 cũng đã nhiều lần nhắc đến hai tiếng Việt Nam. Song đáng tiếc, Việt Nam thế chí không còn nữa, chỉ còn được dẫn bài tựa trong Lịch triều hiến chương loại chí; còn Dư địa chí chỉ được khắc ván in ở thế kỷ 19 khi đã có quốc hiệu Việt Nam rồi, những bản trước không có niên hiệu rõ ràng.

* Ông có thể nói rõ hơn về quá trình tìm kiếm nguồn gốc tên gọi đất nước?

– Sau khi đọc được bản gốc Sấm Trạng Trình, tôi đã khẳng định được hai tiếng Việt Nam đã được sử dụng từ thế kỷ 15. Song bản sấm này được truyền lại qua những bản chép tay, cũng không ai dám chắc tác giả là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tôi liền chuyển qua tra cứu thơ văn của cụ để so sánh. Thật bất ngờ, hai tiếng Việt Nam được cụ nhắc tới bốn lần: Trong tập thơ Sơn hà hái động thường vịnh (Vịnh về núi non sông biển) đã đề cập tới. Rõ hơn, trong các bài thơ gửi trạng Giáp Hải, cụ có viết: “Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại, Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam”; còn trong bài gửi trạng Nguyễn Thuyến, “Tiền đồ vĩ đại quân tu ký / Thùy thị công danh trọng Việt Nam”.

Dẫu sao, đó cũng mới chỉ là những văn bản chép tay. Để khẳng định thêm, tôi đã đi tìm trong bi ký (bài ký trên bia đá). Nhờ một số nhà khoa học Viện Hán Nôm, tôi đã tìm ra trong bia trùng tu chùa Phúc Thánh (Quế Võ, Bắc Ninh) năm 1664, phần bài Minh có câu Việt Nam cảnh giới, Kinh Bắc thừa tuyên. Sau đó là bia trùng tu chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558, Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ, bia chùa Cam Lộ (Hà Tây), năm 1590, Chân Việt Nam chi đệ nhất. Tuy nhiên, phát hiện quan trọng nhất là tấm bia Thủy Môn Đình ở biên giới Lạng Sơn do trấn thủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm Cảnh Trị thứ tám (1670), có câu : Việt Nam hầu thiệt trấn bắc ải quan (Cửa ải phía Bắc Việt Nam). Đây là tấm bia có niên đại muộn hơn song nó có danh tính người soạn, hơn nữa đây là một mệnh quan triều đình, là phát ngôn chính thức.

Cho đến nay, sau tôi một số nhà nghiên cứu khác đã phát hiện tổng số 12 bia có hai tiếng Việt Nam. Tất cả đều có niên đại thế kỷ 16, 17. Ngoài ra, còn một bản in khắc gỗ có danh xưng Việt Nam năm 1752. Như vậy, hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, và cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên sử dụng, sử dụng nhiều nhất và có ý thức nhất.

* Theo những nghiên cứu của ông, có thể lý giải vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm là nguời đầu tiên sử dụng hai tiếng Việt Nam?

– Dân tộc ta bắt nguồn từ một bộ tộc Việt trong Bách Việt – chỉ tất cả các dân tộc phía nam Trung Hoa. Trong toàn bộ lịch sử, ta luôn dùng tử việt, để chỉ dân tộc và đất nước ta. Song cha ông ta cũng dùng từ “Nam” với ý nghĩa tương tự. Bài thơ Thần-tuyên ngôn độc lập đầu tiên, Lý Thường Kiệt viết: Nam quốc sơn hà nam đế cư. Từ Nam được dùng với nghĩa phương Nam để đối lại với phương Bắc (Trung Quốc). Trong thế kỷ 18, danh y Tuệ Tĩnh khi viết bộ sách khảo cứu về cây thuốc nước ta, lấy tên là Nam dược thần hiệu. Ngày nay ta vẫn nói thuốc nam-thuốc bắc.

Vì sao có thể coi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên sử dụng Việt Nam như là quốc hiệu? Thế kỷ 15, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê ở nước ta, nhà Minh bên Trung Quốc lấy cớ đem quân can thiệp. Nhà Mạc đầu hàng, Đại Việt lúc đó bị biến thành một quận của Trung Quốc, không còn quốc hiệu. Mạc Đăng Dung được nhà Minh phong làm An Nam đô sứ ty. Trên thực tế Mạc Đăng Dung vẫn là vua một nước, để vừa đối phó với triều đình phương Bắc, vừa an dân, tên nước được gọi là Việt Nam. Lúc ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm là học giả đứng đầu cả nước, nên nhiều khả năng ông đặt ra cách gọi này.

Do Trạng Trình được coi là một nhà tiên tri lỗi lạc, cũng có người muốn thần bí hóa bằng cách giải thích: Do nhìn thấy trước việc nhà Thanh phong vương cho Gia Long và gọi nước ta là Việt Nam nên ông đã gọi trước tên nước là Việt Nam để tránh sự lúng túng cho hậu thế: Tên gọi là do ngoại quốc áp đặt. Trên thực tế, vài chục năm sau, nhà Nguyễn để tránh bị phụ thuộc đã đổi tên nước là Đại Nam.

Dù giải thích thế nào, thì quốc hiệu Việt Nam cũng được Trạng Trình sử dụng đầu tiên, nhiều nhất và có ý thức nhất. Từ nguồn gốc này, lịch sử quốc hiệu đất nước không còn phụ thuộc vào hai triều đại phong kiến nữa.

* Nhân đây, ông có thể giải thích thế nào là quốc danh, quốc hiệu?

– Các tên gọi Văn Lang, Vạn Xuân, Đại Việt… đều được các sử gia sử dụng làm quốc hiệu. Còn các học giả xưa vẫn viết “Ngã Việt quốc, ngã Nam nhân” (Nước Việt ta, người Việt ta). Hai tiếng Việt Nam, qua các thư tịch cổ thì mới chỉ là quốc danh, song rất hạn chế. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tên gọi Việt Nam chính thức thành tên gọi đất nước (quốc danh). Hiến pháp 1946 viết “Nước Việt Nam là một nước theo chế độ dân chủ cộng hòa”. Như vậy, Việt Nam dân chủ cộng hòa mới trở thành quốc hiệu, đến nay 1976 quốc hiệu này được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nguyễn Phúc Giác Hải, nhà sinh học trở thành chủ nhiệm môn Khoa học Dự báo

Xuất thân là dân sinh vật học, sau khi ra trường, Nguyễn Phúc Giác Hải về dạy ở Trường Bổ túc văn hóa Trung ương, Trường Trung cấp sư phạm Trung ương, năm 1964, ông về Viện Khoa học Việt Nam nghiên cứu di truyền học.

Sau thời gian nghỉ việc tới năm 1990 ông trở lại Viện Khoa học Việt Nam (nay là Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia), làm đúng công việc từng khiến ông phải ra đi: Nghiên cứu ngoại cảm. Hiện giờ, Nguyễn Phúc Giác Hải đang là chủ nhiệm bộ môn Khoa học Dự báo (Dự báo học) thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người. “Tôi phải cảm ơn số phận, nhờ có 14 năm long đong, tôi có điều kiện tự do nghiên cứu những gì mình thích. Nếu như cuộc đời cứ bình lặng, có lẽ tôi đã đi sâu nghiên cứu về di truyền, làm vài công trình, rồi bảo vệ luận án… Nếu không đi sâu tìm hiểu về ngoại cảm, có lẽ tôi đã không đọc sấm trạng Trình và cũng chẳng tìm ra nguồn gốc hai tiếng Việt Nam và cũng chẳng dính dáng gì đến Khoa học Dự báo” – ông tâm sự.

Còn một năm nữa, ông sẽ bước sang tuổi “cổ lai hy”. Ông đang chạy đua với thời gian để hoàn chỉnh bốn nghiên cứu mới của mình: Mã số vũ trụ; Những vấn đề bí ẩn về hoạt động của bộ não; kinh dịch dưới ánh sáng của khoa học; Dự báo học và những nhà tiên tri xuyên thế kỷ. Còn trước mắt, ông sẽ cho ra đời cuốn sách “Đi tìm cội nguồn tên gọi đất nước: Hai tiếng Việt Nam có từ bao giờ?

Thành Lân

Phần II

2. SẤM TRẠNG TRÌNH

Vận lành mừng gặp tiết lành

Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu

Một câu là một nhiệm màu

Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao

Trải vì sao mây che Thái Ất

Thủa cung tay xe nhật phù lên

Việt Nam khởi tổ xây nền

Lạc Long ra trị đương quyền một phương

Thịnh suy bỉ thái lẽ thường

Một thời lại một nhiễu nhương nên lề

Ðến Ðinh Hoàng nối ngôi cửu ngủ

Mở bản đồ rủ áo chấp tay

Ngự đao phút chốc đổi thay

Thập bát tử rày quyền đã nổi lên

Ðông A âm vị nhi thuyền

Nam phương kỳ mộc bỗng liền lại sinh

Chấn cung hiện nhật quang minh

Sóng lay khôn chống trường thành bền cho

Ðoài cung vẻ rạng trăng thu

Ra tay mở lấy Đế đô vạn toàn

Sang cửu thiên ám vầng hồng nhật

Dưới lẫn trên năng vẫn uống quen

Sửa sang muôn việc cầm quyền

Ngồi không ai dễ khẳng nhìn giúp cho

Kìa liệt vương khí hư đồ ủng

Mặc cường hầu ong ỏng tranh khôn

Trời sinh ra những kẻ gian

Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài

Áo vàng ấm áp đà hay

Khi sui đắp núi khi say xây thành

Lấy đạt điền làm công thiên hạ

Ðược mấy năm đất lở giếng mòn

Con yết ạch ạch tranh khôn

Vô già mở hội mộng tôn làm chùa

Cơ trời xem đã mê đồ

Ðã đô lại muốn mở đô cho người

Ấy lòng trời xuôi lòng bất nhẫn

Suốt vạn dân cừu giận oán than

Dưới trên dốc chí lo toan

Những đua bán nước bán quan làm giàu

Thống (統 ?) rủ nhau làm mồi phú quí

Mấy trung thần có chí an dân ?

Ðua nhau làm sự bất nhân

Ðã tuần bốn bể lại tuần đầu non

Dư đồ chia xẻ càn khôn

Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau

Vội sang giàu giết người lấy của

Sự có chăng mặc nọ ai đôi

Việc làm thất chính tơi bời

Minh ra bổng lại thất thôi bấy giờ

Xem tượng trời đã giơ ra trước

Còn hung hăng bạc ngược quá xưa

Cuồng phong cả sớm liền trưa

Ðã đờn cửu khúc còn thơ thi đề

Ấy Tần Vương ngu mê chẳng biết

Ðể vạn dân dê lại giết dê

Luôn năm chật vật đi về

Âm binh ở giữa nào hề biết đâu

Thấy nội thành tiếng kêu ong ỏng

Cũng một lòng trời chống khác nào

Xem người dường vững chiêm bao

Nào đâu còn muốn ước ao thái bình

Một góc thành làm tâm chứng quỷ

Ðua một lòng ích kỷ hại nhân

Bốn phương rời rỡ hồng trần

Làng khua mỏ cá lãng phân điếm tuần

Tiếc là những xuất dân làm bạo

Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau

Nhân danh trọn hết đâu đâu

Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê

Hùm già lạc dấu khôn về

Mèo non chi chí tìm về cố hương

Chân dê móng khởi tiêu tường

Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình ?

Nội thành ong ỏng hư kinh (M-L?)

Ðầu khỉ tin sứ trèo thành lại sang

Bở mồ hôi Bắc giang tái mã

Giửa hai xuân bỗng phá tổ Long

Quốc trung kinh dụng cáo không

Giữa năm giả lai kiểm hung mùa màng

Gà đâu sớm gáy bên tường

Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không

Thủy binh cờ phất vầng hồng

Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng

Ðứng hiên ngang đố ai biết trước

Ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?

Ai còn khoe trí khoe năng

Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi

Chưa từng thấy đời nay sự lạ

Bổng khiến người giá họa cho dân

Muốn bình sao chẳng lấy nhân

Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày

Ðã nên si Hoàn Linh đời Hán

Ðúc tiền ra bán tước cho dân

Xum xoe những rắp cậy quân

Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công

Máy Hoá công nắm tay dễ ngỏ

Lòng báo thù ai dễ đã nguôi ?

Thung thăng tưởng thấy đạo trời

Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra

Cát lầm bốn bể can qua

Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về

Quân hùng binh nhuệ đầy khe

Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời

Bấy giờ càng khốn than ôi

Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?

Thương những kẻ ăn rau ăn giới

Gặp nước bung con cái ẩn đâu

Báo thù ấy chẳng sai đâu

Tìm non có rẫy chừng sau mới toàn

Xin những kẻ hai lòng sự chúa

Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân

Cho nên phải báo trầm luân

Ai khôn mới được bảo thân đời này

Nói cho hay Khảm cung rồng dấy

Chí anh hùng xem lấy mới ngoan

Chử rằng lục thất nguyệt gian

Ai mà nghĩ được mới gan anh tài

Hễ nhân kiến đã dời đất cũ

Thì Phụ Nguyên mới trổ binh ra

Bốn phương chẳng động can qua

Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi

Bấy giờ mở rộng qui khôi

Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn

Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh

Hoàng phúc xưa đã định tây phong

Làu làu thế giới sáng trong

Lồ lộ mặt rồng đầu có chử vương

Rỏ sinh tài lạ khác thường

Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài

Xem ý trời có lòng đãi thánh

Dốc sinh hiền điều đỉnh nội mai

Chọn đầu thai những vì sao cả

Dùng ở tay phụ tá vương gia

Bắc phương chính khí sinh ra

Có ông Bạch sĩ điều hoà sớm mai

Song thiên nhật rạng sáng soi

Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường

Ðời này thánh kế vị vương

Ðủ no đạo đức văn chương trong mình

Uy nghi trạng mạo khác hình

Thác cư một gốc kim tinh phương đoài

Cùng nhau khuya sớm dưỡng nuôi

Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân

Binh thơ mấy quyển kinh luân

Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu

Ở đâu đó anh hùng hẳn biết

Xem sắc mây đã biết thành long

Thánh nhân cư có thụy cung

Quân thần đã định gìn lòng chớ tham

Lại dặn đấng tú nam chí cả

Chớ vội vàng tất tả chạy rong

Học cho biết lý kiết hung

Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi

Hễ trời sinh xuống phải thì

Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông

Kìa những kẻ vội lòng phú quí

Xem trong mình một thí đều không

Ví dù có gặp ngư ông

Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng

Xin khuyên đấng thời trung quân tử

Lòng trung nghi ai nhớ cho tinh

Âm dương cơ ngẩu ngô sinh

Thái nhâm thái ất trong mình cho hay

Văn thì luyện nguyên bài quyết thắng

Khen Tử Phòng cùng đấng Khổng Minh

Võ thông yên thủy thần kinh

Ðược vào trận chiến mới càng biến cơ

Chớ vật vờ quen loài ong kiến

Biết ray tay miệng biếng nói không

Ngỏ hay gặp hội mây rồng

Công danh sáng chói chép trong vân đài

Bấy giờ phỉ sức chí trai

Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình

Nặng lòng thật có vĩ kinh

Cao tay mới ngẩm biết tình năm nao

Trên trời có mấy vì sao

Ðủ nho biền tướng anh hào đôi nơi

Nước Nam thường có thánh tài

Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường

So mấy lời để tàng kim quĩ

Chờ hậu mai có chí sẽ cho

Trước là biết nẻo tôn phò

Sau là cao chí biết lo mặc lòng

Xem Đoài cung đến thời bất tạo

Thấy Vĩ tinh liệu rạo (chạy) cho mau

Nguôi lòng tham tước tham giàu

Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân

Trẻ con mang mệnh tướng quân

Ngỡ oai đã dấy ngỡ nhân đã nhường

Ai lấy gương vua U thủa trước

Loạn ru vì tham ngược bất nhân

Ðoài phương ong khởi lần lần

Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn

Man mác một đỉnh Hoành Sơn

Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù

Ấy là những binh thù Thái Thái

Lòng trời xui ai nấy biết ru ?

Phá điền đầu khỉ cuối thu

Tái binh mới động thập thò liền sang

Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết

Vả lại thêm hung kiệt mất mùa

Lưu tinh hiện trước đôi thu

Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm

Xem thấy những sương săm tuyết lạnh

Loài bất bình tranh mạnh hung hăng

Thành câu cá, lửa tưng bừng

Kẻ ngàn Ðông Hải người rừng Bắc Lâm

Chiến trường chốn chốn cát lầm

Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông

Sang thu chín huyết hồng tứ giả

Noi đàng dê tranh phá đôi nơi

Ðua nhau đồ thán quần lê

Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương

Kẻ thì phải thủa hung hoang

Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan

Kẻ thì mắc thủa hung tàn

Kẻ thì bận của bỗng toan khốn mình

Muông vương dựng ổ cắn tranh

Ðiều thì làm chước xuất binh thủ thành

Bời bời đua mạnh tranh giành

Ra đâu đánh đấy đem binh sớm ngày

Bể thanh cá phải ẩn cây

Ðất bằng nổi sấm cát bay mịt mù

Nào ai đã dễ nhìn U

Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn

Cây bay lá lửa đôi ngàn

Một làng còn mấy chim đàn bay ra

Bốn phương cùng có can qua

Làm sao cho biết nơi nào bảo thân

Ðoài phương thực có chân nhân

Quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người

Tìm cho được chốn được nơi

Thái nguyên một giải lần chơi trú đình

Bốn bề núi đá diễu quanh

Một đường tiểu mạch nương mình dấy an

Hễ Ðông Nam nhiều phen tàn tạc

Tránh cho xa kẻo mắc đao binh

Bắc kinh mới thật Đế kinh

Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào ?

Chim hồng vỗ cánh bay cao

Tìm cho được chốn mới vào Thần kinh

Ai dễ cứu con thơ sa giếng

Ðưa một lòng tranh tiếng dục nhau

Vạn dân chịu thủa u sầu

Kể dư đôi ngủ mới hầu khoan cho

Cấy cày thu đãi thời mùa

Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai

Nhân ra cận duyệt viễn lai

Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm

Xem tượng trời biết đường đời trị

Ngẩm về sau họ Lý xưa nên

Giòng nhà để lấy dấu truyền

Ngẩm xem bốn báu còn in đời đời

Thần Qui cơ nổ ở trời

Ðể làm thần khí thủa nơi trị trường

Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh

Sông Bảo Giang thiên định ai hay

Lục thất cho biết ngày dài

Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê

Có thầy nhân thập đi về

Tả phụ hửu trì cây cỏ làm binh

Giốc hết sức sửa sang Vương nghiệp

Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời

Ra tay điều chỉnh hộ mai

Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân

Lọ là phải nhọc kéo quân

Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về

Năm Giáp Tí vẽ khuê đã rạng

Lộ Ngũ tinh trinh tượng thái hanh

Ân trên vũ khí vân hành

Kẻ thơ ký tuý kẻ canh xuân đài

Bản đồ chẳng sót cho ai

Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn

Vững nền Vương cha truyền con nối

Dõi muôn đời một mối xa thư

Bể kình tâm lặng bằng tờ

Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân

Âu vàng khỏe đặt vững chân

Càng bền thế nước Vạn Xuân lâu dài

Vừa năm Nhâm Tý xuân đầu

Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời

Quyển vàng mở thấy sấm trời

Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian

Mỗi thời có một tôi ngoan

Giúp trong việc nước gặp an thái bình

Luận chung một tập kim thời

Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi

Trượng phu có chí thời coi

Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng

Tài nầy nên đấng vẻ vang

Biết chừng đời trị biết đường đời suy

Kể từ nhân đoản mà đi

Số chưa gặp thì biết hoà chép ra

Tiếc thay hiền sĩ bao già

Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công

Thử cho tay giúp ra dùng

Tài này so cùng tài trước xem sao ?

Trên trời kể chín tầng cao

Tay nghe bằng một ti hào biết hay ?

Hiềm vì sinh phải thời này

Rấp thù mở nước tiếc thay chưng đời

Hợp đà thay thánh nghìn tài

Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời

Nói ra thì lậu sự đời

Trái tai phải lụy tài trai khôn luần

Nói ra am chúa bội quân

Ðương thời đời trị xoay vần được đâu

Chờ cho nhân đoản hết sau

Ðến chừng đời ấy thấy âu nhiễu nàn

Trời xui những kẻ ắt gian

Kiếp độc đạo thiết lăng loàn có hay

Vua nào tôi ấy đã bày

Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn

Ðua nhau bội bạn nghịch vi

Ích gia phi kỉ dân thì khốn thay

Tiếc tài ngẩm được thời hay

Ðã sao như vậy ra tay sẽ dùng

Tài trai có chí anh hùng

Muốn làm tướng súy lập công xưng đời

Khá xem nghiệm nhặt tội trời

Cơ mưu nghiệm nhặt mấy trai anh hùng

Ði tìm cho đến đế cung

Rấp phù xuất lực đế cung được toàn

Bảo nhau cương kỷ cho tường

Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài

Chờ cho động đất chuyển trời

Bấy giờ thánh sẽ nên tay anh hùng

Còn bên thì náu chưa xong

Nhân lực cướp lấy thiên công những là

Ðời ấy những quỉ cùng ma

Chẳng còn ở thật người ta đâu là

Trời cao đất rộng bao xa

Làm sao cho biết cửa nhà đế vương ?

Dù trai ai chửa biết tường

Nhất thổ thời sĩ Khảm phương thuở này

Ý ra lục thất gian nay

Thời vận đã định thời nầy hưng vương

Trí xem nghiệm nhặt cho tường

Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy

Vua ngự thạch bàn xa thay

Ðại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng

Gà kêu vượn hót vang lừng

Ðường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò

Nhân dân vắng mạt bằng tờ

Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay

Vua còn cuốc nguyệt cày mây

Phong điều vũ thuận thú rày an dân

Phong đăng hoà cốc chứa chan

Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây

Chính cung phương Khảm vần mây

Thực thay thiên tử là nay trị đời

Anh hùng trí lượng thời coi

Công danh chẳng ngại tìm đòi ra đi

Tìm lên đến thạch bàn khê

Có đất sinh thánh bên kia cuối làng

Nhìn đi nhìn lại cho tường

Dường như chửa có sinh vương đâu là

Chảng tìm thì đến bình gia

Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình

Nhìn xem phong cảnh cũng xinh

Tả long triều lại có thành đợt vây

Hửu hổ uấn khúc giang này

Minh Ðường thất diệu trước bày mặt tai

Ở xa thấy một con voi

Cúi đầu quen bụi trông vời hồ sâu

Ấy điềm thiên tử về chầu

Tượng trưng đế thánh tô lâu trị đời

Song thiên nhật nguyệt sáng soi

Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu

Ðến đời thịnh vượng còn lâu

Ðành đến tam hợp chia nhau sẽ làm

Khuyên cho Ðông Bắc Tây Nam

Muốn làm tướng súy thì xem trông này

Thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn

Một nhà họ Nguyễn (?)* phúc sinh tôn

Tiền sinh cha mẹ đà cách trở

Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn

Kìa cơn gió thổi lá rung cây

Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây

Tan tác kiến kiều an đất nước

Xác xơ cổ thụ sạch am mây

Sơn lâm nổi sóng mù thao cát

Hưng địa tràng giang hóa nước đầy

Một gió một yên ai sùng bái

Cha con người Vĩnh Bảo (?)* cho hay

(?)*Đoạn này vua Tự Đức sửa

Con mùng búng tít con quay

Vù vù chong chóng gió bay trên đài

Nhà cha cửa đóng then cài

Ầm ầm sấm động hỏi người đông lân

Tiếc tám lạng thương nửa cân

Biết rằng ai có du phần như ai

Bắt tay nằm nghỉ dông dài

Thương người có một lo hai phận mình

Canh niên Tân phá

Tuất Hợi phục sinh

Nhị Ngũ dư bình

Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua tứ xứ loạn đao binh

Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu

Có một đàn xà đánh lộn nhau

Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng

Lợn kia làm quái phải sai đầu

Chuột nọ lăm le mong cản tổ

Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu

Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

Tìm về quê cũ bắt ngựa Tàu

Cửu cửu kiền khôn dĩ định

Thanh minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo Dương đầu Mã vĩ

Hồ binh bát vạn nhập trường an

Bảo Giang thiên tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

Lê dân bảo bảo noản

Tứ hải lạc âu ca

Dục đức thánh nhân hương

Qua kiều cư Bắc phương

Danh vi Nguyễn gia tử

Kim tịch sinh ngưu lang

Thượng đại nhân bất nhân

Thánh ất dĩ vong ân

Bạch hổ kim đai ấn

Thất thập cổ lai xuân

Bắc hữu kim thành tráng

Nam tạc ngọc bích thành

Hỏa thôn đa khuyển phệ

Mục giả dục nhân canh

Phú quí hồng trần mộng

Bần cùng bạch phát sinh

Anh hùng vương kiếm kích

Manh cổ đổ thái bình

Nam Việt hữu Ngưu tinh

Quá thất thân thủy sinh

Ðiạ giới sĩ vị bạch

Thủy trầm nhi Bắc kinh

Kỷ mã xu dương tẩu

Phù kê thăng đại minh

Trư thử giai phong khởi

Thìn mão xuất thái bình

Phân phân tùng Bắc khởi

Nhiểu nhiểu xuất Ðông chinh

Bảo sơn thiên tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

Thủy trung tàng bảo cái

Hứa cập thánh nhân hương

Mộc hạ châm châm khẩu

Danh thế xuất nan lương

Danh vi Nguyễn gia tử

Tinh bản tại ngưu lang

Mại dử lê viện dưỡng

Khởi nguyệt bộ đại giang

Hoặc kiều tam lộng ngạn

Hoặc ngụ kim lăng cương

Thiên dử thần thực thụy

Thụy trình ngũ sắc quang

Kim kê khai lựu điệp

Hoàng cái xuất quí phương

Nhân nghĩa thùy vi địch

Ðạo đức thực dữ đương

Tộ truyền nhị thập ngủ

Vận khải ngủ viên trường

Vận đáo dương hầu ách

Chấn Đoài cương bất trường

Quần gian đạo danh tự

Bách tính khổ tai ương

Can qua tranh đấu khởi

Phạm địch tánh hung hoang

Ma vương sát đại quỉ

Hoàng thiên tru ma vương

Kiền khôn phú tai vô lương

Ðào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng

Cơ nhị ngủ thư hùng vị quyết

Ðảo Hoành sơn tam liệt ngũ phân

Ta hồ vô phụ vô quân

Ðào viên tán lạc ngô dân thủ thành

Ðoài phương phước điạ giáng linh

Cửu trùng thụy ứng long thành ngũ vân

Phá điền thiên tử giáng trần

Dũng sĩ nhược hải mưu thần như lâm

Trần công nại thị phúc lâm

Giang hồ tử sĩ Đào Tiềm xuất du

Tướng thần hệ xuất Y Chu

Thứ kỵ phục kiến Ðường Ngu thi hành

Hiệu xưng thiên hạ thái bình

Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia .

— Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm —

Tôi chưa có ý định đi vào chi tiết xem tên các vị Thánh Vương trong Sấm tên gì ? ở đâu ?, vì điều đó không thiết thực, tôi đọc để cảm nhận trước rồi tìm cách tách ra cho đúng từng đoạn, sắp lại theo thời gian từ Lạc Long Quân cho tới về sau này, để tìm được đoạn nào đang ở thời gian hiện nay, các bản thì sắp phần 2 trên đầu, tôi nghĩ phần một bắt đầu từ:

Nước Nam từ họ Hồng Bàng

Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần

Tự Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước

Đã bao lần ngôi nước đổi thay

Núi sông thiên định đặt bày.

Đồ thư một quyển xem nay mới rành

Có lẽ hợp lý hơn để đi tới đoạn kết:

Phá điền thiên tử giáng trần

Dũng sĩ nhược hải mưu thần như lâm

Trần công nại thị phúc lâm

Giang hồ tử sĩ Đào Tiềm xuất du

Tướng thần hệ xuất Y Chu

Thứ kỵ phục kiến Ðường Ngu thi hành

Hiệu xưng thiên hạ thái bình

Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia

Trong các Sấm có những đoạn nói tới:

Thương những kẻ nam nhi chí cả

Chớ vội sang tất tả chạy rong

Học cho biết chữ cát hung

Biết cho phương hướng chớ đừng lầm chi

Khuyên những đấng thời trung quân tử

Lòng trung nghiã nên giữ cho mình

Âm dương cơ ngẫu hộ sinh

Thái Nhâm Thái Ất bên mình cho hay

Chớ vật vờ quen loài ong kiến

Hư vô bàn miệng tiếng thì nói không

Cho nên phải báo trầm luân

Ai khôn mới được bảo thân đời này

Ô hô thế sự tự bình bồng,

Nam Bắc hà thời thiết lộ không

Hồ ẩn sơn trung mao tân bạch

Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng

Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc

Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông

Nhược đãi ưng lai sư tử thượng

Tứ phương thiên hạ thái bình phong (豐 hoặc 封, 丯)

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh

Can qua xứ xứ khổ đao binh

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Rồi mới đến:

Chó mừng chúa, gà bày cục tác,

Lợn ăn no thả rác nằm chơi.

Chó nọ vẫy đuôi mừng Thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày

Nếu kết hợp với lời tiên tri của ông Nostradamus và tình hình hiện nay trên thế giới thì khó tránh khỏi, Nostradamus World War III – 2012 – 2013 (Nhâm Thìn – Quý Tỵ ?)

Tham khảo:

Mỹ – Iran, cuộc chiến tranh xẩy ra ở Trung Đông hoặc Bắc Hàn, nếu không kiềm chế thì sẽ đi tới hạt nhân và hậu quả trong rồi sau hạt nhân sẽ là thiên tai, đoí rét, bệnh tật…, cho nên còn có câu Sấm cho là của Trạng Trình mà tôi chưa tìm được tư liệu đầy đủ ở đâu:

Mười phần chết bẩy còn ba

Chết hai còn một mới ra thái bình.

Nếu các bạn có tư liệu xin cho biết để tổng hợp lại cùng suy luận.

Nếu biết được giai đoạn này và có thể thoát (nhờ trời, nhờ tiên liệu, nhờ ân phúc …) thì sẽ có ngày chúng ta biết được vị Thánh nhân đó là ai ? tên gì ?…

Nhà tiên tri Nostradamus đã tiên đoán tương lai như cụ Trạng Trình, cũng có những ứng nghiệm và nhiều người bàn tán lưu truyền đến tận ngày nay, các vị giáo sư, các nhà học giả đã nghiên cứu về lời tiên tri của ông Nostradamus một cách nghiêm túc, ở các nước Âu Mỹ khi đã có vấn đề làm cho nhiều người quan tâm, thì họ cùng nhau nghiên cứu một cách nghiêm túc để đưa ra cho mọi người hiểu biết sự thật, cho dù lãnh vực đó là huyền bí, phản khoa học…, ví dụ như: UFO, ma quỉ, tâm linh, siêu linh, bùa chú, họ vẫn không gạt bỏ cho là nhảm nhí phi lý…chúng ta nên học theo họ để được sự hiểu biết sự thật thay vì chê bai, bài kích, bác bỏ…

Sấm Ký Ghi Vụ New York Bị Tấn Công, Mỹ Sẽ Thắng Cuộc Chiến Tận Diệt:

Nostradamus Đoán Sẽ Có Thế Chiến Dài 3 Năm 7 Tháng

Phỏng vấn nhà lý số Đoàn Văn Thông

Như quý vị đã biết, sáng thứ ba, ngày 9 tháng 11 năm 2001 nước Mỹ đã bị chấn động dữ dội vì những cuộc Khủng bố kinh hoàng đã xảy ra tại Trung tâm mậu dịch thế giới ở New-York và tại Ngũ Giác Đài gây chết chóc đau thương hàng chục nghìn người.

Sự kiện đặc biệt sau vụ khủng bố là nhiều người sực nhớ tới là sự đối chiếu những gì đã xảy ra có nhiều điểm trùng hợp với nhũng gì mà nhà Chiêm tinh người Pháp lừng danh sống cách đây khoảng 500 năm đã nêu ra.

Sau đây là cuộc phỏng vấn ông Đoàn văn Thông, người chuyên tìm hiểu các sự kiện liên quan tới vấn đề suy đoán tương lai, ông cũng là người đã từng nêu vấn đề này trên báo chí tại hải ngoại từ năm 1999 có nhắc tới sự kiện nhà Chiêm tinh Nostradamus đã đoán trước sự kiện khủng khiếp xảy ra tại New- York một cách vô cùng chính xác. Chúng tôi xin ghi lại cuộc phỏng vấn giới hạn này hầu cống hiến tới quý vị độc giả thân mến.

HỎI: Chúng tôi biết ông Thông thường hay viết về các đề tài liên quan tới các nhà Chiêm tinh nổi tiếng như Nostradamus, Dixon, Tamara, Geloba, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vân vân. Xin ông Thông cho biết sự kiện khủng bố đã xảy ra tại Hoa Kỳ liên hệ tới sấm ký của nhà chiêm tinh lừng danh Nostradamus như thế nào khiến nhiều người dân tại một số nước Á châu xôn xao lo ngại như vậy ?

TRẢ LỜI: Theo chúng tôi nghĩ thì trên thế giới rất nhiều người đã từng đọc qua Sấm ký Nostradamus. Đấy là nhà chiêm tinh, nhà thiên văn, Vật lý và cũng là một thầy thuốc lỗi lạc của nước Pháp sống cách nay khoảng 500 năm ( ông sinh năm 1503 mất năm 1566). Những lời suy đoán của nhà chiêm tinh Nostradamus phần lớn đều chính xác khiến mọi người trên thế giới đều phải kinh ngạc và kính phục. Nay sự kiện khủng bố xảy ra tại Hoa Kỳ lại vô cùng trùng hợp một cách chính xác về lời tiên tri của Nostradamus từng chi tiết thì làm sao họ không khỏi bàn tán lo âu. ?

HỎI: Có thể nêu ra một số suy đoán chính xác của Nostradamus trước đây hay không ?

TRẢ LỜI: Vâng. Nhà chiêm tinh Nostradamus đã viết ra những câu thơ để nói lên những tiên đoán với lời lẽ ẩn tàng bên trong về các sự kiện xảy ra trong tương lai. Những câu sấm ấy giống như hình thức mà Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm của Việt Nam đã dùng để đoán về tương lai vậy. Điều kỳ diệu là các khổ thơ trong cuốn sấm ký của nhà tiên tri Nostradamus lần lượt nói lên rất chính xác các sự kiện xảy ra trong tương laiù. Cuốn sấm ký của ông suy đoán tới mấy nghìn năm sau khi ông qua đời. Ví dụ như ông suy đóan về cái chết thảm khốc của vua Henry Đệ Nhị Pháp chết trong cuộc đấu thương vào năm 1559. Ông đoán trước được cả ngày tháng mà ngục Bastille bị phá bởi dân chúng Pháp nổi dậy vào nàm 1789, sự kiện xảy ra sau khi ông qua đời đã 223 năm, việc hai trái bom nguyên tử thả xuống đất Nhật, vụ cháy kinh hoàng tại Luân Đôn năm 1666, vụ cháy phi thuyền con thoi của Hoa Kỳ mang theo 7 phi hành gia vào năm 1985.. vân vân. Sự kiện kỳ diệu lạ lùng hơn nữa là nhà chiêm tinh Nostradamus còn tự đoán đúng ngày tháng, năm ông qua đời cũng như ngày tháng năm thi hài ông được cải táng.

HỎI: Vậy còn về sự kiện suy đoán của Nostradamus về thời điểm từ năm 2000 ra sao đã khiến nhiều người nhất là người dân Singapore lo âu như vừa nói?

TRẢ LỜI: Nếu tìm hiểu các khổ thơ trong cuốn Sấm ký Nostradamus suy đoán tình hình thế giới vào thời điểm này thì lại càng kinh ngạc, nhất là khi nhà tiên tri Nostradamus mô tả chính xác về sự kiện đã xảy ra tại New-York và cho biềt nhân loại sẽ phải trải qua một trận chiến tranh tàn khốc nữa sau hai trận thế chiến I và II. Trận thế chiến thứ ba khởi đầu từ khổ thơ sau đây khi nhân loại đi vào thiên niên kỷ mới từ năm 2000: từ khổ thơ 91 tới 97:

Vào lúc bình minh, bầu trời nơi vĩ độ 45 bùng cháy,

Lửa, khói bao trùm thành phố Mới mẻ to lớn.

Những ngọn lửa khổng lồ bốc lên trời cao..

(khổ thơ 97)

.. ..

Theo sấm ký Nostradamus thì sự kiện khủng khiếp xảy ra tại thành phố nêu trên là vào năm 2000. Xem bản đồ thế giới, ở vĩ độ từ 40 tới 45 là vĩ độ mà thành phố New- York định vị ở đó. Chữ New – York được xác định từ những chữ thành phố Mới mẻ to lớn. Chữ Mới phải chăng là chữ New ? Thời gian xảy ra thì chỉ chênh lệch có một năm mà thôi. Sự kiện xảy ra vào buổi sáng và khổ thơ đã mô tả thời điểm lúc bình minh, thật không gì chính xác bằng.

Những người nhạy cảm dễ lo lắng khi đọc khổ thơ trên của nhà chiêm tinh Nostradamus sẽ vô cùng lo sợ vì rõ ràng sự kiện vừa xảy ra tại New- York hoàn toàn trùng khờp với những suy đoán và mô tả của nhà tiên tri cách đây đến mấy trăm năm. Từ địa điểm, hiện tượng thành phố New-York bùng cháy, bị phủ đầy khói lửa theo mô tả từ các câu thơ trong sấm ký Nostradamus đã diễn ra rõ ràng qua các hình ảnh chiếu trên tivi mà mọi người trên thế giới thấy rõ ràng, trung thực tại thành phố New- York.

Ta còn bắt gặp một đoạn thơ mô tả chi tiết hơn:

Vào buổi rạng đông,

Một ngọn lửa khổng lồ bùng lên lan tỏa tới miền Bắc,

Khắp nơi đầy tiếng than khóc và sự chết chóc..

(khổ thơ 91)

HỎI: Địa điểm New- York đã được Nostradamus mô tả chính xác như thế

Vậy còn Ngũ Giác Đài Pentagon bị khủng bố tấn công có được Nostradamus nói đến hay không?

TRẢ LỜI: Phải nói là rất lạ lùng khi sấm ký Nostradamus mô tả điều mà nhiếu sách nước ngoài bàn về ý nghĩa có phần mơ hồ. Nay sự kiện đã xảy ra thì sự khẳng định mới chắc chắn. Chúng tôi muốn nói tới khổ thơ sau đây:

Một Ngôi sao vĩ đại bùng cháy,

Lửa và khói tỏa ra trong bảy ngày

Tạo thành đám mây che phủ mặt trời,

Quyền lực cụp tai lại suốt đêm đen..

Ai cũng biết Ngũ Giác Đài có dạng ngôi sao 5 cánh và đã bị bùng cháy do chiếc phi cơ khủng bố đâm sầm vào một góc . Một ngôi sao vĩ đại bùng cháy – Câu thơ đầụ mô tả quả thật là chính xác. Riêng câu cuối chữ quyền lực nói lên siêu cường Hoa Ky và siêu cường này đã bị cuộc tấn công vào tận đầu não mình trong bất ngờ phải bị khựng lại trong một lúc, vào giai đoạn tối tăm khủng khiếp bất ngờ (cụp tai lại suốt đêm đen).

HỎI: Sấm ký Nostradamus có cho biết thêm chi tiết những gì sẽ xảy ra sau vụ khủng bố tại New- York và tại Ngũ Giác Đài hay không?

TRẢ LỜI: Trước khi trả lời tiếp câu hỏi này, chúng tôi xin khẳng định lại rằng tất cả những gì đã được trình bày, trả lời đều dựa vào sấm ký của nhà chiêm tinh Nostradamus và các tài liệu liên quan chớ không phải do tự chúng tôi suy đoán, xin quý vị thông cảm.

Để trả lời câu hỏi vừa nêu, trước hết chúng ta hãy xem qua một số đoạn của cuốn sấm ký Nostradamus đã cho biết qua các khổ thơ nhắc tới một thế lực rất mạnh mẽ, thế lực đó là thế lực nào?. Trong khổ thơ 96 của tập sấm ký Nostradamus có câu như sau:

Một giáo phái cầm đầu bởi Adaluncatif.

Những nhà suy đoán sấm ký Nostradamus Tây phương đều cho rằng: chữ Adaluncatif là cách ghép chữø của hai chữ Cadafi và Lunca, tức là Cadafi Mặt Trăng, Mặt trăng lưỡi liềm ám chỉ Hồi Giáo còn Cadafi là tên của một nhân vật Hồi giáo nổi tiếng về những hành động khủng bố trước đây (năm 1986). Vào giai đoạn đó, Hoa Kỳ đã bắt đầu hành động trả đủa các vụ khủng bố và đó là giai đoạn mở đầu cho thế chiến thứ III khi năm 2000 đến và ngày nay lại xuất hiện thêm những nhân vật Hồi giáo cực đoan quá khích như Mullah Muhammad Omar, Osama bin Laden vân vân .

Hầu hết các sách lý giải về các khổ thơ gọi là Sấm ký do chính nhà chiêm tinh lừng danh Nostradamus ghi chép thì đều cho rằng : Nostradamus đã khẳng định là cuộc chiến thứ ba của thế giới sẽ xảy ra bắt đầu từ cuộc tấn công thành phố có tên Mới mẻ tức là thành phố New-York. Thật ra cuộc tấn công hết sức quy mô chớ không phải chỉ tập chú vào có New-York mà còn nhiều nơi khác trên nước Mỹ, điều mà chúng ta ngày càng thấy rõ qua cuộc đại khủng bố vừa xảy ra.

Từ những điều hầu như hoàn toàn chính xác khi so sánh những khổ thơ của sấm ký Nostradamus với những gì đã xảy ra mấy ngày qua, chính xác về thời gian, về nơi chốn địa điểm cũng như chính xác cả về những hình ản mô tả trong khổ thơ sấm ký đã khiến nhiều người ở nhiều quốc gia trên thế giới càng tin vào hậu quả của những gì mà Nostradamus tiên đoán sau cuộc đại khủng bố này.

HỎI: Như vậy: theo nhà chiêm tinh Nostradamus thì sau khi New-York bị tấn công bùng cháy trong biển lửa khủng khiếp như ông ta đã tiên đoán chính xác tới 90% như vậy thì những tiên tri kế tiếp của nhà chiêm tinh này như thế nào? Nostradamus có khẳng định là thế chiến thứ III sẽ phải xảy ra hay không?

TRẢ LỜI: Đối với chúng ta thì luôn luôn mong mỏi thế chiến thứ III không xảy ra nhưng sấm ký Nostradamus thì lại khác, các khổ thơ nhà tiên tri này viết về những gì sẽ xảy ra khi nhân loại bước vào (qua) năm 2000 thì rất thảm khốc. Vì thì giờ có hạn, Chúng tôi chỉ xin tóm lược một số tiên tri của Nostradamus về sự kiện này như sau:

Theo sấm ký Nostradamus thì sau khi xảy ra cuộc Đại khủng bố tại Hoa Kỳ thì thế giới khởi đầu đi vào giai đoạn chuẩn bị chiến tranh. Trận chiến lớn lao xảy ra giữa một liên minh của các quốc gia Hồi giáo (do một nhân vật đấy quyền uy mà Nostradamus gọi là Kẻ Chống Chúa.) một bên là liên minh các quốc gia Phương Tây dẫn đầu là Hoa Kỳ. Cuộc chiến diễn ra khủng khiếp trong suốt một thời gian mà nhà tiên tri Nostradamus cho biết là 3 năm 7 tháng.

HỎI: Sấm ký Nostradamus có cho biết kết quả của cuộc chiến tàn khốc ấy hay không?

TRẢ LỜI: Theo những khổ thơ trong sấm ký mà các nhà suy đoán xưa nay về các khổ thơ này thì: Aâu Châu bị tàn phá rất nặng nề. Nước Pháp, Ý bị tấn công. Trận chiến còn xảy ra ngay tại Địa trung hải. Ở phương Bắc thì Nga bị tấn công bất ngờ rồiû Tây Ban Nha cũng bị cuốn vào chiến tranh. Trong cuộc thế chiến này, nhà tiên tri Nostradamus đã cho biết có sự liên minh của Nga và Hoa Kỳ. Khổ thơ 89 nói lên giai đoạn này như sau:

Rồi một ngày liên kết giữa hai siêu cường lại với nhau;

Khiến sức mạnh của họ gia tăng chưa từng thấy.

Điều đó cũng khiến vùng đất có tên là America lên tới đỉnh cao.

Điều làm cho hậu thế kinh ngạc là thời Nostradamus cách đây gần 500 năm chưa có nước Mỹ vậy mà nhà tiên tri nostradamus vẫn có cái nhìn xuyên thời gian và cho biết có một nước tên là America trong tập sấm ký của mình.

Cũng theo Nostradamus thì khi hai siêu cường Nga Mỹ liên kết nhau chống liên minh Hồi giáo thì chiến tranh Trung Đông bùng nổ và một cuộc chiến được gọi là cuộc chiến tận diệt xảy ra. Nguy cơ các loại vũ khí độc hại nguy hiểm, bom vi trùng, hóa học, nguyên tử có thể đem ra sử dụng. Cũng theo Nostradamus thì trận chiến kết thúc với thắng lợi đến với nước Mỹ.

Chúng tôi xin tạm chấm dứt nơi đây và cũng xin nhắc lại lần nữa là qua các trả lời thắc mắc đã nêu, chúng tôi chỉ trả lời theo sấm ký của Nostradamus đã đưa ra chớ tuyệt đối chúng tôi không có khả năng tiên đoán những vấn đề lớn lao như đã trình bày., Mong quý vị thông cảm.

Trước khi chấm dứt, chúng tôi xin góp thêm một sự kiện liên quan tới vấn đề chúng ta đang nhắc tới : nhà tiên tri Nostradamus không những tiên đoán tương lai cho nước Pháp mà còn cho cả thế giới, tuy nhiên theo thiển ý của tôi thì nhà tiên tri lừng danh của Việt Nam chúng ta là cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không chỉ giới hạn những tiên tri của cụ cho đất Việt mà thôi mà còn tiên tri cho cả thế giới. Ví dụ như câu:

 

Long Vĩ Xà đầu khởi chiến tranh,

Can qua xứ xứ khởi đao binh

Mã đề Dương cước anh hùng tận,

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Nếu phân tích từng câu thì rõ ràng hiện nay câu một đang ứng nghiệm: Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh (từ năm 2000 là năm Canh Thìn (chữ Long là Rồng) tới năm 2001 chữ Xà chỉ Rắn (năm Tân Tỵ) bắt đầu khởi sự cuộc thế chiến chính Tổng Thống Bush đã tuyên bố tình trạng chiến tranh. Nostradamus cho biết cuộc chiến diễn ra trong thời gian 3 năm 7 tháng. Nếu xét theo câu sấm trên mà người ta cho là của Trạng Trình thì thời gian chấm dứt chiến tranh cũng tương tự như Nostradamus đã tiên đoán.

NOSTRDAMUS:

Cuối năm 1999 (?) trận Đại chiến cuối cùng Armageddon sẽ xẩy ra giữa Tây Phương và Ả Rập Hồi giáo với một lãnh tụ dũng mãnh (a strong master of Mahammedan law), một Antichrist thứ ba trong lịch sử, lãnh tụ ghê gớm này mang tên Mabus hoặc Alus. Chiến tranh tạo nên bệnh dịch, chết đói, tàn phá nhiều nước. Điềm báo trước là hạn hán, nóng cháy, động đất, mưa lụt khắp nơi.

Nostradamus nhấn mạnh tới những thiên tai đặc biệt là động đất, nóng cháy, hạn hán, hồng thủy do nhiệt độ địa cầu tăng làm chảy băng Bắc cực, động đất lớn, mưa đá to như quả trứng

Antichrist thứ III, trận chiến kinh thiên động địa, thiên tai, Giáo hoàng phải rời khỏi Vatican, một Thánh vương xuất hiện với một thời đại MỚI, tôn giáo mới v..v..

Đây là bài chót thứ 100 của tập chót X Sấm ký, tiên liệu Đế quốc Anh chỉ tồn tại hơn 300 năm

Nhưng rồi Thiện thắng Ác, một lãnh tụ tài ba, một thánh vương sẽ đưa Nhân loại vào thiên kỷ mới trong an bình 750 năm … (VSSL – LLV).

Theo sấm ký Nostradamus thì sau khi xảy ra cuộc Đại khủng bố tại Hoa Kỳ thì thế giới khởi đầu đi vào giai đoạn chuẩn bị chiến tranh. Trận chiến lớn lao xảy ra giữa một liên minh của các quốc gia Hồi giáo (do một nhân vật đấy quyền uy mà Nostradamus gọi là Kẻ Chống Chúa.) một bên là liên minh các quốc gia Phương Tây dẫn đầu là Hoa Kỳ. Cuộc chiến diễn ra khủng khiếp trong suốt một thời gian mà nhà tiên tri Nostradamus cho biết là 3 năm 7 tháng. (Đoàn Văn Thông)

Trích lược dịch của DR. MICHAEL RATHFORD: NOSTRADAMUS CODE : WW III 2007 – 2012.

Chapter 6: World War III

* Overview: horrible battles, weapons, devastation, death (Tổng quan: những trận đánh kinh khủng, những vũ khí, sự tàn phá, chết chóc)

* Nuclear confrontation in the Middle East (Đối đầu Hạt nhân trong Trung đông)

* Mediterranean campaign and the battles of Gibraltar (Chiến dịch và những trận đánh của Gibraltar vùng Địa Trung Hải)

* Bomb sent at New York by the Antichrist, France retaliates (Bom được gửi tại New York gần Antichrist, Nước Pháp trả đũa)

* Bacteriological warfare strikes New York and London (Những cuộc chiến vi khuẩn đánh vào New York và London)

* Antichrist conquers Europe (Kẻ chống chúa Giêsu chiến thắng Châu Âu)

* The Antichrist invades Britain (Kẻ chống chúa Giêsu xâm chiếm Nước Anh)

* The crucial meeting on the naval carrier (Cuộc gặp quan trọng về hải quân)

* Seas, rivers, lakes boil; famines lead to insane cannibalism (Những biển, những sông, những hồ sôi sục, những nạn đói dẫn tới tục ăn thịt người điên cuồng)

* Antichrist’s commander succumbs to key strategic failure (Kẻ chống chúa chỉ huy thua kém, sự thất bại giải pháp chiến lược)

* Russia breaks free of the Antichrist (Những sự gẫy đổ, cắt đứt quan hệ giải thoát Russia với Kẻ chống chúa)

* North Pole Alliance of North America, Europe, and Russia forms (Hình thành liên minh cực bắc của Bắc Mỹ, Châu Âu, với Russia)

* Ogmios confronts the Antichrist, fate of world in balance Ogmios (liên minh Âu Mỹ Nga) đương đầu với Antichrist, Số phận của thế giới cân bằng)

URSULA SOUTHIEL:

Bà cũng tiên tri về trận chiến quyết định Armageddon, tuy không rõ năm tháng, nhưng viết là cuộc chiến kéo dài 4 năm, vị vua từ xứ mặt trăng (xứ Hồi giáo) sẽ làm kinh hoàng cả thế giới, kéo nhiều nước vào vòng chiến (Then shall come the Son of Man, having a fierce beast in his arms, which kingdom lies in the Land of the Moon, which is dreadful throughout the world,..and an eagle shall destroy castles of the Thames, and there shall be a battle among many kingdoms… and the fourth year shall be many battles for the faith and the Son of Man) .

Trận thánh chiến sẽ kéo dài 4 năm, sau đó thế giới sẽ được hưởng hòa bình thịnh vượng.

LOUIS HAMON tức CHEIRO

– Nhật và Tầu sẽ liên minh để chỉ đạo Á Châu.

– New York sẽ bị trận động đất lớn tàn phá.

– Không quân Nga sẽ san bằng London.

-Trận Đại chiến Armageddon sẽ bùng nổ khi Nga, Libya, Ethiopia, và Iran xâm chiếm Palestine.

Trận chiến phân rõ trắng đen Armageddon tuy không nói rõ năm tháng như Nostradamus nhưng cũng tương tự vì nhắc tới các nước Hồi giáo và New York bị tàn phá vì động đất.

EDGAR CAYCE

– Tự do dân chủ sẽ lan rộng khắp thế giới kể cả Trung Hoa.

– Những biến thái vật lý trên mặt địa cầu có thể làm Bắc Âu rơi xuống biển trong nháy mắt, Nhật Bản sẽ bị động đất và núi lửa tàn phá , tiểu bang North và South Carolina, Georgia, nam Alabama sẽ chìm xuống lòng đại dương.

– Thế Chiến thứ III sẽ xẩy ra vào năm 1999 (?) và trong 1 năm chiến họa, văn minh thế giới hiện tại sẽ chấm dứt để nhường bước cho một thời đại hòa bình, tâm linh, thịnh vượng mới, dài 1000 năm.

JEANE DIXON

Ngày 5 tháng 2 năm 1962 nhìn qua cửa sổ xuống đường đột nhiên bà Dixon thấy tất cả biến thành sa mạc và lại thấy Hoàng hậu Nerfertiti và Vua Ai Cập Pharaoh Akhenaten bồng một trẻ sơ sinh dơ lên cho đám đông hoan nghênh mừng rỡ. Bà giải đoán là một đại thánh nhân đã xuất hiện mang lại hòa bình đoàn kết cho nhân loại và phải vào năm 1999 thế giới mới nhìn thấy. Mấy năm sau bà giải đoán lại là đứa bé đó không phải thánh nhân mà chính là một Antichrist sẽ ngự trị thế gian từ Jerusalem ! Ngày 5 Feb. 1962 rất đặc biệt vì tất cả các sao Sun, Moon, Mercury, Venus, Mars, Jupiter, Saturn đều nằm ở cung 11 Aquarius, báo hiệu sự xuất thế của một đại nhân vật cho kỷ nguyên Aquarius thay kỷ nguyên Pisces.

MALACHY O ‘ MORGAN

Vị Giáo hoàng cuối trong bản tiên tri mang danh “Petrus Romanus” tức Peter of Rome là vị gánh chịu cơn binh lửa thiêu hủy thành đô trên bẩy ngọn đồi (the seven hilled city will be utterly destroyed) và đúng vào lúc “Phán quan ghê tởm sẽ phán xét người đời” (the awful Judge will judge the people).

Điều tiên tri trên rất giống lời tiên tri của Nostradamus về cảnh tượng chiến tranh xẩy ra khắp Âu châu bao trùm nước Ý, Vatican. Chính Giáo hoàng Pius X trong một thoáng huyền cảm vào năm 1909 đã tiên kiến được cảnh hãi hùng “Điều ta thấy thật kinh khủng ! không biết sẽ xẩy ra vào thời ta hay vào thời sau ? vị Giáo hoàng nào sẽ phải rời Rome, bỏ Vatican, vượt trên bao xác nhà tu mà đi ?”. Thoáng huyền cảm này vẽ ra cảnh tượng thời đại chiến khi một Antichrist thứ ba, sau Napoleon và Hitler, sẽ mang đại họa reo rắc lên thế giới làm cả Trung đông lẫn Âu châu lâm vào cơn binh lửa, chết dịch, chết đói, hàng triệu triệu sinh mạng và nhà cửa thành thị ra tro như lời sấm dân gian bên ta diễn tả :

Mười phần chết bẩy còn ba

chết hai còn một mới ra thái bình

HUYỀN KHẢI FATIMA

Lời tiên tri thứ ba này đã là đề tài nghiên cứu tranh luận từ lâu trong giới lý số học Tây phương. Năm 1963, một tờ báo Đức đăng tải toàn bản tiên tri thứ ba này, theo đó một cuộc Đại chiến sẽ bùng nổ vào hậu bán thế kỷ 20, tàn phá tan tành nhiều nước, hành phạm giáo hội Thiên chúa giáo La Mã (persecution of the Catholic Church) cùng với việc ám sát một vị Giáo hoàng. Đa số các nhà nghiên cứu đều đồng ý về hai điểm trên mặc dù tài liệu báo chí không được Vatican công nhận hay phủ nhận.

Theo nhiều tài liệu tiết lộ thì lời tiên tri thứ ba còn bao gồm những chi tiết kinh khủng như Satan mưu đồ lên đứng đầu Giáo hội, đặt người chỉ huy dũng mãnh cầm quân gây chiến, sản xuất vũ khí hàng loạt, tạo tranh chấp nội bộ khiến hồng y, giám mục chống đối lẫn nhau. Thời kỳ đen tối này bệnh dịch, lụt lớn, binh lửa, võ khí tối tân … làm triệu triệu người chết trong giây phút ! Nhưng rồi một bậc Thiên Tử sẽ xuất hiện để tiêu diệt ác tà và mang lại thanh bình vĩnh cửu cho thế gian vào Tân kỷ nguyên.

Tham khảo thêm về Khải Huyền Fatima:

Fatima_Bimat_Tientri

Qua những tiên đoán về tương lai của các nhà Tiên tri phương Tây, chúng ta thấy hầu hết đều tiên đoán sẽ có 1 trận Thế chiến thứ III xẩy ra trong năm 1999, nhưng thời điểm 1999 đã qua bình yên chỉ có 1 số biến động không đáng kể. Các nhà Tiên tri cùng tương đồng thấy về trận Thế chiến III nhưng tại sao tất cả lại đoán sai về thời điểm ?, có thể những nhà Tiên tri không nói rõ cụ thể năm xẩy ra mà những người phân tích những lời Tiên tri đoán sai, hoặc do ảnh hưởng đến truyền thuyết tận thế năm 2000 cho nên lời tiên tri bị sai lệch 1 số năm …

Thử liên kết Sấm Trạng với những lời tiên đoán của những nhà Tiên tri phương Tây để tìm khỏang thời gian nào có thể sẽ xẩy ra Thế chiến thứ III, khởi đầu:

Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua xứ xứ khổ đao binh

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Những Năm Dậu Trong Lịch Sử

[25/02/2005 – Vietnam Review]

Những Cuộc Đổi Họ Lớn Trong Lịch Sử

GS Trần Gia Phụng

1. Từ họ Lý ra họ Nguyễn

Đầu năm 1226 (tháng 12 năm Ất Dậu), Trần Thủ Độ tổ chức đảo chánh lật đổ nhà Lý, đưa Trần Cảnh lên ngôi tức Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258), lập ra nhà Trần (1226-1400).

Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 1124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sự Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông. Để củng cố nhà Trần, Trần Thủ Độ kiếm cách tiêu diệt tất cả con cháu nhà Lý. Việc đầu tiên là Trần Thủ Độ bức tử thượng hoàng Lý Huệ Tông. Một hôm ngang qua chùa Chân Giáo gặp thiền sư Huệ Quang đang nhổ cỏ trong vườn, Trần Thủ Độ nói rằng : “Nhổ cỏ phải nhổ hết rễ cái.” Nghe thế thầy Huệ Quang trả lời : “Lời nhà ngươi nói ta hiểu rồi.” Sau đó, Trần Thủ Độ cho người mời thầy Huệ Quang vào triều bàn việc. Huệ Quang biết ý, vào sau chùa thắt cổ tự vận. (1)

Trần Thủ Độ ra lệnh đem gả các cung nhân và con gái họ Lý cho các tù trưởng các bộ tộc ít người ở các vùng núi xa xôi miền biên viễn. Tháng tư năm nhâm thìn (1232), nhân việc ban chữ húy về tiên tổ họ Trần, ông nội của Trần Thái Tông tên là Trần Lý, nên Trần Thủ Độ đưa ra biện pháp quyết liệt là buộc con cháu họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn.

Gần cuối năm nhâm thìn (1232), tôn thất nhà Lý tập trung làm lễ tế tổ tiên ở thôn Thái Đường, xã Hoa Lâm (nay thuộc Bắc Ninh). Trần Thủ Độ cho làm nhà tế lễ bằng tre lá trên một cái hầm, khi con cháu nhà Lý tập trung hành lễ, Trần Thủ Độ ra lệnh chôn sống hết con cháu nhà Lý để dứt điểm một vấn đề làm cho Trần Thủ Độ lo lắng bấy lâu nay. Sau cuộc thanh trừng khủng khiếp này, con cháu nhà Lý không còn dám về Bắc Ninh làm lễ tế hàng năm, và họ thay tên đổi họ sống lẫn khuất trong dân gian để tránh bị tiêu diệt. (2)

Đặc biệt hoàng tử Lý Long Tường, con trai thứ của Lý Anh Tông đã bỏ nước ra đi năm 1226, cùng đoàn tùy tùng khoảng 40 người vượt biên sang lập nghiệp ở Triều Tiên hay Cao Ly tức Korea. Tám trăm năm sau, con cháu của hoàng tử này đã về Việt Nam thăm lại đất tổ. (3)

Một câu hỏi cần được đặt ra là tại sao triều đình nhà Trần buộc họ Lý đổi thành họ Nguyễn mà không qua họ khác ? Điều này rất khó trả lời vì không có tài liệu cụ thể, chỉ biết được rằng họ Nguyễn là một dòng họ ít người bên Trung Hoa, và ngược lại họ Nguyễn có nhiều và có sớm ở nước ta. (4) Phải chăng Trần Thủ Độ muốn cho họ Lý hòa lẫn trong số đông người Việt rải rác khắp nước ?

2. Họ Trần qua họ Trình

Để quân Minh chóng rút về nước, cuối năm 1427, Lê Lợi chấp nhận giải pháp hòa bình trong danh dự cho cả hai bên : trước đây quân Minh xâm lăng nước ta dưới chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, nay Lê Lợi đồng ý đưa Trần Cao lên ngôi, xem như quân Minh viễn chinh đã đạt được mục đích ban đầu là đưa người họ Trần trở lại ngôi báu, nay rút về nước trong vinh quang. (5)

Sau khi quân Minh về nước, Trần Cao biết thân phận mình, bỏ trốn về châu Ngọc Ma (Nghệ An), nhưng bi bắt lại, và uống thuốc độc chết. Lê Lợi lên ngôi vua, tức Lê Thái Tổ (trị vì 1428-1433). Lê Thái Tổ được nước không do một cuộc đảo chánh cung đình mà do công lao chiến đấu của chính ông và gia đình, nên ông ít có thái độ kỳ thị với họ Trần là họ cầm quyền trước đó. Ông có một sách lược rất khôn khéo là ban quốc tính rộng rãi cho các công thần. Ngay khi vừa lên ngôi năm 1428, Lê Thái Tổ ra sắc chỉ cho ghi chép công trạng của những người đã theo vua khởi nghĩa, ban chức tước và quốc tính (họ của nhà vua) cho 221 người. Đây là đợt ban quốc tính nhiều nhất trong lịch sử nước ta, đến nỗi vua Tự Đức đã lên tiếng chê rằng “… cho quốc tính nhiều quá như thế nầy thì nhàm lắm.” (6)

Việc làm nầy của Lê Thái Tổ bề ngoài xem ra là một đặc ân, nhưng thật sự là một thủ đoạn chính trị ràng buộc các công thần bằng cách đồng hóa các quan vào họ nhà vua để dễ kiểm soát nhằm tránh hậu hoạn. Lê Thái Tổ là một người rất đa nghi. Những công thần đã cùng ông dày công đóng góp cho công cuộc giải phóng đất nước mà có bất cứ một biểu hiện nào khả nghi tức thì bị Lê Thái Tổ tiêu diệt ngay.

Nạn nhân đầu tiên là Lê Hãn tức Trần Nguyên Hãn. Trần Nguyên Hãn dòng dõi Trần Nguyên Đán, lập nhiều chiến công thời kháng Minh, được phong Hữu tướng quốc và họ Lê năm 1428, sau khi Lê Thái Tổ cầm quyền. Lê Hãn cho rằng “nhà vua có tướng như Việt Vương Câu Tiễn, không thể cùng hưởng yên vui sung sướng được,” nên ông bắt chước Trương Lương, xin rút lui về hưu dưỡng. “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng,” khi Lê Hãn về ấp Sơn Đông (Sơn Tây ngày nay) hưu dưỡng, ông vẫn bị gièm pha là mưu toan làm phản. Lê Thái Tổ ra lệnh cho người đến bắt. Khi thuyền đến bến sông Sơn Đông, Lê Hãn tự trầm mình qua đời (7). Dĩ nhiên việc trầm mình nầy cũng là một dấu hỏi lớn không bao giờ được trả lời.

Sau Lê Hãn đến Lê Văn Xảo tức Phạm Văn Xảo, bị Lê Thái Tổ nghe lời gièm pha ra lệnh phải chết và tịch thu nhà cửa cuối năm 1430. Dưới triều con của Lê Thái Tổ là Lê Thái Tông (trị vì 1434-1442), thêm ba vị đại công thần bị giết là Lê Nhân Chú (1434), Lê Sát (1437), và Lê Ngân (1437). Ngoài ra còn có Lê Khả và Lê Khắc Phục bị triệt hạ vào năm 1451 thời vua Lê Nhân Tông (tri. vì 1443-1459).

Sau khi Lê Nghi Dân bị các tướng lãnh phản đảo chánh và lật đổ năm 1460, Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) được sử sách đánh giá là một minh quân, nhưng lại đi vào vết xe của nhà Trần. Vừa cầm quyền được hai tháng, Lê Thánh Tông hạ chiếu ra lệnh đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà nầy tên huý là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lội Dương (Thanh Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân chúng khắp nước, nơi nào có họ “Trần” đều phải đổi chép thành chữ “Trình.” (8)

Tại sao thời Lê Thái Tổ, rồi đến Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, các vua không kỵ huý bà Cung Từ mà Lê Thánh Tông lại kỵ huý ? Phải chăng sau những biến động của triều đình kể từ khi Lê Thái Tông bất đắc kỳ tử năm 1442, và Lê Nhân Tông bị Lê Nghi Dân lật đổ và bắt giết năm 1459, Lê Thánh Tông đã dùng cách kỵ huý (như Trần Thủ Độ trước đây) để tách ảnh hưởng của họ Trần, hoặc để ngầm đe dọa con cháu họ Trần đừng kiếm cách lợi dụng tình hình để phục hồi triều đại cũ.

Dầu sao, Lê Thánh Tông chưa đi đến chỗ quyết liệt như Trần Thủ Độ, nghĩa là Lê Thánh Tông vẫn chưa tận diệt họ Trần, và để cho những người họ Trần giữ những chức quan nhỏ như trong đoàn sứ thần gởi sang nhà Minh năm nhâm ngọ (1462) có Trần Bàn, hoặc trong viện Khâm hình của triều đình lúc đó có Trần Phong, nhưng không thấy có nhân vật nào họ Trần giữ chức vụ quan trọng mãi đến thời kỳ loạn lạc sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh (1527) mới thấy vài nhân vật họ Trần xuất hiện trở lại trên sân khấu chính trị nước ta.

3. Họ Mạc đổi thành nhiều họ

Mạc Đăng Dung thuộc dòng dõi Mạc Đỉnh Chi, đỗ cử nhân võ và làm đô chỉ huy sứ năm 1508 (mậu thìn), nhờ thời thế dần dần được các vua nhà Lê tin dùng, thăng dần lên chức thái phó tiết chế các doanh quân thủy bộ, tước Nhân Quốc Công triều vua Lê Chiêu Tông (trị vì 1516-1522). Quyền hành càng ngày càng lớn, Mạc Đăng Dung lấn ép vua Lê và cuối cùng đảo chánh lật đổ vua Lê Cung Hoàng (trị vì 1522-1527), tự mình lên làm vua tức Mạc Thái Tổ (trị vì 1527-1530) lập ra nhà Mạc.

Nhà Mạc cầm quyền từ thời Mạc Thái Tổ đến thời Mạc Mậu Hợp (trị vì 1562-1592), truyền được năm đời trong 65 năm. Trong lịch sử, họ Mạc bị lên án về các lỗi lầm sau đây :

Tổ chức đảo chánh lật đổ nhà Lê, không trung quân (1527).

Đầu hàng nhà Minh và cắt đất chia cho nhà Minh (1540).

Trước hết, bất cứ một cuộc đảo chánh nào cũng đều có phản ứng cả. Từ Lê Hoàn, Trần Thủ Độ đến Lê Quý Ly, tất cả đều bị những cựu quan bảo thủ của triều trước, mất quyền lợi đứng lên phản đối. Mạc Đăng Dung cũng nằm trong trường hợp đó.

Thứ đến, chúng ta cần chú ý : ai là người đã lên án gắt gao họ Mạc ? Câu trả lời rất rõ ràng là các sử quan nhà Lê trung hưng là những người đầu tiên lên án họ Mạc. Việc nầy rất dễ hiểu vì nhà Mạc dẹp nhà Lê, nay trung hưng được thì nhà Lê kết tội nhà Mạc. Sau đó là các sử quan nhà Nguyễn vì nhà Nguyễn không muốn ai lật đổ ngôi báu của mình nên lân án tất cả những ai đã tổ chức đảo chánh cung đình.

Nhưng “ở đời muôn sự của chung,” một triều đại (chính quyền) yếu đuối, kém khả năng cần được thay thế bằng một triều đại (chính quyền) khác hữu hiệu hơn để cai trị nước, đó là lẽ tự nhiên, nên việc đảo chánh của Mạc Đăng Dung không đáng bị lên án như các sách vở trước đây đã làm.

Việc đầu hàng nhà Minh và cắt đất xin hàng cần được xét lại trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Sau khi nhà Lê mất ngôi, hai vị cựu thần nhà Lê là Trịnh Ngung và Trịnh Ngang chạy qua nhà Minh tố cáo hành động của Mạc Đăng Dung và xin nhà Minh đưa quân qua hỏi tội ho. Mạc năm 1529 (kỷ sửu). (9)

Năm 1533 (quý tỵ), Nguyễn Kim tìm được con của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua là Lê Trang Tông (trị vì 1533-1648) trong lúc đang lưu vong tại Ai Lao. Lê Trang Tông sai Trịnh Duy Liễu cùng hơn mười người đi đường biển từ Chiêm Thành theo thuyền buôn Quảng Đông tới Trung Hoa xin thỉnh cầu nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc. Năm 1536 (bính thân), một lần nữa Lê Trang Tông sai Trịnh Viên yêu cầu nhà Minh đánh họ Mạc.

Hành động của vua Lê, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, trong đó có ý kiến cố vấn của Nguyễn Kim, không bị một sử gia nào lên án. Việc làm nầy đưa đến kết quả cụ thể là nhà Minh cử Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ đem binh mã sang ải Nam Quan năm 1540. Ngược lại, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng, đành chấp nhận đầu hàng và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ, nước ta trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, vua Mạc vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng nầy, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia xẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan (Lạng Sơn) nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541.

Cuối cùng việc cắt đất nghe ra khá to lớn, nhưng đó chỉ là năm động của những sắc tộc ít người nằm ở vùng biên giới Hoa Việt : Ty Phù, Kim Lặc, Cổ Sậm, Liễu Cát, và La Phù thuộc châu Vĩnh An, ở Yên Quảng. Chúng ta cần chú ý là những sắc tộc ít người sinh sống trong các động dọc biên giới Hoa Việt không nhất định về theo chính quyền Trung Hoa hay Đại Việt, mà chỉ bên nào mạnh thì họ triều cống để được yên thân. Do đó, việc cắt đất nầy chỉ có tính cách giấy tờ chứ trên thực tế là bên nào mạnh họ theo.

Trong khi đó, sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông (trị vì 1573-1599) cử người đem hình dạng hai quả ấn của nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện nhà Minh khám xét, nhưng quan nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan nhà Minh, vua Lê đành trở về, rối năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. (10) Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm 1540.

Vì quá ham lên án nhà Mạc, sử sách lơ là những công trạng đáng nhớ của nhà Mạc. Sau khi Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng rồi chạy sang Trung Hoa. Trước khi từ trần năm 1594, đại tướng nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn để thư lại dặn vua Mạc Kính Cung : “… Họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Còn như dân ta là người vô tội, sao lại nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn lâu mãi như vậy ! Chúng ta nên lánh ở nước khác, cốt phải cẩn thận giữ gìn, đừng lại cố sức chiến đấu với họ nữa. Lại dứt khoát chớ có đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải lần than khốn khổ …” (11)

Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn, nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc.

Điểm quan trọng nhất là con cháu nhà Mạc đã không kêu nài van xin người Minh đem quan sang đánh nước ta giống như nhà Lê đã làm. Họ chỉ yêu cầu nhà Minh can thiệp cho họ về sinh sống đất Cao Bằng. Chính họ đã góp công phát triển Cao Bằng, tạo thế đoàn kết kinh thượng và biến Cao Bằng thành một vùng biên giới vững chắc để chống lại Trung Hoa. Công trạng nầy tuy không rực rỡ như đường về phương nam của chúa Nguyễn, nhưng sử sách cũng không thể quên tuyên dương họ Mạc.

Khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, trung hưng nhà Lê (1593), con cháu họ Mạc tẩu tán khắp nước, một số lên Cao Bằng, một số chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An ẩn trốn, và một số vào Nam theo chúa Nguyễn. Con cháu họ Mạc đổi ra rất nhiều họ khác nhaụ Sách Thế phả ghi rõ là con của Mạc Đăng Doanh, em của Mạc Kính Điển là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng, sau con là Mạc Cảnh Vinh đổi là Nguyễn Hữu Vinh. (12) Không những chỉ một họ Nguyễn, mà chắc chắn còn nhiều họ khác nữạ Trước đây, những họ nầy không lên tiếng vì một mặt sợ các chính quyền quân chủ trả thù, và một mặt việc sử sách lên án triều đại nhà Mạc ít nhiều gây những ưu phiền cho con cháu họ nhà nầy. Hy vọng sẽ có một ngày nào đó, con cháu những họ nầy thấy rõ rằng nhà Mạc không đáng bị lên án như người ta đã làm xưa nay, bỏ qua những ưu phiền không đáng, sẽ lên tiếng để tìm về gốc gác ông bà mình.

Qua ba cuộc đổi họ trên đây, lý do chính đưa đến việc đổi họ là do tiên tổ các họ nầy đã lên nắm chính quyền, lập triều đại, sau bị truất phế và bị nghi ngờ nên con cháu bị bắt buộc phải đổi họ. Ngược lại, trong lịch sử nước ta, có một dòng họ lớn từ thời Ngô Quyền lập quốc cho đến nay không thay đổi mà mỗi ngày một phát triển, hưng thịnh. Đó là họ Nguyễn Phúc ở Gia Miêu ngoại trang, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

4. Một họ lớn không thay đổi

Theo Thế phả, “Đức Định Quốc Công huý là Nguyễn Bặc, thân phụ và thân mẫu của ngài không được rõ, ngài xem là thuỷ tổ của dòng họ Nguyễn Phúc.” (13)

Nguyễn Bặc (924-979) là bạn chí thân từ thuở hàn vi và là cận thần của Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng (trị vì 968-979). Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua, Nguyễn Bặc được phong Định Quốc Công, đứng đầu các công thần. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Nguyễn Bặc bắt giết ngay kẻ thích khách là Đỗ Thích, và tôn phò con của Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Tuệ. Lê Hoàn có ý làm phản nhà Đinh, Nguyễn Bặc chống đồi, cầm quân đánh Lê Hoàn, nhưng bị Lê Hoàn bắt giết.

Theo sách Thế phả, tức sách gia phả của dòng họ nầy, từ thời Nguyễn Bặc cho đến ngày nay, thời nào họ Nguyễn ở Gia Miêu ngoại trang (Thanh Hóa) cũng đều có người giữ những địa vị cao trong các triều đại, và thường được phong tước công. Chỉ có một thay đổi nhỏ so với lúc ban đầu là họ nầy lót thêm chữ “Phúc” vào thế kỷ 16. Tương truyền rằng khi sắp sinh, vợ của Nguyễn Hoàng nằm mộng thấy thần nhân cho một tờ giấy viết đầy chữ “Phúc”. Có người đề nghị bà lấy chữ “Phúc” đặt tên cho con, thì bà trả lời rằng : “Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng phúc, chi bằng lấy chữ ‘Phúc’ đặt làm chữ lót thì mọi người đều được hưởng phúc.” Bà liền đặt tên con là Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635, cầm quyền 1613-1635). Từ đó, họ Nguyễn ở Gia Miêu ngoại trang đổi thành họ Nguyễn Phúc. (14)

Dù có người nghĩ rằng các tác giả Thế phả đương nhiên tâng bốc tổ tiên mình, nhưng không ai có thể phủ nhận những khuôn mặt lớn trong quá trình lịch sử dân tộc như Nguyễn Bặc, Nguyễn Nộn ( ?-1229), Nguyễn Kim (1468-1545), Nguyễn Hoàng (1525-1613), Nguyễn Phúc Tần ( 1620-1687, cầm quyền 1648-1687) …

Thời điểm cực thịnh của họ Nguyễn Phúc là việc lên ngôi năm 1802 của Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia Long (trị vì 1802-1819), đóng đô tại Phú Xuân, cai trị một đất nước rộng lớn nhất so với các triều đại trước, từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Các vua Nguyễn rất đông con nên ngoài việc lập Tôn nhân phủ (15) như các triều đại trước để quản lý người trong hoàng gia, vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840) còn làm một bài đế hệ thi và mười bài phiên hệ làm chữ lót cho con cháu Nguyễn Phúc để phân định thứ bậc các hệ phái từ con cháu của Gia Long trở xuống Năm 1945, vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) thoái vị tại Huế, chấm dứt chế độ quân chủ tại nước ta, nhưng họ Nguyễn Phúc, vốn rất đông người từ thời các vua Nguyễn, vẫn cứ phát triển vững vàng, và có nhiều nhân vật nổi tiếng trong khắp các lãnh vực chính trị, quân sự, văn hóa, học thuật, kinh tế, khoa học … chẳng những ở trong nước mà cả trên thế giới.

CHÚ THÍCH :

1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, gọi tắt là Cương mục, bản dịch của Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957, tt. 448-449.

2. Cương mục, bản dịch, tr. 456.

3. Nguyệt san Làng Văn, Toronto, Canada, số 125, tháng 1-1995, tr. 17.

4. Chỉ cần xem lịch sử danh nhân Trung Hoa, chúng ta thấy rất ít người họ Nguyễn ; trong các từ điển danh nhân Việt Nam, họ Nguyễn rất nhiều. Ngày nay, mở danh bạ điện thoại, chúng ta thấy họ Nguyễn chiếm khoảng gần 50%.

5. Thổ quan châu Ngọc Ma (Nghệ An), tên là Hồ Ông, tự xưng là cháu ba đời vua Trần Nghệ tông (trị vì 1370-1372). Cuối năm bính ngọ (1426), để đáp ứng ý muốn của người Minh trong các cuộc thương thuyết, Lê Lợi cho đón Hồ Ông về, đổi tên là Trần Cao, đặt lên làm vua, lấy niên hiệu là Thiên Khánh. (Cương mục, bản dịch tt 803-804).

6. Cương mục, bản dịch tt. 864-865.

7. Cương mục, bản dịch tr. 880.

8. Cương mục, bản dịch tr. 1013.

9. Cương mục, bản dịch tr. 1327.

10. Cương mục, bản dịch tt. 1418-1419.

11. Cương mục, bản dịch tr. 1411.

12. Nguyễn Phúc tộc thế phả, Hội đồng trị sư. Nguyễn Phúc tộc, Nxb. Thuận Hóa 1995, tr. 126. Gọi tắt Thế phả.

13. Thế phả, tr. 21.

14. Thế phả, tr. 113. Chú ý : Chữ “Phúc” còn được đọc là “Phước.”

15. Sau năm 1954, Tôn nhân phủ đổi thành Hội đồng Nguyễn Phúc tôc.

NHỮNG HIỆN TƯỢNG LẠ TRÊN NỀN TRỜI CỔ PHÁP THĂNG LONG

Lý Long Tường và Lý Quang Bật ( Bật là em Hàn lâm Học sĩ Lý Quang Châm, Châm bị Trần Thủ Độ giết cùng với nhiều tông thất họ Lý ) khi chạy sang nước Hàn đã mang theo được vương miện, áo long bào và thanh Thượng phương bảo kiếm truyền từ đời vua Lý Thái Tổ, sang bảo toàn trên đất Hàn. Tại Hoa Sơn Trấn, Lý Long Tường còn cho xây ngôi đình kiểu Đại Việt, đền thờ các vị vua Lý… trong những ngày lễ tết, Bạch Mã tướng quân ra lệnh gióng 2 hồi 6 tiếng chiêng trống thay vì 3 hồi 9 tiếng, để dành 1 hồi 3 tiếng cho mọi người lặng lẽ âm thầm chiêu niệm cố hương ! Tục lệ này nghe nói tới nay con cháu họ Lý trên nước Hàn hãy còn giữ.

Ngày 18/5/1994 Giáp Tuất, Lý Xương Căn thuộc đời thứ 26 dòng Lý Long Tường, lần đầu tiên về lễ tổ ở đền Lý Bát Đế đã ghi vào sổ lưu niệm như sau : …” cháu chắt xin thề nguyện không làm điều gì tổn thương đến vong linh cao cả tổ tiên bằng cả tinh thần và sứ mệnh đặc biệt “

Bốn chữ cuối, do học giả Trần Văn Giáp dịch, “ sứ mệnh đặc biệt “ phải chăng hàm chứa ý nghĩa thiêng liêng mà Lý Xương Căn đã được tổ tiên phó thác ?

Tính ngược lại từ năm Giáp Tuất 1994 tới năm Canh Tuất 1010 là năm Lý Công Uẩn lên ngôi ( Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất 974 ) thì họ Lý quả có trở về sau 33 đời, 984 năm, nghĩa là gần 1000 năm sau năm khai nghiệp và cùng vào năm Tuất.

Câu sấm :

Chó nọ vẫy đuôi mừng Thánh chúa

ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày

và câu ngẫm về sau họ Lý xưa nên

cùng với câu :

nghìn năm lại thấy mọi nơi vẹn toàn

cho thấy có sự ứng hợp vào năm Tuất ( Bính Tuất 2006) Thánh xuất, và năm sau, Đinh Hợi (2007) yên ổn thanh bình, đấy cũng là hàm ý của câu sấm “ Tuất, Hợi, phục sinh “ mà cố học giả Hồ Hữu Tường rất quan tâm trong thời gian ngồi tù Cộng Sản mà không giải ra được . Đây cũng là thời điểm : Bảo sơn thiên tử xuất, bất chiến tự nhiên thành vậy. ( xem Việt Sử Siêu Linh cùng tác giả tr.95).

Trong hai năm 1997- 98 vừa qua, vùng Cổ Pháp ( Đình Bảng ) xuất hiện 4 hiện tượng lạ :

1- Chùa Ứng Tâm ( tức chùa Dặn, thờ mẹ vua Lý Thái Tổ ), có cây dứa lạ, một quả mẹ và nhiều quả con nở ra xung quanh (1997).

2- Hình tám giải mây hiện trên đền Bát Đế đúng ngày hội 21- 4- 97, vào chính ngọ ở nóc đền, như linh khí của 8 vị vua Lý hiện về.

3- Hình tám đợt mây hiện trên đền Bát Đế vào đúng ngày giỗ vua Lý Anh Tông, 26- 8- 1998, với một đợt mây nhỏ ở sau chót mà người ta giải là biểu tượng của Lý Chiêu Hoàng, đời vua chót thứ chín nhà Lý trước khi bị nhà Trần đoạt quyền.

4- Hình một giải mây vàng như mình rồng từ Thăng Long bay về Cổ Pháp vào ngày lễ rước linh bài Lý Thái Tổ và chiếu rời đô ra Thăng Long, 1- 9- 1998 lúc 4 giờ 45. Giải mây dừng lại trên đền rồi tản dần ra.

Các hình trên có lưu trữ tại đền Đô, Đình Bảng, gần Hà Nội, như là dấu tích huyền nhiệm của dòng Việt Sử siêu linh.

Hàng ngàn năm trước có những lời tiên đoán mà đời sau này gọi là những câu “sấm”, cũng giống như có một câu sấm nói rằng “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về”. Thật ra câu sấm chính không phải như vậy. Nó đúng ra là câu sấm như vầy “Lý đi rồi Lý lại về” chứ không phải “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về” (câu “sấm” này người ta tìm được trong một cuốn “phả ký” ở Hoa Lư, trong bụng một con trâu bằng đá, có từ hơn 1000 năm qua, có người cho rằng câu sấm này do Vạn Hạnh Thiền sư viết ra). Nhưng sau này chính vua Tự Đức, người tự nhận là văn hay chữ giỏi, nên ông xóa chữ Lý và thêm vào chữ Nguyễn để có lợi cho con cháu Tự Ðức sau này. Vì vậy ông mới sửa lại “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về”. Ngày xưa vua Tự Đức vì sợ người đời biết rõ sự liên hệ đến giòng họ “Nguyễn Gia Long tức là giòng của cụ Nguyễn Trãi” (điều này trong nhật ký của “Kỳ Ngoại Hầu Cường Để có xác nhận”) phát Đế Vương do âm khí đàn bà (chôn nhằm huyệt hổ giảo) cho nên Tự Đức đã đổi câu sấm trên. Hai câu sấm đúng nhất được tìm thấy trong một bài sấm do sư Vạn Hạnh viết ra như sau: “Lý đi rồi Lý lại về. Hai ngàn năm lẻ xuân tươi hữu tình”.

Nguyên văn hai câu sấm:

* – Lý hưng danh đăng trụ xã tắc

* – Cơ Nhị Ngũ vạn mộc xuân vinh

Dịch:

* – Họ Lý trở về làm chủ đất nước

* – Năm hai ngàn lẻ năm cây cỏ xinh tươi

Dịch văn xuôi:

* – Lý đi rồi Lý lại về

* – Hai ngàn Năm lẻ xuân tươi hữu tình

Nước Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm, đánh đuổi và đô hộ hàng ngàn năm, cho nên nền văn minh Lạc Việt đã bị ăn cắp và rồi bị Hán hóa, cho lẫn sử Việt cũng bị bôi nhọ, sai lạc như thân mẫu vua Đinh bị con rái cá, của trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi bị con khỉ…và biết bao câu chuyện bậy bạ khác. Sau này khi nước Việt đã hùng mạnh, sự thật sẽ được sáng tỏ, và sử Việt sẽ được viết lại cho đúng ý nghĩa và khoa học.

Nguồn Sinh lực của dân tộc Việt rất mạnh, trải qua hàng ngàn năm bị Hán tộc xâm chiếm, đánh đuổi, đô hộ, rồi lại trải qua hàng ngàn năm nội chiến liên miên, chết chóc thiên tai, đói khổ mà vẫn không bị hao mòn nguyên khí bao nhiêu, nay không còn chiến tranh dân Việt lại sinh sản lên đến gần trăm triệu dân, dân còn thì nước còn dân kiệt thì nước mất, như dân Chiêm Thành nay còn lại chỉ là thiểu số không thể khôi phục lại dất nước, dân Phù Nam, Chân Lạp cũng vậy, dân Miên thì không phát triển bằng dân Việt, ít nhân tài và còn lạc hậu.

Bắc hữu kim thành tráng

Nam tạc ngọc bích thành

Chữ tráng này có lẽ hợp lý hơn

壯:Mạnh mẽ. Người đến ba mươi tuổi gọi là tráng, nghĩa là đang lúc tinh lực đang mạnh mẽ vậy.

Phàm cái gì bề trong đầy đủ mà bề ngoài có vẻ lớn lao đều gọi là tráng. Như hùng tráng 雄壯, bi tráng 悲壯, hoành tráng 宏壯, v.v.

Miền Bắc hàng ngàn năm vẫn hùng tráng mạnh mẽ bền vững dẻo dai… như thành quách vàng ròng.

Chữ tạc này có lẽ là hợp lý

胙: Báo đáp, Phúc.

hoặc 酢: Khách rót rượu cho chủ, phàm đã nhận cái gì của người mà lại lấy vật khác trả lại đều gọi là tạc. Hai bên cùng đưa lẫn cho nhau gọi là thù tạc 酬酢.

Miền Nam như là viên ngọc quí, là phúc địa, là báo đáp, là tiếp nối, đền đáp… thành quách bằng vàng ròng dẻo dai hàng ngàn năm vẫn bền vững, cả hai trợ giúp cho nhau để cùng sinh tồn vươn lên vững bền…

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh

Can qua tứ xứ loạn binh đao

Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Chó nọ vẫy đuôi mùng Thánh chúa

Ăn no ủn ỉn Lợn kêu ngày

……

Can qua 干戈 : Cái mác, một thứ đồ binh ngày xưa.

Đánh nhau, nhật tầm can qua 日尋干戈 ngày gây sự đánh nhau. Người trong đảng quay lại phản đảng gọi là đảo qua tương hướng 倒戈相向, cùng trong một đảng mà đánh lẫn nhau gọi là đồng thất thao qua 同室操戈.

Thố ngộ thanh long: Thỏ gặp rồng xanh

Kê khuyển ngộ xà: Gà chó gặp rắn

Ðịa Tạng tru ma: Ðịa Tạng Bồ tát diệt ma

Bách tính tôn phục: Trăm họ quy phục

Tứ phương qui gia: Bốn phương về nhà

Thanh long (rồng xanh): Nhâm Thìn (2012) ? Thanh long hí thủy.

Kê khuyển ngộ Xà: Quí Tỵ (2013) ? Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh ?

Nostradamus W.War III : 2007 – 2012 ? khoảng thời gian sẽ khởi đầu W.W III trong 3 năm 7 tháng ?

VIỆT VIÊM BANG

VIÊM BANG, trích một đoạn của tác giả Vũ Hoàn trong bài: Nguồn gốc và nền tảng Văn hóa VIỆT VIÊM, để các bạn đọc hiểu từ VIÊM BANG

…Tục truyền Ngũ Linh Thái Sơn (năm ngọn đồi cao = núi đất) được phân định thành năm phương hướng theo địa lý : KIM – MỘC – THỦY – HỎA – THỔ còn được gọi là Ngũ Hành Sơn, nếu sắc dân nào chiếm được năm ngọn núi đó sẽ khai phóng ra nền văn minh cho loài người, sẽ lãnh đạo được các bang, đương nhiên trở thành CÁI (蓋)BANG (BANG CÁI), các bang chung quanh phải phục tùng, gồm có : TẤN BANG – TẦN BANG – TỀ BANG – NGÔ BANG – SỞ BANG – NGƯU BANG – HÁN BANG – TOẠI BANG – VIÊM BANG.

Khởi đầu Viêm Bang (thuộc vị trí Cung Hỏa) đã thể hiện việc chiếm lĩnh nói trên, việc làm trước hết là dậy dân trồng trọt hoa màu, tạo dựng sinh hoạt, sản xuất lương thực dự trữ đề phòng, để ứng dụng khi cần. Nhu cầu thiết yếu gồm : Lúa, bắp, khoai, đậu, trái cây nên về sau này gọi chung là ngũ cốc, cũng từ đó dân chúng các Bang tôn xưng người lãnh đạo Viêm Bang là ông thần làm ruộng rồi vĩnh viễn trở thành cái tên Vua THẦN NÔNG. Khi loài người đã phát minh ra có sách vở chữ nghĩa, người ta ghi lại công lao đó cho hậu thế nên có câu: THẦN NÔNG GIÁO DÂN NGHỆ HỮU CỐC tức là Vua Thần Nông dạy cho dân nghề trồng trọt sản xuất ra lương thực để chi dùng, không lệ thuộc vào kinh tế thiên nhiên nữa. Vua Thần Nông còn dạy dân cách dựng vợ gả chồng, rèn luyện binh khí bằng sắt để bảo vệ lẫn nhau.

Trong sách “SƠ HỌC VẤN TÂN” có câu: Viêm Đế Thần Nông Giáo Dân Giá Thú CẮNG SẮT TRÁC CẦM tức Thần Nông là Vua (Đại Đế) của Viêm Bang đã dạy dân cách tổ chức kết nghĩa chồng vợ, cho đến nay dân miền Bắc Việt vẫn còn dùng danh từ giấy GIÁ THÚ, dân miền Nam Việt đã đổi ra danh từ HÔN THÚ, chữ CẮNG SẮT TRÁC CẦM tức dạy dân rèn luyện binh khí bằng sắt.

Bên cạnh Viêm Bang có hai người ở Bang Toại thấy ảnh hưởng uy tín của Vua Thần Nông quá lớn nên đã dâng hiến hai kế: Làm nhà để ở và nấu chín thức ăn như câu trong sách đã ghi: HỮU SÀO TOẠI NHÂN, NHỊ QUÂN KẾ TÁC, GIÁO DÂN SÀO CƯ, CỐ VIẾT HỮU SÀO, VIÊN CẬP TOẠI NHÂN, GIÁO DÂN HỎA THỰC,

Diễn nghĩa: Ông Hữu Sào là người Bang Toại đã hiến Vua THẦN NÔNG hai kế hoạch, dạy dân làm nhà ở, đó chính là ông Hữu Sào là người xưa vậy. VIÊN CẬP TOẠI NHÂN GIÁO DÂN HỎA THỰC: Ông Viên Cập cũng là người Bang Toại đã dạy dân cách nấu ăn. ĐẾ PHỤC HY THỊ, THỪA VẬN NHI HƯNG, ĐẾ THUẤN KẾ CHI, THỊ VI NGŨ ĐẾ. PHONG HỘI NHẤT GIÁNG, TAM VƯƠNG KẾ HƯNG, TRỊ THỦY CỨU DÂN. THỊ VI THƯƠNG THANG, THỊ VI HẠ VŨ, ĐIẾU DÂN PHẠT TỘI,

Diễn nghĩa: Đến đời Vua Phục Hy thừa cơ hội để dãy (phát triển) lên, tiếp theo các chi nhánh đến đời Vua Nghiêu Vua Thuấn cả thảy là năm đời. Tiếp nối cơ hội phồn thịnh, phát triển văn minh như việc Dẫn Thủy Nhập Điền (đưa nước vào ruộng) thi hành chính sách Quân san điền địa (chia đồng đều ruộng đất cho dân). Luật lệ nghiêm minh, thưởng phạt công bằng và được áp dụng đến dời Vua Hạ Vũ là chấm dứt sự phồn thịnh. Vì những đời Vua kế tiếp chỉ lo hưởng thụ du hí trác táng nên triều đình đi đến chỗ suy sụp.

Suốt mấy trăm năm thịnh trị nói trên qua các đời Vua từ NGHIÊU-THUẤN đến HẠ VŨ đều là hậu Duệ của Vua THẦN NÔNG cả.

Vậy, nguồn gốc xuất phát của dòng VIÊM VIỆT từ đời Vua THẦN NÔNG tại khu vực “NGŨ LĨNH THÁI SƠN” ở miền Ê-GU-ĂNG xế Đông Bắc Miến-Điện (DIẾN ĐIỆN). Như vậy là kinh đô của BÁCH VIỆT ở Động Đình Hồ là kinh đô đã phải di cơ lần thứ hai. Tuy vậy truyền thống văn hóa vẫn được duy trì qua cái biểu hiệu sắc thái VIÊM VIỆT bằng lá cờ NGŨ HÀNH (Ngũ Hành Sơn) là KIM – MỘC – THỦY – HỎA – THỔ (tượng trưng cho nguyên tố tạo dựng sự sinh tồn cho các vật thể) và năm màu sắc: Xanh – Đỏ – Trắng – Tím – Vàng thể hiện sự chuyển dịch thời tiết trong vũ trụ âm dương đồng nhất lý. Tuy nhiên sự xếp đặt của màu sắc: Từ nền chính giữa ra đến ngoài phải chuyển đổi cho mỗi lá cờ có sự kiến tạo hòa đồng nhất thể. Đặc biệt riềm cờ chung quanh bên ngoài cùng, là màu đỏ (tươi hồng) và lượn khúc sóng ba tượng trưng cho ngọn lửa Viêm lúc nào cũng bừng bừng cuồn cuộn dâng lên.

Trong cuốn sách “BẢN QUỐC LỊCH ĐẠI SỬ TRUYỆN” nguyên văn như sau: Hành sự đại lược ấu học giáo khoa thư, ngã Quốc tự kinh Dương Vương Kiến Quốc, Chí Kim Thượng Duy Tân Đinh Mùi: Tổng Kế Đắc Tứ Thiên thất bách bát thập lục niên. Kỳ gian anh quân hiền phụ, Sử bất thăng thư. Tư đãn Cử Kỳ đại lược. Vi mông học nhất tắc sử nhi đồng Thô tri ngã Tổ tôn lập Quốc chi gian nan Yên. Hồng Bàng Thị Thần Nông Tứ Thế Tôn, Sơ Kiến Quốc ư nam giao, hiệu Xích Quỷ Quốc. Vi ngã Nam lập Quốc đệ nhất Anh Hùng quân dã, Lạc Long Quân Thú Âu Cơ sinh Bách Nam, Sinh trưởng tử dã phân phong, viết kinh Dương Vương hiệu Hồng Bàng Thị…

NGHĨA : “Truyện lịch sử qua các thời đại (Đời) từ nguồn gốc của đất nước”. làm ra cuốn sách này dạy cho các lứa nhỏ học để hiểu về nước ta từ thời Vua Kinh Dương dựng nước. Tính đến năm Duy Tân Đinh Mùi trở về trước đã được bốn ngàn bảy trăm tám mươi sáu năm. Lúc đó bậc Vua cha Thông Tuệ đạo hạnh nhưng cũng đã gặp rất nhiều khó khăn gian truân, cuốn sách lịch sửï này không thêm bớt (Trung Thực) và chỉ có thể nêu lướt qua một vài công lao cụ thể. Vì nguyên tắc thứ nhất về sử học rất mông lung nên chỉ dành cho những người trẻ bậc con cháu biết tóm lược những công lao khổ cực của Tổ Tiên từ khi dựng nước đến độ yên bình.

Họ HỒNG BÀNG được dựng dõi từ cháu bốn đời Vua THẦN NÔNG. Khi mới dựng nước hồi đó lấy tên hiệu là nước Xích Quỷ. Thời đó người đứng ra dựng nước ta là một vị Anh Hùng Trước Tiên so với các dân tộc khác. Vua Lạc Long lấy Bà ÂU-CƠ sinh trăm con trai, nuôi dạy, huấn luyện khi khôn lớn có đủ tài đức rồi mới ban chức tước giao phó nhiệm vụ (chia công tác) gánh vác giang san đất nước vậy. Vua Kinh Dương nói rằng Họ Hồng Bàng có từ đó.

Cái (蓋): Siêu việt, trội hơn, át hẳn. Như lực bạt sơn hề, khí cái thế 力拔山兮氣蓋世 (Cai Hạ ca 垓下歌) sức nhổ núi chừ, hùng khí trùm đời.

Lịch Sử Việt Nam Khởi Sự Từ Gần 3000 Năm Trước Công Nguyên Đã Được Xác Minh Qua Tác Phẩm Cội Nguồn Việt Tộc Của Phạm Trần Anh

Thanh Văn

Đã từ lâu tôi thường thắc mắc về một chi tiết trong cổ sử của Việt Nam về giai đoạn các vua Hùng dựng nước. Theo truyền thuyết Việt tộc là hậu duệ của Viêm Đế Thần Nông, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi. Đế Minh đi xuống phương Nam tuần tra, đến vùng Ngũ Lĩnh, nằm vế phương Nam nước Trung Hoa, kết hôn cùng tiên nữ, sinh ra Lộc Tục, là người có thánh đức. Đế Minh muốn truyền ngôi vua cho, nhưng Lôc Tục lại nhường cho anh, nên Đế Minh để cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (tức là nước Trung Hoa, phía Bắc sông Hoàng hà). Cho con thứ là Lộc Tục làm vua phương Nam. Lúc đó là vào năm Nhâm Tuất (2879TCN). Lộc Tục xưng đế hiệu là Kinh Dương Vương, lấy họ là Hồng Bàng và đặt tên nước là Xích Qũy. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm kế nghiệp cha lên làm vua xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ. Sinh được trăm trứng và trăm trứng đó nở ra trăm người con trai. Đây là tổ của bách Việt. Một hôm Lạc Long Quân bảo nàng Âu Cơ rằng ta vốn là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó. Nên sau đó hai người chia tay nhau mỗi người dẫn theo 50 người con. Cha dẫn 50 con xuống phía biển, mẹ dẫn 50 con về núi. Lạc Long Quân phong cho người con trưởng (không rõ tên húy) lên nối ngôi, xưng là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang v..v..

Hùng Vương truyền được 18 đời, tất cả đều lấy hiệu là Hùng Vương, cho đến năm Qúy Mão (258TCN) thì nước Văn Lang của vua Hùng bị vua nước Thục la Thục Phán chiếm được. Thục Phán lên ngôi xưng la An Dương Vương và đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê và xây Loa Thành theo hình trôn ốc. Tính từ năm 2879TCN đến năm 258TCN cả thẩy là 2622 năm. Chi tiết này không những riêng cá nhân tôi thắc mắc vì tính từ Kinh Dương Vương đến vua Hùng thứ 18 có 20 đời vua mà thời gian trị vì những hơn 2600 năm thì thật là một điều khó tin. Các sử gia từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ và gần đây Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn và mới nhất là sử gia Trần Gia Phụng. Tất cả đều không ai tin các chi tiết về thời gian trị vì của 20 đời vua vào thời Hồng Bàng là đúng. Thậm chí nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn với kiến thức về sử Việt Nam khá giới hạn, trong một video do Thúy Nga Paris sản xuất trước đây đã dám tuyên bố rằng thời Hồng Bàng “chắc” chỉ chừng 800 năm mà thôi.

Đề tài nghiên cứu về Việt tộc không phải chỉ là đề tài dành riêng cho các sử gia. Các nhà nghiên cứu về văn hoá như giáo sư Nguyễn Xuân Khoan, tức nhà báo Thiện Nhân Chủ bút Tập San TV-Victoria hiện sống và làm việc ở thành phố Melbourne Tiểu bang Victoria của Úc, nhà nghiên cứu văn hóa Cung Đình Thanh, người chủ trương tủ sách Việt học và tập san Tư Tưởng ở Úc, hiện sống tại Sydney cũng thường chú ý. Nhà nghiên cứu Nguyên Nguyên cũng sống ở Úc, và còn nhiều nhà nghiên cứu khác ở Pháp, Mỹ và Canada và nhất là ngay trong nước Việt Nam cũng đều chú ý.

Nay đọc trong tác phẩm Cội Nguồn Việt Tộc của Phạm Trần Anh do Trần Thục Vũ và Phạm Trần Hào xuất bản ở California Hoa Kỳ năm 2004. thắc mắc trên của tôi đã được giải toả. Lý luận và dẫn chứng của Phạm Trần Anh đầy tính thuyết phục và hợp lý khiến sau khi đọc xong phần trình bầy về chi tiết này trong tác phẩm ghi trên tôi tự cảm thấy nhẹ nhõm vì bao lâu nay vẫn ấm ức về chi tiết “khó tin” trong truyền thuyết về giai đoạn dưng nước của các vua Hùng.

Xuyên suốt 12 chương sách tác giả đã dẫn giải và minh chứng cho người đọc thấy rằng Việt tộc là một dân tộc xuất phát từ các hải đảo thuộc Châu Đại Dương ở phương Nam theo thời gian di chuyển dần lên phía Bắc, lập nghiệp ở phía Nam sông Hoàng Hà bên Tầu. Sau đó bị người Hán tộc dịnh cư ở phía Bắc sông Hoàng Hà đánh đuổi phải di chuyển dần xuống phía Nam.

Bằng những dẫn chứng về các khoa khảo cổ học, ngôn ngữ học, khoa khảo tiển sử học với các dẫn chứng bằng các tài liệu của viện Viễn Đông Bác Cổ, các khảo cứu của các nhà bác học như G. Coedès, nguyên Viện Trưởng Viễn Đông Bác Cổ (1962). Valois và G. Olivier. Các tài liệu của các học gỉa như Nguyễn Hiến Lê, nhà khảo cứu ngôn ngữ Bình Nguyên Lộc. Các nhà khảo cổ học Nguyễn Đình Khoa và Nguyễn Lân Cường (hiện ở trong nước) và nhiều nhà bác học và khảo cứu Trung Hoa và các quốc gia khác. Rồi với kết quả khảo cứu của các nhà khảo cổ học bằng phương pháp dùng Carbon C14 cũng như phương pháp đo chỉ số sọ của Việt tộc so sánh với Hán Tộc và các chủng tộc khác, Phạm Trần Anh đã chứng minh được rõ ràng nguồn gốc Việt tộc là chủng tộc lâu đời nhất xuất hiện ở vùng đất phía Nam Trung Hoa (phiá Nam sông Hoàng Hà và sau cùng do sự tấn công và lấn chiếm của Hán tộc, một tộc du mục xuất phát từ các vùng phía Bắc sông Hoàng hà, đã phải lui dần vế phương Nam và định cư tại châu thổ Bắc Việt ngày nay). Nguồn gốc của Việt tộc rõ ràng hoàn toàn khác hẳn Hán tộc là sắc dân du mục từ phương Bắc tràn xuống xây dựng nên nuớc Trung Hoa ngày nay. Việt tộc cũng là một sắc dân có ngôn ngữ, chữ viết từ thời cổ đại, có một nền văn minh khá cao, có một nền nông nghiệp trồng lúa nước rất sớm và văn minh, đã để lại các di sản như trống đồng, thuyền mũi cong, các nông cụ như lưỡi cầy bằng đồng v..v..

Về phần in ấn tác phẩm, có lẽ do gấp gáp những người phụ trách đã không thể sửa chữa những lỗi lầm quá nhiều về “dả tự” rải rác hàng mấy chục lỗi trong cuốn sách. Một sơ xuất khá quan trọng mà tôi ghi nhận được là người phụ trách “biên tập”(tức là đánh máy và trình bầy) dường như không biết phân biệt phần chính văn và các phần giải thích của tác giả nên rất nhiều đoạn đã in liền tù tì các lời giải thích, chú thích với phần chính văn của tác gỉa. Sự kiện này khiến người đọc rất là mệt óc vì phải đọc đi đoc lại nhiều lần một đoạn để phân biệt được khúc nào là chính văn, khúc nào là những lời chú thích, giải thích của tác gỉa; hơn nữa đây là một tác phẩm về mặt biên khảo rất công phu nên nó thuộc loại đã được viện dẫn những khảo cứu và phát kiến của nhiều nhà khoa học và nghiên cứu khắp nơi liên quan đến vấn đề mà tác giả muốn trình bầy nên nó rất là khô khan và nặng phần chuyên môn khiến người đọc nào không phải là người cố tìm hiểu và thích thú với vấn đề khảo cứu như đề tài mà tác giả nêu ra sẽ cảm thấy rất khó “nuốt” hết cuốn sách một cách thoải mái.

Bây giờ xin đề cập đến chi tiết mà tôi cho là lý thú nhất là việc Phạm Trần Anh đã chứng minh được giai đoạn hơn 2600 năm của thời Hồng Bàng là “chính xác” và ĐÚNG:

Bàn về thời Hồng Bàng Phạm Trần Anh cho rằng các sử gia Hán tộc với quan niệm “Đại thống nhất”, tự cho mình là trung tâm của thế giới, cái rốn của nhân loại, Hán tộc là tộc ưu việt, nên trong kinh thi có câu :”Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy tứ phương”. Đó là chủ trương bành trướng của Hán tộc ”dĩ hạ biến di”, nghĩa là lấy cái cao thượng của Đại Hán để cải hoá man di. Chính vì vậy họ miệt thị các dân tộc khác, chủ trương tiêu diệt văn tự của các dân tộc khác. Âm mưu nô dịch văn hoá rồi tiến tới đồng hoá. Lợi dụng Hán tự là loại văn tự duy nhất của Hán tộc, các sử gia Trung Quốc từ cổ đại đến nay, thường tìm cách xuyên tạc, bóp méo sự thật, sửa đổi lịch sử của các dân tộc bị Hán tộc đàn áp hoặc đô hộ cho phù hợp với sử quan Đại Hán, mục đích để đánh đổ lòng tự hào của các dân tộc khác cho dễ bề đồng hoá và thống trị.

Theo Nguyễn Khắc Thuần thì tài liệu mang tên “Hùng Triều Ngọc Phả” cho biết họ Hồng Bàng truyền được 18 đời gồm :

1- Hùng Vương tức Lộc Tục.

2- Hùng Hiền tức Sùng Lãm.

3- HÙng Lân.

4- Hùng Việp.

5- Hùng Hy.

6- Hùng Huy.

7- Hùng Chiêu.

8- Hùng Vĩ.

9- Hùng Định.

10- Hùng Hy (chữ Hy này viết khác với chữ Hy ở đời thứ 5).

11- Hùng Trinh.

12- Hùng Võ.

13- Hùng Việt.

14- Hùng Anh.

15- Hùng Triều.

16- Hùng Tạo.

17- Hùng Nghị.

18- Hùng Duệ.

Từ trước đến nay “chúng ta” thường nghĩ rằng “đời” vua Hùng là giai đoạn sinh sống của một vị vua thuộc họ Hồng Bàng, cho nên với 18 đời vua mà thời gian kéo dài đến 2622 năm thì có vẻ rất vô lý.

Gần đây công trình nghiên cứu của Trần Huy Bá về Hùng Vương và sự tích “Hùng Triều Ngọc Phả” do Nguyễn Như Đỗ sống vào thời nhà Lê ghi rõ ràng như sau:”Thời đại Hùng Vương kéo dài 2622 năm gồm 47 đời vua”. Theo Hùng Vương Ngọc Phả thì chữ Đời vua dùng trong tài liệu này phải hiểu là chữ “thế” trong Hán tự không phải là một đời người mà là “một dòng gồm nhiều đời”. Riêng thế (hay đời) tức là chi Hùng Vương thứ 18, chi cuối cùng của thời đại Hùng Vương đã gồm 3 đời vua trị vì suốt 150 năm (?). Hiện nay ở Đình Tây Đằng, huyện Ba Vì, tỉnh Vĩnh Phú, còn bài vị “Tam Vị Quốc Chúa”. thờ 3 vị vua cuối cùng thuộc thế (tức đời hay chi) Hùng Vương thứ 18 này. Thế này chấm dứt vào năm 258TCN, tức là vào cuối đời nhà Chu bên Tầu.

Theo sự tích Ngọc Phả thì mỗi dòng vua được gọi là một “CHI”. Mỗi chi gồm nhiều đời vua và được xếp theo thứ tự bát quái và thập can như sau:

Càn, Khảm, Chấn Cấn, Khốn Ly, Khôn, Đoài và Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỳ, Canh,Tân, Nhâm, Qúy. Cũng theo sự tích Ngọc Phả này thì thời Hùng Vương gồm cả thảy 47 đời vua theo thứ tự như sau:

1/ Chi Càn: Kinh Dương Vương.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên chép như sau:”Kinh Dương Vương là vị vua đầu tiên của nước Đại Việt ta, cùng với Đế Nghi ở phương Bắc lên ngôi năm 2879TCN”. Kinh Dương Vương húy là Lộc Tục, sinh năm Nhâm Ngọ (2919TCN), lên ngôi năm 41 tuổi, trị vì 86 năm từ năm Nhâm Tuất (2879TCN) đến năm Đinh Hợi (2794TCN).

2/ Chi Khảm: Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm BÍnh Thìn (2825TCN), len ngôi năm 33 tuổi. Chi này kéo dài 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793TCN) đến năm Bính Thìn (2525TCN). Thời kỳ này được truyện cổ tích về họ Hồng Bàng Truyền Kỳ gọi là huyền sử Rồng Tiên. Tài liệu không ghi rõ là có mấy đời vua của chi này.

3/ Chi Cấn: Hùng Quốc Vương.

Hùng Quốc Vương húy Hùng Lân, thế này trị vì từ năm Đinh Tỵ (2524TCN) đến năm Bính Tuất (2253TCN), kéo dài 271 năm. Thời kỳ này chính là thời kỳ ở bên Tầu Hoàng Đế diệt Xuy Vưu, Du Võng mà cổ sử của Trung Hoa cho là khởi nguyên của dân tộc Hán. Tài liệu không ghi rõ là có mấy vị vua trong chi này.

4/ Chi Chấn: Hùng Hoa Vương.

Hùng Hoa Vương tức Hùng Bửu Lang. Lên ngôi năm Đinh Hợi (2254TCN) chi này trị vì suốt 342 năm, tức là đến năm 1712TCN, tài liệu cũng không ghi rõ gồm mấy vị vua.

5/ Chi Tốn: Hùng Huy Vương húy Bảo Lang sinh năm 2030TCN, lên ngôi năm 59 tuổi. Chi này kéo dài 200 năm tới năm 1513TCN. Không ghi rõ có mấy vị vua của chi này.

6/ Chi Ly: Hùng Hồn Vương.

Hùng Hồn Vương húy Long Tiên Lang, sinh năm 1740TCN, chi này gồm 2 đời vua kéo dài 81 năm đến năm 1433TCN.

7/ Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương.

Hùng Chiêu Vương húy Quốc Lang, sinh năm 1456TCN, lên ngôi năm 12 tuổi. Chi này gồm 5 đời vua kéo dài 200 năm từ năm 1434TCN đến năm 1234TCN.

8/ Chi Đoài: Hùng Vĩ Vương.

Hùng Vĩ Vương húy Văn Lang, sinh năm 1466TCN, lên ngôi năm 31 tuổi. Chi này gồm 5 đời vua cả thảy là 100 năm, từ năm 1435TCN đến năm 1335TCN.

9/ Chi Giáp: Hùng Định Vương.

Hùng Định Vương húy Chân Nhân Lang, sinh năm 1381TCN, lên ngôi năm 45 tuổi. Chi này gồm 3 đời vua kéo dài được 80 năm từ năm 1336TCN đến năm 1256TCN.

10/ Chi Ất:Hùng Uy Vương.

Hùng Uy Vương húy Hoàng Long Lang, sinh năm 1294TCN, lên ngôi năm 37 tuổi, chi này gồm 3 đời vua kéo dài được 90 năm, từ năm 1257TCN đến năm 1167TCN.

11/ Chi Bính: Hùng Trinh Vương.

Hùng Trinh Vương húy Hưng Đức Lang, sinh năm 1218TCN, lên ngôi năm 51 tuổi. Chi này gồm 4 đời vua kéo dài 107 năm, từ năm 1168TCN dến năm 1061TCN.

12/ Chi Đinh: Hùng Vũ Vương.

Hùng Vũ Vương húy Đức Hiền Lang, sinh năm 1114TCN, lên ngôi năm 52 tuổi, chi này có 3 đời vua, kéo dài 96 năm từ năm 1062TCN đến năm 966TCN.

13/ Chi Mậu: Hùng Việt Vương.

Hùng Việt Vương húy Tuấn Lang, sinh năm 990TCN, lên ngôi năm 23 tuổi, chi này có 5 đời vua kéo dài 105 năm từ năm 967TCN đến năm 862TCN.

14/ Chi Kỷ: Hùng Anh Vương.

Hùng Anh Vương húy Viên Lang, sinh năm 905TCN, lên ngôi năm 42 tuổi, chi này có 4 đời vua kéo dài từ năm 863TCN đến năm 779TCN tức là 89 năm.

15/ Chi Canh: Hùng Triệu Vương.

Hùng Triệu Vương húy Chiêu Lang, sinh năm 745TCN, lên ngôi năm 35 tuổi, chi này gồm 3 đời vua kéo dài từ năm 780TCN đến năm 686TCN tức là được 94 năm.

16/ Chi Tân: Hùng Tạo Vương.

Hùng Tạo Vương húy Đúc Quân Lang, sinh năm 740TCN lên ngôi năm 53 tuổi, chi này có 3 đời vua kéo dài từ năm 687TCN đến năm 595TCN, tức là được 92 năm

17/ Chi Nhâm: Hùng Nghi Vương.

Hùng Nghi Vương húy Bảo Quang Lang, sinh năm 605TCN, lên ngôi năm 9 tuổi, chi này có 4 đời vua kéo dài từ năm 596TCN đến năm 336TCN tức là được 160 năm.

18/ Chi Qúy: Hùng Duệ Vương.

Hùng Duệ Vương húy Huệ Vương, sinh năm 350TCN lên ngôi năm 14 tuổi, chi này có 3 đời vua kéo dài từ năm 337TCN đến năm 258TCN tức là được 79 năm.(Không phải 150 năm)

Theo sự tính toán của người viết bài này thì chi cuối cùng này chi kéo dài 79 năm chứ không phải 150 năm và các chi từ chi Khôn tức là từ chi thứ 7 của thời Hùng Vương cho đến hết chi cuối cùng thứ 18, năm sinh và theo như sách của Pham Trần Anh ghi năm lên ngôi tính ra không phù hợp. Do đó trong bài viết này tôi đã ghi lại cho đúng. Tôi không rõ là tài liệu “Hùng Triều Ngọc Phả” mà Trần Huy Bá có được có ghi rõ ràng năm các vị vua đầu các chi lên ngôi hay không, và có ghi khi lên ngôi đã bao nhiêu tuổi như Pham Trần Anh ghi trong sách của anh hay không. Tôi đoán rằng có thể có, nhưng ghi theo âm lịch tức là tên năm chỉ gồm hai chữ, một của “thập can” và một của “thập nhị chi”, do đó đã khiến xảy ra sự kiện tính ra năm theo Tây Lịch không chính xác.

Dù sao đây là một phát giác vô cùng quan trọng đã giải toả được khúc mắc về sự kiện 18 “đời” vua Hùng mà chiếm đến 2622 năm như từ lâu nay các sử gia vẫn đổ cho truyền thuyết để “tạm” chấp nhận sự kiện “vô lý” này.

Sau hết tôi nghĩ rằng tác phẩm của Phạm Trần Anh là một tác phẩm sưu khảo rất có giá trị không những vế mặt lịch sử và văn hóa, mà còn là một tài liệu vô cùng qúy gía để chứng minh nguồn gốc của Việt tộc. Tuy nhiên do có quá nhiều sơ xuất về mặt trình bầy của cuốn sách cũng như những sai sót về thời gian ghi trên, thiết tưởng có hai sự kiện cần được các nhà nghiên cứu và thưc hiên nhất là tác gỉa cần làm là:

1/ Tìm cách xác nhân về thời gian trị vì và lên ngôi của các vua Hùng, cũng như tìm thêm tài liệu để xác minh những thiếu xót về các chi không rõ có bao nhiêu đời vua.

2/ Tác phẩm cần được in lại với công tác “biên tập” kỹ lưỡng hơn để xứng đáng với một công trình biên khảo công phu của tác gỉa.

NHỮNG ĐẠI HUYỆT CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM

TRONG MẮT NHỮNG NHÀ PHONG THỦY

Tài liệu này theo ĐOÀN VĂN THÔNG chép lại theo cuốn HUYỀN DIỆU THIÊN THƯ của một dị nhân ẩn danh vùng Thất sơn.

“Khoa Địa lý dạy rằng : Hễ một dòng sông bắt nguồn từ nơi đất địa hiển linh,núi cao ngàn năm không người tới ở,rừng rậm ngàn năm không ai tới lui,phóng lượn sóng nghêng ngang ngàn thu không cạn,thì con sông ấy sẽ kết tụ nơi Huyệt “Long đảnh “,một địa linh rất Linh hiển,phì nhiêu về vật chất,cao siêu bội phần về tinh thần. Ngọn CỬU LONG giang là một dòng Bảo giang oanh liệt,oai nghiêm,vừa tạo thành nên vóc vạc hoàn toàn lối 100 năm nay.Liên kết với các núi,Cửu long giang xuất hiện ra 12 HUYỆT huyền diệu,chấm đậm néthùng vĩ trên quả Địa cầu này.

“Bắt đầu khởi kết tụ ngươn khí âm dương xây nên Địa Huyệt thứ nhất tại THẤT SƠN (Châu đốc ).Chỗ ấy ba Huyệt Tiên thiên hiệp lại làm Nê hườn cung ,xuất hiện đúng ngày linh hiển TAM HUÊ TỤ ĐẢNH mùi hương lạ kỳ- bí mật bay ra từ núi Sam đến núi Tượng.Chỗ ấy là cân não,cốt tủy của Cửu long.Tên nó được hưởng ứng theo luồng điện Thiên nhiên,oai nghiêm,từ bi,hùng vĩ,đời sau gọi là KIM THÀNH HUYỆT.Đó là Huyệt dương đã xuất hiện ,Cửu long kết lần với hai dãy núi âm phong cô độc ,liên hiệp thành cặp mắt HÀ TIÊN và PHÚ QUỐC là THỦY TRUNG HUYỆT.TÂY NINH ,núi ĐIỆN BÀ là HUỲNH MÔN HUYỆT,hai đảnh núi ấy thuộc về Âm kết tụ ngươn khí tại Trung ương tạo nên ẤN ĐƯỜNG HUYỆT (Dương )để khai mở luồng điển quang cho các Huyệt kia vừa ngưng tại lối miệt Long xuyên,Bình mỹ (Một dãy cù lao lớn chạy dài từ Bình mỹ xuống gần đến Cần thơ ).

Từ Kim thành Huyệt phóng thẳng xuống mũi Cà mau và núi KỲ VÂN ,hai Huyệt dương nữa ,một bên thì thành sống mũi Cửu long chấm đến Cà mau (Tức là LÂM HUYỀN HUYỆT ),một bên thì Hàm Rồng tại KỲ VÂN (Tức BÍCH NGỌC HUYỆT ).Đồng cân với hai Huyệt âm(THỦY TRUNG HUYỆT VÀ HUỲNH MÔN HUYỆT ),hiện ra một Huyệt thứ sáu (BÌNH NAM HUYỆT ),tại núi Côn nôn là chót lưỡi của Cửu long.

Sáu Huyệt âm dương vừa kết tụ ,thì tại Trung ương Huyệt,yết hầu Cửu long ,vừa khai mở gần Cần thơ bây giờ ,gọi là TRUNG ƯƠNG CỬU LONG HUYỆT.Lần lần ba cửa mở ra :cửa Đại,Tiểu…v v vừa thành tựu(Năm Nhâm Thìn 1892 ),khiến cho ba nguồn Thủy dựng tại Bình Nam châu chuyển động (Lưỡi Cửu long ),làm cho các miền ở chánh cửa khẩu phải bị nạn lụt(Vàm cỏ,Gò công,Bến tre và các cù lao nhỏ…) ba ngày ba đêm.Đó là bảy Huyệt LINH THIÊNG ,CHÁNH GỐC của xứ VIỆT NAM mới ngưng kết được lối 100 năm nay.Đứng giữa Hoàn cầu,sự Linh thiêng tân tạo là đầu Cửu long giang,một nguồn Bảo giang Thiên cơ đã định phải chói rạng sự Huyền diệu,nhứt hạng khắp bốn bể,năm Châu.Vì Địa linh ấy mới sanh Nhơn kiệt,các vị Thánh tổ kim thời hễ thuộc mạng âm thì phải xuất hiện (Chứ không phải Giáng sanh ),dạy đời trong ba Huyệt âm (THỦY TRUNG HUYỆT,HUỲNH MÔN HUYỆT và BÌNH NAM HUYỆT ).,còn thuộc Dương thì phải xuất hiện ở Thất sơn,KỲ VÂN và CÀ MAU (KIM THÀNH HUYỆT,BÍCH NGỌC HUYỆT và LÂM HUYỀN HUYỆT ).

(Dật sĩ và NGUYỄN VĂN HẦU -THẤT SƠN MẦU NHIỆM ).

Thăng Long: Đất Đài Càn Long Đại Long Mạch

1. LONG MẠCH

Long mạch được tạo nên do sự vận hành của âm dương, thiên địa, ngũ hành, can chi, bát quái đầy vẻ huyền bí nhưng các nhà phong thủy nhìn qua có thể biết được đất nào là đất long mạch? Long mạch loại đại địa cuộc cao quý đứng đầu địa linh được chia ra can long (thân), chi long (cành), cước long (nhánh)…

Can long: đất đế vương, đất kinh sư (nơi đóng đô).

Chi long: đất lập tỉnh, phủ lỵ.

Cước long: đất lập huyện, quận lỵ. Đại can long có hình thế khúc chiết vững vàng là yếu tố tiên quyết để lập quốc, hình thành một quốc gia.

Long mạch tạo nên sự vận hành của khí, tương quan với trời, đất, chòm sao, địa hình… Khí có chỗ bế, chỗ mở, chỗ phát tán, nơi ngưng tụ, có khi hung, khi kiết, biến đổi tùy thời. Long mạch là địa linh, đại can long là cực địa linh, muốn gắn bó lâu dài với nó phải lấy nhân nghĩa làm nền tảng bởi “Đức trọng quỷ thần kinh”. Nếu chỉ biết bạo lực, hung tàn, đàn áp và khủng bố thì sợ e không bền bởi: “Thiện tất thọ lão, ác tất tảo vong”.

Sau đây chúng tôi xin ghi lại đôi nét lịch sử qua các triều đại, để chúng ta có thể nhìn thấy quy luật lịch sử rất công bằng đã và đang vận hành chi phối mọi sự tồn vong của các triều đại mà không hề miễn trừ bất cứ một triều đại nào.

2. ĐÔI NÉT LỊCH SỬ QUA CÁC TRIỀU ĐẠI:

Nhà Hồng Bàng:(2879 TTL-258 TTL): 2621 năm 20 đời vua:

Lộc Tục Kinh Dương Vương cháu 4 đời Vua Thần Nông làm vua nước Xích Quỷ, truyền ngôi cho con là Sùng Lãm Lạc Long Quân. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên bây giờ, truyền ngôi được 18 đời. Họ Hồng Bàng bắt đầu từ vua Kinh Dương Vương đến vua Hùng Vương thứ 18 gồm 20 đời kéo dài 2.621 năm. Như vậy 18 đời Vua Hùng Vương nước Văn Lang đóng đô ở Phong Châu phải có ít nhất 2.000 năm? Một con số huyền sử không xác thực, nhưng ý nghĩa mà huyền sử muốn nói là nguồn gốc Rồng Tiên cao quý của dân tộc, thời đại lập quốc của nước Văn Lang thái bình thịnh trị qua hàng nghìn năm và kinh đô Phong Châu là một đại can long, đại long mạch.

Nhà Thục (257 TTL-207 TTL) 50 năm 1 vua 1 đời:

Thục Phán An Dương Vương đặt tên nước là Âu Lạc đóng đô ở Phong Khê (thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An, Bắc Việt) hiện còn dấu tích thành Cổ Loa.

Nhà Triệu (207 TTL-111 TTL) 96 năm 5 vua 5 đời:

Triệu Đà Triệu Vũ Vương đặt tên nước là Nam Việt đóng đô tại Phiêng Ngung trên bờ Tây Giang gần Quảng Châu, Trung Hoa bây giờ.

Trưng Nữ Vương (40-43): 3 năm 1 vua 1 đời: đóng đô ở Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên bây giờ).

Nhà Tiền Lý (544-602): 58 năm: 3 vua:

* Lý Bôn xưng Nam Việt Đế (544-548) đặt tên nước Vạn Xuân đóng đô ở thành Long Biên làm vua 4 năm.

* Triệu Việt Vương: (549-571) 22 năm: 1 vua 1 đời: tức Triệu Quang Phục xưng vương đóng đô ở thành Long Biên.

Hậu Lý Nam Đế: (571-602) 31 năm: 1 vua 1 đời: tức Lý Phật Tử xưng đế hiệu đóng đô ở Phong Châu (huyện Bạch Hạc tỉnh Hưng Yên).

Đời nhà Đường (618-907) bên Tàu, nước ta bị đô hộ:

Vua Đường đổi An Nam thành Tĩnh Hải phong cho Cao Biền làm Tiết Độ Sứ. Cao Biền trị dân có phép tắc nên được kính phục gọi tôn lên là Cao Vương. Cao Biền cho đắp lại thành Đại La 4 mặt cao hơn 2 trượng ở bờ sông Tô Lịch, 4 mặt có đường đê bao bọc dài hơn 2.000 trượng, cao 1, 5 trượng, dày 2 trượng. Trong thành cho dân làm nhà hơn 400.000 nóc. Ông là người ưa dùng phép phù thủy, sách VNSL ghi: “Tục lại truyền rằng Cao Biền thấy bên Giao Châu ta lắm đất đế vương, thường cứ cỡi diều giấy đi yểm đất, phá những chỗ sơn thủy đẹp, và hại mất nhiều long mạch. ”

Nhà Ngô: (939-965): 26 năm: 4 vua:

* Tiền Ngô: Ngô Quyền (939-944) xưng vương mở đầu thời đại tự chủ, đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên) làm vua 5 năm: đặt quan chức, chế triều nghi, định sắc phục, chỉnh đốn chính trị, vua mất thọ 47 tuổi.

* Dương Tam Kha (945-950) cướp ngôi xưng là Bình Vương làm vua 5 năm

* Hậu Ngô (950-965): Ngô Xương Văn xưng là Nam Tấn Vương (15 năm) mời anh là Ngô Xương Ngập cùng làm vua xưng là Thiên sách vương (4 năm). Nhà Ngô rơi vào loạn thập nhị sứ quân.

Nhà Đinh (968-980) 12 năm 2 vua 2 đời:

Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng Đế (làm vua 11 năm) đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư cho xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn võ.

Nhà Tiền Lê (980- 1009) 29 năm 3 vua 2 đời: Lê Hoàn xưng là Đại Hành Hoàng Đế, đóng đô ở Hoa Lư.

Nhà Lý: (1010-1225) 215 năm gồm 9 vua 9 đời:

Lý Công Uẩn lên ngôi Lý Thái Tổ, tháng bảy năm Thuận Thiên nguyên niên (1010) dời đô về thành Đại La, đổi Đại La thành Thăng Long tức Hà Nội bây giờ, cải Hoa Lư làm Trường An Phủ, và Cổ Pháp làm Thiên Đức Phủ.

Vua Lý Thái Tổ sùng đạo Phật, trọng đãi người tu hành, lấy tiền kho làm chùa đúc chuông. Năm 1018, vua sai quan Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng. Vua Tống phong làm Giao Chỉ quận vương, sau gia phong Nam Bình Vương. Chiêm Thành và Chân Lạp đều sang triều cống, việc bang giao được yên trị. Trong nước có đôi ba nơi làm loạn, nhà vua phải thân chinh đi dẹp mới yên. Các hoàng tử đều phong tước vương và phải cầm quân đi đánh giặc. Các công chúa thì coi việc thu thuế. Nhà vua lưu tâm việc sửa sang trong nước: đổi phép cũ của nhà Tiền Lê, chia nước ra làm 24 lộ. Định ra 6 hạng thuế. Vua trị vì được 18 năm, thọ 55 tuổi.

Năm 1044 Vua Lý Thái Tông đánh chiếm kinh đô Phật Thệ (làng Nguyệt Bậu, xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) bắt Vương phi Mị Ê, các cung nữ cùng 5.000 người và 30 con voi đem về. Vua Lý Thánh Tông làm vua 18 năm, đổi tên nước là Đại Việt, năm 1069 đánh Chiêm bắt vua Chiêm là Chế Củ, Chế Củ dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình, Quảng Trị) để chuộc tội. Vua Lý Nhân Tông khởi đầu đắp đê Cơ Xá, năm 1075 Lý Thường Kiệt sang đánh Tàu giết 10 vạn người, bắt người lấy của mang về. Chiêu Thánh Công Chúa mới 7 tuổi lên ngôi là vua Lý Chiêu Hoàng chỉ hơn 1 năm thì bị ép nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

Nhà Trần: (1225-1400) 175 năm 12 vua 8 đời:

Năm 1225 Trần Cảnh lên ngôi Trần Thái Tông làm vua 38 năm đóng đô ở Thăng Long chia nước làm 12 lộ, đắp đê 2 bên bờ sông Hồng gọi là Đỉnh Nhĩ Đê đặt quan chánh phó coi việc đê. Thời Trần Thánh Tông năm 1272 Lê Văn Hưu làm xong bộ Đại Việt Sử 30 quyển chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng, nước ta có quốc sử từ đấy. Năm 1257, 1284, 1287 quân Mông Cổ sang đánh nước ta. Năm 1383 Chế Bồng Nga đánh chiếm Thăng Long.

Năm 1396, Hồ Quý Ly bắt vua Trần Thuận Tông dời đô vào thành Tây Đô (thuộc xã Yên Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, hiện còn di tích) . Thành Thăng Long gọi là Đông Đô. Hồ Quý Ly bắt vua Trần Thuận Tông nhường ngôi cho con mới 3 tuổi làm vua là Trần Thiếu Đế đi tu tiên ở cung Bảo Thanh, núi Đại Lại (Thanh Hóa), sau Quý Ly sai người giết vua Trần Thuận Tông, năm 1400 bỏ Trần Thiếu Đế tự xưng làm vua.

Nhà Hồ: (1400-1407) 7 năm 2 vua 2 đời:

Năm 1400 Hồ Quý Ly xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng, đổi quốc hiệu là Đại Ngu (Hồ thuộc dòng dõi nhà Ngu bên Tàu) làm vua được 1 năm nhường ngôi cho con để làm Thái Thượng Hoàng.

Nhà Hậu Trần: (1407-1413) 6 năm 2 vua 2 đời: Giản Định Đế và Trần Quý Khoách kháng chiến chống giặc Minh thất bại.

Nhà Hậu Lê (1428-1527) 99 năm 10 vua 6 đời:

Sai giết Trần Cao chết rồi, Bình Định Vương Lê Lợi có công dẹp giặc Minh lên ngôi vua là Lê Thái Tổ năm 1428, đặt quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long làm vua được 5 năm: chia nước làm 5 đạo. Xã 10 người gọi là tiểu xã, xã 50 người gọi là trung xã, xã 100 người gọi là đại xã. Nước ta xưa nay không có bản đồ, đến đời vua Lê Thái Tông, vua sai quan các đạo vẽ địa đồ núi sông, ghi chép sự tích gởi về bộ Hộ để làm quyển địa dư nước ta. Đến đời Vua Lê Thánh Tông (vị minh quân) vua sai Ngô Sĩ Liên làm bộ Đại Việt Sử ký chia làm 2 bản 15 quyển chép từ đời Hồng Bàng đến đời vua Lê Thái Tổ. Cuối đời Hậu Lê loạn lạc: Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dục lập vua Lê Chiêu Tông rước vào Tây Đô; Nguyễn Hoằng Dụ đem binh về đốt phá kinh thành Thăng Long, Trần Cao đem quân sang chiếm Đông Đô tự xưng làm vua, triều đình họp binh đánh, Trần Cao bỏ chạy… Vua Lê Chiêu Tông nhờ Mạc Đăng Dung dẹp loạn, Mạc Đăng Dung chuyên quyền, vua bỏ chạy lên Sơn Tây, Mạc Đăng Dung lập vua Lê Cung Hoàng rước về ở Gia Phúc tỉnh Hải Dương. Năm 1524 Mạc Đăng Dung đem quân vào Thanh Hóa đánh Trịnh Tuy bắt vua Chiêu Tông về Đông Hà sai người giết đi, năm 1527 bắt các quan nhà Lê thảo chiếu truyền ngôi cho mình, Cung Hoàng và bà Hoàng Thái Hậu đều bị giết.

Bắc Triều Nhà Mạc (1527-1592) 65 năm 5 vua 5 đời:

Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi lên làm vua là Mạc Thái Tổ được 3 năm thì nhường ngôi cho con về Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng. Nhà Mạc đến năm 1592 thì bị Trịnh Tùng dứt, nhưng Mạc Kính Cung và con cháu 2 đời được nhà Minh bênh vực còn giữ được đất Cao Bằng.

Nam Triều Nhà Lê Trung Hưng: (1532-1599) 66 năm, 4 vua:

Năm 1532 Nguyễn Kim tôn Lê Duy Ninh lên ngôi là Lê Trang Tông ở Ai Lao về đóng ở Sầm Châu (Thanh Hóa), năm 1543 chiếm Tây Đô (Thanh Hóa), năm 1545 lập hành điện ở đồn Vạn Lại (huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa), Trịnh Kiểm giữ binh quyền.

Nhà Hậu Lê thời Trịnh Nguyễn phân tranh: (1600-1788) 188 năm 12 vua 8 đời:

Vua Lê Kính Tông lên ngôi làm vua được 19 năm thì bị Trịnh Tùng giết. Đến đời vua Lê Mẫn Đế niên hiệu Chiêu Thống năm 1788 bị Tây Sơn đánh bại chạy sang Tàu cầu cứu.

Đời Nhà Trịnh (Chúa Trịnh): (1592-1786) 194 năm 10 chúa 8 đời:

Trịnh Tùng tranh quyền của anh nối nghiệp Trịnh Kiểm, năm 1592 dứt nhà Mạc lấy lại thành Thăng Long, rước vua Lê ra. Năm 1599 thông sứ tốt với nhà Minh chịu nhường đất Cao Bằng cho con cháu nhà Mạc, tự xưng Bình An Vương phù Lê lập nên nghiệp chúa Trịnh. Nhà Trịnh đánh nhau với chúa Nguyễn 7 lần, năm 1775 sai Hoàng Ngũ Phúc vào đánh chiếm Phú Xuân, Quảng Nam, chúa Nguyễn chạy vào Gia Định. Năm 1786 Nguyễn Huệ ra đánh Bắc Hà bắt được Chúa Trịnh Khải, Khải tự vẫn.

Nhà Nguyễn (Chúa Nguyễn): (1558-1777) 219 năm 9 chúa, 9 đời:

Năm 1558, Chúa Tiên Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa đóng dinh tại xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị. Năm 1570 dời vào làng Trà Bát cùng huyện gọi là Cát Dinh, làm Chúa được 55 năm. Năm 1626 chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dời vào làng Phúc An huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên đổi chỗ tư sở thành phủ. Năm 1636, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan dời phủ vào làng Kim Long huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên. Năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Trăn dời phủ về làng Phú Xuân tức Cố Đô Huế bây giờ gọi là chính dinh. Chỗ phủ cũ làm Thái Tông Miếu thờ chúa Hiền. Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Chu sai người sang cống vua Thanh để xin phong, nhưng Thanh triều nói rằng nước Nam còn họ Lê nên không phong được. Nguyễn Phúc Chu tự xưng là Quốc Chúa đúc ấn Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo để truyền quốc bảo đến đời vua Gia Long mới thôi. Năm 1744 Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, đổi phủ ra điện, sửa sang phép tắc, đổi lại chế độ, định triều nghi, chia nước thành 12 dinh.

Đất Đàng Trong tuy độc lập nhưng Họ Nguyễn chỉ xưng chúa và không đặt quốc hiệu nên người ngoại quốc thường gọi là Quảng Nam Quốc. Năm 1692, lấy hết đất Chiêm, năm 1757 lấy hết đất Thủy Chân Lạp.

Nhà Nguyễn Tây Sơn (1778-1802) 24 năm 3 vua 2 đời:

Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng đế ở Qui Nhơn làm vua từ Quảng Nam trở vào, từ Phú Xuân trở ra thuộc nhà Lê. Năm 1784, Nguyễn Huệ đánh tan quân Tiêm La ở đất Gia Định. Năm 1786, Nguyễn Huệ lấy thành Phú Xuân ra Bắc Hà diệt họ Trịnh. Năm 1788, quân Thanh sang đánh chiếm thành Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế đặt niên hiệu Quang Trung dẫn quân ra Bắc đánh tan quân Thanh, sau cho người sang dâng biểu xin phong, vua nhà Thanh sai sứ sang phong Ngài làm An Nam Quốc Vương, làm vua 4 năm thì mất.

Nhà Nguyễn: (1802-1945) 143 năm 12 vua 7 đời:

Vua Nguyễn Thế Tổ Gia Long khởi binh tại Gia Định năm 1778, năm 1780 xưng vương, năm 1801 chiếm thành Phú Xuân, dứt nhà Tây Sơn. Năm 1802 lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Việt Nam đóng đô ở Phú Xuân tức nội thành Huế bây giờ. Năm 1804, vua Thanh sai sứ sang phong vương, năm 1806 làm lễ xưng đế hiệu ở đền Thái Hòa, định triều nghi cứ rằm mùng một thiết đại triều, mồng 5, 10, 20, 25 thiết tiểu triều, không đặt ngôi hoàng hậu chỉ có hoàng phi và các cung tần, bỏ chức tể tướng, mọi việc đều do lục bộ trông coi, chia nước làm 23 trấn 4 doanh. Đến đời Vua Minh Mạng đổi quốc hiệu là Đại Nam, năm 1836 đặt Tôn Nhân Phủ, đặt quan chức coi mọi việc trong họ nhà vua, đặt 7 miếu thờ tiên tổ, miếu bên tả gọi là chiêu, miếu bên hữu gọi là mục, con cháu dòng chiêu hay mục phải phân biệt chi nào ra chi nấy. Mọi người trong hoàng tộc đều được nuôi nấng cấp tước lộc.

Năm 1858 chiến thuyền Pháp và I-Pha-Nho đánh Đà Nẵng. Năm 1862 ký hòa ước Nhâm Tuất 12 khoản cắt 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Năm 1867, quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Năm 1873, quân Pháp hạ thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương tử tiết. Năm 1882 quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội, Hoàng Diệu thắt cổ tự tử.

Nhà Nguyễn truyền ngôi đến năm 1883 là năm vua Tự Đức mất cũng mất quyền tự chủ, tuy ngôi vua còn nhưng đất nước bị Pháp đô hộ. Năm 1884 Hòa ước Patenôtre định thể lệ bảo hộ.

Từ năm 1945 đến nay nước ta có 3 thủ đô:

* Huế: Thủ đô của Chính phủ Thủ tướng Trần Trọng Kim, Quốc trưởng Bảo Đại.

* Sài Gòn: Thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa: (1954-1975): 21 năm gồm các thời chính: Tổng thống Ngô Đình Diệm, Đại tướng Dương Văn Minh, Đại tướng Nguyễn Khánh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

* Hà Nội: Thủ đô của Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đến nay là 60 năm gồm 1 đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, và 6 đời Tổng bí thư: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh.

Trong suốt lịch sử, nước ta có nhiều quốc hiệu: Văn Lang, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Việt Nam, Đại Nam…

Nhiều kinh đô, thủ đô: Phong Châu (Vĩnh Yên), Phong Khê (Phúc An), Mê Linh (Phúc Yên), Long Biên, Vạn Xuân, Đại La (Hà Nội), Cổ Loa (Phúc Yên), Hoa Lư, Thăng Long (Hà Nội), Tây Đô (Thanh Hóa), Đông Đô (Hà Nội), Vạn Lại (Thanh Hóa) Ái Tử (Quảng Trị), Phú Xuân (Huế), Qui Nhơn (Bình Định), Gia Định, Sài Gòn, Huế, Hà Nội.

Nước Văn Lang và kinh đô Phong Châu kéo dài hàng ngàn năm.

Nước Đại Việt: xuất hiện từ thời nhà Lý do vua Lý Thánh Tông (1054-1072) đặt, đến hết đời nhà Lý (171 năm) đời Trần (175 năm), đời Hậu Lê (255 năm), đời Tây Sơn (14 năm) tổng cộng trên 600 năm.

Thủ đô Hà Nội xuất hiện từ thời Lý Nam Đế gọi là Long Biên (4 năm), thời Triệu Quang Phục gọi là Long Biên (22 năm), thời nhà Đường đô hộ bắt đầu từ Cao Biền xây thành Đại La khoảng năm 866 đến hết thời Đường đô hộ khoảng 40 năm, năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long đến năm 1788 Tây Sơn diệt nhà Hậu Lê khoảng 700 năm, Hà Nội từ năm 1945 đến nay: 60 năm, tổng cộng thời gian Hà Nội được sử dụng làm kinh đô khoảng trên 800 năm.

Tóm lại trải qua hàng ngàn năm lịch sử có 3 quốc hiệu được dân tộc ta sử dụng lâu dài nhất là Văn Lang, Đại Việt, Việt Nam. Có 3 kinh đô được sử dụng lâu dài nhất là Phong Châu, Hà Nội, Huế. Phong Châu, Huế đã trở thành cố đô, Hà Nội hiện đang là thủ đô.

3. THĂNG LONG ĐẤT ĐẠI CAN LONG, ĐẠI LONG MẠCH

Nếu Thủ đô Hoa Thịnh Đốn là đất đại can long, đại long mạch của Hoa Kỳ nằm trên bờ sông Potomac, thì Hà Nội tức Thăng Long xưa là đất đại can long, đại long mạch của Việt Nam nằm trên bờ sông Hồng Hà. Người Hoa Kỳ không biết có học phong thủy không nhưng khi xây Tòa Nhà U.S. Capitol họ đã xây trên ngọn đồi nhìn về hướng Tây trông ra dòng sông Potomac, nơi có Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, Đài Kỷ Niệm Washington, Đài Tưởng Niệm A. Lincoln, Đài Tưởng Niệm T. Jefferson, Đài Tưởng Niệm F.D. Roosevelt, (những biểu tượng của hồn thiêng sông núi) và thực hiện đúng câu “Tiền đê hậu cao” (trước thấp sau cao) trong phong thủy.

Mùa Thu năm Canh Tuất (1010) từ kinh đô Hoa Lư, Vua Lý Thái Tổ ban lệnh dời đô, thuyền ngược dòng Hồng Hà cập bến Đại La nơi đô cũ của Cao Biền lúc trước. Khi ra đến La Thành, Vua Thái Tổ lấy cớ nằm mộng trông thấy rồng vàng hiện ra bèn đổi thành Đại La thành thành Thăng Long. Việc xây dựng kinh thành theo Giáo sư Phan Huy Lê: “Buổi đầu đã sử dụng tòa thành này cùng một số kiến trúc có sẵn rồi sửa sang xây dựng thêm những cung điện mới”.

Kinh thành đại thể được giới hạn bằng ba con sông: mặt Đông là sông Hồng, mặt Tây mặt Bắc là sông Tô Lịch, mặt Nam là sông Kim Ngưu. Kinh thành chia 2 phần:

Hoàng Thành nằm trong lòng kinh thành, gần Hồ Tây nơi có cung điện hoàng gia và chỗ thiết triều, cấm thành nơi ở của hoàng gia gọi là Long thành. Điện Kiền Nguyên là điện chính nơi vua làm việc, hai bên tả hữu là điện Tập Hiền, Giảng Vũ. Bên trái mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân. Bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn. Chính Bắc dựng điện Cao Minh, đằng sau là cung Thúy Hoa nơi các cung phi ở. Bao bọc các cung điện là một bức tường thành bảo vệ gọi là Long Thành với 10 cấm quân canh gác ngày đêm. Các công trình thổ mộc đẹp đẽ, cách chạm trổ trang sức khéo léo.

Qua các triều đại sơ lược trên đây, chúng ta thấy Nhà Lý là một triều vua nhân đức hơn hết, do đó cũng được thịnh trị hơn hết, lâu dài hơn hết.

Lý Công Uẩn lên ngôi không giết một sinh mạng, trong khi Nhà Trần, Trần Thủ Độ giết gần hết hoàng tộc nhà Lý. Nhà Hồ, Hồ Quý Ly giết vua Lê Thuận Tông, công thần: Trần Khát Chân cùng 370 người. Nhà Lê, Lê Lợi giết Trần Cao, công thần Trần Nguyên Hãn, Phạm văn Xảo. Nhà Mạc, Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tông, vua Lê Cung Hoàng, bà Hoàng Thái Hậu và vô số triều thần Nhà Lê khác. Nhà Nguyễn, Vua Gia Long tùng xẻo vua tôi Nhà Tây Sơn, đào mồ cắt đầu anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc bỏ giam trong ngục tối, giết hại công thần Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường.

Hoàng tộc nào được ngồi không hưởng bổng lộc xa hoa? Riêng hoàng tộc nhà Lý thì hoàng tử phải đi đánh giặc, công chúa phải đi thu thuế, cung nữ phải học nghề thêu dệt gấm vóc.

Vua Lý Thái Tổ lên ngôi cho xây chùa thỉnh kinh.

Vua Lý Thái Tông “bao giờ cũng để lòng thương dân. Hễ năm nào đói kém hay là đi đánh giặc về, thì lại giảm thuế cho hàng hai ba năm – VNSL” nhà vua không giết hai người em phản nghịch mà còn phục lại chức cũ, nhà vua hạ chiếu cấm không cho ai được mua người để làm nô lệ. Còn Lý Thánh Tông là “một ông vua nhân từ, có lòng thương dân; một năm trời rét, Thánh Tông bảo những quan hầu gần rằng: “Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này còn rét, nghĩ những tù phạm giam trong ngục, phải trí buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm.” Nói rồi truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm và mỗi ngày cho hai bữa ăn. Lại có một hôm Thánh Tông ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên Công Chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh Tông chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng: “Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi.” Vua Thánh Tông có nhân như thế cho nên trăm họ mến phục, trong đời Ngài làm vua ít có giặc giã. Ngài lại có ý muốn khai hóa sự văn học, lập văn miếu, làm tượng Chu Công Khổng Tử và 72 tiên hiền để thờ. Nước ta có văn miếu thờ Khổng Tử và chư hiền khởi đầu từ đấy. – VNSL “.

Việc binh chính, binh pháp nhà Lý thời Lý Thánh Tông “có tiếng là giỏi, nhà Tống bên Tàu phải bắt chước, ấy là sự vẻ vang cho nước mình bao nhiêu? – VNSL” Nhà Lý đem binh đánh tới Quảng Đông Quảng Tây nước Tàu là lần duy nhất trong lịch sử và cũng là triều đại mở đầu cuộc Nam Tiến chiếm đất bắt vương phi Chiêm Thành. Trần Trọng Kim viết:

“Nhà Lý có công làm cho nước Nam ta nên được một nước cường thịnh: ngoài thì đánh Tàu, bình nước Chiêm, trong thì chỉnh đốn việc võ bị, sửa sang pháp luật, xây vững cái nền tự chủ.”

Vua Lý Thái Tổ là một vị minh quân nhân đức mới 3 tuổi đem cho nhà sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn làm con nuôi đặt tên là Lý Công Uẩn, sau theo học sư Vạn Hạnh. Lớn lên vào Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê đến chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi lên ngôi ngài thấy Hoa Lư chật hẹp và cũng sáng suốt nhìn thấy thành Đại La đô cũ của Cao Biền khi xưa nằm trên bờ sông Hồng Hà là một đại can long, một “thắng địa” thuộc hàng đại long mạch lý tưởng:

“Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời…. – Chiếu dời đô – Lý Công Uẩn”.

Càng đắc địa hơn, trước khi chảy đến Thăng Long, dòng Hồng Hà ngoằn ngoèo uốn khúc để tạo nên một vùng cát địa có đại long mạch tầm cỡ “thượng đô kinh sư”. Và trước khi ra biển, dòng sông ngoái lại nhìn rồi tỏa ra tạo thành những chi long, cước long, bàng long lung linh như một bức gấm thêu giữa vùng non nước hữu tình. Địa huyệt kết nơi cao nhất có tên là núi Nùng. Thiên huyệt kết chỗ thấp nhất có tên là Hồ Hoàn Kiếm nơi Thần Kim Quy hiện ra báo hiệu điềm lành. Tuy nhiên khác với Hoa Lư, địa thế Thăng Long trống trải, đã bao lần bị quân Tàu, quân Pháp đánh chiếm, ngay Chế Bông Nga vua Chiêm cũng đã 3 lần ra chiếm Thăng Long đốt phá lấy sạch vàng bạc châu báu và bắt con gái mang về.

Muốn đại can long, đại long mạch lưu phúc trạch lâu dài cho con người, con người phải có đại nhân đại đức, lấy đức báo oán, lấy đức đối đãi với bá tánh và mưu cầu cho bá tánh có một đời sống xứng đáng là con người đúng với hai chữ hạnh phúc ấm no. Hễ đức càng nhiều thì vận càng dài, đức cạn thì vận tuyệt.

4. CON SỐ 8 HUYỀN BÍ

Niên hiệu Thuận Thiên năm 1010, Vua Lý Thái Tổ thỉnh Thiền sư Vạn Hạnh về làm Quốc sư, sau khi dời đô về Thăng Long, Ngài nhanh chóng thiết lập nền tảng cơ sở đạo đức và tôn giáo: xây 8 ngôi chùa tại phủ Thiên Đức, năm 1018 sai người sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng. Các nhà phong thủy cho rằng Ngài đã thông hiểu những bí mật của đại can long đại long mạch Thăng Long. Con số 8 huyền bí như một lời khẩn cầu cho quốc thái dân an tu nhân tích đức và cũng là con số giới hạn đối với chủ nhân của đại can long đại long mạch Thăng Long. Quả là một con số 8 huyền bí nếu chúng ta chịu khó lược qua sự tồn vong của các triều đại:

Nhà Lý do Vua Lý Thái Tổ dựng lên đóng đô trên đất đại can long đại long mạch Thăng Long 215 năm tính từ đời Ngài cho đến đời Lý Huệ Tông bỏ cung vàng đi tu vừa đúng 8 đời thì cơ nghiệp triều chính lọt vào tay Nhà Trần. Tính thêm đời vua Lý Chiêu Hoàng là 9 đời, nhưng đời vua này trên thực tế có cũng như không, vì do Trần Thủ Độ đạo diễn đưa lên làm vua mới có 7 tuổi và chỉ 14 tháng sau thì bị ép phải nhường ngôi.

Nhà Trần làm chủ Thăng Long từ đời Trần Thái Tông đến Trần Thiếu Đế được 175 năm gồm 12 vua 8 đời.

Nhà Hồ 7 năm 2 vua 2 đời

Nhà Hậu Lê 99 năm 10 vua 6 đời

Nhà Mạc 65 năm 5 vua 5 đời

Nhà Lê Trung Hưng 66 năm 4 vua 4 đời

Nhà Hậu Lê Thời Trịnh-Nguyễn: 188 năm 12 vua 8 đời

Nhà Trịnh 194 năm 10 chúa 8 đời

Đại can long đại long mạch là gì mà có một sự tác động ghê gớm như thế? Và con số 8 kể từ thời Lý Thái Tổ đến nay đã gần 1.000 năm mà vẫn chưa có một triều đại nào (đóng đô trên đất Thăng Long) vượt qua kể cả những triều đại hiễn hách trong lịch sử?

Phải chăng sự tác động của đại can long đại long mạch là điều có thật? Phải chăng kiến thức huyền bí về long mạch đã bị chiến tranh thiêu hủy hay thất truyền nên ngày nay chúng ta không thể lý giải nổi dù chúng ta vẫn tin vào quy luật nhân quả đang hiện hữu và chi phối con người từng giờ từng phút.

5. DẤU XƯA XE NGỰA HỒN THU THẢO

Nhắc đến hai chữ Thăng Long, người ta ngậm ngùi nhớ đến Bà Huyện Thanh Quan thời Nhà Nguyễn với bài thơ trầm buồn Thăng Long Thành Hoài Cổ:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Và mới đây trên báo Trẻ Florida số 83A ngày 21/10/2005 có đăng bài viết “Cổ Thụ, Dấu Vết Của Lịch Sử” của tác giả Dương Quốc Trung, khi đọc đoạn văn viết về Thăng Long xưa-Hà Nội nay sau đây chắc chúng ta không khỏi thấm thía bùi ngùi:

“Chùa Một Cột hay đình Diên Hựu xưa sử sách chép niên đại có từ rất sớm gắn với triều Lý thịnh Phật, những kiến trúc hôm nay chứng kiến mới chỉ được dựng lại chưa đầy nửa thế kỷ, sau khi đã bị phá hủy hoàn toàn vào năm 1954. Thành Thăng Long xây từ đời Lý qua đời Trần, Lê… sử sách mô tả bề thế mà đến cuối thế kỷ trước, đầu thế kỷ này bị chiến tranh tàn phá không còn gì. Một mảnh tường ngoài cổng thành cửa Bắc còn lưu vết đạn (…)

Gở tấm bản đồ xưa của Thăng Long-Hà Nội, ta sẽ thấy hình vẽ, tên gọi những con sông. Tô Lịch, Kim Ngưu, Lũ, Thiên Phù, Sét… mà nay đã biến mất hoặc chỉ còn dấu tích tàn tạ. Những dấu vết kiến trúc của nơi tụ cư xưa nhất mà ta hay gọi là “36 phố phường” còn lại là bao?”.

Tài liệu tham khảo:

* Việt Nam Lược Sử, Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản năm 1971

* Thăng Long Lược Phong Thủy Ký, Vũ Phong Lưu (VNN)

* Thăng Long Hà Nội Cổ Xưa – Dấu Vết Bản Đồ

Vĩnh Hồ

NHỊ THẬP BÁT TÚ

Tam Viên nằm ở khu vực giữa của bầu trời – Bắc Thiên Cực. Khu vực dải nằm giữa con đường mà mặt trăng đi qua ban đêm và mặt trời đi qua ban ngày được phân chia theo 28 chòm – 28 Tòa nhà của sao, tức Nhị thập bát Tú. Trong mỗi chòm có một Ngôi sao là chủ tinh, là ngôi nằm gần nhất Bạch đạo, dù ngôi sao đó có thể không phải là sáng nhất.

Có tài liệu nói rằng ghi chép về Nhị thập bát tú đã được tìm thấy có từ thời Chiến quốc, 400 TCN ở Hồ Bắc, và khẳng định nó có sớm nhất là vào thế kỷ 5 TCN, trong Sử Ký cũng viết về các chòm. Nhưng việc phân chia thành các cung theo Ngũ hành thì phải đến đời Tần mới có, và việc gán tên các con vật thì còn muộn hơn, có thể là chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, giống như gán các con giáp vào các chi vậy. Điều đáng lưu ý là trong kinh điển Ấn Độ cổ cũng đề cập đến các chòm sao quanh Bạch đạo, và cũng nêu con số 27 hoặc 28. Tuy các chòm không trùng nhau, nhưng trong mối quan hệ giao lưu văn hóa thông qua Phật giáo, chúng cũng được gọi chung là Nhị thập bát Tú.

Quanh Thiên Cực được quy ước chia làm 4 phương Đông Tây Nam Bắc, 28 Tú cũng được chia là 4 cung, mỗi cung 7 chòm, đó là:

Thanh Long – Rồng xanh – phương Đông – hành Mộc, mùa xuân, gồm:

Giác – Cang – Đê – Phòng – Tâm – Vĩ – Cơ.

Bạch Hổ – Hổ trắng – phương Tây – hành Kim, mùa thu, gồm:

Khuê – Lâu – Vị – Mão – Tất – Chủy – Sâm.

Chu Tước – Chim đỏ – phương Nam – hành Hỏa, mùa hạ, gồm:

Tỉnh – Quỷ – Liễu – Tinh – Trương – Dực – Chẩn.

Huyền Vũ – Rùa, rắn đen (1) – phương Bắc, hành Thủy, mùa đông, gồm:

Đẩu – Ngưu – Nữ – Hư – Ngụy – Thất – Bích.

Nếu xếp theo vòng Đông – Tây – Nam – Bắc thì như vậy.

Có thể theo Xuân – Hạ – Thu – Đông thì xuôi chiều kim đồng hồ là Thanh Long – Chu Tước – Bạch Hổ – Huyền Vũ.

Tuy nhiên thường 28 Tinh tú được xếp theo vòng vận động trời đất là Đông – Bắc – Tây – Nam, ngược chiều kim đồng hồ, tức Thanh Long – Huyền Vũ – Bạch Hổ – Chu Tước, vì vậy thứ tự các Tinh tú là : Giác – Cang – Đê – Phòng – Tâm – Vĩ – Cơ – Đẩu – Ngưu – Nữ – Hư – Nguy – Thất – Bích – Khuê – Lâu – Vị – Mão – Tất – Chủy – Sâm – Tỉnh – Quỷ – Liễu – Tinh – Trương – Dực – Chẩn.

Việc đặt tên các Tinh tú cũng đặc biệt. Mỗi tên gồm 3 chữ, chữ đầu là tên gọi tắt như trên, không thống nhất. Trong đó có bộ phận cơ thể (sừng, cổ, tim,…), có đồ vật (đấu, giỏ, lưới, xe), có con người (nữ), con vật (trâu), có kiến trúc (phòng, tường, giếng,…,), có cả các khái niệm (gốc, hư,…). Dường như không có quy tắc. Việc này có lẽ phản ánh tư duy phóng khoáng không gò bó cổ đại.

Chữ thứ 2 là một trong Thất chính lần lượt theo thứ tự: Mộc – Kim – Thổ – Nhật – Nguyệt – Hỏa – Thủy, tinh tú nào có chữ tương ứng sẽ là phù trợ cho Hành tinh ấy. Thuyết Ngũ hành đời Tần đã đem một khuôn khổ quy luật vào đây.

Chữ cuối cùng là tên 1 con vật, gồm cả vật nuôi, vật hoang, và thần thoại.

Con số 7 cũng là một cơ số quan trọng đối với người Trung Hoa. Có học giả cho rằng thời cổ đại người Trung Hoa chưa dùng cơ số 10, mà mới dùng cơ số 7, nên để lại một số dấu vết như tục cúng bảy bảy bốn chín ngày. Con số 7 được dùng trong Đạo giáo nhiều hơn.

Các chòm này có số sao không giống nhau, ít nhất là 2 và nhiều nhất là 22, nằm trong phạm vi những chòm sao khác nhau của Thiên văn phương Tây. Bản dưới đây là tên đầy đủ, số sao, và thống kê đối chiếu với các chòm phương Tây.

Trong đồ hình trên bầu trời, Thanh Long phương Đông nằm ở bên trái, Chòm Giác Đông Nam ở góc dưới bên trái, theo đúng Hậu Thiên bát quái là Trời bắt đầu mở ở Đông Nam, vòng dần lên trên vòng dần lên trên tức là theo phương Nam mà xoay vòng (trên bầu trời phương vị ngược với mặt đất).

Vị trí cụ thể các chòm Nhị thập bát tú trong các bản đồ sau, trong đó ngôi màu trắng là chủ tinh. Đường màu đỏ ở giữa là Thiên xích đạo, đường cong màu xanh là Hoàng đạo.

Chòm Thanh Long – phía Đông, mùa Xuân

Chòm Huyền Vũ – phía Bắc, mùa Đông

Chòm Bạch Hổ – phía Tây, mùa Thu

Chòm Chu Tước – phía Nam, mùa Hạ

Việc phân chia 28 chòm sao này có từ thời cổ đại, và người Trung Hoa không muốn thay đổi những kiến thức của người đi trước, nên họ chấp nhận nó đến hàng ngàn năm sau. Trên thực tế việc dùng 28 chòm có một cái tiện lợi là xác định đường đi của mặt trăng, nhưng có nhiều bất tiện. Trước hết là các chòm không chiếm những cung bằng nhau; có cung như Tỉnh góc lớn hơn 30 độ, trong khi cung Chủy chưa đến 3 độ. Điều này là do độ lớn các chòm chênh lệch quá nhiều, có chòm chỉ có 2 sao, trong khi chòm khác 22 sao. Độ sáng biểu kiến cũng rất khác nhau, rồi có chòm như Chủy gần như nằm lọt vào giữa chòm Sâm, nên không mang tính khoa học.

Trong văn hóa Ấn Độ cũng có 27 hoặc 28 chòm sao nằm trong khu vực mặt trời và mặt trăng đi qua, nhưng không trùng với nhị thập bát tú. Các chòm sao của Ấn Độ mang tính khái quát nhiều hơn, tượng trưng cho tất cả các vì sao trên bầu trời. Vì vậy trong kinh Phật giáo cũng nói đến các chòm sao, và khi sang Trung Quốc, được các hòa thượng biên dịch là Nhị thập bát tú luôn, để thống nhất với quan sát, khoa học và truyền thống bản địa.

Nhị thập bát tú đã đi vào Văn hóa của Trung Quốc và các nước Hán hóa, mang nhiều ý nghĩa Văn hóa. Chẳng hạn chòm sao Khuê tượng trưng cho Văn học, và ở Văn miếu Hà Nội có Khuê Văn Các (gác sao Khuê) tượng trưng cho vẻ đẹp, cao quý của văn học, trong chòm Khuê có 2 ngôi sáng nữa là Đông và Bích (không phải chòm Bích), nên Đông Bích cũng để chỉ văn học. Nhà Đường lập thư viện hoàng cung đặt tên là Đông Bích phủ. Lê Thánh Tông lập ra Tao đàn nhị thập bát tú gồm 28 người cũng mang tên các chòm sao. Hoặc như Mão cũng tượng trưng cho ánh sáng, vì gà báo trời sáng. Trong hình tượng truyền thống Trung hoa, Tinh chủ của các Tú là các vị thần mang đặc tính của các con vật, hay đúng hơn là con vật mang hình người, khi cần họ có thể biến thành các con vật tương ứng dễ dàng. Các Tú trở thành tín ngưỡng dân gian. Nhị thập bát tú không chỉ phát triển trong đời sống văn hóa, mà còn đi vào tôn giáo.

Hơn thế nữa, nhị thập bát tú đi vào đời sống, đến mức khi nói đến vật cứng rắn thì ví với sừng của Cang Kim Long, nói đến chỗ rộng mà trống thì ví với Hư Nhật Thử. Mỗi tú còn gắn với Ngũ hành, kết hợp tạo nên những phạm trù đặc biệt.

Trong cuốn sách Y thuật cổ “Hoàng Đế nội kinh”, Nhị thập bát tú ứng với 28 mạch trong cơ thể, trời xoay một vòng qua hết 28 Tú thì cúng tương ứng với mạch vận động 1 chu trình trong cơ thể con người.

(1) Hình tượng Huyền Vũ có liên quan mật thiết đến một vị thần có vị trí rất cao trong Đạo giáo là Huyền Thiên Trấn Vũ đại đế (Còn các danh xưng khác là Thượng đế Tổ sư, Đãng ma thiên tôn, Hỗn nguyên Giáo chủ, Bắc Cực Huyền linh đại đế) có hai con vật thiêng là Linh Quy, Thần Xà, tượng trưng cho Trường tồn và Trí tuệ. Vì vậy chữ Vũ trong Huyền Vũ ở đây với nghĩa Sức manh là gồm cả Rùa và Rắn, tiếng Anh còn dịch là Warrior.

ĐI TÌM CON CHÁU THUYỀN NHÂN VIỆT NAM

CÁCH ĐÂY 849 NĂM

Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ

Ngày 17 tháng 9 năm 1957, Tổng-thống miền Nam là Ngô Ðình Diệm công du Ðại-hàn. (1). Năm sau, ngày 6 tháng 11 năm 1958, Tổng thống Ðại-hàn dân quốc là Lý Thừa Vãn, viếng thăm Việt-Nam. Trong dịp này ông đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Báo hồi ấy có tường thuật sơ sài. Còn chính quyền thì gần như không để ý đến chi tiết lịch sử này.

Ghi chú: (1) Trong chuyến đi này, Tổng-thống Ngô Đình Diệm cho một sĩ quan tháp tùng, mà người ưu ái vì lòng yêu nước, tin tưởng vì lòng trung thành là Dương Văn Minh. Nhưng cũng tương đương với ngày tháng này, sáu năm sau, Dương Văn Minh tuân lệnh Hoa-kỳ, giết chúa.

Bấy giờ, đệ nhất Cộng-hòa thành lập chưa quá hai năm, mới chỉ có viện Khảo-cổ, không có cơ quan nghiên cứu lịch sử. Cho nên không ai nghĩ đến việc sang Ðại-hàn tìm hiểu xem họ Lý từ Việt Nam, đã di sang đây từ bao giờ ? Ai là nguyên tổ của họ ?

Thời gian này tôi mới 18 tuổi, vừa bước chân vào đại học. Nhưng nhờ thấm nhuần Nho-giáo, nên đã chững chạc lắm rồi. Tôi viết thư cho sứ quán Ðại-hàn tại Việt-Nam để hỏi về chi tiết này. Dĩ nhiên tôi viết bằng chữ Nho. Hơn tháng sau tôi được thư trả lời của tộc Lý tại Nam-hàn. Trong thư, họ cho tôi biết rằng: “Tổng-thống Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến-bình vương Lý Long Tường. Kiến Bình vương là con thứ 6 của vua Lý Anh-tông. Người cùng tông tộc sang Cao-ly vào đầu thế kỷ thứ 13 vì quốc nạn”. Ánh sáng đã mở ra trước mắt tôi. Nhưng tôi tra trong Ðại-Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), trong Việt-sử lược (VSL), trong Khâm-Ðịnh Việt-sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), không bộ nào nói đến Kiến Bình vương Lý Long Tường cả.

Tò mò chưa được thỏa mãn, nhưng tôi đành bỏ qua, vì bấy giờ tôi phải dồn hết tâm tư vào việc học. Năm 1959, trong khi lục lọi tại thư viện Paris, vô tình tôi đọc được Tập-san sử địa của Nhâ.t-bản, số 2 năm 1941, trong đó nói vắn tắt rằng: “Năm Bính Tuất, 1226, bấy giờ là niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tôn nhà Trần. Biết mình là con thứ sáu vua Lý Anh-tông, lại đang giữ chức đô đốc, tư lệnh hải quân, trước sau gì cũng bị Trần Thủ Độ hãm hại, nên ông đã đem tướng sĩ dưới quyền, tông tộc, cùng hạm đội ra đi, sau đó trôi dạt vào Cao-ly”.

Tôi tự hẹn, sau này có tiền sẽ sang Ðại-hàn tìm hiểu chi tiết này.

Thế nhưng, sau khi ra trường, 1964, tuy đã có chỗ đứng vững chắc về phương diện tài chánh. Ngặt vì nghề sinh nhai lối dọc đường ngang, tôi vẫn không thực hiện được cái ước vọng sang Hàn quốc, tìm hiểu về nguồn gốc họ Lý tại đây.

Mãi tới năm 1980, tháng 8, tôi đi trong phái đoàn Pháp, sang dự đại hội y khoa tại Hàng-châu Trung-quốc. Ở đại hội, tôi được tiếp xúc với phái đoàn Bắc-hàn. Phái đoàn này có bác sĩ Lý Chiếu Minh ở Hùng-xuyên (Hunchon) và bác sĩ Lý Diệp Oanh ở Thuận-xuyên (Sunchon). Bấy giờ tôi đã 41 tuổi, còn Diệp Oanh mới 30 tuổi. Tuy là bác sĩ, thế nhưng cô tươi như hoa lan, phơi phới như hoa thủy tiên ban mả. Thấy mỗi bữa ăn cô lẩm nhẩm đọc kinh mà không làm dấu thánh giá, tôi cho là cô đọc kinh Phật. Trêu cô tôi cũng đọc kinh Bát-nhã bằng tiếng Việt. Cô hỏi tôi:

– Ủa! Anh đọc kinh cảm ơn Tổng-thống Valéry Giscard đấy à?

– Không! Tôi đọc kinh Phật. Thế cô đọc kinh gì vậy?

– Phật đâu có cho anh cơm ăn, áo mặc ?

– Vậy cô đọc kinh gì ?

– Tôi đọc kinh cảm ơn cha già Kim Nhật-Thành đã cho chúng tôi đươc tự do, có cơm ăn, áo mặc! (2)

Ghi chú (2) Tại Bắc-Hàn, thịnh thời của Chủ-tịch Kim Nhật Thành, để tỏ lòng tôn kính lãnh tụ ; toàn quốc, khi ăn cơm, sáng dậy, tối đi ngủ đều đọc kinh tạ ơn Kim chủ tịch. Nghe cô nói, tôi hơi ngạc nhiên, nhưng tôi biết đó là niềm tin của cô, tôi không dám đùa, không thắc mắc.

Song thấy cô xinh đẹp, tôi tỏ một cái gì cho có vẻ nịnh đầm, theo thói thông thường của y giới Pháp: “Ở nước tôi, vào thế kỷ thứ 12, dưới triều vua Lý Anh-tông, tổ tiên tôi là Trần Thủ Huy được gả công chúa Đoan Nghi…”. (3)

Ghi chú (3) Theo gia phả của con cháu Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc tại Trường-sa Trung-quốc, thì một tướng triều Lý Anh-tông là Trần Thủ Huy được giả công chúa Lý Đoan Nghi, con vua Anh-tông. Thái-sư Trần Thủ Độ của triều Trần là con của Phò-mã Thủ-Huy và Công-chúa Đoan-Nghi.

Diệp Oanh cắt lời:” Sang đầu thế kỷ thứ 13, cũng tổ tiên anh là Trần Liễu được gả công chúa Thuận Thiên, Trần Cảnh được vua Chiêu Hoàng tuyển làm chồng. Rồi tổ tiên anh xua đuổi, nên tổ tiên tôi thành thuyền nhân, ngày nay Hàn quốc mới có họ Lý”. À! Vạn lý tha hương ngộ tri kỷ đây.

Biết rất rõ Diệp Oanh là con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, tôi đùa thêm: “Biết đâu cô không là công chúa Đoan Nghi, tôi không là Trần Thủ Huy tái đầu thaỉ. Có lẽ chúng mình nên đi tiếp con đường tổ tiên mình đã đi”. Diệp Oanh vã tôi một cái vào má trái, tỏ cử chỉ thân thiện. Song chúng tôi bắt con tim ngừng phiêu lưu ở đây, vì bấy giờ bà vợ tôi còn sống, còn quá trẻ; vợ chồng lại rất tương đắc ngoài đời, nồng thắm trong phòng the. Thế rồi chúng tôi nhận họ. Đặc biệt là trong lúc đối thoại, Chiếu Minh với Diệp Oanh cứ tự hào cái gốc Việt của mình. Suốt đại hội, tôi với Chiếu Minh, Diệp Oanh gần nhau như bóng với hình. Tôi kể cho hai người nghe về những trang sử rực hào quang dưới thời Lý, nhất là huyền sử về Linh Nhân hoàng thái hậu (Ỷ Lan). Sau đại hội, Chiếu Minh, Diệp Oanh rủ tôi du lịch Bắc-Hàn. Bấy giờ là thịnh thời của chủ tịch Kim Nhật Thành, Bắc-Hàn khép kín cánh cửa với thế giới bên ngoài.

Tuy nhiên nhờ mang thông hành Pháp, nên tòa đại sứ Bắc-Hàn ở Bắc-kinh cho tôi cái chiếu khán được du lịch nghiên cứu về nhân sâm trong 8 ngày. Tới Bắc-Hàn, ông đại sứ Pháp tưởng tôi đi nghiên cứu nhân sâm thực. Ông lệnh cho văn phòng tùy viên văn hóa giúp đỡ tôi. Tôi tự biết mình có địa vị, có danh dự, không muốn nói dối ông đại sứ. Tôi thú thật là đi tìm một số tài liệu lịch sử của tổ tiên tôi về thế kỷ thứ 12. Dù biết tôi mượn danh đi nghiên cứu y khoa, mà Ủy-ban y học Pháp- Hoa (Commité Médical Franco-Chinois viết tắt là CMFC) dư thừa tài chánh đài thọ tất cả phí tổn cho tôi. Thế nhưng sứ quán Pháp vẫn giúp đỡ tôi tận tình. Nào cung cấp xe, cung cấp tài xế, gửi thư giới thiệu.v.v. Kể ra làm công việc nghiên cứu của Pháp cũng sướng thực. Xin cảm ơn tinh thần yêu văn hóa của nước Pháp. Tại Hùng-xuyên, cũng như Thuận-xuyên, các chi họ Lý tiếp đón tôi rất niềm nở. Buồn là các cuộc đàm thoại bị giới hạn khá nhiều, tôi phải uốn cong lưỡi dùng tiếng Quan-thoại nói với Chiếu Minh và Diệp Oanh. Hai vị này dịch sang tiếng Ðại-hàn. Các chi họ Lý xin phép chính quyền, rồi tổ chức những buổi hội, để nghe tôi nói chuyện về thời đại Tiêu-sơn tức thời Lý.

Khi nghe kể đến đoạn công chúa Bảo Hòa tu tiên, cho đến tuổi 90 vẫn trẻ như hồi 17 tuổi, cử toạ suýt xoa sung sướng. Lại khi nghe tôi thuật giai thoại vua Lý Thánh-tông, đang đêm trốn khỏi hoàng cung, gặp cô thôn nữ Yến Loan, rồi sau đưa về cung phong làm Ỷ Lan phu nhân; cử tọa vỗ tay hết tràng này đến tràng khác. Khi nghe tôi kể đến các công chúa Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh trấn ngự biên cương khiến các quan Tống ở Nam-biên nghe đến tên đều kinh hồn vỡ mật. Các cô ngửa mặt lên nhìn trần nhà cười đầy vẻ hãnh diện. Lúc mà tôi thuật đến đoạn Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại quân phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt (1076), tiến đến rừng tre, cách Thăng-long có 25 cây số…

Trong phòng có đến hơn 700 người, mà không một tiếng động. Rồi tôi kể tiếp: Công chúa Thiên Ninh đánh bật quân Tống trở về Như-nguyệt, thì phòng hội hoan hô đến muốn rung động thành phố. Tôi thuật tiếp đến đoạn công chúa tuẫn quốc, thì cả phòng hội đều khóc nức nở. Những người khóc nhiều nhất lại là những thiếu niên. Đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu (Ỷ-Lan) ở xã Dương-xá, huyện Gia-lâm, Hà-nội.    Đây là 1 trong 9 đền thờ ngài, vẫn còn tồn tại. Hầu hết những chi họ Lý đều đem gia phả ra hỏi tôi những chi tiết mà họ không hiểu. Tất cả gia phả đều viết bằng chữ Nho. Như gia phả của chi Thuận-xuyên, có đôi câu đối: Thập-bát anh hùng giai Phù Ðổng, Tam thiên nữ kiệt tỷ Mê-linh. ( Mười tám anh hùng đều như Phù Ðổng thiên vương. Ba nghìn nữ kiệt đều có thể sánh với Trưng-vương).

Tôi phải moi trí nhớ, để đọc cho họ chép lại tiểu sử 18 danh tướng vào thời vua Lý Nhân-tông, kháng Tống tuẫn quốc. Tôi lại phải thuật cho họ nghe về công chúa Thiên Ninh (Bà chúa kho) có 3 nghìn nữ binh. Khi Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang Ðại-Việt, phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt tiến về Thăng-long. Quân Tống nhập vào phòng đai phòng thủ chỉ cách Thăng-long có 25 cây số, bị công chúa đánh bật trở về Bắc sông Như-nguyệt. Sau đó công chúa cùng 3 nghìn nữ kiệt đều tuẫn quốc. (4)

Ghi chú (4) 18 anh hùng đánh Tống, kháng Tống thời Lý, trong sử không ghi, nhưng tôi đã tìm ra tên, và đền thờ, nhờ tài liệu rải rác trong các thư tịch Trung-quốc, đó là

1. Lý Hoằng Chân,

2. Lý Chiêu Văn,

3. Bùi Hoàng Quan,

4. Dư Phi,

5. Nguyễn Căn,

6. Hoàng Kiện,

7. Phạm Dật,

8. Vũ Quang,

9. Đinh Hoàng Nghi,

10. Lý Đoan,

11. Trần Ninh,

12. Trần Di,

13. Dương Minh,

14. Triệu Thu,

15. Mai Cầm,

16. Quách Y,

17. Ngô Ức,

18.Ta. Duỵ

(Xin đọc hành trạng của các ngài trong bộ Nam-quốc sơn hà của Trần Đại Sỹ, do Ðại-Nam Hoa Kỳ ấn hành).

Hầu hết các chi, khi nghe tôi nói rằng: Triều Trần kế tục triều Lý. Nhưng các vua triều Trần đều dành ra một số ruộng đất lớn, cho tá điền cầy cấy, thu tô để làm phương tiện hương khói, thờ cúng, tu bổ lăng tẩm 9 đời vua triều Lý… đều hài lòng. Các triều đại kế tiếp như Lê, Nguyễn vẫn giữ nguyên truyền thống này.Mãi đến năm 1956, trong cuộc cải cách ruộng đất, những ruộng đất này mới bị lấy lại lập hợp tác xã. Tuy nhiên đây là những di tích lịch sử, nên kể từ năm 1962, bộ Văn-hóa của nước Việt-Nam dân chủ cộng hòa (Bắc Việt-Nam) đã ban nghị định công nhận là di tích văn hóa, lịch sử, và cử cán bộ bảo quản rất kỹ.

Cổng trong đền thờ Bà chúa kho (Công chúa Thiên-Ninh) tại Thi.-cầu Bắc-ninh. Sau cổng trong tới tiền đình đền thờ Bà chúa kho

Ghi chú, Triều Lý có 8 vị vua, nhưng tôi vẫn coi Lý Chiêu-Hoàng là vị vua thứ 9, chứ không dám coi thường Ngài. Bác-sĩ Diệp Oanh dẫn tôi thăm những vùng đất linh của giòng họ Lý. Thực là kỳ điệu, dưới chế độ Bắc-Hàn chủ trương hủy diệt tất cả những gì là văn minh của tổ tiên, để chỉ còn biết đến cha già dân tộc Kim Nhật Thành. Thế nhưng giòng họ Lý vẫn giữ gìn được những di tích của tổ tiên. Nào cửa biển Phú-lương giang nơi hạm đội của Kiến- bình vương cập bến Cao-ly, nào Ung-tân, nơi đầu tiên họ Lý làm nhà ở, nào ngọn đồi Julhang thuộc xã Đỗ-môn (Tô-mơ-ki) nơi có lăng của Kiến Bình vương Lý Long Tường. Tôi cũng được lên Quảng-Ðại sơn thăm Vọng-quốc đài, là nơi vương lên nhìn về quê hương.

Sau đó, với quyết tâm tìm lại dấu vết người xưa, năm 1983, tôi lên đường đi Nam-hàn để tìm hiểu thêm về giòng họ Lý. Tiếc rằng hạm đội của Lý Long Tường tới Hàn-quốc táp vào miền Bắc, vì vậy dường như tại Nam-hàn không có một chút di tích nào của ông. Giòng họ Lý sống tại Nam-hàn rất ít, tổng số chưa quá nghìn hộ, nhưng họ đều là những người kiệt hiệt trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, thương mại, kỹ nghệ. Về tình cảm, họ cũng giống như người Bắc hồi 1954 di cư vào Nam, mang theo rất ít di vật, gia phả về tổ tiên mình. Không nhà nào mang được gia phả cổ. Gia phả mà họ cho tôi xem, hầu hết là mới chép gần đây. Nội dung lại quá nhiều sai lạc. Như chép về việc ra đi của Kiến Bình vương, gia phả nói rằng họ Lý bị Trần Thủ Độ cướp ngôi, Lý Long Tường cầm quân chống lại, bị thua. Về Lý Chiêu Hoàng, họ chép là hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông!(5)

Ghi chú (5) Sau đó tôi đã giúp họ hiệu đính lại những chỗ sai lầm trong gia phả của họ..

Dòng thứ nhất:

Hậu duệ Kiến Hải vương, hay họ Lý Tinh-thiện. Thế nhưng, tại Nam-hàn tôi gặp ông Lý Gia Trung. Ông cho biết, tổ tiên ông là người Việt, nhưng không thuộc giòng dõi Kiến Bình vương. Tổ tiên ông là Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đã đến Cao-ly hồi đầu thế kỷ thứ mười một. Quý độc giả có biết tâm trạng tôi bấy giờ ra sao không ? Kinh ngạc, bàng hoàng, đờ đẫn cả người ra, trong khi chân tay run run. Vì trong khi nghiên cứu về triều Lý, tôi biết một huyền sử vắn tắt như sau : “Vua Lý Nhân-tông không có hoàng nam, người nhận con của các thân vương trong hoàng tộc làm con nuôi. Năm Đinh Dậu (1117) nhận con của hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng làm con nuôi.

Sau truyền ngôi cho con của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, tức vua Lý Thần-tông. Khi Lý Thần-tông băng, Thái-tử Thiên-tộ còn bế ngửa, triều thần muốn tôn con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn lên nối ngôi. Cuộc tranh quyền trong giòng họ Lý diễn ra, sau vợ của vua Lý Thần-tông nhờ có tình nhân là Đỗ Anh Vũ giúp đỡ, mà loại hết các địch thủ. Năm Canh Ngọ (1150) nhân vụ chính biến, Cảm Thánh thái hậu mưu với tình nhân Đỗ Anh Vũ giết hết tông tộc của các hầu Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành Hưng. Bấy giờ con Thành Quảng hầu là Kiến Hải vương Lý Dương Côn đang là đô đốc Thủy-quân, bèn đem gia thuộc xuống chiến thuyền lưu vong. Song không biết đi đâu (1150) “.

Bây giờ, sau 831 năm, tôi gặp lại hậu duệ của Kiến Hải vương. Tâm tư rúng động ! Hỡi ơi ! Tại Hàn-quốc có tới hai giòng họ Lý, gốc là thuyền nhân Ðại-Việt. Tôi ghi chú tất cả những gì mà giòng họ Lý của Kiến Hải vương cung cấp để khi viết về thời đại Tiêu-sơn còn có thêm tài liệu. Cuối năm 1996, một nhà nghiên cứu tộc phả nổi tiếng của Nam-hàn là giáo sư Phiến Hoằng Cơ (Pyon Hong Ke) công bố kết quả cuộc nghiên cứu của ông rằng ông đã phát hiện một giòng họ Lý thứ nhì, tại Ðại-hàn, được gọi là Lý Tinh-thiện.

Giòng họ này, chính là giòng họ Lý, con cháu Kiến Hải vương mà tôi đã có cơ duyên gặp hậu duệ là ông Lý Gia Trung. Giáo sư Phiến Hoằng Cơ cho biết, căn cứ vào gia phả của giòng họ này mang tên Tinh-thiện Lý thị tộc phả, được lưu trữ tại thư viện Quốc-gia Hán-thành, thì ông tổ của giòng họ Lý Tinh-thiện là Lý Dương Côn (Lee Yang Kon) tới Ðại-hàn vào đầu thế kỷ thứ 12: “Lý Dương Côn hiệu là Nguyên Minh, hoàng tử thứ ba con vua Càn Đức, được Tống triều phong tước Nam-bình vương”. Tra trong sử Việt, thì vua Càn Đức chính là tên của vua Lý Nhân-tông. Vua Lý Nhân-tông là con của vua Lý Thánh-tông với Ỷ-Lan phu nhân, sau được tôn là Linh- Nhân hoàng thái hậu. Người chỉ đạo cuộc đánh Tống, kháng Tống lừng danh lịch sử Việt-Nam. Theo ĐVSKTT, Lý kỷ, Nhân-tông kỷ thì: “Niên hiệu Hội-tường Ðại-khánh thứ 8 DL.1117, Đinh Dậu)… …Tìm con trai trong tôn thất để nuôi trong cung. Xuống chiếu rằng: Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có hoàng nam, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai. Nên trẫm nuôi con của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng, chọn người giỏi lập làm thái tử.

Bấy giờ con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán, lanh lợi, vua rất yêu, bèn lập làm Thái-tử”. Vậy thì Lý Dương Côn là con nuôi của vua Lý Nhân-tông, chứ không phải con đẻ. Con nuôi thứ ba, thì là con của Thành Quảng hầu Lý Dương Côn, được phong tước Kiến Hải vương. Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ dựa theo Tinh-thiện Lý thị tộc phả và bộ Cao-ly sử, ông công bố: ” Hậu đuệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn là Lý Nghĩa Mẫn (Lee Unimin) trở thành nhân vật kiệt hiệt trong lịch sử. Bấy giờ Cao-ly đang ở dưới triều đại vua Nghị-tông (Ui-jiong 1146-1170). Nhà vua rất sủng ái Lý Nghĩa Mẫn, phong cho chức Biệt-trưởng.

Nước Cao-ly trong thời gian này, phải chống trả với cuộc xâm lăng của Khiết-Ðan tức Đại- liêu, nên các võ tướng nắm hầu hết quyền hành. Năm 1170 tướng Trịnh Trọng Phu (Jeong Jung-bu) chưởng môn một võ phái, đảo chính vua Nghi.-tông lập vua Minh-tông (Mycong 1170-1179). Trọng Phu bị các võ phái, võ tướng nổi lên chống đốị Lý Nghĩa Mẫn là người phụ tá đắc lực cho Trịnh Trọng Phu, đem quân dẹp các cuộc nổi dậỵ Ông được thăng chức Trung-lang tướng, rồi dần dần thăng Tướng-quân, Ð?i-tướng quân (1173), Thượng-tướng quân (1174), cuối cùng là Tây Bắc bộ binh mã sứ (1178) (Tức Tư-lệnh quân lực miền Bắc Cao-ly). Năm 1179, một võ quan khác là Khánh Đại Thăng (Kyung Dae-Seung) làm cuộc chính biến, giết chết Trịnh Trọng Phu, lên nắm quyền. Bấy giờ Lý Nghĩa Mẫn giữ chức Hình-bộ thượng thư (1181) (Bộ trưởng Tư-pháp). Vì ông thuộc phe Trịnh Trọng Phu, nên bị nghi ngờ, chèn ép. Ông cáo quan về hưu. Sau khi Khánh Đại Thăng chết, vua Minh-tông mời Lý Nghĩa Mẫn vào bệ kiến, được trao chức Tư-không, Tả-bộc xạ, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự tức Tể- tướng trong 14 năm (1183-1196).

Năm 1196 một phe võ tướng do Thôi Chung Hiếu (Cho Chung Heon) cầm đầu làm cuộc đảo chính, giết Lý Nghĩa Mẫn. Ba con ông là Lý Chính Thuần, Lý Chí Vinh, Lý Chí Quang đều là tướng cầm quân, cũng bị giết chết. Quân phiến loạn chỉ tha cho người con gái ông là Lý Hiền Bật. Giòng họ Lý Tinh-thiện tưởng đâu tuyệt tự. Nhưng may mắn thay, giòng họ này còn kế tục là nhờ người anh Lý Nghĩa Mẫn và các con không bị hại. Phối hợp chính sử với gia phả, giáo sư Phiến Hoằng Cơ kết luận rằng: Giòng họ Lý tại Tinh-thiện thuộc đạo Giang-nguyên, phía Đông Nam Ð?i-hàn ngày nay là con của hoàng tử Lý Dương Côn thuộc triều Lý, Việt-Nam (1010-1225). Lý Dương Côn bỏ quê hương ra đi vì sự đe dọa của nước Kim đối với Tống, năm 1115. Tới năm 1127 thì Bắc Tống bị diệt

” Qua cuộc nghiên cứu của Phiến Hoằng Cơ, tôi thấy có đôi chút nghi vấn:

– Một là, vua Lý Nhân-tông nhận con nuôi năm 1117. Vua Thần-tông sinh năm 1116, vậy thì Lý Dương Côn chỉ có thể sinh năm 1116 hay 1117 mà thôi. Năm Lý Dương Côn rời Ðại-Việt ra đi là năm 1150. Bấy giờ ông mới 32-33 tuổi. Thế nhưng gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng năm 1170 Lý Nghĩa Mẫn, hậu duệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn, được vua Nghị-tông phong cho chức Biệt-trưởng. Đây là điều vô lý. Bởi năm đó chính Lý Dương Côn có còn tại thế thì ông mới có 54 tuổi, làm sao ông đã có cháu 6 đời? Tôi thì tôi cho rằng Lý Nghĩa Mẫn là con Lý Dương Côn. Còn hậu duệ đời thứ sáu là kể từ vua Lý Thái-tổ:

1. Lý Thái-tổ.

2. Lý Thái-tông.

3. Lý Thánh-tông.

4. Lý Nhân-tông.

5. Kiến HảI vương Lý Dương Côn.

6. Lý Nghĩa Mẫn.

– Hai là, trong gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng, Lý Dương Côn rời quê hương ra đi vì quốc nạn. Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ cho rằng vì sự đe dọa của Kim. Có lẽ khi giải đoán việc ra đi của Lý Dương Côn, ông đã bị ảnh hưởng bởi sử Cao-ly. Vì hồi ấy, nước Kim đang từ một bộ lạc Nữ-chân, nổi lên diệt nước Liêu, rồi đem quân đánh Tống. Sau đó, họ bắt vua Tống mang về Bắc. Nhưng con cháu nhà Tống lại tái lập triều Nam-Tống. Khoảng cách Kim với Ðại-Việt còn một nước Tống quá rộng, quá xa. Dù Kim hùng mạnh cũng không ảnh hưởng gì tơí Ðại-Việt khiến Lý Dương Côn phải bỏ nước trốn đi. Nhất là giai đoạn 1161 đến 1174, bấy giờ binh lực Ðại-Việt đang mạnh, muốn hướng lên Bắc tái chiếm lại Quảng Đông, Quảng Tây! (xin đọc Anh-hùng Đông-A dựng cờ Bình-Mông của Trần Đại Sỹ, hồi 4 và hồi 16-17-18).

Lần lại trang sử Ðại-Việt thời đó: Vua Thần-tông được vua Nhân-tông đem vào cung nuôi cùng 4 người anh em họ. Nhưng ngài được lập làm Thái-tử, rồi lên ngôi vua. Theo Hội-Ðiển sự lệ triều Lý thì những chức như: Thái-úy, tương đương với ngày nay là Tổng Tư-lệnh quân đội. Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, tương đương với ngày nay là Tư-lệnh lục quân. Đại Đô-Ðốc Thủy quân, tương đương với ngày nay là Tư-lệnh thủy quân.

Các chức này luôn trao cho các hoàng đệ. Vì vậy trong 5 con nuôi của vua Lý Nhân-tông, thì Thái-tử Dương Hoán đươc truyền ngôi, còn 4 con nuôi khác, là con của các hầu Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng ắt được phong vào các chức trên. Con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn được phong tước Kiến Hải vương, lĩnh chức Đại Đô-Ð?c Thủy-quân. Khi vua Thần-tông băng (1138), Thái-tử Thiên-tộ mới có 2 tuổi, triều thần muốn tôn hoàng đệ Lý Dương Côn lên ngôi vua, vì ông là người thông minh, tài trí, đang là Đại Đô-Ð?c, ở tuổi 22. Nhưng rồi mẹ của Thái-tử Thiên-tộ là Cảm Thánh hoàng hậu đã dùng vàng bạc đút lót cho các quan, bà lại được tình nhân Đỗ Anh Vũ là em của Chiêu Hiếu thái hậu, (mẹ vua Thần-tông) hết sức ủng hô..

Thiên-tộ lên ngôi vua, sau là vua Anh-tông. Dĩ nhiên vua Anh-tông lên ngôi, khi còn bế ngửa, thì mẹ là Cảm Thánh thái hậu thính chính, nói khác đi là làm vua. Bà phải diệt hết những mầm mống có thể nguy hiểm cho con bà. Bà cùng Đỗ Anh Vũ vu cáo, giết hết các em nuôi của vua Thần-tông là con của các hầu em vua Nhân-tông. Toàn gia các hầu, từ thê thiếp, con, cháu, thân binh, nô bộc đều bị giết sạch. Riêng Lý Dương Côn đóng quân ở Đồn-sơn, được mật báo. Ông đem hết gia thuộc, xuống chiến thuyền, bỏ quê hương ra đi, rồi táp vào Cao-lỵ Tôi kết luận : Dù Lý Nghĩa Mẫn là cháu 6 đời của Kiến Hải vương Lý Dương Côn hay là cháu 6 đời vua Lý Thái-tổ, thì ta vẫn kết luận rằng : Năm 1150, Kiến Hải vương Lý Dương Côn, lĩnh chức Đại Đô-Ðốc đã cùng tông tộc dùng thuyền tỵ nạn tại Cao-ly. Đời sau có nhân vật kiệt hiệt là Lý Nghĩa Mẫn, đóng một vai trò trọng yếu trong lịch sử Cao-ly. Giòng họ Lý này, nay vẫn còn truyền tử lưu tôn tại Ðại-hàn.

Giòng thứ nhì, Hậu duệ của Kiến-bình vương Lý Long Tường, còn gọi là Lý Hoa-sơn.

Giòng họ Lý thứ nhì tới Ðại-hàn sau giòng họ Lý Tinh-thiện 76 năm, là hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, con thứ 7 của vua Lý Anh-tông. Mà tôi đã trình bầy ở trên.

TheoTrần-tộc vạn thế ngọc phả, của chi bốn, thuộc giòng dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc, để tại nhà từ ở thị xã Lãnh-thủy, huyện Chiêu đương, tỉnh Hồ Nam, Trung-quốc ; phần chép về Ninh-tổ hoàng đế Trần Lý. Có đoạn nói v? các con vua Lý Anh-tông, nguyên văn như sau :

Vua có bẩy hoàng tử. Hoàng trưởng tử Long Xưởng do Chiêu Linh hoàng hậu sinh vào niên hiệu Đại Định thứ 12 (DL.1151, Tân-Mùi). Được phong tước Hiển Trung vương, lập làm Thái- tử. Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên nhiên (DL.1174, Giáp-Ngọ) bị giáng xuống làm con út, tước Bảo Quốc vương. Niên hiệu Trinh Phù thứ sáu (DL.1181, Tân-Sửu) làm phản, bị hạ ngục, rồi bị Đỗ An Di giết cả nhà, thọ 31 tuổi.

Hoàng-tử thứ nhì Long Minh do Thần-phi Bùi Chiêu Dương sinh vào niên hiệu Đại Định thứ 11 (DL. 1152, Nhâm-Thân). Tước phong Kiểm-hiệu Thái-sư, Thượng-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, lĩnh Đại đô-Ðốc, Kiến Ninh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (DL.1175.). Thọ 24 tuổi.

Hoàng-tử thứ ba Long Đức, cũng do Bùi Thần-phi sinh niên hiệu Đại Định thứ 12 (DL.1153, Quý Đậu). Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-bảo, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả bộc xạ, Phụ-quốc thượng tướng quân, Long-thành tiết độ sứ, Kiến An vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175), thọ 23 tuổi.

Hoàng-tử thứ tư Long Hòa do Quý-phi Hoàng Ngân Hoa sinh niên hiệu Đại Định thứ 11 (DL.1152, Nhâm-Thân). Chức tước phong như sau : Đặc tiến Thiếu-sư, Khu- mật viện sứ, Thượng-thư tả thừa, Trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư lệnh, Tả kim ngô thượng tướng, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Kiến Tĩnh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175) thọ 24 tuổi.

Hoàng-tử thứ năm Long Ích, do Đức-phi Đỗ Kim Hằng sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 5 (DL.1167, Đinh-Hợi). Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-phó, trấn Nam tiết độ sứ, Thươ.ng-thư tả thừa, Kiến Khang vương. Hoăng niên hiệu Kiến-gia thứ 2 (DL.1212 Nhâm-Thân), thọ 46 tuổi.

Hoàng-tử thứ sáu Long Trát, do Thục-phi Đỗ Thụy Châu sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 11 (DL.1172, Nhâm-Thìn), tháng 5, ngày 25, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên được lập làm Thái-tử. Năm thứ nhì được truyền ngôi tức vua Lý Cao-tông. Băng niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ 6 (DL.1210, Canh-Ngọ), ngày 28 tháng 10, thọ 38 tuổi.

Hoàng-tử thứ bảy Long Tường do Hiền-phi Lê Mỹ Nga, sinh vào niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 12 (DL.1174, Giáp-Ngọ). Đức Thái-tông nhà ta (tức Trần Cảnh) phong chức tước phong như sau : Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc, tước Kiến Bình vương. Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời đức Thái-tông nhà ta (tức Trần Cảnh), tháng tám, ngày rằm, vương cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người bôn xuất.

So sánh giữa Tộc phả Hoa-sơn và Trần tộc vạn thế ngọc phả, có một chi tiết khác nhaụ Tộc phả Kiến Bình thì chép Kiến Bình vương là con thứ sáu vua Anh-tông. Trong khi Trần tộc vạn thế ngọc phả lại chép vương là con thứ bẩỵ Vì sao ? Phả Trần tộc chép theo huyết tộc, ai sinh trước là anh, ai sinh sau là em. Vì vậy Kiến Bình vương là con thứ 7. Phả Kiến Bình thì chép thứ tự theo chỉ dụ của vua Lý Anh tông, Long Xưởng bị giáng xuống làm con út, thì Long Tường trở thành con thứ sáu. Hồi đó Lý Long Tường dẫn tông tộc rời Ðại-Việt ra đi. Trần triều không biết đi đâu.

Nay chúng ta mới được biết vương với hạm đội bị bão phải ẩn ở một đảo lớn (Đài- loan ?) Nghỉ ít lâu, hạm đội của vương lại tiếp tục lên đường rồi dạt vào Cao-ly. Duy một người con của vương tên Lý Long Hiền cùng gia thuộc hơn hai trăm người ở lại đảo. Vương là khai tổ của giòng họ Lý tại Ðại-hàn, thế tử Long Hiền là khai tổ của giòng họ Lý tại Đài-loan hiện nay ? Sự kiện này tôi sẽ đi Đài-loan tìm hiểu sau.

Tôi đã bỏ công sang Bắc cũng như Nam-hàn, tìm các chi, hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, khảo gia phả của họ. Phần chi tiết tuy có sự khác biệt, nhưng đại lược vẫn giống nhaụ Tổng-thống Lý Thừa Vãn của Ðại-hàn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến Bình vương Long Tường. Còn tổng thống Lý Đăng Huy của Đài-loan có phải là hậu duệ của thế tử Lý Long Hiền hay không, thì tôi không dám quyết, bởi Lý là giòng họ chiếm đa số ở Trung-quốc.

Trong một bài khác, tôi sẽ trình bầy về Thủ-tướng Lý Quang Diệu của Singapore là Việt kiều, khai tổ một chi họ Lý đời thứ nhất hay Lý khác ? ( Thưa quý độc giả, chỉ cần thử nghiệm di truyền ADN là ra ngay). Cả ba bộ sử ĐVSKTT, VSL, KĐVSTGCM cùng chép rất mơ hồ về việc vua Anh-tông phế Long Xưởng lập Long Trát. Nhà vua có tới bẩy hoàng tử. Nếu sự thực Long Xưởng phạm tội, phế xuống, sao không lập các con đã trưởng thành, tài trí xuất chúng, đang cầm đại quyền như Kiến Ninh, Kiến An, Kiến Tĩnh vương?

Hoặc cùng quá, thì lập Kiến Khang vương Long Ích, năm ấy đã chín tuổi ? Mà phải lập Long Trát mới có 26 tháng làm Thái-tử, rồi phải cử Tô Hiến Thành làm phụ chính ? Cái khúc mắc này tôi đã giải thích rất chi tiết, rất rõ ở hồi 21-23 bộ Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông. Trong bài ngắn này không thể giải thích hết. Dưới đây là phần tôi thuật theo Tộc-phả Lý Hoa-sơn: Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.1226, Bính Tuất), lo sợ bị Thái-sư Trần Thủ Độ hãm hại, vì vị thế trọng yếu của mình:

– Là con vua Anh-tông, em vua Cao-tông, chú vua Huê.-tông.

– Thân vương duy nhất nắm quyền hành.

– Chức tước cực phẩm Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thươ.ng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc. Vương âm thầm cùng Bình Hải công Lý Quang Bật từ căn cứ Đồn-sơn về Kinh Bắc, lạy ở lăng miếu Đình-bảng. Lại đến Thái-miếu mang bài vị, các tế khí ra trấn Đồn- sơn, rồi đem hết tông tộc hơn 6 nghìn người, xuống hạm đội ra đi.

Việc Kiến Bình vương ra đi, có lẽ bắt nguồn từ việc ra đi của Kiến Hải vương trước kia chăng? Sau hơn tháng lênh đênh trên biển, thì gặp bão. Hạm đội phải ngừng lại một đảo (Đài-loan?) rồi tiếp tục lên đường.

Một trong các con của vương là Thế-tử Lý Đăng Hiền cùng vợ con ở lại đảo. Hạm đội lênh đênh trên biển một thời gian, thì táp vào cửa Phú-lương giang, quận Khang-linh (Ong Jin-Gun) tỉnh Hoàng-hải (Hwang-hac) thuộc Bắc Cao-ly.

Nơi hạm đội táp vào, dân chúng gọi là Nak-nac-wac có nghĩa là Bến của khách phương xa có đồ thờ cúng. Theo gia phả của con cháu vương thì : Đêm hôm trước, vua Cao-tông (Kojong) của Cao-ly mơ thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lại đậu ở bờ Tây-hải. Tỉnh lại, vua sai người tới đó tìm kiếm, thì gặp hạm đội của Kiến-bình vương. Kiến-bình vương được bệ kiến. Vương dùng bút đàm với vua Cao-tông và các đại thần Cao-ly. Triều đình Cao-tông đối xử với vương rất tốt, chu cấp lương thực. Cho làm nhà ở Ung-tân phủ Nam-trấn sơn (Chin-sang).

Thế là mấy nghìn người Việt trở thành thuyền nhân kiều ngụ tại Cao-ly. Lý Long Tường cùng tướng sĩ, gia thuộc bắt đầu cuộc sống mới. Họ trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi làm kế sinh nhai. Vương mở trường dạy học: Thi phú, lễ nhạc, tế tự, binh pháp, võ thuật. Vương soạn sách Học vấn giảng hậu. Vì học trò đông, Vương cho xây Độc-thư đường, Giảng võ đường. Đệ tử của Vương lúc nào cũng trên nghìn người.

Tháng 7 năm Quý-sửu (1253) đời vua Cao-tông năm thứ 40, quân Mông-cổ xâm lăng Cao-ly, vượt Hỗn-Ðộng giang, chiếm Tây-hải, phá An-giang Tây-thành. Về mặt thủy, Mông-cổ chiếm các đảo Ð?i-thanh, Tiểu-thanh, Sáng-lân, rồi tiến chiếm Tây-Ðô (Giang-hoa). Thủ-Ðô Cao-ly bị đe dọa. Các tướng sĩ hầu hết bị tử trận. Thấy tình hình Cao-ly nguy ngập, Kiến Bình vương đến gặp Thái-úy (tướng tổng chỉ huy quân đội) là Vi Hiển Khoan, cố vấn cho ông về binh pháp Ðại-Việt. Đích thân vương cỡi bạch mã chỉ huy cuộc giữ thành: Đắp thành cao lên, đào hào đặt chông quanh thành. Trong thành đào giếng để có nước uống, tích trữ lương thảọ Vương đem tất cả binh pháp Ðại-Việt trong những lần đánh Tống, bình Chiêm ra giúp Cao-lỵ Đánh nhau suốt 5 tháng, quân Nguyên bị tuyệt lương thảo, bị chặn đường rút lui, xin hàng (6).

Tết năm ấy, toàn Cao-ly mừng chiến thắng. Triều đình khen ngợi Lý Long Tường, lấy tên ngọn núi ở quê hương vương là Hoa-sơn; phong cho vương làm Hoa-sơn tướng quân. Lại cho đổi tên ngọn núi nơi vương cư ngụ là Hoa-sơn. (7). Nhà vua sai dựng bia ghi công vương trên núi Hoa-sơn, đích thân vua viết ba chữ Thụ hàng môn (Cửa tiếp thụ giặc đầu hàng). Cho đến nay, sau 746 năm, trải biết bao nhiêu mưa nắng, thăng trầm; tấm bia ấy vẫn trơ gan cùng cùng tuế nguyệt, nhắc nhở du khách nhớ huân công của một Việt-kiều trên Hàn-quốc.

Ghi chú

(6) Có một sự trùng hợp. Năm năm sau, tháng 1-1258, Thái-sư Mông-cổ là Ngô.t-lương Hơ.p-thai (Uriyangqadai) đem quân đánh Đại Việt, cũng bị tuyệt đường lương, rồi bỏ chạỵ Xin đọc Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông hồi 50).

(7) Tôi tra trong địa lý thời Lý, trên lãnh thổ Đại Việt không có ngọn núi nào tên Hoa-sơn cả. Có lẽ là núi Tiêu-sơn, nơi phát tích ra triều Lý chăng ?

Trong dịp thăm Hoa-sơn năm 1981, tôi xin người đại diện tộc Lý cho phép được mượn thợ khắc vào một phiến đá bài thơ cổ phong bằng chữ Trung-quốc (Hán, Nho), đặt cạnh tấm bia trên, gọi là chút lòng của người sau, tế người trước. Xin phiên âm như sau: Điếu Kiến Bình vương Phúc tại Tiêu-sơn lĩnh, Thất đại bôn Bắc Cao, Bình Mông danh vạn đại, Tử tôn giai phong hầu. Học phong nhân bất cập. Vọng quốc hồn phiêu phiêu, Kim tải quá bát bách, Hà thời quy cố hương? (Ngài là người họ Lý, được hưởng phúc tại ngọn núi Tiêu-sơn. Kể từ vua Lý Thái-tổ tới ngài là đời thứ bẩy, phải bôn tẩu đến xứ Bắc Cao-ly. Nhờ chiến công đánh Mông- cổ, mà con cháu ngài đều được phong hầu. Ngoài ra, ngài là người đem học phong tới Cao-ly, công đức ấy không ai sánh kịp. Thế nhưng trải trên tám trăm năm, hồn ngài lúc nào cũng phiêu phưởng, không biết bao giờ được về cố hương ?). Ngày nay trên ngọn đồi Julbang thuộc xã Đỗ-môn (Tô-mơ-ki) cách núi Hoa-sơn 10 cây số về phía Tây còn lăng mộ ngài và con, cháu cho đến ba đời.

Trên Quảng-Ðại sơn có Vo.ng-quốc đàn, nơi cuối đời ngài thường lên đó, ngày ngày nhìn về phương Nam, ôm mặt khóc, tưởng nhớ cố quốc. Mỏm đá mà ngài đặt chân đầu tiên lên bờ biển Cao- ly, được gọi là Việt-thanh nham, tức đá xanh in vết tên Việt. Trên Hoa-sơn còn rất nhiều di tích kỷ niệm huân nghiệp của vương. Khi đến Hoa-sơn hành hương, thay vì chào nhau, du khách được hướng dẫn viên du lịch dạy cho nói câu: Hữu khách, Hữu khách, kỵ bạch mã. Nghĩa là Có người khách cỡi ngựa trắng, tức Lý Long Tường. Tương truyền một đạo binh thiện chiến do Vương huấn luyện, trở thành đạo binh bảo quốc, đời nọ sang đời kia đều lấy tên là Bạch-mã.

Hồi chiến tranh Việt-Nam (1960-1975) sư đoàn Bạch-mã có tham chiến, trấn đóng tại vùng Bồng-sơn, Quy-nhơn, Bình-Ðịnh. Cho đến nay, giòng họ Lý Hoa-sơn truyền trải 28 đời. Tại Nam-hàn chỉ có khoảng hơn nghìn hộ. Tại Bắc-hàn thì đông lắm, không thống kê được. Lý tộc tại Nam-hàn, hầu hết họ là những gia đình có địa vị trọng yếu về giáo dục, kinh tế, kỹ nghê.. Kỳ ứng cử vừa qua, một ứng viên Tổng thống họ Lý suýt trúng cử. Theo tấm bia trên mang tên Thụ-hàng môn bi ký, thì Kiến Bình vương Long Tường có nhiều con trai, tất cả đều hiển đạt.

Không thấy nói tơí Lý Long Hiền, cùng tông tộc hơn 200 người ở lại đảo (Đài-loan ? ). Lý Cán Đại lĩnh Đề-học nghệ văn quán, Kim-tử quang lộc đại phụ Lý Huyền Lương, Tham-nghị lễ tào, Chính-nghị đại phụ Lý Long Tiền Giám-tu quốc sử.(8)

Ghi chú

(8) Theo quan chế Tống, hồi đó thì chức Chiêu-văn quan đại học sĩ, giám tu quốc sử là danh tự để chỉ chức Tể-tướng. Không biết quan chế Cao-ly có giống Tống không ? Nếu giống thì Lý Long Tiền đã làm Tể-tướng.

Ngày nay, tại Bắc-hàn, cứ đến dịp tết Nguyên-Ðán, hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường khắp lãnh thổ Ðại-hàn đều kéo về Hoa-sơn để dự lễ tế tổ (Luật pháp Nam-Bắc Hàn đều cấm ngặt người Nam-Hàn du lịch Bắc-Hàn. Thế nhưng, hầu hết các hậu duệ tại Nam-hàn đã dùng phi cơ sang Trung-quốc, rồi từ Trung-quốc vào Bắc-hàn. Khi những hậu duệ Nam-Bắc Hàn gặp nhau, họ ôm nhau khóc nức nở. Sự kiện này chính phủ Nam-Bắc Hàn nhắm mắt lờ đi, vì tộc Lý dù ở Nam hay Bắc họ đều giữ những chức vụ trọng yếu). Khởi đầu của cuộc tế, đánh chín tiếng trống, gọi là âm-thanh để mọi người cùng tưởng nhớ cố quốc. Theo gia phả của chi Thuận-xuyên, sở dĩ đánh chín tiếng, vì muốn ghi lạI triều Lý trải 9 đời vua, kể cả Lý Chiêu-hoàng. (9)

Ghi chú,

(9) Chín đời vua triều Lý là,

1. Thái-tổ Lý Công Uẩn.

2. Thái-tông Lý Đức Chính.

3. Thánh-tông Lý Nhật Tông.

4. Nhân-tông Lý Càn Đức.

5. Thần-tông Lý Dương Hoán.

6. Anh-tông Lý Thiên Tô..

7. Cao-tông Lý Long Trát. 8. Huê.-tông Lý Long Sảm. 9.

hiêu-hoàng Lý Phật Kim.

Đền thờ tám vị vua triều Lý (Lý Bát-Ðế từ) tại Bắc-ninh

1. Tượng thờ vua Lý Thái-tổ

2. Tượng thờ vua Lý Thái-tông

3. Tượng thờ vua Lý Thánh-tông

4. Tượng thờ vua Lý Nhân-tông

5. Tượng thờ vua Lý Thần-tông

6. Tượng thờ vua Lý Anh-tông

7. Tượng thờ vua Ly Cao-tông

8. Tượng thờ vua Lý Huê.-tông

Hồ mã tê Bắc phong, Việt điểu sào Nam chi,

Nghĩa là: Con ngựa đất Hồ (vùng Bắc Trung-quốc) khi bị đưa vào Trung-nguyên, mỗi khi gió Bắc thổi, nó nhớ quê, hý lên, buồn thảm. Còn con chim Việt, lạc sang Trung-nguyên, khi làm tổ, bao giờ nó cũng làm ở cành phía Nam.

Năm 1995, con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, quy tụ hơn trăm người trở về Đình-bảng, huyện Tiên-sơn, tỉnh Bắc-ninh dự lễ hội làng vào ngày rằm tháng ba Âm-lịch. Tại thiên chi linh, hẳn 9 đời vua triều Tiêu-sơn, cũng như Kiến Bình vương Lý Long Tường đã thỏa nguyện:

Những đứa cháu lưu lạc, nay trở về chầu tổ.

Lời quê gửi tới người Việt hải ngoại. Hiện nay gần ba triệu người Việt lưu lạc khắp mọi góc biển, mọi chân trời. Có nơi sống tập trung như Hoa-kỳ, Thái-lan, Cao-miên, Ai-lao, Canada, Úc, Pháp, Nga-sô. Có nơi sống rải rác cô độc như Do-thái, Irak, Gabon…Nhìn vào tấm gương của hai giòng họ Lý tại Ðại-hàn. Dù con cháu quý vị không còn nói được tiếng Việt. Dù con cháu quý vị đã kết hôn với người địa phương. Nhưng quý vị phải luôn nhắc nhở cho chúng biết rằng: Chúng là người Việt, lấy chủ đạo là con Rồng cháu Tiên. Xin qúy vị khẩn chép lại:

1. Nguồn gốc giòng họ mình từ làng nào, xã nào, tỉnh nào.

2. Hoặc liên lạc với họ hàng trong nước để xin bản sao gia phả.

3. Tiểu sử những tiền nhân. Nếu không nhớ được hành trạng của các tổ xa đời, thì ít ra cũng chép được từ đời ông, đời cha.

4. Rời Việt-Nam ra đi vì lý do gì? Bắt đầu đến đâủ Lập nghiệp ra sao? Mỗi năm vào dịp tết, quý vị sai đọc cho tất cả con cháu đều nghe.

5. Hằng năm, nếu có thể, khuyên con cháu, nên trở về quê hương, viếng thăm đất tổ, thăm mồ mả tiền nhân.

6. Khi về già, các vị sai chép những gì quý vị chi thành ra thành nhiều bản, cho mỗi con một bản, và dặn con cháu chép tiếp…

Vài lời thô thiển.

Biết rằng các vị cho là thường. Thưa quý vị, tộc Việt ta vốn là con Rồng, cháu Tiên. Biết đâu trăm năm sau, nghìn năm sau, con cháu quý vị có thể là Tổng-thống Hoa-kỳ, Nga-sô hay Thủ-tướng Đức, Do-tháị Và biết đâu con cháu quý vị không thành Thủ-tướng Trung-quốc. Bây giờ những gì quý vị coi là thường, bấy giờ sẽ trở hành quý báu vô cùng.

Mong lắm thay!

Cầu xin như vậy đấy.

Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ (Những tài liệu tôi dùng để viết bài này rất phong phú, rất nhiều. Xin xem phần Những nguồn tài liệu, trong bộ Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông, quyển 1, do Ðại-Nam Hoa Kỳ ấn hành )

Lời bàn: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những vĩ nhân của dân Bách Việt, từ khi Trạng sinh ra, lớn lên và sau khi Trạng mất thì nước Việt luôn bị chiến tranh chết chóc đau khổ tang thương cho tới 1975, vì vậy mới có câu Sấm “Ngã bát thế chi hậu, binh qua khởi trùng trùng”. Có lẽ nhờ có Trạng Trình biết vận dụng tài năng siêu việt của mình mà nước Việt không thêm một lần bị xâm chiếm bởi phương Bắc.

Từ Bạch Vân Am Trạng Trình dùng cái nhìn chiến lược và phong thủy để mở ra mặt trận Nam phương cho Nguyễn Hoàng: vừa thực hiện việc mở rộng bờ cõi, vừa lấy thế hiểm mà dung thân, ông thôi thúc Phùng Khắc Khoan vào Thanh Hóa với nhà Lê vì sau này 1598, chính họ Phùng đi sứ sang Tầu đã dàn xếp chấp nhận để yên cho họ Mạc ở đất Cao Bằng. (VSSL-LVV)

Trạng Trình đã có hàng ngàn học trò tài giỏi được phân công chia nhau đi khắp nơi để mỗi người thực hiện những nhiệm vụ cho đất nước Việt, Sấm Trạng có thể là một “mật mã” của cụ Trạng bí mật truyền đi cho các môn sinh, hậu thế và các môn sinh hậu thế của cụ Trạng hiểu được “mật mã” đó, tiếp tục lưu truyền đi cho những thế hệ sau biết thời vận của đất nước, để giữ nước chống xâm lược và xây dựng đất nước.

Trong Sấm Trạng có nhiều phần, những thời điểm trước sau lẫn lộn, những lời khuyên “Xin khuyên đấng, thời trung quân tử”, lượng định để biết vận mệnh của đất nước đang ở thời điểm nào nên ẩn “Học cho biết chữ cát hung”… cảnh báo là “Ðời ấy (này) những quỉ cùng ma“ …, những lời than cảnh đau thương, cảnh bạo ngược “Ấy Tần Vương, ngu mê chẳng biết” “Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?” …, rồi an ủi bảo cho hay thời điểm cực thịnh của nước Việt sắp tới “Lộ ngũ tinh trinh tượng thái hanh”, thời nào chuẩn bị nên để ra giúp đất nước và phò trợ Thánh quân “Xem tượng trời, biết đường đời trị”, “Những người phụ giúp Thánh minh”, còn có những câu nói về tương lai Thánh xuất, Thiên tử sinh, nơi chốn của Thiên tử… và nhiều phần khác, tạm bỏ qua những ý kiến cho là Sấm thật Sấm giả vì đã là “mật mã” thì phải là những người được chân truyền mới có thể mở được, và có thể ngay cả những người được chân truyền đã tạo thêm ra những câu Sấm theo từng thời điểm, vừa để tiếp tục truyền lại cho hậu thế, vừa để làm rối mù đối phương luôn rình rập mưu toan đen tối xâm chiếm đất nước Việt …

Thời sau này sẽ có một vị “Thánh nhân Thiên tử” ra đời trị vì phục hưng đất Việt lẫy lừng, chứ không như những vị vua bình thường như những thời gian trước, vì vậy Sấm Trạng vừa muốn cho biết vừa ngại ngùng không muốn tiết lộ hết, vì e ngại Bắc phương có thể làm hại tới đại long mạch nơi Thánh nhân sẽ sinh ra, như là thời Cao Biền dùng đủ mọi thủ đoạn ác độc để tiêu diệt đại long mạch, nhưng thất bại rồi sau bị chết thảm, và phương Bắc vẫn tiếp tục bí mật cho đến sau này cũng còn có những mưu toan diệt những đại long mạch của đất Việt, để không còn có sinh ra những thiên tài, nhằm mưu đồ xâm chiếm đất Việt. Không nói thì hậu thế mịt mù tăm tối thấy đường nào có hy vọng còn sinh tồn và giữ gìn đất nước ?, nói ra thì tiết lộ sự việc. Nhưng Sấm Trạng cũng biết thiên thời vận khí, cho nên cũng ám chỉ cho biết rằng nước Việt đã đến thời hưng thịnh rồi, có muốn làm hại, cũng chẳng được đâu, như câu:

305 –Nói ra thì lậu sự đời

306 – Trái tai phải lụy tài trai khôn luần

307 – Nói ra ám chúa bội quân

308 – Ðương thời đời trị xoay vần được đâu ?

Đi tìm giải mật mã mà không có chìa khóa thì cũng chỉ làm một việc “trà dư hậu tửu”, nhưng Sấm Trạng hàng trăm năm nay vẫn là đề tài thú vị cho mọi người, cho nên cũng thử phân tích xem sao, không quan niệm là giải đoán mà chỉ phân tích và dùng cách suy luận để đưa ra ý kiến, mỗi ý kiến đều nên có tánh khách quan, trung thực (không suy luận sửa đổi câu Sấm theo ý riêng), tôn trọng lắng nghe mọi ý kiến khác, nếu không cùng ý thì nên dùng lời “nho nhã” để phản biện ý người khác … thì chủ đề này mới trở thành thú vị và được nhiều người cùng nhau giải mã được phần nào “mật mã” của Sấm Trạng.

Trong Sấm Trạng gồm có: Sấm Trạng Trình + phụ bản, Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân ca, tổng hợp những câu Sấm rời có liên quan tới tiên tri như bài Thế sự có những câu nằm trong Sấm Trạng được nhắc lại trong Sấm ký hay Bạch Vân ca, bài Thế sự, sấm Thiền sư Vạn Hạnh, giáng bút, đồng dao, ca dao … phân tích tách lọc những câu đó để tìm mật mã, ví dụ như câu trong Sấm Trạng:

257 – Lại nói xứ, Hoàng giang sinh thánh

258 – Sông Bảo giang, thiên định ai hay ?

Thì trong Bạch Vân ca là:

Ta hồ vô phụ vô quân

Đà Giang phúc địa giáng linh

Cửu trùng thụy ứng lòng thành ngũ vân.

Phá điền thiên tử giáng trần

Dũng sĩ nhuợc hải mưu thần như lâm.

Trong Sấm Trạng là:

402 – Non Đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu

403 – Có một đàn xà đánh lộn nhau

404 – Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng

405 – Lợn kia làm quái phải sai đầu

406 – Chuột nọ lăm le mong cắn tổ

407 – Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu

408 – Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

409 – Tìm về quê cũ bắt ngựa Tàu

Trong bài Thế sự là:

THẾ SỰ

Non Đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu

Có một đàn xà đánh lộn nhau.

Vượn nọ leo cành cho sĩ bóng

Lợn kia làm quái phải sai đâu.

Chuột nọ lăm le mong cắn tổ

Ngựa kia đủng đỉnh buớc về Tàu.

Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

Tìm về quê cũ khúc ngựa Tần.

Và còn nhiều câu trùng hợp trong các bài với nhau và những bài có câu giống nhưng chữ khác như Hoàng giang – Đà giang, Bảo giang – Bảo sơn … hoặc rải rác những giải thích thêm của bài này cho bài khác. Vì vậy tôi lại đưa lên một lần nữa, tuy làm cho chủ đề kéo dài ra nhiều trang, nhưng tôi đã thử tách đoạn theo từng bài thơ để cùng mọi người xem lại có dễ hiểu hơn không, mỗi bài thơ dài hay ngắn nói về một vấn đề, và sẽ tổng hợp các bài theo nhóm như sự kiện, thời gian, địa điểm … , rồi sau đó sẽ phân tích tổng hợp từng phần những vấn đề cần luận bàn. Nếu các bạn có thêm những tài liệu về Sấm Trạng, những bài viết về lịch sử đất Việt như anh NhapMon đã đưa lên càng thêm phong phú cho chủ đề.

BẠCH VÂN THI TẬP CHUNG

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Liên Mậu, Kỷ, Canh, Tân

Can qua sinh sác biến

Bốc đắc Càn thuần quái

Sơ cửu thoái tiềm long

Ngã bát thế chi hậu

Binh qua khởi trùng trùng

Ngưu tinh tụ Bảo giang (Tinh tụ Bảo giang thượng)

Đại nhân cư chính trung

Dịch nghĩa :

Bói được quẻ thuần Càn

Hào sơ cửu rồng lui ẩn

Tám đời sau ta

Binh biến khởi trùng trùng

Sao Ngưu tụ Sông Quí

Đại nhân ở chính giữa

THẾ SỰ

Non Đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu

Có một đàn xà đánh lộn nhau.

Vượn nọ leo cành cho sĩ bóng

Lợn kia làm quái phải sai đâu.

Chuột nọ lăm le mong cắn tổ

Ngựa kia đủng đỉnh buớc về Tàu.

Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

Tìm về quê cũ khúc ngựa Tần.

SẤM TRẠNG TRÌNH

Chương 1

1 – Vận lành mừng gặp tiết lành

2 – Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu

3 – Một câu là một nhiệm mầu

4 – Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao

5 – Trải vì sao, mây che Thái ất

6 – Thủa cung tay, xe nhật phù lên

7 – Việt Nam khởi tổ xây nền

8 – Lạc Long ra trị đương quyền một phương

9 – Thịnh suy bĩ thái lẽ thường

10 – Một thời lại một nhiễu nhương nên lề

11 – Ðến Đinh Hoàng, nối ngôi cửu ngũ

12 – Mở bản đồ, rũ áo chấp tay

13 – Ngự đao phút chốc đổi thay

14 – Thập bát tử (李) rày quyền đã nổi lên

15 – Ðông A (陳) âm vị nhi huyền

16 – Nam phương kỳ mộc bỗng liền lại sinh

17 – Chấn cung hiện nhật quang minh

18 – Sóng lay khôn chống trường thành bền cho

19 – Ðoài cung vẽ rạng trăng thu

20 – Ra tay mở lấy Đế đô vạn toàn

21 – Sáng cửu thiên, ám vầng hồng nhật

22 – Dưới lẫn trên, ăn (năng ) vẫn uống quen

23 – Sửa sang muôn việc cầm quyền

24 – Ngồi không ai dễ khẳng nhìn giúp cho

25 – Kìa liệt vương, khí hư đồ ủng

26 – Mặc cường hầu, ong ỏng tranh khôn

27 – Trời sinh ra những kẻ gian

28 – Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài

29 – Áo vàng ấm áp đà hay

30 – Khi sui đấp núi khi say xây thành

31 – Lấy đạt điền, làm công thiên hạ

32 – Ðược mấy năm, đất lở giếng mòn

33 – Con yết ạch ạch tranh khôn

34 – Vô già mở hội mộng tôn làm chùa

35 – Cơ trời xem đã mê đồ

36 – Ðã đô lại muốn mở đô cho người

37 – Ấy lòng trời, xuôi lòng bất nhẫn

38 – Suốt vạn dân, cừu giận nhân than

39 – Dưới trên dốc chí lo toan

40 – Những đua bán tước bán quan làm giàu

41 – Thống rủ nhau, làm mồi phú quí

42 – Mấy trung thần, có chí an dân

43 – Ðua nhau làm sự bất nhân

44 – Ðã tuần bốn bể lại tuần đầu non

45 – Dư đồ chia rẻ càn khôn

46 – Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau

47 – Vội sang giàu, giết người lấy của

48 – Sự có chăng, mặc nọ ai đôi

49 – Việc làm thất chính tơi bời

50 – Minh ra bổng lại thấy thôi bấy giờ

51 – Xem tượng trời, đã gia (giơ) ra trước

52 – Còn hung hăng, bạo ngược quá xưa

53 – Cuồng phong cả sớm liền trưa

54 – Ðã đờn cửu khúc còn thơ thi đề

55 – Ấy Tần Vương, ngu mê chẳng biết

56 – Ðể vạn dân, dê lại giết dê

57 – Luôn năm chật vật đi về

58 – Âm binh ở giữa nào hề biết đâu

59 – Thấy nội thành, tiếng kêu ong ỏng

60 – Cũng một lòng, trời chống khác nào

61 – Xem người dường vững chiêm bao

62 – Nào đâu còn muốn ước ao thái bình

63 – Một góc thành, làm tâm chứng quỷ

64 – Ðua một lòng, ích kỷ hại nhân

65 – Bốn phương rời rở (rã) hồng trần

66 – Làng khua mõ cá làng phân điếm tuần

67 – Tiếc là những, xuất dân làm bạo

68 – Khua dục loài, thỏ cáo tranh nhau

69 – Nhân danh trọn hết đâu đâu

70 – Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê

71 – Hùm già lạc dấu khôn về

72 – Mèo non chi chí tìm về cố hương

73 – Chân dê móng khởi tiêu tường

74 – Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình

75 – Nội thành ong ỏng hư kinh

76 – Ðầu khỉ tin sứ chèo (trèo) thành lại sang

77 – Bở mồ hôi, Bắc giang tái mã

78 – Giữa hai xuân, bỗng phá tổ long

79 – Quốc trung kinh dụng cáo không

80 – Giữa năm giả lại kiểm hung mùa màng

81 – Gà đâu sớm gáy bên tường

82 – Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không

83 – Thủy binh cờ phất vầng hồng

84 – Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng

85 – Ðứng hiên ngang, đố ai biết trước

86 – Ấy Bắc binh, sang việc gì chăng ?

87 – Ai còn khoe trí khoe năng

88 – Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi

89 – Chưa từng thấy, đời nào sự lạ

90 – Bỗng khiến người, giá họa cho dân

91 – Muốn bình sao chẳng lấy nhân

92 – Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày

93 – Ðã nên si, Hoàn Linh đời Hán

94 – Ðúc tiền ra, bán tước cho dân

95 – Xung (xum) xoe những rắp cậy quân

96 – Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công

97 – Máy Hoá công, nắm tay dễ ngỏ

98 – Lòng báo thù, ai dễ đã nguôi

99 – Thung thăng tưởng thấy đạo trời

100 – Phù Lê diệt Mạc nghĩ dời quân ra

101 – Cát lầm bốn bể can qua

102 – Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về

103 – Quân hùng binh nhuệ đầy khe

104 – Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời

105 – Bấy giờ càng khốn than ôi

106 – Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?

107 – Thương những kẻ, ăn rau ăn giới

108 – Gặp nước bung, con cái ẩn đâu

109 – Báo thù ấy chẳng sai đâu

110 – Tìm non có rẫy chừng sau mới toàn

111 – Xin những kẻ, hai lòng sự chúa

112 – Thấy đâu hơn, thì phụ thửa ân

113 – Cho nên phải báo trầm luân

114 – Ai khôn mới được bảo thân đời này

115 – Nói cho hay, Khảm cung rồng dấy

116 – Chí anh hùng, xem lấy mới ngoan

117 – Chữ rằng lục thất nguyệt gian

118 – Ai mà nghĩ được mới gan anh tài

119 – Hễ nhân kiến, đã dời đất cũ

120 – Thì Phụ Nguyên, mới chổ (trổ) binh ra

121 – Bốn phương chẳng động can qua

122 – Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi

123 – Bấy giờ mở rộng qui khôi

124 – Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn

125 – Lại nói sự, Hoàng giang sinh thánh

126 – Hoàng phúc xưa, đã định Tây phong

127 – Làu làu thế giới sáng trông

128 – Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ vương

129 – Rõ sinh tài lạ khác thường

130 – Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài

131 – Xem ý trời, có lòng đãi thánh

132 – Ðốc sinh hiền, điều đỉnh hội mai

133 – Chọn Đẩu-Thai những vì sao cả

134 – Dùng ở tay phụ tá vương gia

135 – Bắc phương chính khí sinh ra

136 – Có ông Bạch sĩ (xỉ) điều hòa hôm mai

137 – Song thiên nhật rạng sáng soi

138 – Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường

139 – Ðời này thánh kế vị vương

140 – Ðủ no đạo đức văn chương trong mình

141 – Uy nghi trạng mạo khác hình

142 – Thác cư một gốc Kim tinh phương Đoài

143 – Cùng nhau khuya sớm dưỡng nuôi

144 – Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân

145 – Binh thơ mấy quyển kinh luân

146 – Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu

147 – … ở đâu (đó), anh hùng hẳn biết

148 – Xem sắc mây, đã biết thành long

149 – Thánh nhân cư có thụy cung

150 – Quân thần đã định gìn lòng chớ tham

151 – Lại dặn đấng, tú nam chí cả

152 – Chớ vội vàng, tất tả chạy rong

153 – Học cho biết lý kiết hung

154 – Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi

155 – Hể trời sinh xuống phải thì (thời)

156 – Bất kỳ nhi ngộ màng gì tưởng trông

157 – Kìa những kẻ, vội lòng phú quí

158 – Xem trong mình, một thí đều không

159 – Ví dù có gặp ngư ông

160 – Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng

161 – Xin khuyên đấng, thời trung quân tử

162 – Lòng trung nghì, ai nhớ cho tinh

163 – Âm dương cơ ngẩu ngô sinh

164 – Thái Nhâm Thái Ất trong mình cho hay

165 – Văn thì luyện, nguyên bài quyết thắng

166 – Khen Tử Phòng, cùng đấng Khổng Minh

167 – Võ thông Yên Thủy Thần Kinh

168 – Ðược vào trận chiến mới càng biến cơ

169 – Chớ vật vờ, quen loài ong kiến

170 – Biết ray (day) tay, miệng biếng nói không

171 – Ngỏ hay gặp hội mây rồng

172 – Công danh choi chói chép trong vân đài

173 – Bấy giờ phỉ sức chí trai

174 – Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình

175 – Nặng lòng thật có vĩ kinh

176 – Cao tay mới ngẫm biết tình năm nao

177 – Trên trời có mấy vì sao

178 – Ðủ no biền tướng anh hào đòi nơi

179 – Nước Nam thường có thánh tài

180 – Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường

181 – So mấy lời, để tàng kim quĩ

182 – Chờ hậu lai, có chí sẽ cho

183 – Trước là biết nẻo tôn phò

184 – Sau là cao chí biết lo mặc lòng

185 – Xem Đoài cung, đến thời bất tạo

186 – Thấy vĩ tinh, liệu rạo cho mau

187 – Nguôi lòng tham tước tham giàu

188 – Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân

189 – Trẻ con mang mệnh tướng quân

190 – Ngỡ oai đã dấy ngỡ nhân đã nhường

191 – Ai lấy gương, vua U thủa trước

192 – Loạn ru vì, tham ngược bất nhân

193 – Ðoài phương ong khởi lần lần

194 – Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn

195 – Man mác một đỉnh Hoành Sơn

196 – Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù

197 – Ấy là những, binh thù Thái Thái

198 – Lòng trời xui, ai nấy biết ru ?

199 – Phá điền đầu khỉ cuối thu

200 – Tái binh mới động thập thò liền sang

201 – Lọ chẳng thường, trong năm khôn xiết

202 – Vẽ (vả) lại thêm, hung kiệt mất mùa

203 – Lưu tinh hiện trước đôi thu

204 – Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm

205 – Xem thấy những, sương săm tuyết lạnh

206 – Loài bất bình, tranh mạnh hung hăng

207 – Thành câu cá lửa tưng bừng

208 – Kẻ ngàn Đông Hải người rừng Bắc Lâm

209 – Chiến trường chốn chốn cát lầm

210 – Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông

211 – Sang thu chín, huyết hồng tứ giả

212 – Noi đàng dê, tranh phá đôi nơi

213 – Ðua nhau đồ thán quần lê

214 – Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương

215 – Kẻ thì phải thửa hung hoang

216 – Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan

217 – Kẻ thì mắc thửa hung tàn

218 – Kẻ thì bận của bỗng toan khốn mình

219 – Muông vương dựng ổ cắn tranh

220 – Ðiều thì làm chước xuất binh thủ thành

221 – Bời bời đua mạnh tranh hành

222 – Ra đâu đánh đấy đem binh sớm ngày

223 – Bể thanh cá phải ẩn cây

224 – Ðất bằng nổi sấm cát bay bụi mù

225 – Nào ai đã dễ nhìn U

226 – Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn

227 – Cây bay lá lửa đòi ngàn

228 – Một làng còn mấy chim đàn bay ra

229 – Bốn phương cùng có can qua

230 – Làm sao cho biết nơi hòa (nào) bảo thân

231 – Ðoài phương thực có chân nhân

232 – Quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người

233 – Tìm cho được chốn được nơi

234 – Thái nguyên một giải lần chơi trú đình

235 – Bốn bề núi đá riểu quanh

236 – Một đường tiểu mạch nương mình dấy an

237 – Hễ Đông Nam, nhiều phen tàn tặc (tạc – tạ)

238 – Tránh cho xa, kẻo mắc đao binh

239 – Bắc kinh mới thực đế kinh

240 – Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào

241 – Chim hồng vổ cánh bay cao

242 – Tìm cho được chốn mới vào thần kinh

243 – Ai dễ cứu, con thơ sa giếng

244 – Ðưa một lòng, tranh tiếng dục nhau

245 – Vạn dân chịu thủa u sầu

246 – Kể dư đôi ngũ mới hầu khoan cho

247 – Cấy cày thu đãi thời mùa

248 – Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai

249 – Nhân ra cận duyệt viễn lai

250 – Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm

251 – Xem tượng trời, biết đường đời trị

252 – Ngẩm về sau, họ Lý xưa nên

253 – Giòng nhà để lấy dấu truyền

254 – Ngẩm xem bốn báu còn in đời đời

255 – Thần qui cơ nổ (nỏ) ở trời

256 – Ðể làm thần khí thủa nơi trị trường

257 – Lại nói xứ, Hoàng giang sinh thánh

258 – Sông Bảo giang, thiên định ai hay ?

259 – Lục thất cho biết ngày dày (dài)

260 – Phụ nguyên ấy thực ở dày (đầy) Tào Khê

261 – Có thầy Nhân Thập đi về

262 – Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh

263 – Giốc hết sức, sửa sang vương nghiệp

264 – Giúp vạn dân, cho đẹp lòng trời

265 – Ra tay điều chỉnh hộ may (mai)

266 – Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân

267 – Lọ là phải nhọc kéo quân

268 – Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về

269 – Năm Giáp Tý, vẽ khuê đã rạng

270 – Lộ ngũ tinh, trinh tượng thái hanh

271 – Ân trên vũ thí vân hành

272 – Kẻ thơ ký túy kẻ canh xuân đài

273 – Bản đồ chẳng sót cho ai

274 – Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn

275 – Vững nền vương, cha truyền con nối

276 – Dỏi muôn đời, một mối xa thư

277 – Bể kình tâm lặng bằng tờ

278 – Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân

279 – Au vàng khỏe đặt vững chân

280 – Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài

Chương Hai

281 – Vừa năm Nhâm Tý xuân đầu

282 – Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời

283 – Quyển vàng mở thấy sấm trời

284 – Từ Đinh đổi đời chí lục thất gian

285 – Một thời có một tôi ngoan

286 – Giúp trong việc nước gặp an thái bình

287 – Luận chung một tập kim thời

288 – Tướng quyền sĩ tử nam nhi học đòi

289 – Trượng phu có chí thời coi

290 – Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nghành vàng

291 – Tài nầy nên đấng vẻ vang

292 – Biết chừng đời trị biết đường đời suy

293 – Kể từ nhân đoản mà đi

294 – Số chưa gặp thì biết hòa chép ra

295 – Tiếc thay hiền sĩ bao già

296 – Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công

297 – Thử cho tay giúp ra dùng

298 – Tài này so cùng tài trước xem sao ?

299 – Trên trời kể chín tầng cao

300 – Tay (tai) nghe bằng một ti hào biết hay

301 – Hiềm vì sinh phải thời này

302 – Rấp phù mở nước tiếc thay chưng đời

303 – Hợp đà thay thánh nghìn tài

304 – Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời

305 –Nói ra thì lậu sự đời

306 – Trái tai phải lụy tài trai khôn luần

307 – Nói ra ám chúa bội quân

308 – Ðương thời đời trị xoay vần được đâu

309 – Chờ cho nhân đoản hết sau

310 – Ðến chừng đời ấy thấy âu nhiều nàn

311 – Trời xui những kẻ ác gian

312 – Kiếp độc dạo thiết làm loàn có hay

313 – Vua nào tôi ấy đã bày

314 – Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn

315 – Ðua nhau bội bạn nghịch vi

316 – Ích gia phi kỷ dân thì khốn thay

317 – Tiếc tài gẩm được thì hay

318 – Ðã sao như vậy ra tay sẽ dùng

319 – Tài trai có chí anh hùng

320 – Muốn làm tướng suý lập công xưng đời

321 – Khá xem nhiệm nhặt tộ trời

322 – Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng

323 – Ði tìm cho đến Đế cung

324 – Rấp phù xuất lực Đế cung được toàn

325 – Bảo nhau cương kỷ cho tường

326 – Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài

327 – Chờ cho động đất chuyển trời

328 – Bấy giờ Thánh sẽ nên tay anh hùng

329 – Còn bên thì náu chưa xong

330 – Nhân lực cướp lấy thiên công những là

331 – Ðời ấy (này) những quỉ cùng ma

332 – Chẳng còn ở thật người ta đâu là

333 – Trời cao đất rộng bao xa

334 – Làm sao cho biết cửa nhà Đế vương

335 – Dù trai ai chửa biết tường

336 – Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này

337 – Ý ra lục thất gian nay

338 – Thời vận đã định tuần nầy hưng Vương

339 – Trí xem nhiệm nhặt cho tường

340 –Bảo giang Thánh xuất trung ương thuở nầy

341 – Vua ngự thạch bàn xa thay

342 – Ðại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng

343 – Gà kêu vượn hót vang lừng

344 – Ðường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò

345 – Nhân dân vắng mặt bằng tờ

346 – Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay

347 – Vua còn cuốc nguyệt cày mây

348 – Phong điều vũ thuận thú rày an thân

349 – Phong đăng hoà cốc chứa chang

350 – Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây

351 – Chính cung phương Khảm vần mây

352 – Thực thay Thiên tử là nay trị đời

353 – Anh hùng trí lượng thời coi

354 – Công danh chẳng ngại tìm đòi ra đi

355 – Tìm lên đến Thạch Bàn Khê

356 – Có đất sinh Thánh bên kia cuối làng

357 – Nhìn đi nhìn lại cho tường

358 – Dường như chửa có sinh Vương đâu là

359 – Chẳng tìm thì đến Bình Gia

360 – Thánh chưa sinh Thánh báo ca địa bình

361 – Nhìn xem phong cảnh cũng xinh

362 – Tả long triều lại có thành đợt vây

363 – Hữu hổ uấn khúc giang này

364 – Minh Đường thất diệu trước bày mặt tai

365 – Ở xa thấy một con voi

366 – Cúi đầu quen bụi trông vời hồ sâu

367 – Ấy điềm Thiên tử về chầu

368 – Tượng trưng Đế Thánh tộ lâu trị đời

369 – Song thiên nguyệt rạng sáng soi

370 – Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu

371 – Ðến đời thịnh vượng còn lâu

372 – Ðành đến tam hợp chia nhau sẽ làm

373 – Khuyên cho Đông Bắc Nam Tây

374 – Muốn làm tướng suý thì xem trông này

375 – Thiên sinh Thiên tử ư hoả thôn

376 – Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn

377 – Tiền sinh cha mẹ đà cách trở

378 – Hậu sinh Thiên tử Bảo giang môn

379 – Kià cơn gió, thổi lá rung cây

380 – Rung Bắc sang, Nam Đông tới Tây

381 – Tan tác Kiến kiều An đất nước

382 – Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây

383 – Sơn lâm nổi sóng mù thao cát

384 – Hưng địa tràng (tràn) dâng hoá nước đầy

385 – Một gió một yên, ai sùng bái

386 – Cha con người (nhà), Vĩnh Bảo cho hay

387 – Con mùng búng tít con quay

388 – Vù vù chong chóng gió bay trên đài

389 – Nhà cha cửa đóng then cài

390 – Ầm ầm sấm động hỏi người đông lân

391 – Tiếc tám lạng thương nửa cân

392 – Biết rằng ai có dù phần như ai

393 – Vắt tay nằm nghĩ dông dài

394 – Thương người có một lo hai phận mình

395 – Canh niên Tân phá

396 – Tuất Hợi phục sinh

397 – Nhị ngủ dư bình

398 – Long vĩ xà đầu khổ chiến tranh

399 – Can qua xứ xứ khởi đao binh

400 – Mã đề dương cước anh hùng tận

401 – Thân Dậu niên lai kiến thái bình

402 – Non Đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu

403 – Có một đàn xà đánh lộn nhau

404 – Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng

405 – Lợn kia làm quái phải sai đầu

406 – Chuột nọ lăm le mong cắn tổ

407 – Ngựa kia đủng đỉnh bước về Tàu

408 – Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

409 – Tìm về quê cũ bắt ngựa Tàu

410 – Cửu cửu kiền khôn dĩ định

411 – Thanh minh thời tiết hoa tàn

412 – Trực đáo Dương đầu Mã vĩ

413 – Hồ binh bát vạn nhập Trường An

414 – Bảo giang Thiên tử xuất (Phá Điền Thiên tử xuất)

415 – Bất chiến tự nhiên thành

416 – Lê dân bảo (đào) bảo (bão) noãn 暖

417 – Tứ hải lạc âu ca

418 – Dục đức thánh nhân hương – B (A – C – D)

419 – Quá kiều cư Bắc phương

420 – Danh vi Nguyễn gia tử

421 – Kim tịch (Tinh bản) sinh Ngưu lang

422 – Thượng đại nhân bất nhân

423 – Thánh ất dĩ vong ân

424 – Bạch hổ kim đái ấn

425 – Thất thập cổ lai xuân

426 – Bắc hữu kim thành tráng

427 – Nam tạc ngọc bích thành

428 – Hỏa thôn đa khuyển phệ

429 – Mục giả dục nhân canh

430 – Phú quí hồng trần mộng

431 – Bần cùng bạch phát sinh

432 – Anh hùng vương kiếm kích

433 – Manh cổ đổ thái bình

434 – Nam Việt hữu Ngưu tinh

435 – Quá thất thân thủy sinh

436 – Ðịa giới sĩ (xỉ) vị bạch

437 – Thủy trầm nhĩ bất kinh (Thủy trầm nhi Bắc kinh)

438 – Ký Mã xu (khu) Dương tẩu

439 – Phù Kê thăng đại minh

440 – Trư Thử giai phong khởi

441 – Thìn Mão xuất thái bình

442 – Phân phân tùng (从)Bắc khởi (Phân phân tùng (松) bách khởi)

443 – Nhiễu nhiễu xuất đông chinh

444 – Bảo sơn thiên tử xuất

445 – Bất chiến tự nhiên thành

446 – Thủy trung tàng bảo cái

447 – Hứa cập thánh nhân hương

448 – Mộc hạ châm châm khẩu

449 – Danh thế xuất nan lương

450 – Danh vi Nguyễn gia tử

451 – Tinh bản tại Ngưu lang

452 – Mại dữ lê viên dưỡng

453 – Khởi nguyệt bộ đại giang

454 – Hoặc kiều tam lộng ngạn

455 – Hoặc ngụ kim lăng cương

456 – Thiên dữ thần thực thụy

457 – Thụy trình ngũ sắc quang

458 – Kim kê khai lựu điệp

459 – Hoàng cái xuất quí phương

460 – Nhân nghĩa thùy vi địch

461 – Ðạo đức thực dữ đương

462 – Tộ truyền nhị thập ngũ

463 – Vận khải ngũ viên trường

464 – Vận đáo dương hầu ách

465 – Chấn Đoài cương bất trường

466 – Quần gian đạo danh tự

467 – Bách tính khổ tai ương

468 – Can qua tranh đấu khởi

469 – Phạm địch thánh (tánh) hung hoang

470 – Ma vương sát đại quỉ

471 – Hoàng thiên tru ma vương

472 – Kiền khôn phú tải vô lương

473 – Ðào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng

474 – Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết

475 – Ðảo Hoành Sơn tam liệt ngũ phân

476 – Ta hồ vô phụ vô quân

477 – Ðào viên tán lạc ngô dân thủ thành

478 – Ðoài phương phước địa giáng linh

479 – Cửu trùng thụy ứng long thành ngũ vân

480 – Phá điền thiên tử giáng trần

481 – Dũng sỉ nhược hải mưu thần như lâm

482 – Trần công nãi thị phúc tâm

483 – Giang hồ tử sĩ Đào Tiềm xuất du

484 – Tướng thần hệ xuất Y Chu

485 – Thứ ky phục kiến Đường Ngu thi hành

486 – Hiệu xưng thiên hạ thái bình

487 – Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia

PHỤ TRƯƠNG I

A – Dục thức Thánh nhân xứ

– Đa xuất ứng Bảo giang

B – Dục thức Thánh nhân hương

– Thủy lam bảo trung tàng

C – Dục thức Thánh nhân tính

– Mộc hạ liên đinh khẩu

D – Dục thức Thánh nhân diện

– Tu tầm trương cú kiến

– Giang nam nhị thủy huyện

– Tại sơn vô hổ lang

– Thất thập nhị hiền tướng

– Phụ tá Thánh Quân vương

– Phá Điền Thiên tử xuất

– Bất chiến tự nhiên thành

– Tư tâm dục thức thánh nhân diện

– Lưỡng biên bàn ngạt thùy nhất khối

– Thủ túc chánh vương tam lương tự.

SẤM KÝ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

      Nước Nam từ họ Hồng Bàng

Biển dâu cuộc thế giang sơn đổi vần

Tự Đinh Lê Lý Trần thuở trước

Đã bao lần ngôi nước đổi thay

Núi sông thiên định đặt bày.

Đồ thư một quyển xem nay mới rành

Hoà đao mộc lạc

Thập bát tử thành

Đông A nhật xuất

Dị mộc tái sinh

Chấn cung xuất nhật

Đoài cung vẫn tinh

Phụ nguyên chi thống

Đế phế vi đinh

Thập niên dư chiến

Thiên hạ cửu bình

Lời thần trước đã ứng linh

Hậu lai phải đoán cho minh mới tường

Hoà đao mộc hồi dương sống lại

Bắc Nam thế thời đại nhiễu nhương

Hà thời biện lại vi vương

Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn

Lê tồn Trịnh tại

Trịnh bại Lê vong

Bao giờ ngựa đá sang sông

Thì dân Vĩnh Lại Quận Công cả làng

Hà thời thạch mã độ giang

Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu

Chim bàng cất cánh về đâu?

Chết tại trên đầu hai chữ Quận Công

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn

Đầu cha lộn xuống thân con

Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Phụ nguyên chính thống hẳn hoi

Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh trập trùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày

Nói cho hay khảm cung ong dậy

Chí anh hào biết đấy mới ngoan

Chữ rằng lục thất nguyệt gian

Ai mà giữ được mới nên anh tài

Ra tay điều đỉnh hộ mai

Bấy giờ mới rõ là người an dân

Lọ là phải nhọc kéo quân

Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về

Phá điền than đến đàn dê

Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng

Dê đi dê lại tuồn luồn

Đàn đi nó cũng một môn phù trì

Thương những kẻ nam nhi chí cả

Chớ vội sang tất tả chạy rong

Học cho biết chữ cát hung

Biết cho phương hướng chớ đừng lầm chi

Hễ trời sinh xuống phải thì

Bất kì nhi ngộ tưởng gì đợi mong

Kìa những kẻ vội lòng phú quí

Xem trong mình một tí đều không

Ví dù có gặp ngư ông

Lưới giăng đâu dễ nên công mà hòng

Khuyên những đấng thời trung quân tử

Lòng trung nghiã nên giữ cho mình

Âm dương cơ ngẫu hộ sinh

Thái Nhâm Thái Ất bên mình cho hay

Chớ vật vờ quen loài ong kiến

Hư vô bàn miệng tiếng thì nói không

Ô hô thế sự tự bình bồng,

Nam Bắc hà thời thiết lộ không

Hồ ẩn sơn trung mao tân bạch

Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng

Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc

Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông

Nhược đãi ưng lai sư tử thượng

Tứ phương thiên hạ thái bình phong

Ngõ may gặp hội mây rồng

Công danh rạng rỡ chép trong vân đài

Nước Nam thường có thánh tài

Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường ?

So mấy lề để tàng kim quỹ

Kẻ sau này ngu bỉ được coi

Đôi phen đất lở cát bồi

Đó đây ong kiến dậy trời quỷ ma

Ba con đổi lấy một cha

Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền

Mão Thìn Tý Ngọ bất yên

Đợi tam tứ ngũ lai niên cũng gần

Hoành sơn nhất đái

Vạn đại dung thân

Đến thời thiên hạ vô quân.

Làm vua chẳng dễ làm dân chẳng lành

Gà kêu cho khỉ dậy nhanh

Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung

Thiên sinh hữu nhất anh hùng

Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà

Thái Nguyên cận Bắc đường xa

Ai mà tìm thấy mới là thần minh

Uy nghi dung mạo khác hình

Thác cư một góc kim tinh phương Đoài

Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi

Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân

Binh thư mấy quyển kinh luân

Thiên văn địa lý nhân dân phép mầu

Xem ý trời, ngỏ hầu khải thánh

Dốc sinh ra, điều chỉnh hộ mai

Song thiên nhật nguyệt sáng soi

Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường

Thông minh kim cổ khác thường

Thuấn Nghiêu là trí Cao Quang là tài

Đấng hiên ngang, nào ai biết trước

Tài thao lược, yêm bác vũ văn

Ai còn khoe trí khoe năng

Cấm kia bắt nọ hung hăng với người

Chưa từng thấy, nay đời sự lạ

Chốc lại mòng, gá vạ cho dân

Muốn bình sao chẳng lấy nhân

Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình

Đã ngu dại Hoàn Linh đời Hán

Lại đua nhau quần thán đồ lê

Chức nầy quyền nọ say mê

Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương

Kẻ thì phải thuở hung hoang

Kẻ thì bận của bóng toan khốn mình

Cửu cửu càn khôn dĩ định

Thanh minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo dương đầu mã vĩ

Hồ binh bát vạn nhập Trường an

Nực cuời những kẻ bàng quan

Cờ tan lại muốn toan đường chống xe

Lại còn áo mũ xum xoe

Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang

Ghê thay thau lẫn với vàng

Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng

Thánh ra tuyết tán mây tan

Bấy giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi

Can qua việc nước tơi bời

Trên thuận ý trời dưới đẹp lòng dân

Oai phong khấp quỷ kinh thần

Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca

Rừng xanh núi đỏ bao la

Đông tàn Tây bại sang gà mới yên

Sửu Dần thiên hạ đảo điên

Ngày nay thiên số vận niên rành rành

Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua xứ xứ khổ đao binh

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Sự đời tính đã phân minh

Thanh nhàn mới kể chuyện mình trước sau

Đầu thu gà gáy xôn xao

Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long

Chó kêu ầm ỉ mùa Đông

Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi

Lợn kêu tình thế lâm nguy

Quỷ vương chết giữa đường đi trên trời

Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi

Trâu cày ngốc lại chào đời trước ta

Hùm gầm khắp nẻo gần xa

Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời

Rồng bay năm vẻ sáng ngời

Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng

Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng

Cha con dòng họ thầy tăng hết thời

Chín con rồng lộn khắp nơi

Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu

Lời truyền để lại bấy nhiêu

Phương Đoài giặc đã đến chiều bại vong

Hậu sinh thuộc lấy làm lòng

Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình

Đầu can vô tướng ra binh

Ắt là trăm họ thái bình âu ca

Thần Kinh Thái Ất suy ra

Để danh con cháu đem ra nghiệm bàn

Ngày thường xem thấy quyển vàng

Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi

Bởi Thái Ất thấy lạ đời

Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân

Kể từ đời Lạc Long Quân

Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian

Mỗi đời có một tôi ngoan

Giúp chung nhà nước dân an thái bình

Phú quí hồng trần mộng

Bần cùng bạch phát sinh

Hỏa thôn đa khuyển phệ

Mục giả giục nhân canh

Bắc hữu Kim thành tráng

Nam hữu Ngọc bích thành

Phân phân tùng bách khởi

Nhiễu nhiễu xuất Đông chinh

Bảo giang Thiên tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

Rồi đây mới biết Thánh minh

Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò

Nhị Hà một dải quanh co

Chính thực chốn ấy Đế đô hoàng bào

Khắp hoà thiên hạ nao nao

Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng ?

Nói đến độ, thầy tăng mở nước

Đám quỷ kia, xuôi ngược đến đâu ?

Bấy lâu những cậy phép mầu

Bây giờ phép ấy để lâu không hào

Cũng có kẻ, non trèo biển lội,

Lánh mình vào, ở nội Ngô, Tề

Có thầy Nhân Thập đi về

Tả hữu phù trì cây cỏ thành binh

Những người phụ giúp thánh minh

Quần tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai

Phùng thời nay hội thái lai

Can qua chiến trận để người thưởng công

Trẻ già được biết sự lòng

Ghi làm một bản để hòng dở xem

Đời này những Thánh cùng Tiên

Sinh những người hiền trị nước an dân

….

Nầy những lúc, thánh nhân chưa lại

Chó còn nằm, đầu khải cuối thu

Khuyên ai sớm biết khuông phù

Giúp cho thiên hạ Đường Ngu ngõ hầu

Cơ tạo hoá, phép mầu khôn tỏ

Cuộc tàn rồi, mới rõ thấp cao

Thấy Sấm từ đây chép vào

Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa

BẠCH VÂN CA

Nước Nam thường có thánh tài.

Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường.

Kìa Nhị Thuỷ nọ Dao Sơn,

Bài ngọc dát nổi âu vàng Trời cho.

Học cách vật mới dò tới chốn

Chép ghi làm một bổn xem chơi.

Muôn việc cũng bởi tại người,

Suy ra mới biết sự đời dường bao.

Dẫu ai có vàng trao nghìn hộc

Châu báu hơn chữ một nghĩa mười.

Tiên Hoàng từ trước mở ngôi

Cờ lau tập trận thay Trời trị dân.

Mới được mười hai dư xuân

Lê Hành kế vị xa gần âu ca.

Ba mươi năm ngôi nhà được lẻ

Đến Ngoạ Triều nào kẻ tài hay.

Ngôi Trời để Lý vào thay

Tám cành hoa nở đến ngày dực phân.

Chiêu Hoàng là Á Nữ Quân

Thấp bề nhan sắc trao Trần Thái Tôn.

Thập nhị thế tiếng đồn nhân hậu;

Trăm bảy mươi ghi dấu thất niên

Đông A chốn ấy còn bề

Quý Ly tiếm thiết thay quyền đã cam.

Đại Ngu được mười bốn năm;

Hậu Trần Nhị Đế lại chăm phục hồi.

Suy ra mới biết sự Trời

Lam Sơn khởi nghĩa là đời Lê gia

Tây Sơn sừng sực kéo ra

Ngẫm xem thế tục gọi là phương ngôn.

Đến Phụ Nguyên đòi còn chinh chiến

Trả bao thu dâu biển cát lầm

Rừng xa vực thẩm nguồn thâm

Nào ai biết sẽ nhân tâm lúc nầy.

Chó mừng chúa gà bày cục tác

Lợn ăn no thả rác nằm chơi.

Đó mới kể là đời thịnh thế

Mà thiên hạ sau xẻ làm hai.

Người Đoài cũng thực ấy tài

Mà cho người Sở toan bài lập công.

Bởi Trần vương ngu không kể siết

Mới phen nầy dê lại giết dê.

Đến khi thức tận binh bì

Âm binh ở giữa dễ thì biết sao.

Trời cho ta mang dao chém quỷ

Khắp dưới Trời bình trị quỷ thư.

Ai từng cứu con thơ xa giếng

Chớ một lòng chinh chiến phá nhau.

Muôn dân chịu những âu sầu,

Kể dư nhị ngũ mới hầu biết cho.

Chốn Đông Nam, lò dò khổ ải

Lánh cho xa, kẻo phải đao binh.

Bắc phương chính thực đế kinh

Náu mình chưa dễ náo danh được nào.

Vả người là đúng anh hào

Sánh làm sao được ước ao đêm ngày.

Ấy những quân, đời này thế ấy

Lòng Trời xui, ai nấy biết đâu.

Chớ đừng tham của làm giàu

Tìm nơi tam hiểm ngỏ hầu bảo thân.

Đà Giang chốn ấy cũng gần

Kim Ngư chốn ấy cũng phần thuở nơi.

Ba Thục riêng một góc trời

Thái Nguyên một dải là nơi trú đình.

Tứ bề núi đá xanh xanh,

Có đường tiểu mạch nương mình ai hay.

Bốn Bụt xuất thế dã chầy

Chưa chọn được ngày ra của nhân dân.

Ấy là điềm xuất Thánh quân,

Hễ ai biết được thì thân mới toàn.

Chữ rằng hữu xạ tức tự nhiên hương

Có phải tầm thường thuốc dấu bán sao?

Nắng lâu phải có mưa rào

Vội chi tát nuớc xôn xao cày bừa.

Hạn rồi thì phải có mưa

Buồm giương gặp gió cày bừa gặp cơn.

Tuần này Thánh xuất Khảm phương

Sự thực đã tường chẳng phải lo suy.

Quần hùng binh dậy sơn khê

Kẻ khoe cứu nước người khoe trợ thời.

Xem thấy những, sương rơi tuyết lạnh

Loài bất bình, tranh cạnh hung hăng.

Một cơn sấm dậy đất bằng,

Thánh nhân ra mới cứu hàng sinh linh.

Lược thao văn vũ tài tình

Mới hay phú quý hiển vinh lạ lùng.

Tam công gặp hội vui mừng,

Bỏ khi cá nước vẫy vùng biển sông.

Bỏ khi chém rắn vẽ rồng

Bỏ khi non Bắc ải Đông mịt mù.

Bỏ khi kẻ Việt người Hồ

Bỏ khi kẻ Sở người Ngô xa đường

Càn khôn phủ tái vô lương

Đào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng.

Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết

Đảo Hoành Sơn tam liệt ngũ phân.

Ta hồ vô phụ vô quân

Đào viên tản lạc ngô dân thủ thành

Ta hồ vô phụ vô quân

Đà Giang phúc địa giáng linh

Cửu trùng thụy ứng lòng thành ngũ vân

Phá điền thiên tử giáng trần,

Dũng sĩ nhuợc hải mưu thần như lâm

Trần Công nãi thị phúc tâm

Giang hồ sử sĩ Đào Tiềm xuất du.

Tương thần hệ xuất Y Chu

Thử kỳ phục kiến Đường Ngu thị thành.

Hiệu xưng thiên hạ thái bình.

PHỤ TRƯƠNG BẠCH VÂN THI TẬP

Lời soạn giả: BẠCH VÂN THI TẬP & PHỤ TRƯƠNG LỜI I đúng y như sấm truyền, chỉ có phụ trương II có ít chổ tam sao thất bổn, nhưng cũng không quan hệ mấy, xin độc giả chỉ lấy đại cương thôi.

MINH ĐIỀN kính cẩn.

PHỤ TRƯƠNG II

– Cuộc đời ai dể biết đâu

– Yêu tinh gian trá bóp hầu thần tiên

– Quan làng ỷ thế ỷ quyền

– Dân khôn giả dại mới yên phận mình

– Mặc ai chia rẽ thị khinh

– Việc làng việc nước làm thinh chớ bàn

– Ta tinh ta mới đặng an

– Luận bạn bè bạn chỉ đàng cho nhau

– Việc người thì mặc người âu

– Nghiêng tai giả điếc lắc đầu làm ngơ

– Muốn yên mồm lặng như tờ

– Luận bàn việc nước thì khô xác hình

– Bởi đời quốc thể bù nhìn

– Quan làng tàn bạo sanh linh tơi bời

– Lương dân than khổ đòi nơi

– Quốc hồn mờ ám hởi ôi thế quyền

– Nước nhà nghiêng ngửa ngửa nghiêng

– Tham quan hại nước lợi riêng cho mình

– Biết chi là ám với minh

– Sớm ưa trưa ghét nhân tình đời ni (nay)

– Kim tiền quyền thế tương tri

– Không tiền không thế người khi ngu đần

– Chớ hà hiếp nhớ siêng cần

– Đến nơi Tiên Phật Thánh Thần mới an

– Nghèo nàn bỗng chốc giàu sang

– Đứa ngu đội bạc ra đường dại khôn

– Bởi đời toàn lũ vô hồn

– Khinh khi nhân nghĩa trọng tôn bạc tiền

– Dốt ngu đội lốt Thánh Hiền

– Mở miệng thì rặc đồ điên một dòng

– Chừng nào cây sắc trổ bông

– Đường đen như mực Lạc Hồng tai phi

– Trung thần ái quốc dễ khi

– Phản thần mãi quốc nên ghi để đời

– Thức thời Quốc sử bỏ rơi

– Ngay không nhầm lúc dĩ hơi hại mình

– Vô quân vô tướng vô binh

– Trung không cùng chúa cúng kinh ích gì

– Chừng nào lúa mọc trên chì

– Voi đi trên giấy đến kỳ Đông Chu

– Trí thời giả điếc giả ngu

– Khôn thời giả dại mà tu lấy mình

– Cầm quyền toàn lủ yêu tinh

– Quan nhiều Mảng Tháo cùng sinh hại đời

– Mua quan bán chức lấy lời

– Hại dân hại nước coi trời như không

– Bì trung cốt nịnh rặc dòn

– Kết phe kết đảng giết giòng phải nguy

– Nồi da xáo thịt ngộ thay

– Miền mình béo mở mặc ai ốm gầy

– Cáo kia mượn thế hại cầy

– Mẹ cha ưa nịnh ghét bầy con ngu

– Động tâm Thượng Đế dạy ru

– Xuống nhiều tai họa xuân thu sửa lần

– Gió sầu mưa thảm cõi trần

– Thiên luân địa chấn quân thần nó xem

– Canh Tân sực nức mùi hèm

– Nhâm Quý bằng lặng ngoại đem binh vào

– Giáp thời thấy rõ binh đao

– Ất niên chiến họa xâm vào tràn lan

– Thiên tai chiến sự đa đoan

– Quốc gia nghiêng ngửa tham quan hại đời

– Phản thần bán nước khi trời

– Gọi rằng trung trực hởi ôi thế quyền.

– Nhứt hữu liên sơn nhứt nhật bình

– Tam giang khí địa nhụ giang kinh

– Tu châu tai lạc thế châu khổn

– Ngu hại hoàn chung khổ hại minh

– Xác dân xung tận cung đình

– Thiên oai chấn nổ luật hình ban ra

– Mười phần mất bảy còn ba

– Mất hai còn một mới ra thái bình

– Trục kia chọi với đồng minh

– Hai sông khô cạn nhựt tinh tỏ ngời

– Ra oai đánh dẹp mọi nơi

– Năm châu bốn bể thây phơi trập trùng

– Mùa xuân gió bấc lạnh lùng

– Cua kình trở gọng về cùng lũ dê

– Cuộc đời như thể trò hề

– Nực cười lũ chó còn mê lợi quyền

– Sình ương khó nướng xào chiên

– Quốc gia nghiêng ngửa đảo điên bốn bề

– Ra đi thì khó nổi về

– Xe kia hết bánh thả rề trôi sông

– Chừng nào Chợ Lớn hết vôi

– Bể Đông cá đặt cuộc đời lao đao

– Lò rèn thiếu thép rèn dao

– Hết đồng đúc đỉnh hết thau bán nồi

– Chợ đen vốn một lời mười

– Gạo châu củi quế lời người than van

– Vải bô giá sánh ngàn vàng

– Kẻ đói người rách lan tràn chợ quê

– Tiết trời đánh đổ bông hoa

– Nhân dân phải chịu thảm thê họa sầu

– Theo Âu nên phải lo âu

– Mấy ai hiểu nghĩa Bá đi Thúc Tề

– Khỉ đàn vừa gặp lũ Dê

– Bắc Trung phải chịu thảm thê họa sầu

– Đại bàng xung phá đài lầu

– Ngạc ngư phóng toát thuyền cầu tan hoang

– Rồi Nam cũng chịu lầm than

– Phương Đông ba tỉnh phải mang họa sầu

– Trớ trêu cảnh sắp nhiệm mầu

– Phồn hoa đô hội thảm sầu đớn đau

– Cuộc đời gẫm thiệt cơ cầu

– Trung thua quyền nịnh tiên hầu quỷ ma

– Khỉ đàng gặp cập mãng xà

– Trăng tròn thiếu một thì ta xuống hầm

– Yêu đương cũng phải lạc lầm

– Sáu nơi khói lửa sấm gầm Sài môn

– Nghèo nàn không có quách chôn

– Gian tham quyền thế biết khôn lánh rồi

– Nhưng mà họa có đâu thôi

– Bồng bế con cái nổi trôi đầy đàng

– Đến hồi quốc vận lâm nàn

– Chi tiêu ăn mặc cường quan độc quyền

– Càng ngày càng đảo càng điên

– Dân ta như thể đàn chiên đáng vồn

– Ô hô giống khéo giống khôn

– Vay thời phải trả xác hồn lìa xa

– Thịt rơi xương nát máu sa

– Thầy tăng chẳng chịu ở nhà Phù Tang

– Sưu cao thuế nặng ta mang

– Đàng xa mới biết xa đàng nặng cân

– Thân Dậu lánh việc nương thân

– Miên thành Sài trấn đến gần bỏ thây

– Khỉ kia bị một gà khi

– Cuộc đời như vậy tham chi mà bòn

– Gà mừng gặp lúa túc con

– Miễn con no dạ mất còn kể chi

– Cái năm chiến họa loạn ly

– Mưa tai gió họa hại gì tham quan

– Nhơn dân khốn khổ đa đoan

– Mọi điều khốn khổ lại càng bằng hai

– Tu hành hiền hậu chết hoài

– Sai ngoa gian trá sống dai chật đàng

– Cơ trời định vậy chớ than

– Tương vong yêu nghiệt hành tàn đấy ư

– Đầu xuân gà gáy hăm tư

– Thầy tăng đến hạn họa trư tuyệt kỳ

– Thiên cơ máy tạo huyền vi

– Tuần hườn máy tạo ai thì có hay

– Nực cười cho lũ vô tài

– Tôi tôi chúa chúa hôm mai Sở Tần

– Xuân phân cho đến Thu phân

– Quốc gia điên đảo thần dân rối nuồi

– Buồn buồn tủi tủi vui vui

– Tiếng thì để tiếng muốn lui lắm lần

– Rồi đây bày tỏ trung can

– Trời cho Tiên Phật xuống trần trị yêu

– Văn minh cơ khí đủ điều

– Cọp đồng gấu sắt phi phiêu thủy hành

– Phong luân giáng họa lôi oanh

– Kết phe lập đảng tranh giành thế ni

– Năm châu nổi sóng một khi

– Chuồn bay khói tỏa tử thi như bèo

– Mưa dầu nắng lửa sấm reo

– Hai loại xâu xé họa gieo dân lành

– Đảng dân đại bại tan tành

– Cầu cùng đảng cọng ra tranh chiến cùng

– Tu binh mãi mã chiêu hùng

– Núp lưng đảng cọng trung hưng nước nhà

– Rồi sau sanh sự bất hòa

– Lại cùng đảng cọng can qua chiến trường

– Non cao bể cả đôi đường

– Phân ranh biên giới tỏ tường mới an

– Vầng hồng rọi khắp bốn phang (phương)

– Tây phang cuốn gói tìm đàng (đường) đào vong

– Bập bồng Tần quốc bập bồng

– Là nơi chiến địa huyết hồng tràn lan

– Hải hồ rửa máu nghỉ an

– Tiền Âu hậu Á Thiên Hoàng định thu

– Thân gà dạ khỉ đấy chừ

– Thì là ngọn lửa mới thu diệu lần

– Kỳ phan thay đổi cuộc trần

– Chó kia gặp chủ nó cần sủa tru

– Quân minh dân sự ôn nhu

– Heo kia thong thả ngao du đầy đàng

– Chuột mừng gặp cảnh bình an

– Trâu kia thong thả nghêng ngang đồn điền

– Cọp rày làm chúa lâm điền

– Quân thần cộng lạc miên miên cửu trường

Lời bàn: Bài này không phải là của Sấm Trạng, làm ra dựa theo Sấm Trạng và âm điệu ở miền Nam, nên có thể là của Giáo phái hay Đạo nào đó ở miền Nam.

BÀI GIÁNG BÚT CỦA TRẠNG TRÌNH

Bài tiên tri này do cụ Trần Văn Quế, một nhân sĩ uy tín, cương trực, thuộc Cao Đài giáo, một nhà cách mạng bị Pháp đày ra Côn đảo, một học giả lỗi lạc, một giáo sư Sử Địa lừng danh của trường Petrus Ký năm xưa, đã kể lại cho bỉ nhân nghe vào cuối năm 1954, tại trụ sở Mặt trận Quốc gia Liên hiệp của lãnh tụ Vũ Tam Anh, ở hẻm Cao Thắng, khu Bàn Cờ, Sàigòn. Cụ Quế nói: đêm đó, chúng tôi chia nhau kẻ lập bàn thờ dã chiến, kẻ canh chừng cai ngục, lòng bồi hồi thấp thỏm chờ mong. Chỉ có chút hương lòng thành khẩn xung thiên làm nhang đèn cháy rực trong tâm khảm những kẻ bị lưu đày, là người chủ lễ, chúng tôi vừa khấn vái xong, thì cơ liền xây. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xưng danh, cho ngay một bài thơ tám câu bảy chữ. Bài thi thất ngôn bát cú độc đáo, chính xác, linh nghiệm ấy như sau:

Khỉ hú trời Nam cá hóa rồng

Gà kêu Nam Bắc hội Hoa Long

Lần tay đếm lại Năm Ba Chín

Mới thấy điềm may giống Lạc Hồng.

Chăm chỉ chờ ngày sang Mậu Ngũ

Ước ao đặng thấy buổi Canh Thân

Cho hay bốn bể ba đào dậy

Cù rống kêu vang giống Lạc Hồng

Lời bàn: Tiếp phần phân tích trước, Sấm Trạng Trình gồm 487 câu viết liền, cũng như trong Sấm Ký Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài Bạch Vân ca, do đó người đọc để tìm hiểu khó nhận biết được bài nào thuộc về thể loại nào, mỗi bài dài ngắn đề có chủ ý cho một thể loại, như phần đã phân tích trước, những đoạn Sấm khá rõ về mượn Sấm Trạng để dụng ý riêng, thì còn lại có những đoạn khác chưa kết luận chắc chắn là của Trạng Trình, hay của các môn sinh của Trạng Trình làm ra, hoặc hậu sinh kế truyền đã làm thêm theo thể thất ngôn lục bát hoặc lục bát, phân tích những bài thơ được tách ra tạm chia làm 3 phần chính để suy luận:

1.     THIÊN: Thiên văn

2.     ĐỊA: Địa lý Phong thuỷ

3.     NHÂN: các nhân vật trong Sấm Trạng

Còn phần rất quan trọng nữa là THỜI: Thời điểm, thì ẩn hiện rất mù mờ trong một số câu, vùng Á Đông dùng Âm lịch cho nên một khoảng thời gian dài mấy trăm năm, mà căn cứ vào lục thập hoa giáp rất khó mà đoán đúng được thời điểm như dùng Dương lịch, ngay cả Sấm Nostradamus tiên đoán về thời điểm sự kiện xẩy ra, những người nghiên cứu về Nostradamus cũng lúng túng chỉ khi xẩy ra rồi mới rõ năm nào.

Trong bài phân tích này để bàn luận là THIÊN thì có những câu như sau:

Ngưu tinh tụ Bảo giang (Tinh tụ Bảo giang thượng)

Đại nhân cư chính trung

Bảo giang đây chính là sông trời – Thiên Hà – Ngân Hà, sao Ngưu đã xuất hiện sáng lên dần theo luật Sinh Vượng, vì vậy những câu sau nhắc tới Bảo giang hoặc có thể Hoàng giang, là có ý nói về Ngưu tinh sau hàng ngàn năm trước đã sáng rực rỡ (thời Thần Nông, thời Lạc Long Quân – Hùng Vương) lên rồi dần mờ tối biến mất, nay Ngưu tinh đã xuất hiện trở lại và sáng dần lên chủ đạo trong vòm trời Việt Nam

5 – Trải vì sao, mây che Thái ất

6 – Thủa cung tay, xe nhật phù lên

133 – Chọn Đẩu-Thai những vì sao cả (là sao lớn trong giải Ngân Hà, sao Đẩu sao Ngưu thuộc chùm sao Huyền Vũ gồm các sao Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích – ngôi sao Đẩu của chòm sao phương Nam gồm 7 sao là Tỉnh, Quỉ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Sao Tỉnh có hình Việt Tỉnh. Sao Thai=sao Tam Thai)

134 – Dùng ở tay phụ tá vương gia

135 – Bắc phương chính khí sinh ra (từ nơi phương Bắc Việt Nam sinh ra, phương hướng sẽ nói sau khi suy luận về phần ĐỊA)

136 – Có ông Bạch sĩ (xỉ) điều hòa hôm mai

141 – Uy nghi trạng mạo khác hình

142 – Thác cư một gốc Kim tinh phương Đoài (có nhiều câu về phương Đoài sẽ suy luận sau)

185 – Xem Đoài cung, đến thời bất tạo

186 – Thấy vĩ tinh, liệu rạo cho mau

203 – Lưu tinh hiện trước đôi thu

204 – Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm

251 – Xem tượng trời, biết đường đời trị (tượng trời ám chỉ về sao Ngưu, Đẩu đã xuất hiện)

252 – Ngẩm về sau, họ Lý xưa nên

253 – Giòng nhà để lấy dấu truyền

254 – Ngẩm xem bốn báu còn in đời đời

257 – Lại nói xứ, Hoàng giang sinh thánh (xứ Hoàng giang – Đà giang là Địa lý

258 – Sông Bảo giang, thiên định ai hay ? (Bảo giang là Thiên văn)

269 – Năm Giáp Tý, vẽ khuê đã rạng

270- Lộ ngũ tinh, trinh tượng thái hanh (ngũ tinh gồm những vì sao nào trong chòm sao Huyền Vũ, phương Nam chư rõ ?)

414 – Bảo giang Thiên tử xuất (Phá Điền Thiên tử xuất) (trong giải Ngân Hà sao Ngưu xuất hiện, Thánh nhân chọn vì sao lớn để Đẩu sinh)

415 – Bất chiến tự nhiên thành

420 – Danh vi Nguyễn gia tử

421 – Kim tịch (Tinh bản) sinh Ngưu lang (như câu 142, nghi vấn là họ Lý hay Nguyễn)

434 – Nam Việt hữu Ngưu tinh (Ngưu tinh đây là sao chủ của người Việt Nam)

435 – Quá thất thân thủy sinh (chữ thân này không có bản Hán tự nhưng nếu dùng chữ thân này 申:lại, đến – “qua bẩy lại mới sinh” có lẽ hợp với câu trên và những câu lục thất hơn, suy luận thêm sao Ngưu qua chu kỳ hoặc Vận thứ bẩy lại mới sinh ra Hồ Chí Minh)

450 – Danh vi Nguyễn gia tử

451 – Tinh bản tại Ngưu lang (nhắc lại giống câu 420-421)

Dục thức Thánh nhân xứ (câu này ở Sấm ký NBK giống trong Sấm Trạng câu 418-419, phụ trương ghi lại câu này như sau: 1 – Dục thức Thánh nhân hương – Thủy lam bảo trung tàng, 2 – Dục thức Thánh nhân tính – Mộc hạ liên đinh khẩu, 3 – Dục thức Thánh nhân diện – Tu tầm trương cú kiến)

Đa xuất ứng Bảo giang

Chấn cung xuất nhật

Đoài cung vẫn tinh

Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc

Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông (Ngưu đây là sao Ngưu, Lam điền là địa danh, nơi vùng đất có nhiều ngọc quý)

Uy nghi dung mạo khác hình

Thác cư một góc Kim tinh phương Đoài (phương Đoài nơi Trạng Trình ở Bạch Vân am hay hoặc thành Thăng Long nhìn thiên văn thấy Thánh nhân sẽ xuất hiện)

Bảo giang Thiên tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

Tất cả những câu Sấm Hán tự ẩn rất nhiều ý nghĩa, nhưng vì không ai biết hay có để đưa ra nguyên bản, người xưa có câu “Nói có sách, mách có chứng”, không có sách mà giải, dịch, chiết tự, suy luận cũng đều chủ quan, không hợp lý, thiếu khoa học …

Chữ lục thất được nhắc lại nhiều trong Sấm Trạng, vậy chữ lục thất này nói về phương diện nào ?

Trích 1 đoạn trong bài viết ÐỊA THẾ PHONG-THỦY CỦA HÀ-NỘI, HUẾ, SÀI-GÒN VÀ VẬN MỆNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM của ông Lâm Quốc Thanh nói về Tam nguyên cửu vận:

Tam Nguyên-Cửu Vận: là 1 chu kỳ 180 năm, được lập đi, lập lại không ngừng. Mỗi một chu kỳ này được chia ra làm 3 (Tam) Nguyên, mỗi Nguyên là một giai đoạn dài 60 năm, và được đặt theo thứ tự là Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Mỗi Nguyên lại được chia làm 3 Vận: các Vận 1, 2, 3 thuộc về Thượng Nguyên; các Vận 4, 5, 6 thuộc về Trung Nguyên; và các Vận 7, 8, 9 thuộc về Hạ Nguyên. Mỗi Vận như thế là 1 giai đoạn dài 20 năm.

Ở đây, để tiện theo dõi những diễn biến lịch sử trong từng giai đoạn, người viết xin được giới thiệu với bạn đọc bảng Tam Nguyên-Cửu Vận của hơn 1,000 năm trở lại đâỵ

THƯỢNG NGUYÊN TRUNG NGUYÊN HẠ NGUYÊN

Vận 1 Vận 2 Vận 3 Vận 4 Vận 5 Vận 6 Vận 7 Vận 8 Vận 9

964   984   1004 1024 1044   1064 1084 1104 1124

1144 1164 1184 1204     1224   1244 1264 1284     1304

1324 1344 1364 1384     1404   1424 1444 1464     1484

1504 1524 1544 1564     1584   1604 1624 1644     1664

1684   1704   1724    1744    1764     1784    1804    1824 1844

1864 1884 1904 1924     1944   1964 1984 2004     2024

Chú ý: những năm trong bảng trên đều là những năm khởi đầu của mỗi Vận. Thí dụ như năm 964 là năm khởi đầu của Vận 1, nên từ năm đó cho đến năm 983 đều nằm trong Vận 1. Ðến năm 984 mới bước vào Vận 2….

B

6—-1—-8

T 7—–5—-3 Ð

2—-9—-4

N

* Lạc Thư: là một đồ bàn hình vuông, bên trong có 9 số (còn được gọi là Cửu tinh), mỗi tương ứng với mỗi Vận, đồng thời chiếm 1 vị trí và phương hướng nhất định như hình bên cạnh. Như vậy, muốn biết được sự hưng, suy của một thành phố trong Vận nào, ta chỉ cần quan sát những khu vực tương ứng trong Lạc Thư là sẽ tìm ra được lời giải đáp. Chẳng hạn như muốn biết khí số của Hà Nội trong Vận 7 như thế nào, trước hết ta cần nhìn vào Lạc Thư, sẽ thấy số 7 nằm ở phía Tâỵ Như vậy, chỉ cần quan sát địa thế sông, núi ở khu vực phía Tây Hà Nội, đồng thời đối chiếu với khu vực đối diện tức là phía Ðông thì sẽ tìm ra được kết quả chính xác.

Trên đây chỉ là chút khái niệm về Lạc Thư và Tam Nguyên-Cửu Vận, ngoài ra, bạn đọc cũng cần biết hai yếu tố căn bản để định quẻ là Nước và Núi qua ba điểm dưới đây:

a/ Phục Ngâm: là khu vực của chính Vận mà lại có Thủy, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, nên phía Tây được coi là khu vực của chính Vận, mà ở đó lại có Thủy (nước) tức là bị Phục Ngâm.

b/ Phản Ngâm: là khu vực đối diện với chính Vận mà lại có núi, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, mà phía Ðông lại có núi tức là bị Phản Ngâm.

c/ Chính Thủy: là Thủy nằm ở khu vực đối diện với chính Vận, như Vận 7, số 7 nằm ở hướng Tây, mà phía Ðông lại có Thủy tức là có Chính thủỵ

Trong những cách kể trên, chỗ nào có Phục Ngâm, Phản Ngâm là có sát khí chiếu tới, nên sẽ mang nhiều tai ương, hoạn nạn đến cho thành phố. Còn chỗ nào có Chính thủy tức là được vượng khí chiếu tới, nên sẽ đem đến nhiều may mắn, thuận lợị

Sau khi đã nắm được những diều cơ bản trên, mời bạn đọc hãy nhìn vào địa thế của 3 thành phố Hà Nội, Huế và Sài Gòn, để tìm hiểu những nguyên nhân đã tạo ra những chặng đường vinh – nhục cho đất nước ta trong suốt gần 1,000 qua

ÐỊA THẾ PHONG-THỦY CỦA HÀ-NỘI, HUẾ, SÀI-GÒN VÀ VẬN MỆNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.

LÂM QUỐC THANH

 Từ xưa đến nay, việc lựa chọn một khu vực thích hợp và thuận tiện làm thủ đô bao giờ cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng, có liên quan đến sự sống còn của một chế độ hay có khi của cả một dân tộc. Bởi thế nên từ hơn 3, 000 năm về trước, các vua chúa Trung Hoa đã biết dựa vào thuật Phong thủy để tìm kiếm những vùng đất tốt đẹp cho việc đóng đô lập quốc. Có lẽ điều này giải thích lý do tại sao các triều đại phong kiến Trung Hoa thường tồn tại rất lâu dài, bền bỉ. Và mặc dù cũng phải trải qua những giai đoạn suy tàn, ly loạn, nhưng sức mạnh và nền văn minh của họ vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển cho tới bây giờ, chứ không bị tàn lụi hẳn như những đế quốc cổ đại và trung đại khác như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, Ả Rập…..

Riêng đối với dân tộc Việt Nam của chúng ta, từ lúc sơ khai của thời kỳ Hùng Vương cho tới nay, thủ đô của đất nước đã được dời đi, đổi lại nhiều lần, và vận mệnh của dân tộc cũng vì thế biến đổi theo. Từ Phong Châu (kinh đô của các vua Hùng) đến Cổ Loa, Phiên Ngung, Hoa Lư, rồi tới Thăng Long (tức Hà Nội), Phú Xuân (tức Huế) và Sài Gòn. Tùy theo địa thế và vận khí riêng biệt của mỗi thành phố trên, đất nước ta đã từng trải qua biết bao nhiêu giai đoạn thăng trầm. Khi thì vươn lên với một nền văn minh rực rỡ của trống đồng Ngọc Lũ, Ðông Sơn; khi thì tàn tạ, yếu kém phải chịu đựng 1,000 năm Bắc thuộc. Rồi dến những lúc cường thịnh đủ sức phá Tàu, bình Chiêm Thành, Chân Lạp; lại có những lúc suy yếu phải chịu sự đô hộ, sai khiến của ngoại bang….

Giờ đây, trong số những địa danh ấy, chỉ còn có Hà Nội, Huế và Sài Gòn là vẫn tiếp tục nắm giữ những vai trò quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và giao thương, mậu dịch của đất nước. Bởi thế hôm nay, người viết muốn được trình bày về địa thế Phong thủy của 3 thành phố này, với hy vọng sẽ giúp bạn đọc thấy được sự liên quan mật thiết giữa địa hình của thủ đô với vận số của dân tộc. Ðồng thời, dựa vào những quy luật biến hóa tự nhiên của vũ trụ để xác định nhũng giai đoạn hưng vượng hoặc suy vong của đất nước trong quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai sắp tới.

Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, người viết xin được đề cập sơ qua 2 chi tiết quan trọng của Phong thủy là Lạc Thư và Tam Nguyên- Cửu Vận. Những chi tiết này đã được trình bày tương đối đầy đủ trong bài ” Phong thủy của vụ 9/11″ trước đây (được đăng trên số xuân Nhâm Ngọ của báo Việt Tide và Chicago Việt báo), nên ở đây chỉ xin nói vắn tắt như sau:

* Tam Nguyên-Cửu Vận: là 1 chu kỳ 180 năm, được lập đi, lập lại không ngừng. Mỗi một chu kỳ này được chia ra làm 3 (Tam) Nguyên, mỗi Nguyên là một giai đoạn dài 60 năm, và được đặt theo thứ tự là Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Mỗi Nguyên lại được chia làm 3 Vận: các Vận 1, 2, 3 thuộc về Thượng Nguyên; các Vận 4, 5, 6 thuộc về Trung Nguyên; và các Vận 7, 8, 9 thuộc về Hạ Nguyên. Mỗi Vận như thế là 1 giai đoạn dài 20 năm.

Ở đây, để tiện theo dõi những diễn biến lịch sử trong từng giai đoạn, người viết xin được giới thiệu với bạn đọc bảng Tam Nguyên-Cửu Vận của hơn 1,000 năm trở lại đây.

THƯỢNG NGUYÊN TRUNG NGUYÊN HẠ NGUYÊN

Vận 1

 Vận 2

Vận 3

 Vận 4

Vận 5

Vận 6

Vận 7

Vận 8

 Vận 9

964

984

1004

1024

1044

1064

1084

1104

1124

1144

1164

1184

1204

1224

1244

1264

1284

1304

1324

1344

1364

1384

1404

1424

1444

1464

1484

1504

1524

1544

1564

1584

1604

1624

1644

1664

1684

1704

1724

1744

1764

1784

1804

1824

1844

1864

1884

1904

1924

1944

1964

1984

2004

2024

Chú ý: những năm trong bảng trên đều là những năm khởi đầu của mỗi Vận. Thí dụ như năm 964 là năm khởi đầu của Vận 1, nên từ năm đó cho đến năm 983 đều nằm trong Vận 1. Ðến năm 984 mới bước vào Vận 2….

B

T

6

1

8

7

5

3

2

9

4

Ð

N

* Lạc Thư: là một đồ bàn hình vuông, bên trong có 9 số (còn được gọi là Cửu tinh), mỗi tương ứng với mỗi Vận, đồng thời chiếm 1 vị trí và phương hướng nhất định như hình bên cạnh. Như vậy, muốn biết được sự hưng, suy của một thành phố trong Vận nào, ta chỉ cần quan sát những khu vực tương ứng trong Lạc Thư là sẽ tìm ra được lời giải đáp. Chẳng hạn như muốn biết khí số của Hà Nội trong Vận 7 như thế nào, trước hết ta cần nhìn vào Lạc Thư, sẽ thấy số 7 nằm ở phía Tây. Như vậy, chỉ cần quan sát địa thế sông, núi ở khu vực phía Tây Hà Nội, đồng thời đối chiếu với khu vực đối diện tức là phía Ðông thì sẽ tìm ra được kết quả chính xác.

Trên đây chỉ là chút khái niệm về Lạc Thư và Tam Nguyên-Cửu Vận, ngoài ra, bạn đọc cũng cần biết hai yếu tố căn bản để định quẻ là Nước và Núi qua ba điểm dưới đây:

a/ Phục Ngâm: là khu vực của chính Vận mà lại có Thủy, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, nên phía Tây được coi là khu vực của chính Vận, mà ở đó lại có Thủy (nước) tức là bị Phục Ngâm.

b/ Phản Ngâm: là khu vực đối diện với chính Vận mà lại có núi, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, mà phía Ðông lại có núi tức là bị Phản Ngâm.

c/ Chính Thủy: là Thủy nằm ở khu vực đối diện với chính Vận, như Vận 7, số 7 nằm ở hướng Tây, mà phía Ðông lại có Thủy tức là có Chính thủy.

Trong những cách kể trên, chỗ nào có Phục Ngâm, Phản Ngâm là có sát khí chiếu tới, nên sẽ mang nhiều tai ương, hoạn nạn đến cho thành phố. Còn chỗ nào có Chính thủy tức là được vượng khí chiếu tới, nên sẽ đem đến nhiều may mắn, thuận lợi.

Sau khi đã nắm được những diều cơ bản trên, mời bạn đọc hãy nhìn vào địa thế của 3 thành phố Hà Nội, Huế và Sài Gòn, để tìm hiểu những nguyên nhân đã tạo ra những chặng đường vinh – nhục cho đất nước ta trong suốt gần 1,000 qua.

1/ HÀ NỘI: là thành phố nằm gần như ngay tại trung tâm của đồng bằng Bắc Việt, trên dải đất hẹp giữa con sông Hồng ở phía Ðông và sông Tô Lịch ở phía Tây. Ðối với Phong thủy, dải đất này chính là chân long, là nơi kết tụ được nhiều nguyên khí của địa hình sông, núi ở chung quanh. Nhờ vậy, Hà Nội sẽ luôn luôn nắm được những vai trò quan trọng về chính trị và kinh tế đối với đất nước, chẳng những thế, trong các thời kỳ hưng vượng còn sản sinh ra những lãnh tụ tài ba, những anh hùng kiệt xuất. Nếu nhìn lên bản đồ miền Bắc, ta sẽ thấy những con sông lớn như sông Cầu, sông Gầm, sông Lô ở phía Bắc; sông Ðà, ở phía Tây, sau khi chảy qua nhiều nơi cuối cùng đều nhập vào sông Nhị Hà chảy về Hà Nội. Xa xa, dọc theo biên giới Việt-Hoa, những dãy núi trùng trùng, điệp điệp xuất phát từ miền Nam Trung Hoa đâm thẳng xuống dọc theo các phía Tây Bắc, Bắc và Ðông Bắc, tất cả cũng đều như muốn hướng về. Ðây chính là thế “núi sông chầu phục” của Hà Nội, một địa thế Phong thủy tuyệt đẹp đến nỗi không một thủ đô nào của các nước trong vùng Ðông Nam Á Châu, (kể cả thành Bắc Kinh của Trung Hoa) có thể so sánh được. Không những thế, ngoài xa nơi phía Ðông và Ðông Nam, Hà Nội còn được đại thủy của vịnh Bắc Việt và Thái Bình Dương chiếu tới nên thần lực rất lớn, xứng đáng là thủ đô muôn đời của một quốc gia văn hiến hùng mạnh.

 Nếu đem địa thế núi, sông, biển cả vừa kể trên đối chiếu với Lạc Thư, ta sẽ thấyVận 1 chỉ là giai đoạn trung bình của Hà Nội. Vì mặc dù khu vực phía Bắc có nhiều sông ngòi tức là phạm phải cách “Phục Ngâm”, bị sát khí xâm phạm, nên sẽ đem đến nhiều tai ương, loạn lạc. Nhưng tại đây cũng có nhiều dãy núi đâm thẳng xuống đem theo nhiều vượng khí nên chưa đến nỗi, vẫn còn nhân tài có khả năng ổn định, xoay chuyển được thời cuộc. Bước sang Vận 2, tình thế mỗi lúc một suy thoái hơn, vì khu vực phía Tây Nam của Hà Nội tuy chỉ có sông Mã tức là bị “Phục Ngâm” trong trường hợp nhẹ. Nhưng phía đối diện (Ðông Bắc) lại có núi đồi trùng điệp tức là bị “Phản Ngâm”, sát khí từ nơi đó sẽ tràn tới, khiến cho đất nước ngày càng trở nên hỗn loạn. May mà tại đây (khu vực phía Ðông Bắc) cũng có nhiều sông ngòi chằng chịt tức là đắc “Chính thủy”, vượng khí vẫn còn đến với Hà Nội nên chưa đến nỗi bị suy vong. Qua các Vận 3, 4, đại thủy của vịnh Bắc bộ và Thái bình Dương nơi phía Ðông và Ðông Nam sẽ tạo ra cách “Phục Ngâm”, sát khí quá nặng nề, nên sẽ đưa đất nước ta vào tình trạng yếu kém, tàn tạ hơn bao giờ hết. Phải đến khi bước vào Vận 5, nhờ địa thế “núi sông chầu phục”, vượng khí của Hà Nội mới bắt đầu bùng lên mãnh liệt, và cùng với nó là sức mạnh và tinh thần quật khởi của dân tộc. Qua Vận 6, Hà Nội sẽ phải đương đầu với những cuộc chiến tranh cực kỳ ác liệt, do các sông lớn như Nhị Hà, sông Ðà đều bắt nguồn từ phía Tây Bắc, nguồn nước lại rất lớn nên phạm phải cách “Phục Ngâm” rất nặng. May là cũng tại phía Tây Bắc lại có những mạch núi rất dài, rất cao tiến xuống, cuốn theo vượng khí ngút trời, đủ sức để trấn áp sát khí nên Hà Nội sẽ vượt qua được mọi thử thách để đi đến chiến thắng. Nói chung là trong Vận 6, ngay cả những thế lực hùng mạnh bậc nhất trên thế giới mà đụng đến Hà Nội cũng đều sẽ rước lấy những thất bại thảm hại, ê chề. Ðến Vận 7, những con sông Ðà, sông Mã ở phía Tây Hà Nội sẽ tạo ra nhiều sát khí (bị “Phục Ngâm”). Nhưng ngoài xa nơi phía Ðông lại có vượng khí của đại thủy mênh mông chiếu tới, lấn át được sát khí, nên tuy hay bị những biến động về chính trị, nhưng là một giai đoạn tương đối yên lành, sung túc. Sang Vận 8, Hà Nội sẽ bước vào giai đoạn cực thịnh, sản sinh ra những lãnh tụ tài ba đem lại thanh bình và vinh quang cho đất nước.?Trong giai đoạn này tuy cũng có chiến tranh xảy ra, do khu vực phiá Ðông Bắc có rất nhiều sông ngòi chằng chịt. Nhưng cảnh thái bình, thịnh trị, sẽ nhanh chóng được tái lập vì vượng khí của các dãy núi trong khu vực Ðông Triều-Cẩm Phả sẽ đem đến cho Hà Nội rất nhiều may mắn, thuận lợi. Sang tới Vận 9, thời kỳ hưng vượng vẫn tiếp tục được duy trì, cho tới khi bước sang Vận 1 thì những mầm mống loạn lạc mới bắt đầu tái diễn trở lại.

 Nếu nhìn lại lịch sử thì ngay từ thời Bắc thuộc, một số tướng lãnh cai trị Trung Hoa có tầm hiểu biết sâu rộng về Phong thủy như Cao Biền đã bắt đầu để ý tới địa thế tốt đẹp của Hà Nội. Bởi thế nên ngay từ thời đó, họ đã cho xây thành ở khu vực này và đặt tên là thành Ðại La, nhưng ngôi thành này thường bị bỏ trống, ít khi được chú ý tới. Phải đến khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, ngài thấy Hoa Lư có địa thế quá nhỏ hẹp nên mới dời đô về đây và đổi tên là thành Thăng Long. Lúc đó là năm 1010, thuộc Vận 3 Thượng Nguyên, xét về vận khí thì đây chính là lúc suy vong của Hà Nội. Nhưng cũng may cho nhà Lý là Hà Nội khi trước đã bị bỏ trống từ lâu, đến lúc đó mới được chọn làm đế đô nên vận khí chưa thể ảnh hưởng mạnh mẽ ngay đến cục diện của đất nước. Mặc dù vậy, trong suốt thời gian cai trị của Ngài (1010- 1028), giặc giã nổi lên khắp nơi, khiến cho nhà vua và các hoàng tử phải luân phiên nhau đi đánh dẹp mới giữ vững được quốc gia và bảo tồn được ngôi báu cho nhà Lý.

Khi vua Thái Tổ qua đời, Thái tử Phật Mã lên nối ngôi (1028), hiệu là Lý Thái Tông, lúc đó đang ở trong Vận 4 Trung Nguyên. Ngay lúc đó, Ngài đã phải lo đối phó với cuộc tranh giành ngôi báu của các hoàng tử khác, nhờ có danh tướng Lê phụng-Hiểu phò tá nên Ngài mới dẹp yên được cuộc nổi loạn đó.

Năm 1038, cũng trong Vận 4, Nùng tồn Phúc nổi loạn ở Lạng Sơn, tự xưng là Hoàng đế, thanh thế rất lớn, khiến vua Thái Tông phải thân đi chinh phạt mới dẹp yên được.

Năm 1044, bước sang Vận 5, vượng khí đã bắt đầu dến với Hà Nội, vua Thái Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành. Quân ta đại thắng, chiếm được kinh đô Phật Thệ của nước Chiêm.

Năm 1048, cũng trong Vận 5, Nùng trí Cao (con Nùng tồn Phúc) lại nổi loạn ở Lạng Sơn, âm mưu dựa vào nhà Tống bên Tàu để chống lại nhà Lý. Nhưng vì lúc đó nhà Tống đang suy yếu, chưa muốn sinh sự với Ðại Việt, nên âm mưu này bị thất bại. Sau đó, Nùng trí Cao bị nhà Lý đánh phải chạy sang Tàu cướp phá, rồi bị tướng nhà Tống là Ðịch Thanh dẹp tan.

Năm 1068, trong Vận 6 Trung Nguyên, biết được Chiêm Thành bí mật liên kết với nhà Tống, không chịu thần phục nước ta, vua Lý Thánh Tông cùng với Lý thường Kiệt bèn cất quân đi chinh phạt. Quân ta đại phá quân Chiêm, bắt được Chiêm vương là Chế Củ. Sau cuộc chiến này, Chiêm Thành không những bị bắt buộc phải thần phục nước ta, mà còn phải cắt 3 châu (hay 3 tỉnh) dâng nạp để tạ tội.

?Vào cuối năm 1075, cũng trong Vận 6, thấy nhà Tống có ý muốn đánh nước ta, Lý thường Kiệt liền dẫn quân sang đánh chiếm Khâm châu, Ung châu và Liêm châu của nhà Tống, phá hủy mọi căn cứ và những kho tàng quân sự rồi rút về.

Ðầu năm sau, vẫn trong Vận 6, vua Tống cử Quách Quỳ làm đại tướng, ồ ạt dẫn quân sang đánh nước ta báo thù, nhưng bị Lý thường Kiệt chận đánh kịch liệt bên bờ sông Như Nguyệt, suốt mấy tháng trời không tiến binh nổi. Thấy lực lượng bị hao mòn nhiều và biết không thể thắng nổi nước ta, Quách Quỳ bèn chấp nhận giảng hòa rồi rút hết quân trở về.

Năm 1103, vào cuối Vận 7, Lý Giác khởi loạn ở vùng Nghệ An, rồi liên kết với cả Chiêm Thành, Lý thường Kiệt phải tự đem quân vào đánh mới dẹp yên được.

Trong suốt Vận 8 (1104 – 1123), nước ta sống trong cảnh thái bình thịnh trị. Bước sang Vận 9, vào những năm 1128, 1132, 1135, Chân Lạp nhiều lần cho quân ra quấy phá Nghệ An, nhưng đều bị nhà Lý dẹp tan nên cuối cùng lại xin thần phục.

Năm 1138, vào cuối Vận 9, vua Lý anh Tông mới có 3 tuổi lên ngôi, nhưng nhờ có ông Tô hiến Thành là một trung thần tài ba phò tá nên trong suốt thời gian cai trị của ngài (1138 – 1175, tức là từ cuối Vận 9 qua tới giữa Vận 2), đất nước vẫn tương đối được ổn định. Ðến khi Tô hiến Thành qua đời (1179), nhà Lý bắt đầu bước vào thời kỳ suy vong. Dưới thời vua Lý cao Tông (1176 – 1210, tức là từ giữa Vận 2 cho đến giai đoạn đầu của Vận 4), giặc giã nổi lên như ong, trong triều đình từ vua tới quan đều bất tài, không đối phó nổi với tình thế. Năm 1208, Quách Bốc nổi loạn, rồi đem quân về đốt phá kinh thành, khiến vua Cao Tông phải dẫn Thái tử Sam bỏ chạy. Sau phải nhờ Trần Lý đem quân về dẹp loạn mới lấy lại được kinh đô, nhưng quyền bính lại lọt hết về tay họ Trần. Trong suốt thời gian còn lại của Vận 4 (1210 – 1223), vương quyền của nhà Lý mỗi lúc một suy yếu, tàn tạ. Ðể rồi vào năm 1225, Trần thủ Ðộ diệt nhà Lý, đặt cháu làTrần Cảnh lên làm vua và lập ra nhà Trần.

Khi nhà Trần được sáng lập thì cũng là lúc mới bước vào Vận 5, vượng khí bắt đầu đến với Thăng Long (Hà Nội), nên đây là lúc mà sức mạnh của đất nước được bộc phát trở lại. Nhưng triều đình nhà Lý đã quá suy nhược, hèn yếu, do đó phải nhường chỗ cho một thế lực chính trị khác, có đầy đủ khả năng và nghị lực, để dẫn dắt dân tộc tiến lên. Rồi ngay từ những ngày đầu, Trần thủ Ðộ đã tiến hành nhiều cuộc canh tân, cải cách, diệt trừ nội loạn (kể cả việc giết hại con cháu họ Lý). Nhờ thế nên chẳng bao lâu, các nền chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội trên đất nước ta đều được khôi phục và phát triển trở lại. Nhưng trong lúc đó, xứ Mông Cổ cũng đang nổi lên thành một thế lực đế quốc hùng mạnh bậc nhất trong lịch sử thế giới, đánh chiếm được hầu hết Á Châu rồi tràn sang đến tận vùng Ðông Âu. Sau khi đã chiếm được phần lớn đất đai của Trung Hoa, Mông Cổ bắt đầu dòm ngó tới Việt Nam.

Năm 1257, trong Vận 6 Trung Nguyên, chúa Mông Cổ là Hốt tất Liệt phái danh tướng Ngột-lương-hợp-Thai đem quân đánh chiếm nước Ðại Lý (Thuộc tỉnh Vân Nam bây giờ), rồi sau đó tiến xuống chiếm luôn Việt Nam. Ngột-lương-hợp-Thai tiến binh rất nhanh, chỉ trong 1 tháng đã diệt được nước Ðại Lý, rồi thừa thắng tiến vào nước ta. Trước sức mạnh của quân địch, vua tôi nhà Trần phải bỏ Thăng Long rút về Hưng Yên, áp dụng chiến lược “vườn không nhà trống” để đối phó. Chẳng bao lâu sau, khi thấy quân Mông Cổ suy yếu vì không được tiếp tế lương thực, thuốc men đầy đủ, nhà Trần mở cuộc tổng phản công, đánh bại quân địch ở Ðông bộ Ðầu, khiến cho Ngột-lương-hợp-Thai phải rút quân tháo chạy về Vân Nam.

Sau chiến thắng này và cho đến hết năm 1283, tức là từ giữa Vận 6 cho đến hết Vận 7, nhà Trần phải trải qua cuộc đấu tranh đầy cam go và thử thách về ngoại giao với nhà Nguyên (tức đế quốc Mông Cổ).

Ðầu năm 1285, thuộc Vận 8 Hạ Nguyên, Hốt tất Liệt sai thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang đánh nước ta lần thứ hai. Ðây chính là lúc vận khí của Hà Nội đang trong giai đoạn cực thịnh, nên mặc dù quân Mông Cổ tinh nhuệ và đông đảo chưa từng có, nhưng chỉ sau 5 tháng giao tranh, bọn chúng đã bắt đầu nao núng. Trước tình hình đó, quân ta phản công, đại thắng quân địch trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp, giết Lý Hằng, chém Toa Ðô, còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy về Tàu.

Quá căm tức vì cuộc thất trận này, vào cuối năm 1287, cũng trong Vận 8, Hốt tất Liệt lại sai Thoát Hoan đem 30 vạn quân sang đánh nước ta lần thứ ba. Nhưng lần này thì quân địch còn bị thảm bại nhanh chóng hơn, vì sau khi đoàn thuyền lương của chúng bị ta phá tan ở Vân Ðồn, Thoát Hoan đành phải chia quân thành 2 đường thủy-bộ rút lui. Ðạo thủy quân của địch bị ta chận đánh tan tành trên sông Bạch Ðằng, những danh tướng như Ô-mã-Nhi, Phàn Tiếp đều bị bắt sống. Còn đạo quân dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan theo đường bộ rút về cũng bị chận đánh kịch liệt, các đại tướng như A-bát-Xích, Trương Ngọc đều bị tử trận, Thoát Hoan phải vất vả lắm mới vượt qua được ải Nam Quan trốn thoát.

Xét về 2 cuộc đại thắng quân Mông Cổ của nhà Trần sau này đều xảy ra trong Vận 8, giữa lúc vận khí của Hà Nội đang đi đến giai đoạn cực thịnh. Lúc này, nhờ những dãy núi dài hàng ngàn dậm ở phía Ðông Bắc hướng tới, thần lực của Hà Nội thật vô cùng mãnh liệt, nên không một thế lực hùng mạnh nào có thể lay chuyển được. Bởi thế nên chẳng những tinh thần quật cường, bất khuất của cả dân tộc ta lúc đó đang bùng lên đến mức tột độ, mà những anh hùng tài ba lỗi lạc cũng xuất hiện rất nhiều. Từ những vị vua như Trần thái Tông, Trần Nhân Tông, đến những danh tướng như Trần quang Khải, Trần khánh Dư, Trần nhật Duật, Phạm ngũ Lão….và đặc biệt là vị đại anh hùng dân tộc Hưng đạo Vương Trần quốc Tuấn. Chính vì thế nên dù cho đế quốc Mông Cổ có hùng mạnh đến đâu, quân đội của chúng có đông đảo, thiện chiến, tinh nhuệ tới mức nào đi nữa, khi bước đến Việt Nam cũng không thể tránh được sự thảm bại.

Sau 2 cuộc đại thắng này, nhà Trần hưởng cảnh thanh bình, thịnh vượng được hơn 40 năm (1288-1233), tức là từ những năm còn lại của Vận 8 (16 năm) qua hết Vận 9 vào đến giữa Vận 1. Duy chỉ có việc vua Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm, nhưng sau đó lại bắt về làm nảy sinh ra sự hiềm khích giữa 2 nước. Năm 1307, đầu Vận 9, Chiêm Thành đem quân sang quấy rối nước ta, nhưng bị nhà Trần đánh cho đại bại, Chiêm Vương Chế Chí bị bắt đem về giam ở Hà Nội.

Năm 1334, vào giữa Vận 1, giặc Lào bắt đầu kéo sang phá phách. Mặc dù bị đánh bại, nhưng sau đó chúng vẫn tiếp tục trở lại cướp phá thường xuyên, khiến cho vua tôi nhà Trần phải vất vả lo toan đánh dẹp và phòng thủ biên giới.

Kể từ đời vua Trần dụ Tông (lên ngôi năm 1341 tức cuối Vận 1) thì nhà Trần bắt đầu suy yếu, vì nhà vua chỉ biết vui chơi, giữa lúc nhân dân đói khổ, lầm than. Năm 1353, thuộc Vận 2, thấy nước Chiêm có nội chiến, vua Dụ Tông bèn đem quân sang can thiệp nhưng bị quân Chiêm đánh bại.

Năm 1367, đầu Vận 3, nhà Trần lại cử đại quân vào đánh Chiêm Thành, nhưng cũng bị đại bại như lần trước, chủ tướng của quân ta bị quân địch bắt sống.

Năm 1377, cũng trong Vận 3, vua Trần duệ Tông và Hồ quý Ly huy động 12 vạn quân thủy-bộ vào đánh Chiêm Thành. Nhưng khi tiến tới Ðồ Bàn thì bị vua Chiêm là Chế bồng Nga đánh tan, vua Trần bị tử trận, còn Hồ quý Ly phải tháo chạy trở về. Thắng trận này, Chế bồng Nga liên tiếp 3 lần đem quân ra đánh chiếm Thăng Long, cướp phá kinh thành rồi trở về.

Năm 1389, đầu Vận 4, trong lúc Chế bồng Nga đang đem quân sang đánh nước ta lần thứ 4 thì có nhà sư tên Phạm sư Ôn lại nổi loạn, khiến triều đình nhà Trần vô cùng bối rối. May nhờ Chế bồng Nga bị trúng đạn tử trận, quân Chiêm mới lui binh, rồi loạn Phạm sư Ôn cũng được dẹp yên. Nhưng đến lúc này, nhà Trần đã quá suy yếu, quyền hành lọt hết vào tay Hồ quý Ly. Họ Hồ mỗi ngày một tạo dựng thêm vây cánh khắp triêù đình, để rồi đến năm 1400 (cuối Vận 4) thì diệt nhà Trần, lên ngôi và lập ra nhà Hồ.

Xét về những cuộc thất bại của nhà Trần dưới tay quân Chiêm đều xảy ra vào khoảng từ giữa Vận 2 đến đầu Vận 4, là những giai đoạn mà vận khí của Hà Nội rất suy yếu. Bởi thế nên mặc dù nước ta rộng lớn hơn, tiềm lực về kinh tế lẫn quân sự đều hùng hậu hơn Chiêm quốc, vậy mà vẫn bị họ đánh cho khốn đốn, khiến vua, tôi nhà Trần nhiều phen phải bỏ cả kinh đô mà chạy. Ðúng ra trong những giai đoạn đó, nhà Trần chỉ nên án binh bất động, không nên tranh hùng với địch quốc, vì một khi vận khí của kinh đô đã quá suy yếu thì không thể chiến thắng được ai. Ngay cả đến việc diệt trừ nội loạn như cuối đời nhà Lý (cũng trong các Vận 3,4) mà còn chưa làm nổi thì làm sao có thể chiến thắng được các quốc gia thù địch ở bên ngoài. Tuy nhiên, trong các Vận 3 và 4, sát khí của biển Ðông quá mạnh, nên dù nhà Trần có hòa hoãn với các nước lân cận thì cũng bị những cuộc nổi loạn trong nước làm cho điêu đứng để rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt

Khi Hồ quý Ly lên ngôi, việc đầu tiên của ông là cho dời thủ đô về Tây Ðô ở Thanh Hóa, rồi cho tiến hành nhiều cải cách táo bạo về chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội và quân sự. Nhưng vào năm 1407, đầu Vận 5, khi nhà Minh mượn tiếng “phù Trần diệt Hồ” đem quân sang xâm lăng nước ta thì nhà Hồ bị tan rã và sụp đổ nhanh chóng. Một lần nữa, dân tộc ta lại nằm dưới ách cai trị của người Tàu.

Nếu xét về phương diện Phong thủy và vận khí thì sự sụp đổ của nhà Hồ là do 2 nguyên nhân chính. Thứ nhất là khi Hồ quý Ly cướp ngôi nhà Trần, vận khí của thủ đô Thăng Long đang ở trong giai đoạn tàn tạ, suy yếu đến tột độ (Vận 4). Nên dù ông có cố công canh tân, cải cách thế nào đi nữa, nước ta yếu vẫn hoàn yếu, mà lòng người dân lại càng không phục, bất mãn. Thứ hai là việc ông lập Tây Ðô (thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa bây giờ) làm thủ đô mới của nước ta. Ðây là một vùng đất chật hẹp, lại bị long mạch của dãy Hoàng liên Sơn tiến tới đâm sát vào. Ðối với Phong thủy, địa thế như vậy không được coi là có Long (núi) chầu phục, mà chính là thế bị Long tiến tới bức bách, áp chế, khiến cho vượng khí bị thất tán, còn sát khí thì tràn ngập cả kinh đô. Bởi thế nên ngay từ khi lên ngôi, Hồ quý Ly đã gặp phải những áp lực nặng nề từ trong và ngoài nước, để rồi đến khi quân Minh sang đánh nước ta thì nhà Hồ liền bị sụp đổ nhanh chóng. Mặt khác, vào lúc đó, vận khí của Bắc Kinh đang ở trong giai đoạn cực kỳ hưng vượng (thành Bắc Kinh chủ phát vào các Vận 5, 6, và 7). Do đó, nếu đem vận khí của Tây Ðô đối chọi với vận khí của Bắc Kinh lúc đó thì làm sao nhà Hồ không lãnh lấy cái hậu quả diệt vong, mất nước được. Nếu như Hồ quý Ly không dời đô, thì tuy ông sẽ gặp nhiều khó khăn trong những năm đầu, nhưng khi bước vào Vận 5 (1404) vượng khí sẽ trở lại với Thăng Long. Lúc đó, sức mạnh và tinh thần quật khởi của dân tộc lại trào dâng mạnh mẽ thì thử hỏi nhà Minh làm sao có thể đánh chiếm và đô hộ nước ta ngót 20 năm được?

Nhưng cũng may dân tộc ta, khi quân Minh thiết lập nền đô hộ, chúng lại lấy Thăng Long (lúc đó đã đổi tên là Ðông Ðô) làm trung tâm điều hành việc cai trị, trực tiếp nhận lệnh điều khiển từ Bắc Kinh. Nhưng chúng không biết rằng trong các Vận 5, 6, 8, nếu là một trung tâm quyền lực chính trị thì Thăng Long sẽ không bao giờ là chư hầu của bất cứ một thành phố nào trên thế giới. Do đó, những phong trào kháng chiến bùng nổ khắp nơi, cho đến khi Lê Lợi tụ tập được anh hùng hào kiệt, phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn thì nền độ hộ của quân Minh đã bước vào thời kỳ tàn cuộc. Vào năm 1426, đầu Vận 6, nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang nước ta để đối phó với phong trào kháng chiến của Lê Lợi, nhưng đạo quân này bị ta đánh tan ở Tuy Ðộng. Năm sau, cũng trong Vận 6, nhà Minh lại phái Liễu Thăng và Mộc Thạnh đem 15 vạn quân sang nước ta hòng cứu vãn tình thế. Nhưng khi 10 vạn quân của Liễu Thăng bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn trong các trận đánh Chi Lăng, Tốt Ðộng-Chúc Ðộng, nhà Minh không còn cách gì khác hơn là rút hết quân về nước và thừa nhận nền độc lập của dân tộc ta.

Ðánh đuổi được quân Minh ra khỏi bờ cõi, Lê Lợi liền lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Thái Tổ và lập ra nhà Lê, nhưng Ngài chỉ ở ngôi được 6 năm (1428 – 1433) thì qua đời. Con Ngài lên thay lấy hiệu là Thái Tông (1434 – 1442). Dưới thời vua Thái Tổ và Thái Tông, có nhiều vụ giết hại những công thần danh tiếng như Trần nguyên Hãn, Phạm văn Xảo, Lê Sát, Nguyễn Trãi… xảy ra. Ðó chẳng qua là vì trong suốt Vận 6, nước ta thường bị đe dọa bởi những cuộc chiến tranh lớn hay những vụ khủng hoảng chính trị trầm trọng. Nhưng sau những trận đại thắng quân Minh trước đây, không còn một nước nào trong khu vực dám xâm phạm bờ cõi nước ta nữa. Do đó mới xảy ra những vụ giết hại công thần rất đẫm máu vừa kể trên.

Sau thời vua Lê thái Tông, nước ta tương đối được ổn định trong suốt 16 năm. Ðến năm 1459, trong Vận 7 Hạ Nguyên, hoàng thân Nghi Dân đem quân về giết vua đoạt lấy ngai vàng, nhưng chỉ không đầy 1 năm sau thì lại bị các quan đại thần phế đi, rồi lập em là Gia Vương Tư Thành lên ngôi, lấy hiệu là Lê thánh Tông.

Dưới thời vua Lê thánh Tông (1460 – 1497, tức là từ cuối Vận 7 qua hết Vận 8 cho tới gần cuối Vận 9), nước ta trở thành một cường quốc hùng mạnh bậc nhất trong vùng Ðông Nam Á. Ở trong nước, nhà vua cho tiến hành nhiều cải cách: từ chính trị, kinh tế đến luật lệ, thuế khóa…. khiến đời sống người dân được yên ổn, sung túc. Ở ngoại biên, vua Lê thánh Tông huy động những cuộc viễn chinh có quy mô rất lớn: năm 1470, Ngài đem 26 vạn quân đi đánh và chiếm đất Chiêm Thành. Năm 1479, Ngài đem 18 vạn quân sang dẹp yên xứ Lão Qua; sang năm sau, lại đem 30 vạn quân xuống diệt xứ Bồn Mang. Thấy nước ta khống chế các nước lân bang nơi phía Nam, Minh triều tỏ ý bực tức nhưng chẳng làm gì được. Bởi vì trong Vận 8, nguyên khí của thành Bắc Kinh đã đến thời kỳ suy yếu, không thể nào đối chọi nổi với cái hùng khí của Thăng Long thủa ấy.

Sau khi vua Lê thánh Tông băng hà, dân tộc ta vẫn tiếp tục sống trong cảnh thái bình thịnh trị dưới thời vua Lê hiến Tông (1497 – 1504, tức là từ những năm cuối của Vận 9 sang đến đầu Vận 1). Nhưng kể từ đó trở đi, nhà Lê bắt đầu suy yếu với những ông vua xa xỉ, độc ác như Lê uy Mục (1505 – 1509), Lê tương Dực (1510 – 1516) , khiến cho trăm họ đói khổ, giặc giã nổi lên như ong. Lợi dụng tình thế rối ren đó, một võ tướng có tài là Mạc đăng Dung bắt đầu gây dựng thế lực: diệt trừ những cuộc nổi loạn và những phe cánh đối lập. Khi đã thâu tóm trọn quyền bính trong tay, Mạc đăng Dung liền cho người giết vua Lê cung Hoàng rồi tự xưng làm hoàng đế và lập ra nhà Mạc vào năm 1527, lúc đó đang là đầu Vận 2 Thượng Nguyên. Nhưng chẳng được bao lâu sau thì con cháu nhà Lê, được sự phò tá của 2 họ Trịnh -Nguyễn, lại bắt đầu nổi lên ở Nghệ-an để tạo thành thế Nam – Bắc triều. Trong suốt thời gian từ năm 1540 cho đến năm 1583, tức là từ cuối Vận 2 cho đến hết Vận 4, cả 2 bên đều mở rất nhiều cuộc tấn công quyết liệt, nhưng không bên nào dành được thắng lợi trọn vẹn. Phải đến năm 1591 (trong khoảng đầu Vận 5), Trịnh Tùng kéo đại quân ra Bắc, chiếm được thành Thăng Long, nhưng lại cho san thành bình địa rồi rút về. Sang năm sau, Trịnh Tùng lại đem quân ra Bắc lần nữa mới thực sự diệt được nhà Mạc và bình định được đất Bắc.

Nếu xét tới sự thất bại của nhà Mạc thì lý do không ngoài việc Mạc đăng Dung đã vội vã cướp ngôi nhà Lê quá sớm. Thật vậy, lúc đó đang là đầu Vận 2, nguyên khí nước ta đang dần dần bị suy thoái, nên dù ông có cố công gắng sức trong việc cai trị, tình thế mỗi lúc một trở nên đen tối. Trong các Vận 3, 4, nhà Mạc mỗi lúc một tàn tạ, suy nhược, nên khi bước vào Vận 5 thì bị tiêu diệt. Bởi vì lúc đó vượng khí đã bắt đầu trở về với Thăng Long, nên những chế độ mục nát, suy tàn sẽ bị quét sạch để nhường bước cho những thế lực chính trị mớí, có đầy đủ khả năng và nghị lực để đối phó với tình thế. Tuy nhiên, khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, lại cho quân phá tan thành bình địa, khiến cho vượng khí bị thất tán, làm suy giảm rất nhiều thần lực của kinh đô. Bởi thế nên sau này, họ Trịnh chẳng những phải hao tổn rất nhiều thời gian và công sức mới trừ hết được những dư đảng của nhà Mạc, mà còn không khuất phục được họ Nguyễn ở phương Nam. Ngay cả trong các Vận 8 (1644 – 1663) và Vận 9 (1664 – 1683) là những giai đoạn tốt đẹp nhất của Thăng Long, họ Trịnh vẫn không thống nhất được đất nước, khiến cho tình trạng Nam – Bắc phân tranh kéo dài ngót 100 năm.

Giữa lúc 2 phe Trịnh – Mạc đang giao tranh quyết liệt ở ngoài Bắc, họ Nguyễn liền lợi dụng cơ hội đem quân vào Nam gây dựng thế lực ở Thuận Hóa (tức khu vực từ Quảng Bình vào tới Quảng Nam bây giờ). Ðến khi nhà Mạc bị diệt thì họ Nguyễn đã bắt đầu đủ mạnh để đối phó với họ Trịnh. Lúc này, vua Lê chỉ còn là bù nhìn, mọi quyền hành đều lọt vào trong tay chúa Trịnh (ở ngoài Bắc) và chúa Nguyễn (ở trong Nam). Rồi trong suốt thời gian từ năm 1627 đến năm 1672 (tức là từ đầu Vận 7 cho đến giữa Vận 9), hai bên 7 lần đại chiến tại khu vực Hà tĩnh -Quảng bình. Nhưng vì không bên nào dành được thắng lợi quyết định, nên đành lấy sông Gianh làm ranh giới chia đôi đất nước.

Tuy nhiên, mặc dù không thống nhất được đất nước, nhưng trong thời gian đầu, các chúa Trịnh đều là những nhà lãnh đạo có tài, biết chăm lo việc nước nên đời sống của người dân cũng được yên lành, sung túc. Chỉ đến đời chúa Trịnh Giang (1729 – 1740 tức là bắt đầu từ Vận 3 trở đi) thì nền cai trị của nhà Trịnh đã bắt đầu lung lay. Dưới chế độ thuế khóa, phu dịch quá nặng nề của triều đình, người dân vô cùng đói khổ, lầm than, dẫn đến nhiều cuộc nổi loạn liên tiếp trong suốt 30 năm (1739 – 1769), khiến cho triều đình phải đánh dẹp vô cùng vất vả. Ðến đời chúa Trịnh Sâm (1767 – 1782 tức là trong Vận 5), do cũng có năng lực, lại được những đại thần có tài như Bùi thế Ðạt, Hoàng ngũ Phúc, Lê quý Ðôn …. phò tá nên chẳng những dẹp yên được các cuộc nổi loạn, mà còn bắt đầu bành trướng thế lực của họ Trịnh xuống phương Nam. Nhưng khi ông qua đời, con là Trịnh Khải lên thay lại tỏ ra bất tài, hèn yếu, không làm chủ được tình thế, để cho kiêu binh lộng hành, khiến cho miền Bắc trở nên rối loạn. Giữa lúc đó, nước Trung Hoa ngày càng hùng mạnh dưới sự lãnh đạo của vua Càn Long, lại đang chủ trương xâm chiến các nước láng giềng để mở rộng cương vực. Trước mối đe dọa nghiêm trọng đó, nhà Trịnh bắt buộc phải cáo chung để mở lối cho sự xuất hiện của một vị đại anh hùng dân tộc mới: hoàng đế Quang- Trung Nguyễn Huệ.

Còn về phần các chúa Nguyễn ở trong Nam thì mặc dù hùng cứ một phương, nhưng trên danh nghĩa vẫn là tôi thần của vua Lê, không lập nước hoặc kinh đô riêng nên vẫn phụ thuộc vào vận khí của Thăng Long. Do đó, trong những giai đoạn đầu, các chúa Nguyễn cũng rất tài giỏi, biết cách an dân, trị nước, đồng thời tiếp tục mở rộng lãnh thổ nước ta cho đến tận Hà Tiên. Sau này, dưới thời các chúa Nguyễn phúc Trú (1725 – 1738) và Nguyễn phúc Khoát (1738 – 1765) tức là trong các Vận 3 và 4, triều đình trong Nam đã bắt đầu suy yếu, những cuộc Nam tiến hầu như đã bị đình trệ hẳn. Kể từ năm 1765 tức là đầu Vận 5, triều đình của chúa Nguyễn lại càng thối tha, mục nát vì sự lộng hành của quyền thần Trương phúc Loan, khiến cho muôn dân lầm than, đói khổ. Trước tình hình đó, 3 anh, em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ liền đứng lên phát động cuộc khởi nghĩa vào năm 1772, lúc đó đang là giữa Vận 5 Trung Nguyên.

Chỉ trong một thời gian ngắn, anh, em nhà Tây Sơn đã chiếm đươc trọn vẹn đất đai của chúa Nguyễn, nên vào năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng làm hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn (thành Ðồ Bàn cũ) và lập ra nhà Tây Sơn.

Nhưng ở đất Gia Ðịnh, khi anh, em Tây Sơn vừa rút đi 1 tôn thất nhà Nguyễn là Nguyễn Ánh lại trở về mộ binh chống lại. Trong 2 năm 1782, 1783, Nguyễn Ánh bị Nguyễn Huệ đánh bại liên tiếp nên phải chạy sang Thái Lan cầu cứu. Năm 1784, đầu Vận 6, Thái Lan đem 2 vạn quân và 300 chiến thuyền sang chiếm nước ta, nhưng vừa tiến tới Mỹ Tho thì bị Nguyễn Huệ đánh tan tành trên sông Rạch Gầm – Xoài Mút, khiến cho Nguyễn Ánh và đám tàn quân Xiêm phải tháo chạy về Băng Cốc.

Bình định được trong Nam, Nguyễn Huệ liền nghĩ đến chuyện Bắc phạt. Vào giữa năm 1786, ông đem quân ra đánh Thuận Hóa, rồi tiến về Thăng Long như vũ bão. Chỉ trong 1 tháng ông đã chiếm được kinh đô của đất Bắc, diệt chúa Trịnh, trao trả quyền hành cho vua Lê rồi trở về Nam. Nhưng vua Lê bất tài, không điều hành nổi chính sự, nên lộng thần lại nổi lên, tác oai tác quái, khiến cho Nguyễn Huệ phải ra Bắc lần nữa để diệt trừ những phần tử sâu dân, mọt nước, thiết lập chính quyền mới rồi lại trở về Nam.

Trong khi đó, vì bị loại ra khỏi nền chính sự Việt Nam, vua Lê uất hận bèn chạy sang Tàu cầu cứu nhà Thanh. Ðược lời như cởi tấc lòng, vào cuối năm 1788, cũng đang trong Vận 6, vua Càn Long liền sai Tôn sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang chiếm nước ta. Nhưng khi chúng vừa dừng lại để ăn Tết thì từ Phú Xuân, Nguyễn Huệ lập tức lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung rồi kéo 10 vạn binh ra Bắc. Bằng một chiến dịch tốc chiến tốc thắng có một không hai trong lịch sử dân tộc Việt Nam và có lẽ của cả thế giới, chỉ trong vòng 5 ngày, vua Quang Trung đã đập tan một lực lượng quân sự tinh nhuệ và đông đảo hơn mình gấp bội, với những chiến thắng Hà Hồi, Ngọc Hồi, Ðống Ða. Những đại tướng Thanh như Hứa thế Hanh, Thượng duy Thăng, Sầm nghi Ðống phải bỏ mạng, còn Tôn sĩ Nghị một mình một ngựa hối hả vượt qua ải Nam Quan trốn về Tàu.

Tiếc thay, sau chiến thắng oanh liệt này, vua Quang Trung lại không đóng đô ở Thăng Long đề duy trì và mở mang sự nghiệp (vì lúc đó đang trong Vận 6, nên vượng khí ở Thăng Long đang trào dâng vô cùng mãnh liệt). Trái lại, Ngài vẫn tiếp tục dùng Phú Xuân làm kinh đô, mà không biết rằng trong Vận 6, thành phố này sẽ gặp nhiều tai họa (sẽ nói rõ ở phần sau). Bởi thế cho nên sau khi Ngài qua đời (1792), Nguyễn Ánh ở đất Gia Ðịnh dần dần khôi phục được lực lượng đem quân ra chiếm Phú Xuân (1801), diệt nhà Tây Sơn (1802), rồi lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Gia Long và lập ra nhà Nguyễn. Kể từ đây, Phú Xuân trở thành thủ đô của đất nước, còn Thăng Long (sau này đổi là Hà Nội) chỉ còn là một thành phố lớn trên đất Bắc mà thôi. Rồi trải qua các đời vua triều Nguyễn, đất nước ta mỗi ngày một suy yếu, dẫn tới cuộc xâm lăng và đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp. Ðến năm 1945 khi vua Bảo Ðại thoái vị, Hồ chí Minh cướp chính quyền, tuyên bố Việt Nam độc lập và thành lập chính phủ ở Hà Nội thì lúc đó đã bước vào Vận 5 Trung Nguyên.

Năm 1946, Pháp đem quân trở lại Việt Nam, dự định tái lập chế độ thuộc địa trrên đất nước ta lần nữa. Nhưng lúc đó đang trong Vận 5, tinh thần quật khởi của dân tộc ta lại trào dâng mạnh mẽ, nên sau 9 năm chiến tranh khốc liệt, thực dân Pháp bị đại bại ở Ðiện biên Phủ, buộc lòng phải rút quân ra khỏi nước ta. Tuy nhiên, vào lúc này, do sự phân rẽ về ý thức hệ giữa 2 khối Tự do và Cộng sản, nước ta bị chia cắt làm 2 miền. Miền Nam theo chế độ Tự do, dưới sự lãnh đạo của Ngô đình Diệm, đóng đô tại Sài Gòn; miền Bắc theo chế độ Cộng sản, dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh, đóng đô ở Hà Nội. Lúc đó là năm 1954, cũng vẫn trong Vận 5.

Nhưng vào lúc xảy ra sự phân chia đất nước, Sài Gòn đang nằm trong một giai đoạn xấu và một địa thế bất lợi (sẽ nói rõ hơn ở phần sau), nên tuy đời sống của người dân miền Nam được tự do, sung túc hơn miền Bắc, chính phủ miền Nam vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn, bị khủng hoảng chính trị và tôn giáo liên tục. Trong khi đó, mặc dù đời sống của người dân miền Bắc rất nghèo đói dưới chế độ độc tài Cộng sản, thế lực chính trị và quân sự của Hà Nội ngày càng đè nặng lên trên chính phủ và nhân dân miền Nam. Bước sang Vận 6 (1964 – 1983), khí thế của Hà Nội lại càng bùng lên mãnh liệt. Nên mặc dù Sài Gòn được Hoa Kỳ và đồng minh đem quân trợ chiến, đồng thời cho máy bay oanh kích miền Bắc rất ác liệt trong nhiều năm, nhưng vẫn không đánh bại nổi Hà Nội. Cuối cùng, Hoa kỳ quá chán nản nên đành rút chân ra khỏi Việt Nam, rồi đến năm 1975 (cũng trong Vận 6) thì Sài Gòn sụp đổ trước cuộc tấn công của quân đội miền Bắc.

Sau cuộc chiến tranh này, khí thế của Hà Nội vẫn còn rất mạnh, nên chẳng những khống chế cả 2 nước Lào và Cam Bốt, mà còn làm cho mọi quốc gia trong vùng Ðông Nam Á khiếp sợ. Khi Cộng sản Cam Bốt muốn liên minh với Trung Cộng để tách rời ra khỏi vòng kiểm soát của Hà Nội, thì liền bị Hà Nội đem quân đánh tan chỉ trong vòng 2 tuần lễ. Thấy chư hầu của mình bị Việt cộng ngang nhiên đè bẹp, Trung Cộng tức giận đem hơn 200, 000 quân sang đánh miền Bắc vào năm 1979 (vẫn trong Vận 6) nhưng bị đẩy lui dễ dàng.

Hiện tại đang là Vận 7 Hạ Nguyên (1984 – 2003), nếu tính theo vận khí của Hà Nội thì tuy nước ta không phải là quốc gia giàu mạnh nhất trong vùng Ðông Nam Á, nhưng cũng không đến nỗi quá nghèo nàn, lạc hậu như bây giờ. Ðó là vì vào những năm đầu của thập niêm 80, Cộng sản Việt Nam cho thiết lập nhiều đập thủy điện lớn trên những con sông Ðà, sông Mã. Trong Vận 7, những con sông này đã đem sát khí đến cho Hà Nội, giờ đây lại còn có những đập thủy điện hoạt động ngày đêm, khiến cho sát khí càng bốc lên dữ dội. Bởi thế nên trong thời gian gần đây, Hà Nội bị khủng hoảng chính trị liên miên: hết Nguyễn văn Linh tới Ðỗ Mười, rồi đến Lê khả Phiêu và bây giờ là Nông đức Mạnh. Nhưng càng thay đổi, giới lãnh đạo ở Hà Nội lại càng tỏ ra bất tài, không tìm nổi một hướng đi nhất định cho dân tộc. Giữa lúc đó, tệ nạn tham nhũng lan tràn khắp nơi, trong khi người dân vẫn tiếp tục đói khổ, các giới công, nông, trí thức, thương nhân … đều cảm thấy tương lai quá mù mịt, xa vời.

Nhưng đối với bộ môn Phong thủy, tương lai lại rất tươi sáng cho dân tộc Việt Nam, bởi vì chỉ còn không đầy 2 năm nữa là đã tới Vận 8 Hạ Nguyên. Ðây chính là lúc mà đất nước ta trở nên giàu có và hùng mạnh nhất trong vùng Ðông Nam Á. Nếu những người Cộng sản không sớm biết thay đổi, cố công gắng sức chăm lo cho nước giàu dân mạnh. Mà chỉ lo vơ vét, ăn chơi hoang đàng xa xỉ như hiện nay, thì đến khi vượng khí lại đến với dân tộc, họ cũng sẽ bị quét sạch đi như những triều đại phong kiến trước đây trong buổi suy tàn.

Tóm lại, vận khí của Hà Nội là trung bình trong Vận 1, suy vi trong Vận 2, tàn tạ trong các Vận 3, 4, bắt đầu phục hưng trong Vận 5, kiêu dũng trong Vận 6, bình thường trong Vận 7, cực thịnh vào Vận 8 và Vận 9. Những Vận 1, 2, 7 thường có những cuộc chiến tranh nhỏ, hoặc những cuộc cướp ngôi, đảo chính; những Vận 3, 4 thường có rất nhiều giặc giã, trong khi giai cấp thống trị thì vô tài, bất lực. Vận 5 bao giờ cũng có những cuộc chiến tranh tương đối lớn, nếu không có thù trong thì sẽ có giặc ngoài; còn Vận 6 thì bao giờ cũng là những cuộc chiến quy mô chống lại những cường quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới. Trong lịch sử, chỉ có Vận 6 dưới thời chúa Trịnh Tùng (1604 – 1623) là nước ta không bị ngoại xâm trực tiếp. Nhưng dư đảng của nhà Mạc được nhà Minh bên Tàu gián tiếp giúp đỡ, khiến cho chúa Trịnh phải vất vả đánh dẹp suốt từ khi chiếm được Thăng Long (1591) cho đến năm 1625 (tức là qua tới Vận 7) mới trừ được hết. Trong Vận 8 cũng thường có những cuộc chiến tranh lớn (như dưới các thời Trần, Lê, Trịnh). Tuy nhiên, đời sống của người dân dưới thời này vẫn được sung túc hơn so với Vận 6, cũng như thực lực của đất nước cũng được hùng mạnh, dồi dào hơn. Chỉ có Vận 9 là đất nước được thanh bình, ít có chiến tranh, giặc giã hơn cả; nhưng về hùng khí cũng như sự phát triển đều không thể bằng Vận 8.

Một điểm nữa về địa thế Phong thủy của Hà Nội là tuy nằm trong thế “núi, sông chầu phục”, nhưng vì nước sông Hồng khi đi ngang qua Hà Nội chảy rất mạnh, chứ không êm đềm, uốn lượn. Vì lý do này nên những nhân vật xuất hiện vào đúng Vận 5 như Trần thủ Ðộ, Hồ chí Minh…. tuy có tài nhưng lại rất độc ác, phải là những anh hùng xuất hiện ở các Vận 6, 8 mới tránh được sát khí của sông Hồng để được nhân ái, hiền từ hơn. Ngoài ra, cũng vì lý do đó mà đất nước ta từ xưa đến nay không bao giờ được giàu có, dư dả như các cường quốc khác. Gặp lúc thịnh vượng thì chỉ tương đối sung túc, đến lúc suy vi thì sơ xác, điêu tàn. Sau này, nếu những nhà lãnh đạo đất nước có thể kiến tạo một công trình đào sưả dòng nước sông Hồng, sao cho nó uốn lượn một vài đoạn trước khi tới cũng như sau khi rời khỏi Hà Nội. Có như thế thì đất nước ta mới mong có ngày trở nên giàu có như những nước Anh, Pháp, Mỹ được.

2/ HUẾ: trước đây còn có tên là Phú Xuân, là thành phố nằm gần như ngay chính giữa nước Việt Nam, trong địa phận tỉnh Thừa Thiên (hay Bình-Trị-Thiên). Chính do vị trí chiến lược này nên mặc dù chỉ là một thành phố nhỏ, đất đai chung quanh cũng rất chật hẹp, Huế vẫn được chọn làm kinh đô của nước ta dưới thời nhà Tây Sơn (Nguyễn Huệ) cũng như nhà Nguyễn sau này. Nhưng vì nằm trong 1 vùng đất nhỏ hẹp, nên Huế cũng có đầy đủ núi, sông bao bọc. Xa xa nơi phía Tây Bắc, dãy Trường Sơn xuất phát từ miền thượng du Bắc Việt chạy xuống, nhưng không hướng về Huế mà chỉ đi qua khu vực phía Tây của thành phố rồi tiếp tục đi thẳng về phía Nam. Chỉ có những nhánh núi nhỏ tách ra từ đại long mạch của dãy Trường Sơn là tiến tới hướng về Huế mà thôi. Vì Huế chỉ được những nhánh núi nhỏ chầu phục (hướng tới), nên cũng chỉ có những con sông nhỏ, ngắn chạy tới để hộ vệ. Ðó chính là sông Hương bắt nguồn từ những dòng sông ở phía Nam (Quảng Nam) và Tây Nam (Lào) chảy ra rồi hợp lại. Nhưng khi tới gần Huế, sông Hương lại không chảy thẳng mà đột nhiên vòng lại, như muốn ôm lấy khu vực phía Nam và phía Ðông của thành phố này. Rồi còn ngoái đầu nhìn lại trước khi đổ ra biển nơi cửa Thuận An., thật là một cảnh sông nước hữu tình, chẳng trách nào con người Huế lại tao nhã, giỏi văn chương, thi phú. Không những thế, ở các phía Bắc, Ðông và Ðông Nam lại còn có Thủy của biển Ðông và Thái bình Dương bao bọc, tưởng sẽ đem đến cho Huế sự sung túc và phồn vinh vô hạn. Có lẽ cũng vì những lý do vừa kể trên mà các vua, chúa nhà Nguyễn mới chọn Huế làm đế đô (chứ không phải như vua Quang Trung chỉ thuần mục đích quân sự là muốn vào Nam, ra Bắc dễ dàng để dẹp loạn). Rồi họ còn cho đào sông Ðông Ba ở phía Bắc để tạo nên thế chân long cho kinh thành Huế, lấy con sông này và đoạn sông Hương ở phía Nam làm Thanh Long, Bạch Hổ, những vùng phụ cận làm hộ sa…. để tạo thêm uy thế cho đế đô.

Tuy nhiên, khi dựa vào những điểm tốt đẹp vừa kể trên để chọn Huế làm đất đóng đô, các vua, chúa nhà Nguyễn đã quên mất một yếu tố quan trọng và cơ bản của Phong thủy. Ðó là độ dài, ngắn của những dãy núi (hay còn gọi là long mạch) đứng bao phủ, chầu phục chung quanh khu vực này. Lưu-kim-Tinh, một danh sư Phong thủy Trung Hoa viết: ” nơi sở tại của can long (tức những nơi có núi, sông tới chầu phục) cần phân rõ xa và gần. Can long xa ngàn dậm là đại đô thị (tức kinh đô lớn của những cường quốc); xa hai, ba trăm dậm là châu phủ; xa trăm dậm chỉ có thể là huyện thành, còn gần nữa là các trấn”. Mà nhìn lên bản đồ, ta thấy những dãy núi hướng về Huế chỉ là những nhánh nhỏ của mạch Trường Sơn, dài chừng 2, 3 chục cây số (tức khoảng trăm dậm). Rồi đến sông Hương tuy được cái thế uốn lượn hữu tình, nhưng từ chỗ phát nguồn cho đến khi đổ ra biển cũng chỉ dài chừng 5, 6 chục cây số. Với thế núi sông quá ngắn ngủi như vậy, chẳng trách gì mỗi khi một triều đại lập đế đô ở đây, thì chẳng bao lâu cũng bị diệt vong (như thời chúa Nguyễn, Tây Sơn) hoặc trở thành chư hầu của ngoại bang (như nhà Nguyễn). Ðó chỉ vì cái thế núi sông “xa trăm dậm chỉ có thể là huyện thành ” của Huế tạo ra mà thôi, vì nếu núi, sông quá ngắn thì không sao tạo ra đủ vượng khí cho một thành phố phát triển lên hùng mạnh được.

Một yếu tố quan trọng khác là vấn đề dựa vào đại thủy (nước biển) mênh mông ở ba mặt Bắc, Ðông và Ðông Nam để đem lại sự sung túc, phồn thịnh cho kinh thành Huế, và qua đó cho cả dân tộc. Nhưng thật ra, muốn được hưởng đại thủy khí thì điều kiện cần thiết là bờ biển phải có hình dạng uốn cong vào (là thế nước muốn lấn vô đất liền), có như vậy khi gặp vận khí tốt thì đất nước mới mong giàu, mạnh lên được. Ðàng này vùng bờ biển Huế (và của cả miền Trung, suốt từ Nghệ An vào tới Phan Rang nói chung) lại có hình dạng uốn cong ra. Ðó là thế đất liền muốn tiến ra biển, nên đại thủy khí không thể vào được để đem lại sự phồn thịnh, có chăng chỉ là những cơ hội bị bỏ lỡ (vì nằm ngay sát đại thủy mà lại không nhận được thủy khí).

Tuy nhiên, mặc dù không đón nhận được vượng khí từ biển Ðông đưa vào, nhưng Huế vẫn bị ảnh hưởng của đại thủy về phương diện thời vận. Do đó, các Vận 1, 3, 4 đều là những bại Vận vì ở các phía Bắc, Ðông và Ðông-nam đều có đại thủy tức là bị ” Phục Ngâm” rất nặng. Vì thế nên trong những Vận này đất nước ta thường có chiến tranh, loạn lạc, giữa lúc triều đình thì bất tài, nhu nhược, không đối phó nổi với tình thế. Trong Vận 2 thì thường có anh hùng xuất hiện, vì nơi phía Tây Nam của Huế có những nhánh núi của dãy Trường Sơn hướng tới, nên sẽ đem vượng khí đến cho thành phố. Rất tiếc rằng những nhánh núi đó lại quá ngắn, nguồn vượng khí quá ít khiến cho những vị anh hùng này tuy có chí khí nhưng không đủ tài, sức để làm nổi chuyện lớn. Vào Vận 5 Huế sẽ gặp nhiều biến động, vì vượng khí của thành phố (do sông Hương và những nhánh núi nhỏ tạo ra) đã bị dãy Trường Sơn hút hết về phía Nam, khiến cho thần lực của Huế bị suy kiệt hẳn. Sang Vận 6 Huế sẽ bị những tai họa thảm khốc, vì đại long mạch Trường Sơn từ phía Tây Bắc tiến xuống, nhưng không hướng tới Huế mà lại ngoảnh đầu, vươn mình về phía Nam. Ðây chính là thế đất bị rồng bỏ, mà Vận 6 là chính Vận nên tai họa sẽ giáng xuống không ngừng. Ðến Vận 7 mới là thời kỳ an bình, hưng vượng của Huế, vì những nhánh núi phía Tây và sông Hương ở phía Ðông đều là những nguồn phát sinh ra vượng khí. Trong Vận này Huế cũng có nhân tài xuất hiện, nhưng chỉ vì thế núi sông quá ngắn, vượng khí không đủ nên họ chẳng làm được gì đáng gọi là phi thường, nổi bật cả (tương tự như Vận 2). Bước sang Vận 8, cửa khẩu Thuận-an và vùng biển phía Ðông Bắc là sát khí (bị Phục Ngâm) nên sẽ tạo ra những cơn biến loạn. Rồi sang Vận 9 cũng không tốt đẹp gì, vì vận khí của Huế dựa rất nhiều vào sông Hương, mà con sông này lại xuất phát từ phía Nam đổ ra tức là lại bị “Phục Ngâm” nên chiến tranh, loạn lạc vẫn tiếp tục xảy ra.

Nếu nhìn vào lịch sử của cố đô Huế thì ta thấy thành phố này bắt đầu được xây lên vào năm 1687. Nhưng phải đến đời chúa Nguyễn phúc Khoát (1738 – 1765) mới dám tự tiếm Vương hiệu (Vũ Vương), đồng thời chính thức đặt Huế làm thủ đô của giang sơn nhà Nguyễn (1744). Dưới thời Vũ vương, vì kinh đô mới được thiết lập, vận khí của Huế chưa phải đã có ảnh hưởng ngay tới cục diện, nên tình hình vẫn còn tương đối ổn định, nhưng những mần mống rối loạn đã bắt đầu xuất hiện. Khi Vũ vương qua đời (1765 tức là mới bắt đầu vào Vận 5), con còn nhỏ lên nối ngôi bị quyền thần Trương phúc Loan thao túng, làm lắm điều tham tàn, bạo ngược, khiến cho dân chúng Nam hà vô cùng lầm than, uất hận.

Năm 1772, đang trong Vận 5, anh, em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi nghĩa ở Tây Sơn, chiếm được Quy Nhơn và một số tỉnh miền Trung. Thừa dịp đó, chúa Trịnh liền phái đại quân vào Nam đánh chiếm lại vùng Thuận Hóa và kinh thành Phú Xuân (1775), khiến cho chúa Nguyễn phải chạy vào đất Gia Ðịnh, nhưng chỉ 2 năm sau (1777) thì bị Nguyễn Lữ bắt được giết đi. Thế là kinh đô Phú Xuân chưa lập được bao lâu, một triều đại đã bị sụp đổ nhanh chóng.

Trong thời gian chiếm được Phú Xuân (1775 – 1786, tức là từ giữa Vận 5 sang đến đầu Vận 6), chúa Trịnh để Phạm ngô Cầu là một viên tướng vừa bất tài, vừa tham lam, hèn nhát trấn thủ vùng này. Ðến khi Nguyễn Huệ đem quân ra Thuận Hóa đánh Trịnh (1786), bắt được Phạm ngô Cầu liền ra lệnh cho quân sĩ giết đi.

Ðánh bại được chúa Trịnh, Nguyễn Huệ lại trở về Phú Xuân, cho thiết lập đại bản doanh ở đây, nhưng trên danh nghĩa vẫn là tôi thần của nhà Lê với chức Nguyên soái Uy Quốc công. Lúc này, vì giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc có sự bất hòa, nên Nguyễn Huệ không còn phụ thuộc vào triều đình Tây Sơn ở Ðồ Bàn nữa, mặc dù vẫn giữa tước hiệu Bắc bình Vương do Nguyễn Nhạc phong cho. Ðến khi miền Bắc có loạn, vua Lê chạy sang Tàu cầu cứu, Nguyễn Huệ mới lên ngôi hoàng đế, rồi tiến ra Bắc đánh bại quân Thanh (1788). Nhưng sau đó, Ngài lại quay về đóng đô ở Phú Xuân, rồi cho tiến hành nhiều cải cách táo bạo để kiến thiết đất nước, đồng thời chuẩn bị một lực lượng quân sự hùng mạnh cho việc chinh phạt nhà Thanh. Nhưng lúc đó đang trong Vận 6, là giai đoạn vận khí đen tối nhất của thành phố Huế, cho nên chỉ làm vua chưa đầy 4 năm, vua Quang Trung bỗng đột nhiên qua đời (1792). Những hoài bão lớn lao cùng những công trình cải cách vĩ đại của Ngài do đó đều sụp đổ. Con của Ngài là Quang Toản lên nối ngôi còn quá nhỏ tuổi, các đại thần xâu xé lẫn nhau khiến cho nhà Tây Sơn bị suy tàn nhanh chóng. Giữa lúc đó, Nguyễn Ánh đã củng cố được thế lực ở Gia Ðịnh, rồi bắt đầu đen quân ra đánh chiếm dần các miền duyên hải Trung phần. Vào năm 1801, tức cuối Vận 6, thành Phú Xuân bị thất thủ, khiến cho vua tôi nhà Tây Sơn phải bỏ chạy ra Bắc, nhưng đến năm sau đều bị bắt đem về hành hình một cách vô cùng dã man, tàn bạo ngay giữa kinh thành Huế.

Diệt được nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long và lập ra nhà Nguyễn (1802), lúc đó đang là giai đoạn chót của Vận 6, chuẩn bị bước sang Vận 7 Hạ Nguyên. Do đó, dưới thời vua Gia Long (1802 – 1819), đất nước ta được yên ổn, thái bình. Tuy nhiên, mặc dù cũng là một nhà lãnh đạo có tài (qua bao năm đấu tranh chống lại nhà Tây Sơn), nhưng trong suốt thời gian cai trị, vua Gia Long lại tỏ ra thiển cận và hủ lậu, nên sự nghiệp không có gì đáng kể tới. Sang đến thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), nước ta đã bắt đầu bước vào thời kỳ suy yếu, với những cuộc nổi loạn xảy ra ở khắp nơi.

Năm 1826, trong Vận 8 Hạ Nguyên, Phan bá Vành làm loạn ở Nam Ðịnh, rồi đến năm sau, Lê duy Lương nổi lên ở Ninh Bình, khiến triều đình phải đánh dẹp vất vả suốt mấy năm trời mới xong. Ðến năm 1833, cũng trong Vận 8, lại có vụ loạn Nồng văn Vân ở vùng biên giới Việt-Hoa, và Lê văn Khôi ở trong vùng Gia Ðịnh làm cho triều đình phải khốn đốn. Sau đó nhà Nguyễn còn phải đối phó với sự quấy phá của quân Xiêm, rồi những cuộc bắt giết đạo Thiên Chúa lại xảy ra, khiến cho cảnh máu chảy, đầu rơi không lúc nào ngừng được.

Ðến đời vua Thiệu Trị (1841 – 1847, tức là từ cuối Vận 8 qua đầu Vận 9), những cuộc giết hại giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo càng diễn ra khốc liệt hơn trước. Trong khi đó, người Chân Lạp (tức Cam Bốt) nổi lên chống lại nền đô hộ của nhà Nguyễn (được thiết lập từ thời vua Gia Long), khiến cho triều đình nhà Nguyễn đánh dẹp mãi không xong, cuối cùng đành phải chấp nhận nền độc lập của xứ này.

Sang đến đời vua Tự Ðức (1847 – 1883 tức là từ giai đoạn đầu Vận 9 cho đến hết Vận 1), tình hình lại càng trở nên vô cùng đen tối. Ở ngoài Bắc có các vụ giặc Tam Ðường (1851), giặc “châu chấu” của Lê duy Cự và Cao bá Quát, giặc Tạ văn Phụng, giặc Cai tổng Vàng (cùng xuất phát vào năm 1861), giặc Ngô Côn (1868), giặc Cờ Ðen, Cờ Trắng, Cờ Vàng (1870)….Ở Huế thì có âm mưu soán nghịch của Hồng Bảo (anh vua Tự Ðức, năm 1855), vụ giặc “chầy vôi” (1866).Những cuộc phiến loạn này khiến triều đình nhà Nguyễn không kịp trở tay để đối phó. Giữa lúc đó, vào năm 1858 tức khoảng cuối Vận 9, Pháp đem hải quân vào tấn công thành Ðà Nẵng, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Qua năm sau, quân Pháp quay vào Nam đánh chiếm thành Gia Ðịnh, rồi chuyển sang việc bình định toàn thể Nam kỳ. Năm 1873, tức trong giữa Vận 1, Pháp tiến ra Bắc đánh hạ được thành Hà Nội nhưng rồi lại rút về Nam vì đang vướng bận vào cuộc chiến tranh với Ðức ở Âu châu. Ðến năm 1882, Pháp lại đem quân ra Bắc triệt hạ thành Hà Nội lần thứ hai, rồi chia quân ra đánh chiếm khắp nơi, khiến cho triều đình nhà Nguyễn không sao đối phó nổi. Cũng trong giai đoạn đó, nhà Nguyễn đã ký kết với Pháp những hòa ước nhục nhã: từ việc nhường 3 tỉnh miền Ðông (tức khu vực từ Bình Thuận vào đến Long-an), sau đó là hết cả miền Nam cho Pháp. Rồi đến việc phân chia đất nước ra thành 3 miền riêng biệt, và cuối cùng là chấp nhận sự đô hộ của Pháp. Vào năm 1883, tức năm cuối cùng của Vận 1, khi vua Tự Ðức băng hà, nước ta đã mất hẳn nền độc lập, chính thức trở thành nô lệ của ngoại bang.

Sau khi vua Tự Ðức qua đời, triều đình nhà Nguyễn lại càng rối loạn vì những cuộc phế lập, nên phải đến giữa năm 1884, tức vào đầu Vận 2 Thượng Nguyên, vua Hàm Nghi mới lên ngôi. Tuy còn nhỏ (mới có 12 tuổi), nhưng nhà vua đã tỏ ra là một vị anh hùng khí khái, cương quyết chống ngoại xâm, chứ không chịu cúi đầu làm tay sai cho giặc. Năm 1885, Ngài cho quân đánh Pháp, nhưng bị thất bại nên phải trốn khỏi kinh thành rồi phát động phong trào Cần Vương kháng chiến, được nhân dân 2 miền Bắc, Trung hưởng ứng. Nhưng đến năm 1888 thì vua Hàm Nghi bị Pháp bắt được đem đầy đi Algeria, rồi những phong trào kháng Pháp cũng lần lượt bị thất bại.

Khi vua Hàm Nghi trốn khỏi kinh thành Huế thì Pháp liền đem vua Ðồng Khánh lên thay, nhưng vua Ðồng Khánh chỉ ở ngôi được có 3 năm (1885 – 1888) thì qua đời. Pháp liền cho lập hoàng thân Bửu Lân (mới có 10 tuổi) lên ngôi, lấy hiệu là Thành Thái, lúc đó vẫn đang là đầu Vận 2. Khi lớn lên, nhà vua thấy Pháp quá lộng hành, không đếm xỉa gì tới nền độc lập của Việt Nam nên tìm cách chống lại, nhưng âm mưu bị bại lộ nên bị chúng đày sang Phi châu (1907). Con ngài là thái tử Vĩnh San (mới có 8 tuổi) lên nối ngôi, lấy hiệu là Duy Tân. Năm 1916, khoảng giữa Vận 2, vua Duy Tân cùng tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội (do cụ Phan bội Châu sáng lập) âm mưu khởi nghĩa ở Trung kỳ nhưng thất bại, khiến hàng trăm chiến sĩ bị hành quyết, hàng ngàn người bị bắt bớ, tù đày. Riêng vua Duy Tân bị Pháp bắt đem đày sang đảo Reunion ở Phi châu.

Từ năm 1916 đến năm 1945, tức là từ giữa Vận 3 đến khi bước vào Vận 5, triều đình nhà Nguyễn dưới thời Khải Ðịnh (1916 – 1925) và Bảo Ðại (1926 – 1945) đã hoàn toàn suy nhược, chỉ là công cụ của thực dân Pháp. Giữa lúc đó, những phong trào đấu tranh dành độc lập nổi lên khắp nơi, nhưng chỉ chuốc lấy thất bại và sự hao tổn máu xương của hàng ngàn chiến sĩ ưu tú, vì lúc đó vận khí của Huế đã quá suy vi, tàn tạ. Phài đến năm 1945, khi Việt minh cướp chính quyền, vua Bảo Ðại thoái vị, rồi Hồ chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập ở Hà Nội, thì lúc đó đã bước sang đầu Vận 5 Trung Nguyên. Kể từ đó trở đi, Huế không còn là kinh đô của nước ta nữa, nhưng vận khí của Huế vẫn tiếp tục xoay vần. Sau năm 1954, khi đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền: miền Bắc từ sông Bến Hải trở ra, dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh, đặt thủ đô ở Hà Nội. Miền Nam từ đó trở vào, dưới sự lãnh đạo của TT Ngô đình Diệm, thủ đô đặt ở Sài Gòn. Ðể có người trông nom mọi việc ở ngoài Trung, TT Ngô đình Diệm liền cho em mình là Ngô đình Cẩn nắm toàn quyền ở Huế, lúc đó đang ở giữa Vận 5. Nhưng ông Ngô đình Cẩn đã bất tài, lại hống hách, làm nhiều chuyện thất nhân tâm, khiến cho người dân miền Trung vô cùng oán ghét. Ðến khi chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ vào năm 1963 (tức năm cuối cùng của Vận 5) thì ông Cẩn liền bị phe đảo chính lôi ra kết án rồi xử tử hình.

Sau cuộc chính biến 1963, tình hình chính trị của miền Nam mỗi lúc một rối loạn, giữa lúc chiến tranh ngày càng lan rộng và quyết liệt giữa 2 miền Nam-Bắc. Ðầu năm 1968 (thuộc Vận 6), Cộng sản mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, chiếm được Huế rồi cho tàn sát hàng ngàn người dân vô tội trong thành phố này. Ðến năm 1972, cũng trong Vận 6, khi Cộng sản phát động cuộc tấn công quy mô khắp miền Nam, Huế lại trở thành một bãi chiến trường đẫm máu và khốc liệt. Rồi năm 1975, trong trận chiến cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, Huế lại phải trải qua những giờ phút kinh hoàng, với hàng trăm, hàng ngàn người chết trong cuộc tháo chạy ra biển. Tiếp sau đó là những cuộc bắt bớ, giam cầm, rồi đến vụ đói kém năm 1978 – 1979 khiến cho đời sống của người dân Huế vô cùng lầm than, cơ cực.

Kể từ khi bước sang Vận 7 (1984), cảnh yên ổn, thanh bình lại trở về với Huế. Những lăng tẩm, đền đài của các vua chúa nhà Nguyễn được tu sửa, những khu du lịch mọc lên để thu hút du khách, đời sống của người dân nhờ vậy cũng được thoải mái, dễ chịu phần nào. Nhưng hiện tại đã là cuối Vận 7, sắp sửa bước sang Vận 8 Hạ Nguyên. Chỉ sợ rằng tới lúc đó, sát khí của cửa biển Thuận-an sẽ gây cho Huế nhiều tai họa, mặc dù không thảm khốc như trong Vận 6, nhưng cũng nguy hiểm cho những người dân đang cư trú trong thành phố êm đềm và thơ mộng này.

Tóm lại, vận khí của Huế chỉ tốt đẹp trong Vận 7, còn trong những Vận khác đều xảy ra những cảnh chiến tranh, chém giết. Riêng Vận 2 tuy cũng khá tốt vì được những nhánh núi nơi phía Tây Nam hướng tới, nhưng vì thượng nguồn của sông Hương xuất phát tại đây tức là bị “Phục Ngâm”, nên hay xảy ra việc binh biến. Tuy nhiên, trong cả 2 Vận này, Huế sẽ có được những người lãnh đạo tương đối có tài năng và ý chí, dù rằng sự nghiệp của họ không có gì đáng kể lắm. Các Vận 3 và 8 thì còn hưởng được chút dư khí của Vận 2 và Vận 7, nên lúc đầu còn được những người có năng lực, nhưng sau cũng tàn tạ, suy bại như những Vận khác. Trong các Vận 5, 6, Huế ở trong cái thế có đại long mạch (dãy Trường Sơn) tiến tới nhưng không chầu phục, mà lại vươn mình đi nơi khác. Vì thế nên trong những Vận này, tại Huế có thể xuất hiện nhân tài lỗi lạc, nhưng họ thường mất sớm hoặc bỏ đi nơi khác, những người còn lại thì đều yếu kém, nhu nhược. Riêng Vận 5, Huế bị dãy Trường Sơn lấy hết nguyên khí, nên những người lãnh đạo trong Vận này đều khét tiếng là bất tài, lại sâu dân mọt nước để rồi bị thảm tử. Còn Vận 6 thì bị cái thế long mạch đoạn tuyệt, dứt tình dứt nghĩa nên thường bị những tai họa khủng khiếp giáng xuống cho cả thành phố.

Nhìn chung, Huế có cái đẹp của sông Hương êm đềm, uốn khúc, của những nhánh núi non che chở, bao bọc. Nhưng sông Hương chỉ có thể tạo nên sự phồn thịnh sung túc cho một thành phố nhỏ (thế sông uốn lượn nhưng lại quá ngắn). Những nhánh núi non chỉ đủ vượng khí để xây dựng nhà cửa cho việc làm ăn phát đạt, hoặc đắp mộ để con cháu trở thành những công hầu khanh tướng mai sau (nếu biết cách làm). Còn nếu chọn Huế làm thủ đô của đất nước thì tai họa sẽ ập tới. Bởi vì ngay cả trong lúc hưng thịnh, Huế còn chưa có đủ vượng khí để trấn áp những vùng khác, thì đến lúc suy vi, thù trong giặc ngoài liên tiếp kéo đến, nên tránh sao khỏi cái họa diệt vong, mất nước. Ngoài ra, nếu nói đến vấn đề tìm cách thay đổi địa thế Phong thủy của Huế thì hầu như không có một phương cách hữu hiệu nào cả, vì khu vực này quá chật hẹp, lại bị khống chế bởi dãy Trường Sơn và biển Ðông Hải. Tuy nhiên, khi đã biết được vận khí của Huế như vậy, chúng ta không nên cố công kiến tạo một trung tâm chính trị, kinh tế đồ sộ ở đây. Mà hãy để cho Huế trở về với tính cách tự nhiên của nó: một thành phố nhỏ êm đềm, thơ mộng, một vùng đất của những tao nhân, mặc khách, của những văn, thi sĩ muôn đời lãng mạn. Có như thế thì chẳng những đất nước sẽ tránh được nhiều tai vạﬠmà cuộc sống của những người dân Huế cũng được yên ổn, thư thái hơn.

3/ SÀI GÒN: là thành phố nằm ngay bên phải bờ sông Sài Gòn, con sông này bắt nguồn từ tỉnh Tây Ninh ở phía Tây Bắc rồi chảy xuống, đi ngang qua khu vực phía Bắc của Sài Gòn rồi uốn lượn qua phía Ðông của thành phố, sau đó nhập với sông Ðồng Nai từ phía Bắc chảy xuống rồi đổ ra biển nơi phía Nam. Sài Gòn nằm giữa một khoảng bình nguyên (đất bằng) rộng lớn, xa xa nơi phía Bắc và Ðông Bắc, tại các tỉnh Quảng Ðức, Lâm Ðồng là phần cuối của dãy Trường Sơn hướng tới. Rồi nơi phía Tây Bắc tại tỉnh Tây Ninh cũng có dãy núi Bà Ðen, nơi phía Ðông Nam là khu núi Vũng Tàu, cả hai đều là dư khí của dãy Trường Sơn còn sót lại. Nằm ở khu vực phía Nam và Tây Nam Sài Gòn là các sông Vàm Cỏ, xa hơn nữa là vùng đồng bằng sông Cửu Long với 2 con sông Tiền Giang và Hậu Giang.

Với địa thế núi, sông bao bọc như trên, ta thấy Sài Gòn có nhiều điểm đặc biệt, xứng đáng là một trong những trung tâm kinh tế và chính trị quan trọng bậc nhất trên đất nước ta. Trước hết là mạch Trường Sơn chấm dứt từ tận Quảng Ðức, Lâm Ðồng, tạo ra cái thế Huyền vũ che chở cho sau lưng Sài Gòn, nhưng lại không tiến đến quá gần để trở thành cái thế đe dọa hoặc lấn áp thành phố này, mà chừa cho Sài Gòn một khoảng trống rộng lớn để hấp thu hết vượng khí của toàn bộ miền Nam Việt Nam. Rồi đến núi Bà Ðen ở Tây Ninh và vùng núi ở Vũng Tàu tạo thành thế tả, hữu long, hổ để hộ vệ Sài Gòn. Nhưng một điểm hay là vì núi Bà Ðen (hữu Bạch hổ) lại cao hơn núi Vũng Tàu (tả Thanh long). Nên khi nằm lệch về phía Vũng Tàu, Sài Gòn đã tạo thành thế long-hổ quân bình, khiến cho nền kinh tế của thành phố bao giờ cũng sung túc. Nếu như Sài Gòn nằm lệch về phía núi Bà Ðen nhiều hơn, tình trạng kinh tế sẽ rất nghèo nàn, bi đát, vì sát khí của Bạch hổ sẽ lấn át Thanh long và làm lụn bại thành phố. Phía trước mặt của Sài Gòn là Long-an và vùng đồng bằng sông Cửu Long, một bình nguyên rộng lớn với những con sông hàng hàng, lớp lớp chảy qua, khiến cho vượng khí vô biên, thần lực miên man, bất tận. Ðó là chưa kể thương cảng Sài Gòn còn có mũi Vũng Tàu nằm ở bên ngoài hộ vệ, nên xứng đáng là một trung tâm quyền lực quan trọng về kinh tế và chính trị. Nếu còn được thêm một mũi đất nữa nhô ra ở cửa Ðại (thuộc sông Tiền Giang, trong tỉnh Bến Tre) để tạo thành đầy đủ thế tả, hữu hộ vệ nơi cửa biển thì uy lực của Sài Gòn sẽ còn tăng lên gấp bội. Ngoài ra, con sông Sài Gòn khi đến gần thành phố lại uốn lượn thành nhiều khúc, rồi sau khi đi qua còn quay đầu nhìn lại tới 2 lần (2 khúc sông uốn cong trở lại) rồi mới đổ ra biển. Ðây chẳng những là một cảnh sông nước hữu tình, mà còn tạo cho Sài Gòn một sự phồn thịnh, sung túc đến nỗi không một thành phố nào trên toàn cõi Việt Nam cũng như khắp vùng Ðông Nam Á có thể so sánh được.

Nhưng điều đáng ngạc nhiên là mặc dù nằm trong một một địa thế “rồng chầu, hổ phục” như vậy, Sài Gòn vẫn chỉ đóng một vai trò rất khiêm nhượng đối với đất nước Việt Nam, cũng như đối với cộng đồng thế giới. Giữa lúc tên của những thành phố như New York, Los Angeles, Paris, Tokyo, thậm chí đến cả Hong Kong, Singapore….đã gắn liền với một nền kinh tế sung túc và thịnh vượng, thì cái tên Sài Gòn vẫn gắn liền với một xứ sở lạc hậu, một quốc gia chậm tiến. Sở dĩ như vậy là vì tuy địa thế chung quanh Sài Gòn vô cùng tốt đẹp, nhưng địa điểm tọa lạc của thành phố lại nằm sai vị trí, khiến cho Sài Gòn không sao trở thành một thành phố giàu mạnh, nổi tiếng trên thế giới được. Thay vì phải nằm ở trong khu vực giữa sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn để chiếm lấy vị trí của “chân long” (chính long mạch), Sài Gòn lại nằm ở phần đất bên ngoài tức chỉ là “hộ sa” (đất hộ vệ) của chân long. Ðối với Phong thủy, chân long mới là nơi kết tụ được nguyên khí của trời, đất để chiếm lấy thế lực lớn lao hay độc tôn về chính trị và kinh tế, đồng thời mới thu hút được những anh hùng kiệt xuất, những lãnh tụ vĩ đại. Còn hộ sa chỉ là phần đất chư hầu, nguyên khí đã bị tản mát hết, nên không bao giờ có thể trở thành một trung tâm kinh tế hoặc chính trị hùng mạnh, đồng thời cũng không dễ có được một lãnh tụ tài ba xuất hiện. Nếu ta nhìn lại giai đoạn Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, có Hoa kỳ là đồng minh đắc lực nhất. Vậy mà trong mọi cuộc đàm phán, thương thuyết, họ chỉ cho chính phủ Sài Gòn đứng ngang hàng với Mặt trận Giải phóng là tay sai của Hà Nội. Ðiều này đủ cho thấy sự tai hại khi thủ đô của một quốc gia mà lại nằm trong vùng đất hộ sa là như thế nào.

Một điểm quan trọng khác là hình dáng uốn lượn rất nhiều lần của con sông Sài Gòn, nên đúng ra sẽ đem lại sự phồn thịnh và sung túc đến cực độ cho thành phố, khó có nơi nào có thể bì kịp. Nhưng muốn được hưởng trọn vẹn điều này, Sài Gòn (và nhất là trung tâm của thành phố) cần phải nằm tại những khu vực được dòng sông ôm lấy, tức là những vùng được dòng sông bao bọc, che chở 2, 3 mặt (như khu Thủ Thiêm chẳng hạn). Chứ còn từ khi được thành lập cho tới nay, Sài Gòn vẫn nằm ở vị trí hiện tại, đã không có sông che chở, bao bọc (còn gọi là thủy hữu tình), mà còn bị khúc sông Sài Gòn ngay đó uốn cong ra chém tới. Ðối với Phong thủy, đây là một địa thế cực kỳ hung hiểm (còn được gọi là thủy bạc tình), nên sẽ khiến cho Sài Gòn không lúc nào được yên ổn. Nếu không có chiến tranh, giặc giã, thì cũng bị bị những tệ trạng xã hội như băng đảng trộm cướp, xì ke, ma túy, đĩ điếm hoành hành khắp nơi, nhất là tại khu vực trung tâm thành phố (là nơi bị thủy chém nặng nhất). Chẳng những thế, sát khí của khúc sông này sẽ làm cho Sài Gòn luôn luôn bị suy yếu, không bao giờ có thể vươn lên thành một trung tâm kinh tế cường thịnh và tiên tiến được.

Cũng vì 2 yếu tố kể trên nên mặc dù được hình thành và phát triển đã lâu, nhưng Sài Gòn vẫn chỉ là một thành phố trung bình, uy lực yếu ớt, chưa đủ để trấn áp hết miền Nam. Còn nói tới việc khuất phục được các nước trong vùng Ðông Nam Á châu và làm cho thế giới phải kiêng nể thì vẫn quá xa vời. Muốn đạt được điều đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam trong tương lai cần thiết lập những đề án xây dựng trong khu vực giữa sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn. Rồi cho dời những cơ quan hành chánh, kinh tế, thương mại quan trọng vào trong vùng Thủ Thiêm, biến nơi đây thành khu vực trung tâm của thành phố. Ðến lúc đó thì Sài Gòn mới có được đầy đủ vượng khí để vươn lên, nếu không phải là kinh đô của một cường quốc hùng mạnh, thì cũng là một trung tâm kinh tế thịnh vượng của thế giới.

Còn về vận khí của Sài Gòn thì đúng ra, Vận 1 là giai đoạn rất tốt đẹp, vì được mạch Trường Sơn ở phía Bắc hướng tới, nên chẳng những sẽ có vĩ nhân xuất hiện, mà còn được hưởng cảnh thanh bình, thịnh vượng. Nhưng chỉ vì thành phố nằm ở trong vùng đất hộ sa, vượng khí không thể tích tụ được nên nhân tài đã không thấy, mà cảnh phồn thịnh, sung túc cũng chỉ là hão huyền, chỉ cầu có được sự yên ổn làm ăn cũng đã là may mắn. Bước qua Vận 2, Sài Gòn bắt đầu đi vào thời kỳ suy yếu, vì khu vực phía Tây Nam đã có sông (Vàm cỏ), phía Ðông Bắc lại có núi tạo thành cách “Phục Ngâm”, “Phản Ngâm”, nên những mần mống rối loạn bắt đầu xuất hiện. Rồi đến các Vận 3, 4 đúng ra đều là những giai đoạn suy yếu của Sài Gòn, vì các mặt phía Ðông và Ðông Nam đều có biển cả bao la tức là bị “Phục Ngâm” rất nặng. Nhưng vì trong đất liền lại được những chi nhánh của mạch Trường Sơn tiến ra che chở, khiến cho sát khí từ ngoài biển không thể vào được tới thành phố, nên trong những Vận này, Sài Gòn lại tương đối yên ổn. Ðến Vận 5 đúng ra cũng là một giai đoạn hưng vượng của Sài Gòn, vì có núi, sông phò tá, hộ vệ ở bên ngoài, chính giữa lại có sông Sài Gòn uốn lượn êm đềm, tích tụ một nguồn sinh khí sung túc không thể diễn tả. Nhưng do không nằm đúng chân long, nguyên khí bị thất tán hết, nên sự hưng vượng cũng tan biến nhanh chóng. Ðã thế lại còn bị những tai họa lớn, vì khúc sông Sài Gòn cong vô chém vào trung tâm thành phố, gây ra những cảnh tượng chiến tranh, chém giết hỗn loạn vô cùng. Bước sang Vận 6, Sài Gòn vẫn tiếp tục bị chiến tranh đe dọa, tàn phá, do khu vực phía Tây Bắc là thượng nguồn của con sông Sài Gòn, tạo thành cách “Phục Ngâm”, đem sát khí đến cho thành phố. Phải đến khi qua tới Vận 7, nhờ cósông Ðồng Nai và sông Sài Gòn ở phía Ðông lúc đó là “Chính Thủy”, đem vượng khí trở lại nên Sài Gòn mới được quay về khung cảnh thái bình, yên ổn làm ăn của một thời thịnh trị. Qua tới Vận 8, khu vực thượng nguồn của sông Ðồng Nai ở phiá Ðông Bắc sẽ biến thành sát khí, gây nên những cuộc loạn lạc, chém giết khác. Ðến Vận 9, chiến tranh lại tiếp tục xảy ra, vì biển và cửa sông Sài Gòn ở phía Nam đều phạm phải cách “Phục Ngâm”, nên tai họa lại đến với thành phố.

Về lịch sử Sài Gòn thì cách đây hơn 300 năm, thành phố này còn nằm dưới quyền cai trị của nước Chân Lạp (tức Cam Bốt bây giờ). Ðến năm 1674, vào khoảng giữa Vận 9 Hạ Nguyên, chúa Nguyễn mới đem quân đánh chiếm khu vực này, rồi bắt đầu cho di dân tới, lập doanh trại và đồn điền để khai thác. Nhờ đất đai màu mỡ, lại nằm gần sông, biển, nên Sài Gòn ngày càng trở thành một trung tâm kinh tế quan trọng của miền Nam. Vào năm 1773, thành Sài Gòn được xây dựng lại cho thêm rộng lớn và kiên cố, từ đó biến thành một trong những đô thị lớn nhất trên đất nước ta, lúc đó đang ở trong Vận 5 Trung Nguyên. Nhưng công việc xây dựng vừa hoàn tất thì những biến động chính trị trong nước cũng bắt đầu xảy ra, đưa đẩy vùng đất hiền lành, yên tĩnh này vào vòng khói lửa.

Cũng trong năm 1773, anh, em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ phát động phong trào nổi dậy ở vùng Tây Sơn (thuộc tỉnh Quy Nhơn), chống phá lại chế độ tham nhũng, thối nát của triều đình chúa Nguyễn. Cùng lúc đó, quân Trịnh ở phía Bắc tràn xuống, đánh chiếm được vùng Thuận Hóa (tức Quảng Bình, Quảng Trị bây giờ), rồi uy hiếp Phú Xuân. Trước tình hình đó, chúa Nguyễn buộc phải lui về Quảng Nam, rồi sau lại chạy vào Gia Ðịnh (Sài Gòn) để luyện binh, tuyển tướng, mưu đồ khôi phục sự nghiệp.

Vào năm 1775, Nguyễn Lữ đem quân vào đánh Sài Gòn, khiến cho chúa Nguyễn phải chạy về Biên Hòa, nhưng sau nhờ có Ðỗ thành Nhân đem quân đến giúp, chúa Nguyễn lại chiếm được thành phố này.

Năm 1777, cũng trong Vận 5, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem quân vào Nam, bình định được thành Gia Ðịnh, bắt được chúa Nguyễn rồi giết đi, nhưng có người cháu là Nguyễn Ánh trốn thoát được sang Thái Lan. Rồi chờ đến khi Nguyễn Huệ đã bỏ về Quy Nhơn thì lại đem quân về khôi phục đất Gia Ðịnh.

Ðầu năm 1782, Nguyễn Huệ lại trở vào Nam, đánh bại Nguyễn Ánh tại đất Gia Ðịnh và cửa sông Sài Gòn, rồi rượt đuổi ra tới Phú quốc. Nhưng khi Nguyễn Huệ vừa quay về Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh cũng từ Phú quốc trở lại tái chiếm thành Gia Ðịnh.Vào năm 1783, tức năm cuối cùng của Vận 5, Nguyễn Huệ lại mang quân vào, đại phá quân Nguyễn Ánh tại cửa sông Sài Gòn. Sau trận ác chiến này, Nguyễn Ánh đã sức cùng, lực kiệt nên liền sang Thái-lan cầu viện. Nhưng đạo quân cướp nước này vừa đi đến Ðịnh-tường thì bị Nguyễn Huệ chận đánh tan tành, khiến cho Nguyễn Ánh phải chạy sang Thái-lan nương náu.

Mãi đến năm 1787, đầu Vận 6, nhân lúc Nguyễn Huệ đang lo đối phó với tình hình hỗn loạn trên đất Bắc, Nguyễn Ánh mới bí mật trở về Long -xuyên, dần dần phát triển lại thế lực. Cuối năm đó, Nguyễn Ánh dốc toàn lực tấn công thành Gia Ðịnh, nhưng vì tướng Tây Sơn là Phạm văn Tham quyết chiến giữ thành, nên phải sau 10 tháng công phá, thành Gia Ðịnh mới bị hạ.

Kể từ lúc đó, Sài Gòn mới tạm thời không còn nhìn thấy cảnh binh đao, chém giết, nhưng bầu không khí vẫn nặng nề vì cuộc chiến tranh với nhà Tây Sơn vẫn tiếp tục diễn ra. Cũng may cho Nguyễn Ánh là trong lần đọ sức này, tuy vận khí của Sài Gòn rất xấu (Vận 6), nhưng vận khí của Huế còn tệ hại hơn nhiều. Bởi thế nên sau nhiều chiến dịch hành quân vất vả, cuối cùng Nguyễn Ánh cũng diệt được nhà Tây Sơn và lập ra nhà Nguyễn vào năm 1802, lúc đó đã vào cuối Vận 6.

Sau cuộc chiến tranh này, Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long) chọn kinh đô là Phú Xuân, để Lê văn Duyệt ở lại trấn thủ Sài Gòn. Trong thời gian Lê văn Duyệt cai quản (từ năm 1802 đến 1833, tức là từ cuối Vận 6 đi qua hết Vận 7 sang đến giữa Vận 8), Sài Gòn được yên ổn làm ăn, nên dần dần cũng được trở lên khá sung túc. Nhưng sau khi ông qua đời, triều đình nhà Nguyễn lại khép ông vào tội phản nghịch, rồi cho lùng bắt cả dòng họ, quyến tộc, khiến cho người con nuôi của ông là Lê văn Khôi phải nổi lên chống lại. Cũng trong năm 1833, Khôi nổi lên giết quan Tổng trấn Gia Ðịnh, tự xưng là Ðại Nguyên soái, rồi đem quân đi chiếm trọn Nam kỳ. Sau triều đình phải dốc toàn lực đánh dẹp, Khôi bị yếu thế nên rút về thành Gia Ðịnh (lúc đó đổi tên là Phiên-an) cố thủ, mãi đến năm 1835 thì thành mới bị hạ. Sau khi chiếm được thành, quan quân xông vào chém giết thẳng tay, bất kể đàn bà, con nít, gây nên một cuộc thảm sát dã man hiếm có trong lịch sử dân tộc. Rồi thành Gia Ðịnh bị san thành bình địa, những cuộc truy nã, bắt bớ tiếp tục diễn ra, những luật lệ khắt khe được đem ra áp dụng, khiến cho thành phố Sài Gòn chưa kịp vươn lên đã bị tàn lụi, suy sụp hẳn.

Sau biến cố Lê văn Khôi, tình hình của Sài Gòn tạm thời lắng đọng xuống, tuy rằng những cuộc xung đột với Thái Lan và Cam Bốt vẫn tiếp tục diễn ra. Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn ngày một yếu hèn, suy nhược, khiến cho thực dân Pháp bắt đầu dòm ngó nước ta, rồi cuối cùng trắng trợn tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược. Vào năm 1859, khi quân Pháp nổ súng tấn công và đánh chiếm được thành Sài Gòn thì lúc đó cũng đang trong Vận 9 Hạ Nguyên. Liên tiếp trong hơn 2 năm trời, triều đình nhà Nguyễn huy động đại quân vào Nam, cố sức đánh phá để lấy lại Sài Gòn nhưng không có kết quả. Sang năm 1861, cũng vẫn trong Vận 9, Pháp mở cuộc tấn công đánh tan lực lượng quân sự nhà Nguyễn tại đồn Kỳ Hòa (thuộc khu Gia Ðịnh bây giờ), rồi thừa thắng tung quân đánh chiếm toàn thể Nam kỳ. Mặc dù gặp phải những cuộc chống phá rất quyết liệt, nhưng đến năm 1868, khi cuộc khởi nghĩa của Nguyễn trung Trực bị dập tắt, Pháp đã hoàn toàn bình định được miền Nam, lúc đó đã bước sang Vận 1 Thượng Nguyên. Rồi Pháp bắt đầu thiết lập hệ thống hành chánh, cai trị, biến miền Nam thành thuộc địa, thay đổi một số luật lệ, mở mang một vài lãnh vực về kinh tế và thương mại. Kể từ đó, tình hình của Sài Gòn trở nên lắng đọng hẳn, tuy đôi lúc cũng có một vài tổ chức, phong trào chống Pháp nổi lên, nhưng đa số đều có tính cách ôn hòa, và cũng không làm được gì đáng kể. Mãi đến khi bước vào Vận 5 (1944), tinh thần quật khởi của Sài Gòn mới bắt đầu bộc phát trở lại, dẫn đến cao trào cách mạng 1945 lật đổ nền đô hộ của thực dân Pháp. Nhưng liền sau đó, Pháp quay trở lại tái chiếm Sài Gòn, mở màn cho cuộc chiến tranh khốc liệt từ Bắc vào Nam trong suốt 9 năm trời, đến khi bị đại bại ở Ðiện biên Phủ (1954) mới chịu rút chân ra khỏi Việt Nam.

Khi hiệp định Geneve năm 1954 chia cắt đất nước thành 2 miền, Tổng thống Ngô đình Diệm về Sài Gòn thành lập chính phủ tự do để quản trị miền Nam, lúc đó đang là giữa Vận 5 Trung Nguyên. Nhưng ngay từ bước đầu, ông đã gặp phải sự chống đối dữ dội của các phe phái Bình Xuyên, Cao Ðài, khiến cho chiến sự lại xảy ra ngay trong giữa thành phố Sài Gòn. Ðến khi những vụ phiến loạn này vừa được dẹp yên thì lại xảy ra cuộc đàn áp Phật giáo, giữa lúc cuộc chiến tranh với Cộng sản ở miền Nam ngày càng lan rộng, tạo nên một bầu không khí hoang mang, hỗn loạn cho Sài Gòn. Ðến năm 1963, tức là năm cuối cùng của Vận 5 thì Tổng thống Ngô đình Diệm bị các tướng lãnh miền Nam lật đổ rồi hạ sát.

Sau cuộc chính biến này, tình hình ở Sài Gòn (và miền Nam nói chung) vẫn không có gì sáng sủa, trái lại càng rối loạn hơn vì các tướng lãnh tiếp tục tranh giành địa vị, khiến cho những cuộc đảo chánh liên tiếp xảy ra. Phải đến năm 1967, khi quyền hành đã lọt hết vào tay Tổng thống Nguyễn văn Thiệu thì tình hình chính trị của miền Nam mới tạm yên. Nhưng lúc đó cũng đã vào đầu Vận 6, cuộc chiến tranh với Cộng sản lại trở nên ác liệt hơn bao giờ hết, với những chiến dịch và những trận đánh quy mô mỗi lúc một diễn ra nhiều hơn.

Vào năm 1968, Cộng sản mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, đánh phá Sài Gòn và các thành phố trên toàn miền Nam. Phải sau nhiều đợt phản công rất quyết liệt, quân Cộng sản mới bị đẩy lui và nền an ninh của miền Nam (cũng như Sài Gòn) mới được tái lập.

Bốn năm sau, vào năm 1972, Hà Nội lại mở cuộc tổng tấn công đại quy mô suốt từ Quảng Trị vào tới Bình Long, đe dọa nghiêm trọng sự sống còn của thủ đô Sài Gòn. Mặc dù sau những trận chiến vô cùng ác liệt, quân đội miền Bắc lại bị đẩy lui và miền Nam vẫn được giữ vững, nhưng cũng từ đó, chính phủ Sài Gòn ngày một suy yếu. Ðến khi Cộng sản mở cuộc tổng tấn công lần thứ 3 vào đầu năm 1975 thì Sài Gòn cũng như thể chế chính trị của miền Nam liền bị sụp đổ một cách nhanh chóng.

Nhưng khi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng vừa chấm dứt, thì cuộc chiến tranh với Cam Bốt, rồi Trung Cộng lại diễn ra, khiến cho bầu không khí của Sài Gòn vẫn tiếp tục căng thẳng, ngột ngạt. Phải đến khi bước sang Vận 7 (1984 – 2003), thì Sài Gòn mới thực sự được quay về với cảnh thanh bình, yên ổn làm ăn, nhưng sự thịnh vượng vẫn chỉ rất hạn hẹp, tương đối, chứ không sao vươn mình lên được với cộng đồng thế giới. Hiện tại (2002) đang là giai đoạn cuối cùng của Vận 7, chỉ sợ rằng khi bước qua vận 8, Sài Gòn sẽ lại gặp phải những cuộc binh đao, chếm giết đổ máu khác.

Tóm lại, sau khi đã nhìn qua địa thế, cũng như lịch sử của thành phố, ta thấy do vị trí tọa lạc sai lệch, Sài Gòn đã bỏ mất nhiều cơ hội để phát triển lên thật hùng mạnh, sung túc. Ðã thế lại còn bị khúc sông Sài Gòn chém tới, khiến cho tai họa thường xảy đến dồn dập, chẳng những trong các Vận xấu mà ngay cả trong các Vận được coi là tốt đẹp. Ðúng ra, nếu nằm trong vị trí của chân long (tức khu vực giữa sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn), Vận 1 sẽ là giai đoạn cực thịnh của thành phố. Vào lúc đó, Sài Gòn sẽ có được những lãnh tụ tài ba (do mạch Trường Sơn ở phía Bắc đâm xuống), đồng thời cũng trở nên thịnh vượng, sung túc không thể diễn tả (do vượng khí từ cửa sông Sài Gòn và vùng biển mênh mông nơi phía Nam đưa tới). Ðàng này vì nằm trong vùng đất hộ sa, nên chỉ được mấy ông quan Pháp tới, thay đổi được một vài luật lệ và chính sách quá lỗi thời và khắc nghiệt. Bước sang Vận 2, mặc dù Sài Gòn bị thế “Phục Ngâm” của sông Vàm Cỏ và sông Cửu Long ở phía Tây Nam, nên mức độ thịnh đạt không còn được như trước. Nhưng con sông Ðồng Nai bắt nguồn từ phía Ðông Bắc lại là “Chính Thủy” vẫn sẽ đem vượng khí đến cho Sài Gòn, nên những nền tảng kinh tế, thương mại của thành phố vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển. Qua các Vận 3 và 4, thế “Phục Ngâm” của biển Ðông ở phía Ðông và Ðông Nam đã bị những nhánh núi của mạch Trường Sơn tiến ra ngăn cản nhiều, không còn gây ra những tai họa lớn. Chẳng những thế, nếu Sài Gòn nằm tại chân long, thì con sông Sài Gòn lại thuộc về phía Tây và Tây Bắc của thành phố, nên sẽ tiếp tục đem vượng khí đến. Nhất là trong Vận 3, khúc sông Sài Gòn uốn lượn, ôm ấp lấy khu vực Thủ Thiêm, nguyên khí tích tụ vô cùng sung mãn, nên sẽ đem lại cho thành phố một giai đoạn hưng vượng đến cực độ lần thứ hai. Còn đối với vị trí hiện tại, thì 2 con sông Ðồng Nai lẫn Sài Gòn đều nằm tại phía Ðông của thành phố, rồi khúc sông Sài Gòn cũng từ phía Ðông chém tới. Bởi thế cho nên vận khí của Sài Gòn trong những giai đoạn này đều quá suy nhược, không sao có thể vươn lên mạnh mẽ được, lại còn dễ xảy ra những vụ xung đột, chém giết làm náo loạn cả thành phố.

Riêng Vận 5 là một giai đoạn đặc biệt, vì đây là lúc Sài Gòn đắc cách Long-Hổ hộ vệ, Huyền vũ che chở, vượng khí của cả miền Nam đều hội tụ về đây. Ðúng ra phải là một giai đoạn cực thịnh không thể diễn tả, với đầy đủ chúa thánh, tôi hiền để cai trị, dẫn dắt muôn dân. Tiếc rằng chỉ vì Sài Gòn nằm trong vùng đất hộ sa, không phải là nơi có thể kết tụ được nguyên khí, nên chỉ như ngọn lửa bùng lên giữa đêm đông rồi chợt tắt. Ðã thế lại còn bị khúc sông Sài Gòn ở ngay bên chém tới là một điều tối nguy hiểm, vì nó không những thường xuyên gây ra nhiều tai họa cho thành phố, mà trong Vận 5, mức độ độc hại của nó lại càng tăng thêm gấp bội. Bởi thế nên trong giai đoạn này, Sài Gòn chẳng những sẽ gặp cảnh chiến tranh, loạn lạc, mà ngay cả những người lãnh đạo nơi đây cũng dễ bị hung tử. Ngược lại, nếu như thành phố Sài Gòn nằm tại chân long, thì chẳng những sẽ tránh được họa chiến tranh, mà còn trở nên một thành phố hùng cường và thịnh vượng bậc nhất trong khu vực Ðông Nam Á Châu cũng như trên thế giới.

Bước qua Vận 6, vì khu vực phía Tây Bắc là thượng nguồn của con sông Sài Gòn, nên dù nằm ở vị trí nào thì Sài Gòn cũng sẽ bị chiến tranh rất lâu dài đe dọa. Nhưng nếu nằm ở vị trí hiện tại thì do nguyên khí của thành phố quá yếu, nên nếu không may gặp phải một quốc gia đối địch có nguyên khí của thủ đô mạnh hơn thì Sài Gòn sẽ dễ lãnh lấy phần chiến bại. Còn nếu nằm trong khu vực của chân long thì khó có quốc gia nào có thể đánh bại được Sài Gòn, vì nguyên khí ở đây đã quá đầy đủ, sung mãn, nên dù gặp sát khí chiếu đến cũng khó lòng mà bị suy sụp hoàn toàn được.

Rồi đến Vận 7 là thời gian hòa bình, an cư lạc nghiệp của Sài Gòn, nhưng nếu nằm ở vị trí hiện tại thì tuy được cả 2 con sông Ðồng Nai và Sài Gòn cùng nằm ở phía Ðông chiếu tới (tức là được “Chính Thủy”). Nhưng vì bị khúc sông Sài Gòn chém vào nên mặc dù cũng được yên ổn làm ăn, nhưng những tệ nạn xã hội như trộm cắp, đĩ điếm thường lan tràn. Ngoài ra, cũng vì lý do đó, cộng với vấn đề nằm trong vùng hộ sa, nên dù có được một giai đoạn hòa bình khá lâu dài, Sài Gòn vẫn không sao trở thành một trung tâm kinh tế và mậu định tiên tiến cũng như hùng cường được. Còn nếu như nằm trong khu vực của chân long, thì mặc dù sẽ bị một số biến động (như chiến tranh hoặc trì trệ kinh tế…), do con sông Sài Gòn lúc đó lại nằm ở phía Tây tức bị Phục Ngâm, đem sát khí đến cho thành phố. Nhưng vì con sông Ðồng Nai vẫn nằm ở phía Ðông, đem vượng khí đến với Sài Gòn, nên rồi thành phố sẽ vượt qua được mọi khó khăn để tiếp tục phát triển, vươn lên.

Qua Vận 8, thượng nguồn của sông Ðồng Nai ở phía Ðông Bắc là sát khí, nên dù nằm ở vị trí nào Sài Gòn cũng sẽ có chiến tranh, loạn lạc. Nhưng nếu nằm ở khu vực hiện tại thì còn bị thêm con sông Sài Gòn cũng đi qua khu vực phía Ðông Bắc nữa, khiến cho sát khí trùng trùng, nên mới bị đại họa thê thảm như sau vụ khởi nghĩa của Lê văn Khôi trước đây. Còn nếu dời vào khu vực giữa 2 con sông thì chỉ còn sát khí của sông Ðồng Nai, nên tuy vẫn bị chiến tranh, nhưng do nguyên khí còn vượng, nên dù gặp nhiều cơn sóng gió Sài Gòn vẫn chưa bị suy tàn hẳn.

Ðến Vận 9 mới là thời kỳ tàn tạ, vì cửa sông Sài Gòn và vùng biển nơi phía Nam lúc đó sẽ đem đến sát khí quá nặng, nên dù tọa lạc ở khu vực nào, Sài Gòn cũng đều bị thảm họa chiến tranh. Nhưng nếu nằm ở khu vực hiện tại, Sài gòn còn bị khúc sông chém vào, vận khí của thành phố sẽ quá kiệt quệ, nên việc suy vong, mất nước, phải làm nô lệ cho người là điều chắc chắn. Nếu đọc kỹ lịch sử, chúng ta sẽ thấy khi chúa Nguyễn chiếm Sài Gòn, hay khi Pháp hạ thành Gia Ðịnh đều xảy ra trong Vận 9. Ngược lại, nếu được dời vào khu vực của chân long, thì mặc dù lúc đó Sài gòn cũng rất yếu ớt, lại không có được lãnh tụ tài ba nên khi có chiến tranh sẽ không thể cản được bước tiến của giặc thù. Nhưng rồi chẳng bao lâu, tinh thần quật khởi của Sài Gòn lại bộc phát, để đến khi bước vào Vận 1 Thượng Nguyên thì sẽ có vĩ nhân xuất hiện đem lại cảnh thanh bình và vinh quang đến cho thành phố, cũng như cho đất nước, dân tộc.

* TỔNG KẾT: như vậy, sau khi đã nhìn qua vận khí, cũng như lịch sử của 3 thành phố Hà Nội, Huế và Sài Gòn, chúng ta đều thấy mỗi thành phố có những nét đặc thù riêng biệt. Hà Nội với thế núi, sông quá lớn, quá hùng vĩ, dài hàng mấy trăm dậm tiến tới, tất cả đều như muốn hướng về phủ phục, triều bái, nên thật quả là thế đất quân vương, có thể điều khiển, sai khiến được chư hầu. Bởi thế nên từ trước khi Hà Nội (tức Thăng Long) được chọn làm thủ đô, nước ta chỉ là một quốc gia nhỏ, sánh ngang hàng với những nước nhược tiểu như Chiêm Thành, Phù Nam, Chân Lạp, Lão Qua (tức Ai Lao) …. đã vậy lại còn bị Trung Hoa đô hộ suốt gần 10 thế kỷ. Phải đến khi vua Lý thái Tổ dời thủ đô về đây, đất nước ta mới dần dần trở nên hùng mạnh, rồi tiến vào diệt Chiêm Thành, Phù Nam (tức Thủy Chân Lạp), khống chế Ai Lao và Cam Bốt, đe dọa cả Thái Lan và Miến Ðiện. Chẳng những thế, tổ tiên ta còn nhiều lần đánh bại những cuộc xâm lăng rất quy mô và khốc liệt của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Rồi đôi còn có ý định dòm ngó và xâm chiếm đất đai của họ, như dưới thời của Lý thường Kiệt hoặc vua Quang Trung. Tiếc rằng vào thời Lý thường Kiệt, tiềm lực của nước ta còn quá nhỏ (chỉ từ Nghệ An ra Bắc) nên chưa thực hiện nổi giấc mộng đó. Ðến thời vua Quang Trung thì Ngài lại dời về đóng đô ở Phú Xuân, để rồi lại mất quá sớm trước khi thi hành được ý định.

Một điểm đáng chú ý khác là kể từ khi Hà Nội được chọn làm thủ đô, nước ta không bao giờ bị ngoại bang đô hộ. Ngay cả trong những giai đoạn tàn tạ, đen tối nhất như những thời mạt vận của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, Trịnh – Nguyễn. Vào những thời điểm đó, giữa lúc những nhà lãnh đạo đất nước đều bất tài, hèn kém, nhu nhược, nhân dân thì đói khổ, loạn lạc nổi lên khắp nơi, nhưng nền độc lập của dân tộc vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Chỉ đến khi nhà Hồ dời đô về Thanh Hóa, hoặc như sau này nhà Nguyễn lập kinh đô tại Phú Xuân, nước ta mới bị các thế lực ngoại bang hùng mạnh thôn tính, cai trị. Ðó chính là do địa thế đặc biệt của Hà Nội, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, được những dẫy núi hùng vĩ, trùng trùng điệp điệp từ xa tiến tới, phủ phục triều bái ở bên ngoài. Với địa thế đặc biệt như vậy, nên không một thế lực nào trên thế giới có thể khuất phục được Hà Nội, mà ngược lại, tất cả mọi quốc gia lân cận với Việt Nam đều sẽ bị Hà Nội chi phối. Vấn đề nhiều hay ít chỉ còn tùy thuộc vào những giai đoạn thịnh, suy của Hà Nội mà thôi. Ngoài ra, vì con sông Hồng Hà khi đi ngang qua Hà Nội tuy có hơi cong một chút, nhưng thế nước vẫn chảy nhanh và mạnh, làm tiêu tán đi rất nhiều nguyên khí của thành phố. Nếu như khúc sông này được sửa lại để thành thế uốn lượn êm đềm như sông Hương hay sông Sài Gòn, thì thần lực của những dãy núi hùng vĩ chung quanh mới được tích tụ đầy đủ, tràn trề ở Hà Nội. Khi đó, chẳng những đất nước ta sẽ trở nên giàu có, thịnh vượng khó có quốc gia nào sánh kịp, mà thế lực của Hà Nội cũng áp đảo luôn cả Trung Hoa, chứ đừng nói tới các nước trong vùng Ðông Nam Á Châu và trên thế giới.

Riêng Huế chỉ là một thành phố nhỏ, thế núi, sông quá ngắn, nên chẳng những đã không phát sinh được nhiều vượng khí, mà dải đất bình nguyên nơi đó cũng chật hẹp, không đủ chỗ cho nguyên khí tích tụ. Do đó, mặc dù cũng đầy đủ những yếu tố Phong thủy như sông Hương uốn lượn êm đềm vây bọc, những nhánh núi hướng tới chầu phục, nhưng thế nhỏ bé vẫn hoàn nhỏ bé. Nói cho đúng ra, Huế chỉ có thể là một thành phố trung bình, cai quản địa hạt của một vài tỉnh, chứ không thể trở thành một đô hội lớn hay kinh đô của một quốc gia hùng mạnh. Nếu bị bắt buộc phải đảm nhiệm trách vụ này, Huế sẽ dần dần làm cho đất nước trở nên suy yếu, dẫn đến cái họa diệt vong, mất nước. Bởi vì dòng sông Hương quá nhỏ, quá ngắn, nên mặc dù uốn lượn hữu tình, nhưng vượng khí chỉ đủ cho một thành phố nhỏ, chứ không sao có thể làm cho Huế trở nên một đô hội sầm uất, giàu mạnh được. Còn nói tới chuyện kiến tạo một đất nước cường thịnh, sung túc lại là điều không thể có được.

Còn Sài Gòn là một thành phố nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu, chung quanh được núi non hộ vệ, che chở, lại có sông ngòi uốn khúc chảy tới, nên tiềm năng phát triển kinh tế thật vô hạn. Nhưng trong suốt hơn 300 năm qua, Sài Gòn vẫn không sao tiến lên được thành một trung tâm kinh tế quan trọng của thế giới, mà trái lại vẫn chỉ đóng một vai trò phụ thuộc rất khiêm tốn. Sở dĩ như vậy là vì Sài Gòn đã nằm vào vị trí phụ thuộc đối với Phong thủy (hộ sa), nên không sao có thể vươn lên để nắm lấy những vị trí quan trọng hàng đầu được.

Do đó, vấn đề cần thiết là phải dời trung tâm thành phố vào Thủ Thiêm, vì nơi đây chẳng những nằm trong khu vực của chân long, lại còn được khúc sông Sài Gòn ngay đó uốn lượn bao bọc chung quanh. Khác với sông Hương ở Huế chỉ uốn cong một vòng rồi chảy đi, sông Sài Gòn lại uốn lượn rất nhiều vòng, tạo thành thế Cửu (9) khúc, khiến cho vượng khí tích tụ tràn trề, thần lực vô cùng sung mãn. Có thể nói nếu dải đất giữa sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn là nơi thu hút hết vượng khí của cả miền Nam, thì khu Thủ Thiêm chính là nơi hội tụ hầu hết vượng khí của dải đất này vậy. Bởi thế cho nên nếu được dời về đây, Sài Gòn sẽ nhanh chóng biến thành một trung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới, vượt qua những Hongkong, Singapore, Taiwan … trong khu vực.

Hiện tại, nếu đem so sánh giữa 3 thành phố thì Huế và Sài Gòn không thể sánh được với Hà Nội, vì một đàng thì quá nhỏ, một đàng thì lại nằm ở một khu vực bất an (hộ sa). Nhưng nếu như sau này, khi được dời vào Thủ Thiêm, Sài Gòn sẽ đón nhận được vượng khí của cả miền Nam, rồi phát triển lên thật hùng mạnh thì mới đủ sức để cạnh tranh ngang ngửa với Hà Nội. Lúc đó, một đàng được thế sông nên giàu có, sung túc; một đàng được thế núi, nên khí phách quật cường không ai có thể khuất phục được. Ðất Sài Gòn nằm giữa 2 con sông quá hiền hòa, uốn lượn êm đềm, nên nếu được chọn làm thủ đô sẽ đem đến cảnh thái bình, thịnh trị cho cả nước. Ðồng thời thường sử dụng sức mạnh kinh tế và đường lối ngoại giao mềm mỏng, khéo léo để phát triển thế lực sang các nước láng giềng cũng như trên thế giới. Còn Hà Nội nằm giữa những dãy núi quá hùng vĩ, nên sẽ chú tâm phát triển sức mạnh quân sự, đồng thời thường sử dụng vũ lực để khuất phục các nước láng giềng. Do thế núi chầu phục, Hà Nội sẽ luôn luôn tìm cách biến các nước lân cận thành chư hầu, lệ thuộc vào mình, đồng thời cũng thường ôm mộng đế quốc, hay tính đến chuyện bành trướng lãnh thổ, nhất là trong những giai đoạn vận khí thịnh vượng.

Nếu giữa Hà Nội và Sài Gòn có sự khác biệt như vậy, thì nên chọn thành phố nào làm thủ đô của đất nước trong tương lai Người viết nghĩ vẫn nên chọn Hà Nội, vì tuy Sài Gòn có thể sẽ làm cho đất nước được an lành, thịnh vượng hơn, nhưng Hà Nội mới có thể bảo đảm được sự trường tồn và nền độc lập của dân tộc. Nhất là khi đất nước ta lại nằm bên cạnh một đế quốc khổng lồ ở phía Bắc. Nếu không phải là một vùng đất có núi sông hùng vĩ, khí phách quật cường như Hà Nội thì làm sao có thể chận đứng được bước đường Nam tiến của Hán tộc trong suốt bao nhiêu thời đại Còn Sài Gòn nếu sau này trở nên một trung tâm kinh tế phồn thịnh nhất Á Châu, làm thế hậu thuẫn, trợ lực cho Hà Nội thì ta đâu còn phải e dè, lo ngại một nước Trung Hoa lúc nào cũng nuôi mộng bành trướng. Trái lại, lúc đó chính họ mới phải lo lắng tới sức mạnh, cũng như việc phát triển thế lực của nước ta ra khắp vùng Ðông Nam Á Châu. Chẳng những thế mà ngay cả mảnh đất đại lục của họ cũng sẽ có ngày bị thế liên kết Hà Nội – Sài Gòn đe dọa.

Cuối cùng, một vấn đề quan trọng khác có liên quan đến sự sống còn của dân tộc ta, đó là vận khí của thành phố Bắc Kinh. Như đã nói ở phần đầu, Bắc Kinh được hưng vượng vào các Vận 5, 6, và 7. Do đó, trong những giai đoạn này, họ thường hay yêu sách, can thiệp vào nội tình Việt Nam, hoặc xua quân sang xâm lăng một cách trắng trợn. Tuy nhiên, trong các Vận 5, 6, khí thế của Hà Nội cũng bừng lên mãnh liệt không kém, nên họ sẽ không làm gì nổi, chỉ chuốc lấy những thất bại chua cay, nhục nhã. Tuy nhiên, trong Vận 7, khí thế của Hà Nội bị suy giảm (do các con sông Ðà, sông Mã ở phía Tây tạo thành cách “Phục Ngâm”), nên chúng ta cần cẩn thận trong vấn đề xây dựng, thay đổi môi trường thiên nhiên. Ðiều quan trọng là phải tránh làm động sát khí ở phía Tây, để cho Hà nội còn có chút vượng khí, hầu có thể đương đầu nổi với Bắc Kinh, còn nếu không thì chúng ta sẽ dễ bị lôi cuốn vào vòng ảnh hưởng của họ. Trong Vận 7, nước ta thường không có chiến tranh lớn, nên sẽ không có những cuộc xâm lược từ Trung Hoa, chỉ có điều nếu nguyên khí của Hà Nội quá yếu thì sẽ dễ bị lệ thuộc vào họ mà thôi. Nhưng từ Vận 8 trở đi, nguyên khí của thành Bắc Kinh sẽ bắt đầu suy yếu, nên kể từ đó trở đi, họ không còn đủ sức để gây ảnh hưởng được với Hà Nội nữa. Do đó, trong các Vận 8, 9, nếu chúng ta có thể xây dựng nên một nước Việt Nam thịnh vượng và hùng mạnh, thì đất nước ta sẽ là đệ nhất cường quốc trong vùng Ðông Á (vì Nhật Bản lúc đó cũng tiêu điều, tàn tạ). Rồi qua tới các Vận 1, 2, 3, 4, vận khí của Bắc Kinh mỗi lúc một suy đồi, muốn giữ được trọn vẹn lãnh thổ Trung Hoa cũng còn khó khăn, thì làm sao có thể uy hiếp nổi đất nước ta được. Bởi thế nên trong những Vận này, tuy HàNội cũng càng ngày càng suy yếu, nhưng vẫn không bị lệ thuộc hoặc mất nước vào tay kẻ thù phương Bắc. Ðó cũng là cái may cho dân tộc Việt Nam chúng ta, vì vận khí của Hà Nội và Bắc Kinh cũng gần như tương tự trong những giai đoạn hưng-phế, nên nước Trung Hoa mặc dù rộng lớn, nhưng vẫn không bao giờ có thể khuất phục ta được.

Lời bàn: Tiếp phần THIÊN ở trên, hai câu này rất trọng yếu về giai đoạn trong Sấm Trạng, câu Sấm khá rõ ràng về Ngưu tinh và quá THẤT thân THUỶ sinh

434 – Nam Việt hữu Ngưu tinh (Ngưu tinh đây là sao chủ của người Việt Nam)

435 – Quá thất thân thủy sinh (chữ thân này không có bản Hán tự nhưng nếu dùng chữ thân này 申:lại, đến – “qua bẩy lại mới sinh” hoặc “qua bẩy lại sinh thuỷ 水: nước ” có lẽ hợp với câu trên và những câu thất hơn, suy luận thêm: sao Ngưu qua chu kỳ hoặc Vận thứ bẩy lại vào được nơi CHÍNH THUỶ)

Xem lại phần Phong thuỷ HN-Huế-SG của ông Lâm Quốc Thanh có viết đoạn sau:

Nếu đem địa thế núi, sông, biển cả vừa kể trên đối chiếu với Lạc Thư, ta sẽ thấy:

 * Vận 1 chỉ là giai đoạn trung bình của Hà Nội. Vì mặc dù khu vực phía Bắc có nhiều sông ngòi tức là phạm phải cách “Phục Ngâm”, bị sát khí xâm phạm, nên sẽ đem đến nhiều tai ương, loạn lạc. Nhưng tại đây cũng có nhiều dãy núi đâm thẳng xuống đem theo nhiều vượng khí nên chưa đến nỗi, vẫn còn nhân tài có khả năng ổn định, xoay chuyển được thời cuộc. Bước sang

 * Vận 2, tình thế mỗi lúc một suy thoái hơn, vì khu vực phía Tây Nam của Hà Nội tuy chỉ có sông Mã tức là bị “Phục Ngâm” trong trường hợp nhẹ. Nhưng phía đối diện (Ðông Bắc) lại có núi đồi trùng điệp tức là bị “Phản Ngâm”, sát khí từ nơi đó sẽ tràn tới, khiến cho đất nước ngày càng trở nên hỗn loạn. May mà tại đây (khu vực phía Ðông Bắc) cũng có nhiều sông ngòi chằng chịt tức là đắc “Chính thủy”, vượng khí vẫn còn đến với Hà Nội nên chưa đến nỗi bị suy vong. Qua các

 * Vận 3, 4, đại thủy của vịnh Bắc bộ và Thái bình Dương nơi phía Ðông và Ðông Nam sẽ tạo ra cách “Phục Ngâm”, sát khí quá nặng nề, nên sẽ đưa đất nước ta vào tình trạng yếu kém, tàn tạ hơn bao giờ hết. Phải đến khi bước vào

 * Vận 5, nhờ địa thế “núi sông chầu phục”, vượng khí của Hà Nội mới bắt đầu bùng lên mãnh liệt, và cùng với nó là sức mạnh và tinh thần quật khởi của dân tộc. Qua

 * Vận 6, Hà Nội sẽ phải đương đầu với những cuộc chiến tranh cực kỳ ác liệt, do các sông lớn như Nhị Hà, sông Ðà đều bắt nguồn từ phía Tây Bắc, nguồn nước lại rất lớn nên phạm phải cách “Phục Ngâm” rất nặng. May là cũng tại phía Tây Bắc lại có những mạch núi rất dài, rất cao tiến xuống, cuốn theo vượng khí ngút trời, đủ sức để trấn áp sát khí nên Hà Nội sẽ vượt qua được mọi thử thách để đi đến chiến thắng. Nói chung là trong Vận 6, ngay cả những thế lực hùng mạnh bậc nhất trên thế giới mà đụng đến Hà Nội cũng đều sẽ rước lấy những thất bại thảm hại, ê chề. Ðến:

 * Vận 7, những con sông Ðà, sông Mã ở phía Tây Hà Nội sẽ tạo ra nhiều sát khí (bị “Phục Ngâm”). Nhưng ngoài xa nơi phía Ðông lại có vượng khí của đại thủy mênh mông chiếu tới, lấn át được sát khí, nên tuy hay bị những biến động về chính trị, nhưng là một giai đoạn tương đối yên lành, sung túc. Sang:

 * Vận 8, Hà Nội sẽ bước vào giai đoạn cực thịnh, sản sinh ra những lãnh tụ tài ba đem lại thanh bình và vinh quang cho đất nước.?Trong giai đoạn này tuy cũng có chiến tranh xảy ra, do khu vực phiá Ðông Bắc có rất nhiều sông ngòi chằng chịt. Nhưng cảnh thái bình, thịnh trị, sẽ nhanh chóng được tái lập vì vượng khí của các dãy núi trong khu vực Ðông Triều-Cẩm Phả sẽ đem đến cho Hà Nội rất nhiều may mắn, thuận lợi. Sang tới:

 * Vận 9, thời kỳ hưng vượng vẫn tiếp tục được duy trì, cho tới khi bước sang Vận 1 thì những mầm mống loạn lạc mới bắt đầu tái diễn trở lại.

Vậy câu Sấm:

Nam Việt hữu NGƯU tinh

Quá THẤT thân THUỶ sinh

Việt Nam đã đi vào chu kỳ Vận 7 từ năm 1984 – 2004, có nhiều biến chuyển đổi mới chuyển qua chu kì 7 bắt đầu tốt:

Quá THẤT thân: Vận 7, những con sông Ðà, sông Mã ở phía Tây Hà Nội sẽ tạo ra nhiều sát khí (bị “Phục Ngâm”). Nhưng ngoài xa nơi phía Ðông lại có vượng khí của đại thủy mênh mông chiếu tới, lấn át được sát khí, nên tuy hay bị những biến động về chính trị, nhưng là một giai đoạn tương đối yên lành, sung túc

THUỶ sinh: Chính Thủy: là Thủy nằm ở khu vực đối diện với chính Vận, như Vận 7, số 7 nằm ở hướng Tây, mà phía Ðông lại có Thủy tức là có Chính thủy.

Trong những cách kể trên, chỗ nào có Phục Ngâm, Phản Ngâm là có sát khí chiếu tới, nên sẽ mang nhiều tai ương, hoạn nạn đến cho thành phố. Còn chỗ nào có Chính thủy tức là được vượng khí chiếu tới, nên sẽ đem đến nhiều may mắn, thuận lợi.

Năm 2005 – 2024 là là Vận 8 và Vận 9 là chu kỳ cực thịnh của VN, xét những sự kiện đã trải qua thì thấy có lý và ứng hợp. NGƯU tinh đang vào thời kỳ thịnh vượng, có thể thời nay đang đi vào đoạn kết của Sấm Trạng.

Lời bàn:

434 – Nam Việt hữu Ngưu tinh

435 – Quá thất thân thủy sinh

436 – Ðịa giới sĩ (xỉ) vị bạch

437 – Thủy trầm nhĩ bất kinh (Thủy trầm nhi Bắc kinh)

Trong hai câu 434-435 chưa có thể kết luận là chu kỳ bao nhiêu năm thịnh vượng của dân Việt, câu “Quá thất thân thuỷ sinh” là để nói tới Ngưu tinh sao chủ mệnh của dân Việt sẽ bắt đầu vượng lên nhập ĐỊA từ vận nào để sinh ra NHÂN (không cứ hẳn Thánh nhân phải sinh ra trong vận 7), nếu như vận của sao Ngưu thuộc phần THIÊN thì chu kỳ phải dài hơn của ĐỊA và NHÂN:

(sưu tầm) Đã bàn đến Tượng số thì phải kể đến tên Thiệu Ung, hay còn gọi là Thiệu Khang Tiết và cuốn sách Hoàng cực kinh thế nổi tiếng của ông được biên soạn theo lý thuyết của Kinh dịch và Kinh Thái Huyền có 60 chương phân tích về tượng số của trời đất sự biến hóa của Thái cực ông đã lấy những mã vạch âm dương mà vua Phục Hi đã đặt ra để định tượng số, lập hẳn ra một học thuyết có ảnh hưởng đến tận bây giờ Ông được các học giả qua nhiều đời suy tôn là bậc đại triết gia của Nho giáo. Thiệu Khang Tiết cho rằng: Vật lớn không gì bằng trời đất, thế mà cũng có chỗ hết. Cái lớn của trời thì đến âm dương là hết. Cái lớn của đất thì đến Cương nhu là hết. Trời sinh ra bởi động. Đất sinh ra bởi tĩnh. Lúc mới động thì dương sinh động đến cực thì âm sinh. Một âm, một dương giao nhau mà hết cái dụng của trời đất. Ông còn lấy cái thể và cái dụng của tứ tượng phối hợp với nhau thành tượng số tự nhiên như: Nóng, lạnh ngày, đêm, mưa, gió, sương … làm sự biến và sự hóa của trời đất, Lấy tính, tình, hình, thể, chạy, bay, cỏ, cây … làm sự cảm và sự ứng của vạn vật, Lấy Nguyên, Hội, Vận, Thế, Tuế, Tiết, Nhật Nguyệt làm cái trước và cái sau của không gian và thời gian. Theo đó, vòng thời gian có một Nguyên là 129.600 năm gồm 12 Hội, mỗi Hội là 10.800 năm có 30 Vận, mỗi Vận là 360 năm có 12 Thế mỗi Thế là 30 năm. Như vậy, một Nguyên có 12 Hội, 360 Vận, 4320 Thế. Cuộc đại biến hóa của vũ trụ cũng đi theo quy trình như trên, tức là sự biến đổi siêu vật chất đã có nhiều điều trùng lặp, giống nhau đến lạ kỳ với học thuyết khoa học của những nhà vật lý, toán học nghiên cứu về vũ trụ và lượng tử hiện đại. Hơn nữa, Thiệu Khang Tiết cũng dùng tượng số này tạo thành lý thuyết giáo dục và tu dưỡng đạo đức. Ví như có tính là có tình. Tình là cái phản lại của tính cũng như mặt trăng sáng là do lấy ánh sáng từ mặt trời vậy. Tính là thần, tình là quỷ, nghĩa là tính thì trong lành sáng suốt, tình thì quỷ quái mờ tối, cho nên người ta cần phải phục tính, nói cách khác là rèn luyện để trở lại chính mình. Khi đã về nguyên tính thiêng liêng tỏa sáng thì chính là lúc đạt tới mức thần.,cái thần của Thiệu Khang Tiết cũng phảng phất như đạo Lão vậy.

Vậy mỗi Vận của THIÊN phải là 360 năm chứ không phải 20 năm như của ĐỊA, mà địa lý với còn người có tương tác ảnh hưởng qua lại, con người có thể làm tác hại đổi đất như lấp bể, đào sông, xẻ núi, phá rừng …, và đất có thể làm tác hại cho người như động đất, sụp núi, lở sông … nhưng với THIÊN thì vô vọng đổi được, không thể nào đổi được Trời cả, vì vậy trong Sấm có câu “Ðương THỜI đời trị xoay vần được đâu”, Trời = THỜI đã cho tới lúc thịnh trị rồi thì chẳng xoay chuyển thay đổi được tình thế, người xưa có câu “thay TRỜI hành Đạo” nhận nhiệm vụ của Trời để làm tình thế, chứ chẳng có thể đổi TRỜI để xoay chuyển tình thế cho đất cho người.

Còn như như bài viết của ông LQT thì trong Sấm lại có câu:

Bắc hữu Kim thành tráng

Nam hữu Ngọc bích thành

Khi vận phía Bắc suy thì vận phía Nam vượng và ngược lại, cả hai đều là Kim Ngọc của nước Việt, dù trải qua theo phong thuỷ thì mỗi vận theo địa lý lúc thịnh lúc suy thì sẽ hỗ trợ lẫn nhau, Bắc vào vận suy Nam là hậu phương hỗ trợ, Nam vào vận suy Bắc sẽ giúp đỡ, miền Trung là đòn gánh cho hai đầu Nam Bắc rất là quan trọng chia gánh cho hai miền Nam Bắc lúc thịnh hay suy.

Hai câu sau:

436 – Ðịa giới sĩ (xỉ) vị bạch

437 – Thủy trầm nhĩ bất kinh (Thủy trầm nhi Bắc kinh)

Hai câu trên nói về THIÊN hai câu dưới nói về ĐỊA và NHÂN, câu 436 như VSSL chữ XỈ vị BẠCH là tên của Thánh nhân, có nghĩa nôm na Trời có sao Ngưu giáng xuống địa giới sinh ra Thánh nhân, câu 437 – Thủy trầm nhĩ bất kinh (Thủy trầm nhi Bắc kinh) không có nguyên bản Hán tự lại có 2 câu khác nhau không thể lạm bàn.

3 – Một câu là một nhiệm mầu

4 – Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao

Và rồi:

Học cách vật mới dò tới chốn

Chép ghi làm một bổn xem chơi.

Trong sự phân tích và suy luận về một vấn đề rất cần đến sự phản biện, nhờ sự phản biện mà sự phận tích và suy luận sẽ khách quan hơn và rõ nét hơn, vì vậy các bạn đừng ngại khi cùng tìm hiểu chung trong một vấn đề mà cần phải phản biện, mỗi người góp 1 phần trí óc thì vấn đề cần tìm hiểu sẽ trở nên dễ thấy hơn 1 người suy nghĩ.

Nước VN trong thời cụ Trạng chưa có miền Nam, nhưng có lẽ tiên kiến của cụ Trạng đã thấy và mưu tính cho nước Việt mới chỉ cách cho chúa Nguyễn vào miền Nam, rồi cụ lại cho những môn sinh giỏi nhất theo phò để đạt được mục đích chính, còn về các miền trong đất nước hỗ trợ nhau dĩ nhiên là sư bình thường, nhưng hỗ trợ nhau trên khía cạnh phong thuỷ lại là khác, con người có vận tốt vận xấu nhưng có vợ thì vận mình xấu vận của vợ tốt thì chia ra huề, còn độc thân nếu vận xấu thất nghiệp có lẽ cả 10 năm chiu húp cháo một mình, còn có vợ thì vẫn có cơm ăn vì … nhờ vợ nuôi còn mình bị thất nghiệp phải bó gối chờ vận tốt vậy. Vì vậy nếu nói Nam là ngọc bích Bắc là Kim thành có lẽ cũng không đến nỗi ra ngoài tầm hiểu rộng, nếu như 1 nước khi vận tốt cũng chỉ có 1 thời gian rồi xấu, thì khi tốt thì thật là tốt cho cả nước, nhưng khi xấu thì thôi rồi chịu chung số phận, còn VN thì lúc nào cũng … ấm êm, nhưng đó cũng chỉ là 1 khía cạnh chứ không phải là chủ đạo cho toàn cuộc, vì vậy hai câu này là chủ đạo cho thời thịnh trị của VN:

Ngưu tinh tụ Bảo giang

Đại nhân cư chính trung

Trời là nhất kế tới đất rồi tới người, khi vận của Trời đã thịnh thì chi phối làm chủ đạo, đất và người chỉ nương theo, đại vận 10 năm tốt tiểu vận 1 năm xấu chẳng ảnh hưởng nhiều, nhung ngược lại thì như 1 cơn mưa rào trong mùa khô hạn chẳng đủ thấm đất, Thiên thời địa lợi nhân hoà, 3 yếu tố thì thiên thời vẫn đứng đầu cho sự thành công, 2 phần sau để nương theo để thành công nhiều hay it.

Tìm hiểu phần THIÊN của Sấm Trạng mà không nói về chữ THỜI là thiếu mất cả ý nghĩa quan trọng của Trời – THIÊN MỆNH.

Chữ Thời: thời cơ, thời cuộc, thời vận, thời hạn, thời gian, thời điểm …

Thời hề chi nghĩa đại hỉ tai (ý nghĩa của chữ thời lớn vậy thay !)

Khổng Minh, Khổng Tử, … là một trong những nhân tài đặc biệt trong đpờ thường mà vì chữ thời mà cả đời chẳng thi thố được tài năng đành về quê làm một ông thầy đồ, một kẻ thất chí với niềm mong ước “tri thiên mệnh tận nhân lực”. Sau khi đã trải qua nhiều gian truân cay đắng Khổng Tử đã phải thốt lên lời than như vậy, và còn rất nhiều rất nhiều những nhân vật tài trí siêu quần nhưng cũng chỉ một chữ THỜI mà chôn vùi tài trí trong bóng tối, cũng một chữ thời mà những kẻ bần cố nông đầu đường cuối chợ dốt nát tài hèn lại nắm được quyền lực, bỗng nhiên giầu sang quyền quí ăn trên ngồi trốc những kẻ sĩ trí thức thất thời, cũng một chữ Thời mà bao danh gia thế vọng bỗng chỗc như ảo vọng lâ vào bước đường cùng …, vậy mới thấy rằng Trời thật công bằng ban chữ Thời cho mọi sinh linh mà không phân biệt cho giới nào.

Vận 8 (2004-2023) Luận giải

Năm 2004 là một năm quan trọng, nó là năm chuyển đổi từ Vận Trung Nguyên sang Vận Hạ Nguyên khởi đầu từ năm 2004 cho đến năm 2023, Vận khí Hạ Nguyên Phi Tinh theo Đồ Hình sau :

Vận 8 Phi tinh

Sao Bát Bạch là sao nhập giữa, khí của nó là vượng khí có tác dụng mạnh nhất chi phối toàn bộ địa cầu. Bát Bạch là sao Cát tinh chủ phúc lộc nên nó chi phối vận Hạ Nguyên là vận tương đối tốt. Thiếu nam sẽ thông minh, năng động, thiếu nữ cũng trở nên hoạt bát, thông minh hơn. Không lợi cho người già và trung niên, sức khoẻ giảm sút, kém năng động. Phương Đông Bắc sẽ vượng cát, gặt hái nhiều thành công và hoà bình yên ổn nhưng hàm chứa nhiều bệnh tật, hạn hán do bị khí độc của sao Nhị Hắc. Phương Tây Nam nhiều tai hoạ kiện tụng, dao súng. Phương Đông Nam nhiều cướp bóc xáo trộn. Phương Tây vẫn tiếp tục hưng vượng.

Bát Bạch nhập trung cung là Cấn tượng của thiếu nam thuộc thổ, nên sự xuất hiện của nhiều thần đồng, nhiều thương gia trẻ tuổi tài ba. Phía Đông Bắc đại phái do vượng khí Bát Bạch. Màu chi phối vận này vượng khí là màu Thổ như vàng, trắng, kem.

Vật khí mang nhiều năng lượng và cát khí là những vật liệu thuộc Thổ, làm từ đất như gốm, đá thuỷ tinh, pha lê.

Về kinh tế thì nông, lâm sản thu lợi, xây dựng, đầu tư xây dựng cơ bản, đường xá, quy hoạch đô thị, bất động sản, đầu tư vào khu vực miền núi, thuỷ điện, … là các ngành nghề kinh doanh chiến lược và thu nhiều lợi nhuận.

Sức khoẻ và quan hệ được đánh giá cao hơn tiền bạc, sẽ có nhiều đầu tư nghiên cứu cho y tế, giáo dục và vi sinh hoá.

Số 8 là số may mắn chi phối chủ đạo trong 20 năm hạ nguyên, vì vậy nên dùng nhiều số 8 và các vật khí sau đây :

– Chuông khánh Bát quái, 8 đồng xu

– Rùa đầu rồng ngồi trên bát quái

– Nên mang theo Bát Quái như đồng xu, túi Bát Quái

– Chuông gió 8 ống

– Bộ Tứ Linh : Long, Phượng, Hổ, Rùa

– Quả cầu thuỷ tinh

– Bộ Tam Đa bằng đá

– Cây nho ngọc, cây nho thuỷ tinh

Xét trên phi tinh đồ ta thấy :

+ Phương Tây : Sao Nhất Bạch – Sinh Khí chiếm đóng. Khí của sao này rất tốt lại được bản cung Đoài – Kim sinh trợ nên vượng đinh, vượng tài, phát triển thuận lợi. Phương này sẽ có nhiều nhân tài xuất hiện bởi Nhất Bạch còn gọi là Văn Xương tinh chủ về thông minh học thức, văn tài nổi danh lỗi lạc.

+ Phương Tây Nam : Ngũ Hoàng chiếm đóng, Ngũ Hoàng là Đại Sát tinh đi đến đâu chủ tai hoạ đến đó nên phương này chủ bệnh tật tai hoạ. Phương Tây Nam còn là phương linh thần tức là phương đối diện với phương Đông Bắc là phương Chính Thần đương vượng nên phương này cần có sông biển hội tụ, nếu không có sẽ phát sinh nhiều biến động, thiên tai, địch hoạ.

+ Phương Nam : Sao Tam Bích chiếm đóng là sao Tử Khí. Khí xấu Tam Bích đại hung chủ thiên tai, cướp bóc, Tam Bích Mộc sinh trợ cho bản cung Ly nên hoả quá vượng dễ phát sinh hoả hoạn, bệnh dịch đặc biệt là bệnh máu huyết, thần kinh.

+ Phương Đông Nam : Sao Thất Xích là sao Thoái Khí toạ lạc tại bản cung Tốn. Bản cung Tứ Lục không vượng lại bị Thất Xích Kim tương khắc nên chủ kìm hãm sự phát triển, xuất hiện chiến tranh hoặc tai hoạ, bệnh tật.

+ Phương Đông : Sao Lục Bạch – Sát Khí chiếm đóng : Lục Bạch chiếm tại bản cung Chấn, hai sao Tam Bích, Lục Bạch chủ về đấu đá, Kim Mộc tương khắc nên dễ có chiến tranh, bệnh tật, nội loạn.

Phương Đông Bắc : Bản cung Cấn nơi sao Bát Bạch đang đương vận nên vượng khí, lại được sao Nhị Hắc hợp thập chủ thông khí, hai hành Thổ hỗ trợ nên phương này phát triển mạnh mẽ, nơi đây cũng xuất hiện nhiều nhân tài, thần đồng nhỏ tuổi đặc biệt là thiếu nam bởi quẻ Cấn đại diện là thiếu nam.

+ Phương Bắc : Sao Tứ Lục chiếm đóng tại bản cung Khảm – đại diện Nhất Bạch. Hai sao Tứ Nhất đi với nhau chủ thông minh anh tài xuất hiện, đặc biệt là về các lĩnh vực giáo dục, khoa học xã hội, văn chương.

Phương Tây : Cửu Tử Hoả Tinh là sao vượng khí chiếm đóng, vì khí của sao này hưng vượng nên phương Tây tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên Cửu tử hoả khắc bản cung Càn – Kim nên phải đề phòng nhiều tai nạn và bệnh tật, đặc biệt liên quan đến giao thông, xe cộ, thiên tai.

+ Trung cung có Bát Bạch Thổ về Ngũ Hành tương đồng với hành Thổ ở trung cung nên các khu vực miền Trung sẽ phát triển mạnh. Khu vực Trung Đông cũng có thể có hoà bình trong thời gian vận 8 và chấm dứt được nhiều năm nội chiến, loạn lạc.

Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam: bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN.

Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ.

Giám đốc Trung-quốc sự vụ, viện Pháp-á

Chúng tôi xin giới thiệu với độc giả Việt-Nam bài diễn văn của Giáo-sư Trần Đại-Sỹ đọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 tại Viện Pháp-Á (Institut Franco-Asiatique viết tắt là IFA). Nguyên văn bằng tiếng Pháp, đây là bản dịch tiếng Việt của Tăng Hồng Minh. Trong dịp khai giảng niên học này, IFA đã mời một số đông các học giả, trí thức và ký giả tham dự. Sau bài diễn văn, có cuộc trao đổi rất thú vị.

Xin nhắc lại, trong khoảng thời gian 1977-1992, tác giả làm việc cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (Coopérative Européenne Pharmaçeutique, viết tắt là CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (Commité Médical Franco-Chinois viết tắt là CMFC), nên đã được các đồng nghiệp giúp đỡ, dùng hệ thống ADN để tìm lại nguồn gốc dân tộc Việt-Nam.

Chính với công trình nghiên cứu của tác giả trong thời gian 1977-1991, dùng hệ thống ADN phân biệt dân-tộc Trung-hoa, dân tộc Việt-Nam…đã kết thúc cuộc tranh cãi 90 năm qua biên giới cổ của Việt–Nam. Kết luận về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam bằng khoa ADN đi ngược lại với tất cả các thuyết từ trước đến giờ. Các thuyết này khẳng định người Việt do người Hoa di cư xuống để trốn lạnh, để tỵ nạn v.v. Nhưng ADN cho biết chính người ở vùng Đông Nam Á đã đi lên phương Bắc thành người Hoạ

Sau khi bài diễn văn này phổ biến (1991), có một số “học giả” vì không theo kịp đà tiến hóa của khoa học, đã lên tiếng chỉ trích chúng tôị Biết rằng họ dốt nát quá, muốn giải thích cho họ, họ phải có một trình độ nào đó… vì vậy chúng tôi không trả lờị Phần nghiên cứu của chúng tôi quá dài, quá chuyên môn. Độc giả muốn tìm hiểu thêm có thể đọc công trình nghiên cứu dưới đây:

J.Y.CHU, cùng 13 nhà bác học Trung-quốc cũng nghiên cứu Di-truyền học ADN (DNA), công bố năm 1998: The Nation Academy of Sciences, USA, Vol.95 issue 20, ngày 29 tháng 7 năm 1998. Tài liệu khẳng định rằng nguồn gốc người Trung-hoa, Đông Á, do người Đông-Nam-á đi lên, chứ không phải do người Trung-hoa di cư xuống.

Về bài diễn văn này, từ năm 1991, có rất nhiều bản dịch sang nhiều thứ tiếng, đăng trên nhiều báo khác nhaụ Mỗi dịch giả lại tự ý lược đi, đôi khi cắt mất nhiều đoạn. Nay chúng tôi xin dịch nguyên bản, đầy đủ. Vì vậy độc giả thấy có nhiều đoạn quá chuyên môn, xin lướt quạ

Trong khi diễn giả trình bầy, ông có ngắt ra nhiều đoạn, để thính giả thảo luận. Các bài trích đăng trước không ghi phần nàỵ Để độc giả dễ theo dõi, cô Tăng Hồng Minh (THM) ghi chép, chú giải đặt ngay dưới đoạn liên hệ, thay vì ghi ở cuối bàị

Khi xuất bản lần thứ nhất², bộ Anh-hùng Bắc-cương của giáo-sư Trần, chúng tôi có cho trích một phần bài này in vào cuối quyển 4. Nay chúng tôi công bố toàn bộ tài liệu, lấy làm tài liệu chính thức và phủ nhận tất cả những bản do nhiều nơi phổ biến trước đâỵ

Paris ngày 10-10-2001

Sở tu thư, viện Pháp-Á

SƠ TẦM VỀ TỘC VIỆT

Năm lên năm, tôi học chữ Nho, một loại chữ của Trung-quốc, nhưng dùng chung cho hầu hết các nước vùng Á-châu Thái-bình dương (ACTBD). Thầy khai tâm của tôi là ông ngoại tôị Ông tôi là một đại thần của triều đình Ðại-Nam (tức Việt-Nam).

Chế độ phong kiến của nước tôi đã chấm dứt từ năm 1945, hiện (1991) vị Hoàng-đế cuối cùng của Ðại-Nam là Bảo Ðạị Ngài vẫn còn sống ở quận 16 Paris.

Năm lên sáu tuổi, tôi được học tại trường tiểu học do chính phủ Pháp mở tại Việt-Nam. Thời gian 1943-1944 rất ít gia đình Việt-Nam còn cho con học chữ Nhọ Bởi đạo Nho cũng như nền cổ học không còn chỗ đứng trong đời sống kinh tế, chính trị nữạ Thú thực tôi cũng không thích học chữ Nho bằng chơi bi, đánh đáọ Nhưng vì muốn làm vui lòng ông tôi mà tôi học. Hơn nữa học chữ Nho, tôi có một kho tàng văn hóa vĩ đại để đọc, để thỏa mãn trí thức của tuổi thơ. Thành ra tôi học rất chuyên cần. Các bạn hiện diện nơi đây không ít thì nhiều cũng đã học chữ Nho đều biết rằng chữ này học khó như thế nàọ Nhưng tôi chỉ mất có ba tháng đã thuộc làu bộ Tam tự kinh, sáu tháng để thuộc bộ Ấu-học ngũ ngôn thị Năm bẩy tuổi tôi được học sử, và năm chín tuổi bị nhét vào đầu bộ Ðại-học.

Chương trình giáo dục cổ bắt học sinh học hai loại sử. Bắc-sử tức sử Trung-quốc. Nam sử tức sử của Việt-Nam. Tôi được học Nam sử bằng chữ Nho, đồng thời với những bài sử khai tâm bằng chữ Quốc ngữ vào năm bảy tuổị Thời điểm bấy giờ bắt đầu có những bộ sử viết bằng chữ Quốc ngữ, rất giản lược, để dạy học sinh; không bằng một phần trăm những gì tôi học ở nhà. Thầy giáo ở trường Pháp biết tôi là cái kho vô tận về sử Hoa-Việt, nên thường bảo tôi kể cho các bạn đồng lớp về anh hùng nước tôị Chính vì vậy tôi phải lần mò đọc những bộ sử lớn viết bằng chữ Hán như:

Ðại-Việt sử ký toàn thư (ÐVSKTT),

An-Nam chí lược (ANCL),

Ðại-Việt thông-sử (ÐVTS),

Khâm-định Việt sử thông giám cương mục (KÐVSTGCM),

Ðại-Nam nhất thống chí (ÐNNTC).

Ðại cương mỗi bộ sử đều chép rất giản lược về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam sau:

Vua Minh cháu bốn đời vua Thần-Nông, nhân đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ-lĩnh, kết hôn với một nàng tiên hạ sinh một con trai tên Lộc-Tục. Vua lập đài, tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc-Tục làm vua phương Nam. Ngài dạy hai thái tử rằng:

« Nghi làm vua phương Bắc, Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giớị Hai người làm vua hai nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu hoà mà ở với nhaụ Tuyệt đối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam. Kẻ nào trái lời, sẽ bị tuyệt tử, tuyệt tôn ».

Xét triều đại Thần-Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây lịch, đến đây thì chia làm hai:

1. Thần-Nông Bắc.

Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)

Vua Lai (2843-2794 trước Tây lịch)

Vua Ly (2795-2751 trưước Tây-lịch)

Vua Du-Võng (2752-2696 trước Tây-lịch).

Ðến đây triều đại Thần-Nông Bắc chấm dứt, đổi sang triều đại Hoàng-đế từ năm giáp Tý (2697 trước Tây-lịch). Các nhà chép sử Trung-quốc lấy thời đại Hoàng-đế làm kỷ nguyên. Trong bộ Sử-ký, Tư-mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ-đế bản kỷ, coi Hoàng-đế là Quốc-tổ Trung-quốc, không chép về thời đại Thần-Nông.

2. Triều đại Thần-Nông Nam.

Thái-tử Lộc-Tục lên làm vua năm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch) hiệu là Kinh Dương, lúc mười tuổị Sau người Việt lấy năm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho đến nay (1991) là 4870 năm, vì vậy người Việt tự hào rằng đã có năm nghìn năm văn hiến. (1)

[Nội dung bài diễn văn hôm nay, tôi chỉ bàn đến diễn biến chính trị, lịch sử, văn hóa, địa lý của dân tộc -Trung-hoa, và dân tộc Việt-Nam trong khoảng thời gian 4870 năm từ năm 2879 trước Tây-lịch cho đến năm nay 1991. Còn như đi xa hơn về những thời tiền cổ, thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, quá phức tạp, quá dài, tôi không luận đến ở đâỵ]

Xét về cương giới cổ sử chép:

« Thái-tử Lộc-Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh Dương (2), đặt tên nước là Xích-quỷ, đóng đô ở Phong-châu nay thuộc Sơn-Tâỵ Vua Kinh Dương lấy con gái vua Động-đình là Long-nữõ đẻ ra Thái-tử Sùng-Lãm. Thái-tử Sùng-Lãm lại kết hôn với công chúa Âu-Cơ con vua Đế-Lai (3). Khi vua KinhĐương băng hà thái-tử Sùng-Lãm lên nối ngôi vua, tức vua Lạc-Long, đổi tên nước là Văn-Lang. Nước Văn-Lang Bắc tới hồ Động-đình, Nam giáp nước Hồ-tôn, tây giáp Ba-thục, đông giáp biển Đông-hảị)

Cổ sử đến đây, không có gì nghi ngờ, nhưng tiếp theo lại chép:

« Vua Lạc-Long lấy công chúa Âu-Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra trăm con. Ngài truyền cho các hoàng tử đi bốn phương lập ấp, tổ chức cai trị giáo hóa dân chúng. Mỗi vị lập một ấp theo lối cha truyền con nốị

Hoàng-tử thứ nhất tới thứ mười lập ra vùng hồ Ðộng-đình. (Nay là Hồ-Nam, Quý-châu, Trung-quốc.)

Hoàng-tử thứ mười một tới thứ hai mươi lập ra vùng Tượng-quận. (Nay là Vân-Nam và một phần Quảng-Tây, Tứ-xuyên thuộc Trung-quốc.)

Hoàng-tử thứ ba mươi mốt tới bốn mươi lập ra vùng Chiêm-thành. (Nay thuộc Việt-Nam, từ Thanh-hóa đến Ðồng-naị)

Hoàng-tử thứ bốn mươi mốt tới năm mươi lập ra vùng Lão-quạ (Nay là nước Lào và một phần Bắc Thái-lan.)

Hoàng-tử thứ năm mươi mốt tới sáu mươi lập ra vùng Nam-hảị (Nay là Quảng-đông, và một phần Phúc-kiến, Trung-quốc.)

Hoàng-tử thứ sáu mươi mốt tới bảy mươi lập ra vùng Quế-lâm. (Nay thuộc Quảng-tây, Trung-quốc.)

Hoàng-tử thứ bảy mươi mốt tới tám mươi lập ra vùng Nhật-nam. (Nay thuộc Việt-Nam từ Nghệ-an tới Quảng-bình.)

Hoàng-tử thứ tám mươi mốt tới chín mươi lập ra vùng Cửu-chân. (Nay thuộc Việt-Nam từ Ninh-bình tới Thanh-hóa, Nghệ-an, Hà-tĩnh.)

Hoàng tử thứ chín mươi mốt tới một trăm lập ra vùng Giao-chỉ. (Nay là Bắc Việt-Nam và một phần tỉnh Quảng-tây, Vân-Nam thuộc Trung-quốc.)

Ngài hẹn rằng: Mỗi năm các hoàng-tử phải về cánh đồng Tương vào ngày Tết, để chầu hầu phụ mẫu ».

Một huyền sử khác lại thuật:

Vua Lạc-Long nói với Âu-Cơ rằng: « Ta là Rồng, nàng là loài Tiên ở với nhau lâu không được. Nay ta đem năm mươi con xuống nước, nàng đem năm mươi con lên rừng. Mỗi năm gặp nhau tại cánh đồng Tương một lần »

Các sử gia người Việt lấy năm vua KinhĐương lên làm vua là năm Nhâm-tuất (2879 trước Tây-lịch), nhưng không tôn vua KinhĐương với Công-chúa con vua Ðộng-đình làm Quốc-tổ, Quốc-mẫu, mà lại tôn vua Lạc-Long làm Quốc-tổ và Công-chúa Âu-Cơ làm Quốc-mẫụ Cho đến nay Quý-vị hỏi trăm người Việt ở hải ngoại rằng tổ là ai, họ đều tự hào:

« Chúng tôi là con Rồng, cháu Tiên.

Quốc-tổ tên Lạc-Long, Quốc-mẫu tên Âu-Cơ ».

Chủ đạo của tộc Việt bắt nguồn từ niềm tin nàỵ

3. Triều đình, dân tộc.

Tôi đã trình bầy với Quý-vị về hai triều đại đầu tiên cai trị vùng Á-châu Thái-bình dương: Phía Bắc sông Trường-giang sau thành Trung-quốc. Phía Nam sông Trường-giang tới vịnh Thái-lan, sau thành Ðại-Việt.

Hai triều đại Thần-Nông Nam-Bắc cai trị dân chúng:

Không có nghĩa là dân chúng cùng một chủng tộc;

Không có nghĩa là tộc Hoa, tộc Việt là một;

Cũng không có nghĩa tất cả dân chúng tộc Hoa, tộc Việt đều là huyết tộc của vua Thần-Nông.

Trung-quốc, Ðại-Việt là anh em về phương diện chính trị. Giòng Thần-Nông cai trị vùng đất Trung-quốc, Ðại-Việt là anh em, nhưng dân chúng không hoàn toàn là anh em. Dân chúng hai nước bao gồm nhiều tộc khác nhau như Mongoloid, Malanésien, Indonésien, Australoid, và cả Négro-Australoid…v.v.

Người Hoa, người Việt nhân triều đại Nam-Bắc Thần-Nông tổ chức cai trị, lập thành nước, mà tôn làm tổ mà thôị Chứ hai vùng hồi đó có hàng nghìn, hàng vạn bộ tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, văn hóa khác nhaụ

Sau này các văn nhân người Hoa ở vùng lưu vực Hoàng-hà, lưu vực sông Hán, nhân có chữ viết, lại không đi ra ngoài, rồi tưởng tượng mà viết thành sách, tự cho mình là con trời, tự trời mà xuống; sau đó đem văn minh, truyền bá ra khắp thế giới (Thiên-hạ), người sau lấy làm chủ đạo của họ. Tôi sẽ bàn đến ở dướị

Tôi xin cử một tỷ dụ, để Quý-vị nhìn rõ hơn. Ông Washington là vị Tổng-thống đầu tiên lập ra nước Hoa-kỳ, chứ ông không phải là tổ của các sắc dân đến từ châu Phi, châu Âu, cũng như dân bản xứ. Hai vị vua Nghi, vua Kinh Dương không phải là tổ huyết tộc của người Hoa, người Việt. Hai ngài chỉ là tổ về chính trị mà thôị

IỊ CHỦ ÐẠO TRUNG QUỐC, VIỆT-NAM.

Như Quý-vị đã thấy, mỗi dân tộc đều có một chủ đạo, cùng một biểu hiệụ Người Pháp cho rằng tổ tiên là người Gaulois, con vật tượng trưng là con gà trống. Người Anh lấy biểu hiệu là con sư-tử. Người Hoa-kỳ lấy biểu hiệu là con chim ưng. Người Trung-hoa lấy biểu hiệu là con Rồng. Người Việt lấy biểu hiệu là con Rồng và con chim Âụ Gốc biểu hiệu này lấy từ huyền sử vua Lạc-Long là loài rồng, công-chúa Âu-Cơ là loài chim.

Người Do-thái họ tự tin rằng họ là giống dân linh, được Chúa chọn. Vì vậy, sau hai nghìn năm mất nước, họ vẫn không bị đồng hóạ Khi tái lập quốc, với dân số bằng một phần trăm khối Ả-rập, nhưng họ vẫn đủ khả năng chống với bao cuộc tấn công để tồn tạị Ðó là nhờ niềm tin họ thuộc sắc dân được Chúa chọn.

Tôi xin nói rõ về chủ đạo của Trung-quốc và Việt-Nam. Như Quý-vị đều biết, hiện Trung-quốc, Việt-Nam đều là những nước theo chủ nghĩa Cộng-sản, đặt căn bản trên thuyết của Karl Marx, Friedrich Engels.

Chủ thuyết này đến Trung-quốc, Chủ-tịch Mao Trạch Đông biến thể đi thành Maoismẹ Tại Việt-Nam, người mang chủ thuyết Marx, Engels vào là Chủ-tịch Hồ Chí Minh ; ông được đào tạo tại Liên-sô, vì vậy chủ thuyết của ông phảng phất Léninisme, pha thêm Việt-tính do ông tạo rạ Dường như hiện nay trên khắp thế giới, kể cả Liên-bang Sô-viết chỉ Việt-Nam là quốc gia duy nhất còn duy trì tượng Lénine tại một công viên lớn của Thủ-đô (Hà-nội).

Theo như dự đoán của chúng tôi thì Trung-quốc, cũng như Việt-Nam cùng nhận thấy thuyết của Karl Marx, Friedrich Engels không còn hợp thời, không còn ích lợi nữạ Cả hai đang từng bước, từng bước trở lại với chủ đạo của mình. Xin các vị cứ chờ, không lâu đâu cả hai sẽ hoàn toàn trở về với kho tàng quý báu của nước mình!

Tôi thấy Trung-quốc trở lại quá mau, quá mạnh. Con rồng Trung-quốc mà Hoàng-đế Napoléon bảo rằng hãy để nguyên cho nó ngủ. Bằng như nó thức dậy, nó sẽ làm rung chuyển thế giớị Thưa Quý-vị, con rồng Trung-quốc đã thức dậy rồi, nhưng nó chưa làm rung động thế giới!

1.- Chủ đạo của Trung-quốc.

Người Hoa thì tin rằng mình là con trờị Cho nên trong các sách cổ của họ,ï vua được gọi là Thiên-tử, còn các quan thì luôn là người nhà trời xuống thế phò tá cho vuạ Chính niềm tin đó cùng với văn minh Hoa-hạ, văn minh Nho-giáo đã kết thành chủ-đạo của họ.

Cho nên người Hoa dù ở đâu, họ cũng có một tổ chức xã hội riêng, sống với nhau trong niềm kiêu hãnh con trờị Cho dù họ lưu vong đến nghìn năm họ cũng không bị đồng hóa, không quên nguồn gốc.

Cũng chính vì vậy, mà từ một tộc Hoa nhỏ bé ở lưu vực sông Hoàng-hà, họ đánh chiếm, đồng hóa hàng nghìn nước xung quanh, và nước của họ rộng lớn như ngày naỵ Hầu hết những nước khác đến cai trị họ, đều bị họ đồng hóạ Mông-cổ, Mãn-thanh bị đồng hóa, bị mất hầu hết lãnh thổ. Nhưng chủ-đạo và sức mạnh của người Trung-quốc phải ngừng lại ở biên giới Hoa-Việt.

Chủ đạo của Trung-quốc bắt nguồn từ thời nàỏ Từ sách nàỏ Do ai khởi xướng?

Ðầu tiên là Kinh-thư, không rõ tác giả là ai, xuất hiện trước Khổng-tử, thiên Vũ-cống gọi thế giới chúng ta ở là Thiên-hạ (Dưới trời). Thời cổ, các văn nhân Trung-quốc không đi xa hơn vùng sông Hán, sông Hoàng-hà, họ tưởng đâu thế giới chỉ có Trung-quốc, nên gọi Trung-quốc là Thiên-hạ. Thiên-hạ là Trung-quốc, tức là nước ở giữạ Bốn phía Trung-quốc là biển, nên gọi Trung-quốc là hải-nội, các nước khác là hải-ngoạị

Kinh-thư thiên Vũ-cống chia Thiên-hạ thành 9 châu: Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương, Ung. Lại dùng khoảng cách, chia làm năm cõi, gọi là Ngũ-phục, mỗi cõi cách nhau năm trăm dặm (250 km). Ngũ-phục là Ðiện-phục, Hầu-phục, Tuy-phục, Yêu-phục, Hoang-phục.

Trung-ương là kinh đô của nhà vuạ

Ðiện-phục ở ngoài kinh đô năm trăm dặm.

Hầu-phục ở ngoài cõi Ðiện-phục năm trăm dặm: trong năm trăm dặm cõi Hầu thì khoảng cách một trăm dặm để phong thái ấp cho các quan khanh, đại phụ Hai trăm dặm nữa phong cho các tước Nam. Hai trăm dặm nữa phong cho các chư Hầụ

Kế tiếp Hầu-phục là Tuy-phục. Trong năm trăm dặm cõi Tuy thì ba trăm dặm là nơi truyền bá văn chương, giáo hóa quần chúng; còn hai trăm dặm để hưng thịnh võ bị, bảo vệ quốc giạ

Sau cõi Tuy là cõi Yêụ Trong ba trăm dặm cõi Yêu là nơi cho rợ phương Ðông ở. Hai trăm dặm còn lại là nơi để đầy tội nhân.

Cõi cuối cùng là cõi Hoang, năm trăm dặm. Trong ba trăm dặm gần dành cho mọi phương Nam ở, hai trăm dặm cuối cùng để đầy người có tội nặng.

Ra khỏi cõi Hoang là… biển.

Với lối phân chia lẫm cẩm, hài hước ấy, năm nghìn năm qua, dân Trung-quốc coi là Kinh, tức những gì không thể thay đổi, rồi trở thành chủ đạo của tộc Hoạ

Tiếp theo Kinh Thư, sách Tả-truyện, Tả Khâu Minh cũng viết:

Trời làm chủ Thiên-hạ,

Vua nối trời mà cai trị.

Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị là Thiên-tử.

Ðến Mạnh-tử, thiên Ly-lâu viết:

Thiên hạ là quốc gia,

Gốc của thiên hạ là quốc,

Gốc ở quốc là gia

Vì ảnh hưởng của sách cổ nên người Hoa mới nảy sinh ra tư tưởng « Nội Hoa hạ, ngoại Di, Ðịch ». Nghĩa là trong Ngũ-phục thì là chốn văn minh, còn ngoài ra thì là mọi rợ.

Kinh-lễ, thiên Vương-chế nói:

Ðông phương viết Di,

Tây phương viết Nhung,

Nam phương viết Man,

Bắc phương viết Ðịch.

Nghĩa là:

Người ở Ðông phương gọi là Di,

Tây-phương là Nhung,

Nam phương là Man,

Bắc phương là Ðịch.

Di, Nhung, Man, Ðịch là những từ để chỉ mọi rợ. Bốn chữ đó khi viết thì có bộ trùng, bộ thú, bộ khuyển ở cạnh. Có nghĩa các sắc dân đó là cầm thú, côn trùng, chó mèo !

Ngay đối với người Âu, Mỹ hồi thế kỷ thứ 20 về trước, người Hoa gọi là Bạch-quỷ! (Thính giả cười ồ lên!). Họ còn phân ra người Âu là Tâyđương Quỷ. Người Mỹ là Mỹ-lan-tây Quỷ. Người Anh là Hồng-mao Quỷ. Người Nga là La-sát Quỷ.

Từ nguồn gốc kinh điển cổ, người Hoa tự cho mình là con trời (Thiên-tử), cho nên hầu hết các tiểu thuyết của họ thì vua luôn có tướng tinh là con rồng vàng, là Thanh-y đồng tử trên thượng giơí giáng sinh. Các quan võ thì luôn là Vũ-khúc tinh quân, các quan văn là Văn-khúc tinh quân. Quần thần thì là Nhị-thập bát tú giáng hạ. Với chủ đạo này, họ đã đánh chiếm mấy trăm nước tạo thành một Trung-quốc vĩ đạị

2.- Chủ đạo của Việt-Nam.

Như trên đã trình bầy, với nguồn gốc lập quốc, người Việt có niềm tin mình là con của Rồng, cháu của Tiên, cho nên người Việt có một sức bảo vệ quốc gia cực mạnh. Truyền thống sang thế kỷ thứ 2 trước Tây-lịch lại thêm vào tinh thần của vua AnĐương. Sang đầu thế kỷ thứ nhất, nổ ra cuộc khởi nghĩa của một phụ nữ, và 162 anh hùng, trong đó có hơn trăm là nữ.

Cuộc khởi nghĩa đuổi ngoại xâm Trung-hoa, lập lên triều đại Lĩnh-Nam. Phụ nữ đó làø vua Trưng. Nối tiếp mỗi thời đại đều có tinh thần riêng, tạo thành niềm tin vững chắc.

Tộc Việt đã chiến đấu không ngừng để chống lại cuộc Nam tiến liên miên trong hai nghìn năm của người Hoạ Bất cứ thời nào, người Việt dù bị phân hóa đến đâu, nhưng khi bị ngoại xâm, họ lập tức ngồi lại với nhau để bảo vệ quốc giạ Trong những lớp phế hưng của lịch sử Việt, hễ ai dựa theo chủ đạo tộc Việt, đều thành công trong việc giữ được quyền cai trị dân.

Gần đây nhất, người Việt bị các thế lực Quốc-tế, gây ra cuộc chiến tranh tương tàn khủng khiếp (1945-1975). Nhưng nay, Việt-Nam đang trên đà phục hưng chủ đạọ Ý tôi muốn nói sự cố gắng phi thường của hơn hai triệu người Việt ở ngoài lãnh thổ Việt-Nam, đã là bó đước sáng chuyển chủ đạo trở về nước mình.

Trong thời gian 1954-1975, miền Bắc theo chế độ Cộng-sản, theo chủ thuyết Quốc-tế. Nhưng họ biết khai thác cái chủ đạo của Việt-Nam, họ huy động được tinh thần yêu nước của dân tộc, nên cuối cùng họ chiến thắng.

Cũng tiếc thay, những người cầm quyền miền Nam từ 1963-1975, không biết khai thác lòng yêu nước của dân tộc, lại chấp nhận cho quân đội Hoa-kỳ và đồng minh nhảy vào vòng chiến, việc này có khác gì quỳ gối, trao ngọn cờ chính nghĩa cho miền Bắc? Tôi nghĩ những người lãnh đạo miền Nam như ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, cho đến giờ này (1992) chưa từng biết gì về kho tàng lòng yêu nước của người Việt, lại cũng chưa từng nghe, từng nói đến chữ chủ đạo tộc Việt bao giờ.

Trước họ, cố Tổng-thống Ngô Đình Diệm (1954-1963), vì biết rõ chủ đạo tộc Việt. Ngài từ chối không cho Hoa-kỳ đổ quân vào Việt Nam, mà đang là một đồng minh của Hoa-kỳ, Ngài đã trở thành kẻ thù của Hoa-kỳ, bị Hoa-kỳ giết hết sức thảm khốc.

III ÐI TÌM LẠI NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT.

Năm trước đồng nghiệp của tôi đã giảng cho các bạn sinh viên hiện diện các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, bao gồm:

Thuyết của giáo sư Léonard Aurousseau về cuộc di cư của người Ư-Việt hay Ngô-Việt sang Âu-Lạc.

Thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của người Mân-Việt sang Âu-Lạc.

Thuyết của học giả Ðào Duy-Anh, Hồ Hữu-Tường về cuộc di cư do thời tiết của người Việt từ Bắc xuống Nam.

Tất cả các thuyết này đều căn cứ vào những thư tịch cổ Trung-quốc, Việt-Nam. Mà những thư tịch này không có một biện chứng khoa học nào cả.

Cuối cùng các giáo sư đồng nghiệp đã nhận định rằng: Nhờ vào khoa khảo cổ, nhờ vào hệ thống khoa học DNA, từ nay không còn những giả thuyết về nguồn gốc tộc Việt nữa, mà chỉ còn lại công cuộc nghiên cứu của tôi, rồi kết luận:

« Thoạt kỳ thủy, trên vùng đất thuộc lãnh thổ Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại: Giống người đã từ châu Phi đến bằng hai đường. Một là đường Nam-á, đến Đông Nam-á, ngược lên vùng Hoa Nam. Hai là từ châu Phi, tới châu Âu, rồi sang Bắc Trung-quốc. Cuối cùng cả hai giống người hòa lẫn với nhau trên lãnh thổ Trung-quốc.

Còn trong vòng 5000 năm trước Tây lịch cho đến nay, thì tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường-giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ-xuyên, Nam tới vịnh Thái-lan. Người Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương Nam. Người Mân-Việt đi xuống Giao-chỉ.

Người Việt di cư từ nam sông Trường-giang tránh lạnh xuống Bắc-Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lãnh thổ của họ, như cuộc di cư từ Bắc vào Nam năm 1954 ; chứ không phải họ là người Trung-quốc di cư xuống Nam, lập ra nước Việt. »

Chính vì lý do dùng hệ thống ADN biện biệt tộc Hoa, tộc Việt, nên tôi được mời đến đây đọc bài diễn văn khai mạc niên khóa nàỵ Sau đây tôi trình bầy sơ lược về công trình nghiên cứu đó. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một bác sĩ y-khoa, cho nên những nghiên cứu của tôi đặt trên lý luận thực nghiệm, cùng lý luận y-khoa, nó hơi khác với những gì mà các bạn đã học.

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong việc đi tìm nguồn gốc tộc Việt, tôi đã dùng phương pháp y-khoa nhiều nhất, và phương pháp khoa học mới đâỵ Tôi đã được giáo sư Tarentino về khoa Anatomie của Ý và giáo sư sinh vật Vareilla Pascale của Pháp tích cực giúp đỡ. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng trong khoảng 5000 trước Tây-lịch, lãnh thổ tộc Việt nằm từ phía Nam sông Trường-giang tới vịnh Thái-lan. Phía Tây tới tỉnh Tứ-xuyên Trung-quốc, phía Ðông tới biển Nam-hảị Nghĩa là bao gồm toàn bộ Hoa-Nam, và Ðôngđương.

1. Dùng biện chứng y-khoa vào khảo cổ.

Biện chứng căn bản của người nghiên cứu y-khoa là:

“Khi có chứng trạng, ắt có nguyên do”

Biện chứng này đã giúp tôi rất nhiều trong khi nghiên cứu về nguồn gốc tộc Việt. Khi nghiên cứu, những tài liệu cổ, dù là huyền thoại, dù là huyền sử, dù là triết học, tôi cũng coi là chất liệu quan trọng. Như tôi đã trình bày, nước tôi có một tôn giáo, mà toàn dân đều theo đó là thờ các anh hùng dân tộc. Tại những đền thờ chư vị anh hùng, thường có một cuốn phổ kể sự tích các ngàị Vì theo thời gian, tiểu sử các ngài bị dân chúng huyền thoại hóa đi, riết rồi thành hoang đường. Cho nên những học giả đi tiên phong, nghiên cứu về sử học Việt thường bỏ quạ Tôi lại suy nghĩ khác:

“Không có nguyên do, sao có chứng trạng?”

Vì vậy tôi đã tìm ra rất nhiều điều lý thú. Tỷ dụ: Bất cứ một nhà nghiên cứu nào, khi khảo về thời vua An Dương cũng cho rằng chuyện thần Kim-quy do vua móng làm nỏ bắn một lúc hàng nghìn mũi tên khiến Triệu-Đà bị bại là hoang đường, là ma trâu đầu rắn. Nhưng tôi lại tin và cuối cùng tôi tìm ra sự thật. Hồi ấy Cao Cảnh hầu Cao Nỗ đã chế ra nỏ liên châu, như súng liên thanh ngày naỵ Tôi cũng tìm ra kích thước của ba mũi tên đồng của nỏ nàỵ(4)

Trước tôi đã có các nhà khảo cổ căn cứ vào xương sọ tìm được tại Trung và Bắc-phần (70 cái). Trong đó có 38 cái do người Pháp sưu tầm thuộc thời đại Đồ-đá, thì 29/38 cái được kết luận là thuộc chủng loại Malanésien, Indonésien, Australoide hay Nam-á. Với 29 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể. Gần đây các học giả Việt-Nam lại tìm ra 32 xương sọ, thuộc thời đại Đồ-sắt (1000 năm trước Tây-lịch đến 300 sau Tây-lịch), thì 22/27 thuộc chủng loại Mongoidẹ Với 32 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể tộc Việt thuộc chủng loại Mongoidẹ

Những tác giả trên đã căn cứ vào chỉ số xương sọ để kết luận. Nhưng y học đã tiến bộ, căn cứ vào chỉ số xương sọ để định nguồn gốc đã bị đánh đổ. Nguyên do: Khi con người di cư đến vùng khác, bị khí hậu, bị nước uống, bị thực phẩm làm thay đổi xương sọ. Chúng tôi dùng hệ thống ADN, hệ thống sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những người đang sống của 35 dòng họ tại Hoa Nam với Việt-Nam, rồi với những dòng họ khác tại Hoa Bắc. Lại cũng thử nghiệm những bộ xương của ba vùng trên, không phân biệt thời gian. Cuối cùng chúng tôi tìm ra sự khác biệt của những tộc Hoa Nam, Việt Nam với những tộc Hoa Bắc, và đi đến kết luận: lãnh thổ Văn-lang, tới hồ Ðộng-đình. (5)

2. Những vấn đề

Ranh giới phía Nam của nước Văn-lang tới nước Hồ-tôn đã quá rõ ràng. Ranh giới phía Tây với Ba-thục, phía Đông với biển lại tùy thuộc vào ranh giới phía Bắc. Nếu như ranh giới phía Bắc qủa tới hồ Động-đình, thì ranh giới phía Tây chắc phải giáp Ba-thục và phía Đông phải giáp Đông-hảị Có thực như thế không?

Vì vậy tôi đi tìm ranh giới phía Bắc.

Dưới đây là huyền thoại, huyền sử mà tôi đã bấu víu vào để đi nghiên cứụ Tôi cần tra cứu cho ra:

Vấn đề thứ nhất,

Cổ sử Việt đều nói rằng ranh giới phía Bắc tới hồ Ðộng-đình. Có thực như vậy không?

Truyền thuyết nói Ðế-Minh lập đàn tế cáo trời đất, rồi chia thiên hạ làm haị Từ Ngũ-lĩnh về Bắc cho Ðế-Nghi, sau thành Trung-quốc. Từ Ngũ-lĩnh về Nam truyền cho vua KinhĐương sau thành Văn-lang.

Núi Ngũ-lĩnh, hồ Ðộng-đình nay vẫn còn. Nhưng liệu có di tích gì chứng minh chăng? Tôi phải đi tìm Ngũ-lĩnh, hồ Ðộng-đình.

Vấn đề thứ nhì,

Truyền thuyết nói: Sau khi vua KinhĐương, vua Lạc-Long kết hôn, đều lên núi Tam-sơn trên hồ Ðộng-đình hưởng thanh phúc ba năm. Lúc ngài lên núi có chín vạn hoa tầm xuân nở. Tôi phải đi tìm núi Tam-sơn ở hồ Ðộng-đình. Liệu trên núi này có di tích gì về cuộc tình năm nghìn năm trước chăng?

Vấn đề thứ ba,

Truyền sử nói: Sau khi Quốc-tổ Lạc-Long, Quốc-mẫu Âu-Cơ cho các hoàng tử đi bốn phương qui dân lập ấp, dặn rằng: Mỗi năm về Tương-đài chầu Quốc-tổ, Quốc-mẫu một lần.

Cổ sử nói: Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn năm mươi con lên núi, hẹn mỗi năm một lần gặp nhau ở cánh đồng Tương.

Cánh đồng Tương ở đâủ Nếu có cánh đồng Tương thì cũng có thể kết luận rằng biên giới nước Văn-lang tới hồ Ðộng-đình. Tôi phải đi tìm.

Vấn đề thứ tư,

Chứng tích thứ nhất xác định:

Bộ Sử-ký của Tư-mã, Nam-Việt liệt truyện có thuật việc: vua nước Nam-Việt là Triệu-Ðà thường đem quân quấy nhiễu biên giới Việt-Hán là Nam-quận, Trường-sa (Mậu-Ngọ 183 trước Tây-lịch).

Như vậy biên giới Nam-Việt (Tức Việt-Nam) với Hán (Tức Trung-quốc) ở vùng nàỵ Ngày nay Trường-sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-nam, nằm ngay Nam ngạn sông Trường-giang.

Vấn đề thứ năm,

Huyền sử nói rằng: trong cuộc khởi nghĩa của vua Trưng: Khi Trưng Nhị, Trần Năng, Phật Nguyệt, Lại Thế-Cường, Trần Thiếu-Lan đem quân đánh Trường-sa (39 sauTây-lịch), thì nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm-giang (sự thật đó là Tương-giang thông với hồ Ðộng-đình).

Sau đó ít năm có trận đánh giữa Lĩnh-Nam và Hán (42 sau Tây-lịch). Tướng Lĩnh-Nam tổng trấn hồ Ðộng-đình là Phật Nguyệt, tướng Hán là Mã Viện, Lưu Long (40 sau Tây-lịch).

Có thực thế không? Có hai trận Trường-sa, hồ Ðộng-đình không? Nếu có thì ranh giới thời Lĩnh-Nam (40-43 sau Tây-lịch) quả tới hồ Ðộng-đình.

Vấn đề thứ sáu,

Năm 42, sau Tây-lịch, ba tướng thống lĩnh Kỵ-binh thời vua Trưng là Đào Chiêu-Hiển, Đào Đô-Thống, Đào Tam-Lang, đánh nhau với quân Hán tại Bồ-lăng thuộc Tượng-quận, vì quân ít, thế cô, ba ông tự tử. Vậy Bồ-lăng ở đâủ Có trận này không? Nếu có trận này thì ranh giới Lĩnh-Nam phía Tây quả tới Ba-thục (Tứ-xuyên.)

Thưa Quý-vị,

Nhưng các sử gia gần đây (1900-1975) đều đặt nghi vấn rằng: Làm gì biên giới thời Văn-Lang rộng như vậỷ Nếu có chỉ ở vào phía Bắc biên giới Hoa-Việt hiện nay trăm cây số là cùng. Lại cũng có những người dốt nát (1975-1991), không đủ sách đọc, không theo kịp sự tiến triển của y học, họ chỉ đọc những tài liệu sai lầm, rồi họ như con ngựa kéo xe, chỉ biết có vậy, chúng tôi thấy họ ngu dốt quá, nên không trả lời, cũng như giải thích.

Tôi căn cứ vào những chứng trạng trên mà đi tìm nguồn gốc.

V. ÐI TÌM BIÊN GIỚI NƯỚC VĂN- LANG

1. Núi Ngũ-lĩnh

Cuối năm Canh-Thân (1980) tôi lấy máy bay đi Bắc-kinh, rồi đổi máy bay ở Bắc-kinh đi Trường-sạ Trường-sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-nam. Tất cả di tích của tộc Việt như hồ Động-đình, núi Tam-sơn, núi Ngũ-lĩnh, sông Tương, Thiên-đài, Tương-đài, cánh đồng Tương đều nằm ở tỉnh nàỵ

Tôi đi nghiên cứu với một thư giới thiệu của giới chức cao cấp y học Pháp-Hoa (CMFC). Có một sự hiểu lầm lớn, vì trong thư giới thiệu các giới chức y-khoa chỉ xin được giúp đỡ cho tôi, nên khi tôi muốn tiếp xúc với sở du-lịch, ty văn hóa địa phương, họ đều tưởng tôi tới Trường-sa để nghiên cứu sự cấu tạo hình thể cùng bệnh tật dân chúng tại đâỵ Thành ra tôi bị mất khá nhiều thì giờ nghe thuyết trình của các đồng nghiệp về vấn đề nàỵ Tôi cư ngụ trong khách sạn Trường-sa tân điếm nằm trên đại lộ Nhânđân.

Tôi mua cuốn địa phương chí mới nhất của tỉnh, rồi mò vào thư viện ty văn hóa, sở bảo vệ cổ-tích, đại-học văn-khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay những sinh viên văn khoa cũng ít ai ghé mắt tớị

Đầu tiên tôi đêi tìm núi Ngũ-lĩnh. Không khó nhọc, tôi thấy ngay đó là năm dãy núi gần như ngăn đôi Nam, Bắc Trung-quốc

Một là Ðạiđữu lĩnh.

Hai là Quếđương, Kỳ-điền lĩnh.

Ba là Cửu-chân, Ðô-lung lĩnh.

Bốn là Lâm gia, Minh-chữ lĩnh.

Năm là Thủy-an, Việt-thành lĩnh.

Về vị trí:

Ngọn Thủy-an, Việt-thành chạy từ tỉnh Phúc-kiến, đến huyện Tuần-mai tỉnh Quảng-đông.

Ngọn Ðạiđữu chạy từ huyện Ðạiđữu (Nam-an), tỉnh Giang-Tây đến huyện Nam-hùng tỉnh Quảng-đông.

Ngọn Cửu-chân, Ðô-lung chạy từ Ðạo-huyện tỉnh Hồ-nam tới Gia- huyện tỉnh Quảng-tâỵ

Ngọn Lâm-gia, Minh-chữ chạy từ Lâm-huyện tỉnh Hồ-Nam đến Liên-huyện tỉnh Quảng-Ðông.

Ngọn Quếđương từ Toàn-huyện tỉnh Hồ-nam tới huyện Quế-lâm tỉnh Quảng-tâỵ

Lập tức tôi thuê xe đi một vòng thăm các núi nàỵ Tôi đi mất mười ngày, trải gần 15.000 cây số.

Như vậy là Ngũ-lĩnh có thật, nay có núi đã đổi tên, có núi vẫn giữ tên cũ. Một câu hỏi đặt ra: Tại sao khi vua Minh phân chia từ Ngũ-lĩnh về Nam thuộc Lộc-Tục mà lĩnh địa Việt tới hồ Động-đình, mà hồ ở phía Bắc núi đến mấy trăm cây số. Tôi giải đoán như thế này:

Một là vua Minh tế trời ở trên núi Ngũ-lĩnh là nơi người gặp tiên rồi chia địa giớị Nhưng bấy giờ dân chưa đông, mà sông Trường-giang rộng mênh mông, sóng lớn quanh năm nên vua Nghi chỉ giữ từ Bắc ngạn mà thôị Còn vua KinhĐương thì sinh trưởng ở vùng này, lại nữa lấy con vua Ðộng-đình (một tiểu quốc), nên thừa kế luôn vùng đất của nhạc giạ

Hai là dân chúng Nam-ngạn Trường-giang với vùng Nam Ngũ-lĩnh vốn cùng một khí hậu, phong tục, nên họ theo về Nam không theo về Bắc, thành thử hồ Ðộng-đình mới thuộc lãnh địa Việt.

Kết luận:

“Quả có núi Ngũ-lĩnh phân chia Nam, Bắc Trung-quốc hiện thời, vậy có thể núi này đúng là nơi phân chia lãnh thổ Văn-Lang và Trung-Quốc khi xưạ”

Ánh sáng đã soi vào nghi vấn huyền thoạị

2. Thiên-đài nơi tế cáo của vua Minh

Tương truyền vua Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi Quếđương, phân chia lãnh thổ Lĩnh-Bắc tức Trung-Quốc, Lĩnh-Nam tức Đại-Việt. Đàn tế đó gọi là Thiên-đàị Nhưng dãy núi Quếđương có mấy chục ngọn núi nhỏ không biết ngọn Thiên-đài là ngọn nàỏ Trên bản đồ không ghị Sau tôi hỏi thăm dân chúng thì họ chỉ cho tôi thấy núi Thiên-đài nằm gần bên bờ Tương-giang. Điều này dễ hiểu, tỷ như ngày nay, du khách nhìn bản đồ sẽ không thấy địa điểm Sài-gòn. Nhưng trong dân chúng, họ vẫn nhớ tên cũ.

Tôi đi thăm Thiên-đàị

Thiên-đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy chùa được cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ trì. Chùa xây bằng gạch nung, mái lợp ngóị Lâu ngày chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gạch bị mòn nhiều chỗ gần như lún sâụ Duy nền với cổng bằng đá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị bong rạ Bên trong cột kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiềụ Những câu đối, chữ còn, chữ mất.

Tại thư viện Hồ-nam tôi tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Ðầu đề ghi:

Thiên-đài di sự lục

Trinh-quán tiến sĩ Chu Minh-Văn soạn.

Trinh-quán là niên hiệu của vua Đường Thái-Tông, từ năm Đinh-Hợi (627) đến Đinh-Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến-sĩ năm nàỏ

Tuy sách do Chu Minh-Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang-Hỵ Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh-Văn sọan, phần chép tiếp theo Chu Minh-Văn, của một sư ni tên Đàm-Chi, không rõ chép vào bao giờ.

Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang-Hy (1662-1772). Chu Minh-Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loaị văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ-thư, Ngũ-kinh cùng kinh Phật. Nhân viên quản thủ thư viện thấy tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng, tôi chỉ được học loại văn đó vào hồi sáu, bảy tuổi thì ông sẽ hết phục. Tài liệu Chu Minh-Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc-Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên-đài núi cũng mang tên Thiên-đài sơn, Minh-Văn còn kể thêm:

“Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên-đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh-Đương. Đến thời Đông-Hán, một tướng của vua Bà tên Đào Hiển-Hiệu được lệnh rút khỏi Trường-sạ Khi rút tới Quếđương ông cùng nghìn quân lên Thiên-đài lễ, nghe người giữõ đền kể sự tích xưạ Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm đươc núị Về đời Đường để xóa vết tích Việt-Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ Lĩnh-Nam mới cho xây chùa tại đâỵ”

Tôi biết vua Bà là vua Trưng, còn tướng Ðào Hiển-Hiệu là em con chú của Bắc-bình vương Ðào Kỳ. Ngài Ðào Kỳ lĩnh chức Ðại Tư-mã thời vua Trưng. Còn tướng Ðào Hiển-Hiệu tước phong quốc công, giữ chức Hổ-nha đại tướng quân. Nữ tướng Hoàng Thiều-Hoa chỉ huy trận rút lui khỏi Trường-sa, hồ Ðộng-đình, đã sai Hiển-Hiệu đi cản hậu, đóng nút chặn ở Thiên-đài, đợi quân Lĩnh-Nam rút hết, sẽ rút saụ Nhưng Hiển-Hiệu cùng chư quân lên núi thấy di tích thời Quốc-tổ, Quốc-mẫu, đã không chịu lui quân, tử chiến, khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đâỵ

Ngoài cổng chùa có hai đôi câu đối:

Thoát thân Nam thành xưng sư tổ,

Thọ pháp Tây-thiên diễn Phật- kinh.

Hai câu này ngụ ý ca tụng Thái-tử Tất-Ðạt-Ða đang đêm ra khỏi thành đi tìm lẽ giải thoát sau đó đắc pháp ở Tây-thiên, đi giảng kinh.

Tam bảo linh ứng, phong điều vũ thuận,

Phật công hiển hách quốc thái an dân.

Hai câu này là ngụ ý nói: Tam bảo linh thiêng, khiến cho mưa thuận, gió hòa đó là công lao của nhà Phật khiến quốc thái dân an.

Nơi có dấu vết Thiên-đài, còn đôi câu đối khắc vào đá:

Thiên-đài đại đại phân Nam, Bắc.

Lĩnh địa niên niên dữ Việt-thường.

Nghĩa là: Từ sau vụ vua Minh tế cáo ở đây, đài thành Thiên-đài, biết bao đời phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ-lĩnh năm này qua năm khác với giòng giống Việt-thường.

Chỗ miếu thờ của Ðào Hiển-Hiệu có đôi câu đối:

Nhất kiếm Nam-hồ kinh Vũ-đế,

Thiên đao Bắc-lĩnh trấn Lưu Long.

Nghĩa là: Một kiếm đánh trận ở phía Nam hồ Ðộng-đình làm kinh tâm vua Quang-Vũ nhà Hán. Ý chỉ nữ tướng Phật-Nguyệt đánh bại Mã Viện ở phía Nam hồ Ðộng-đình. Một nghìn tay đao do Hiển-Hiệu thủ ở Bắc núi Ngũ-lĩnh trấn Lưu Long.

Kết luận:

“Như vậy việc vua Minh tế cáo trời đất là có thật. Vì có Thiên-đài nên thời Lĩnh-Nam mới có trận hồ Động-đình. Hai sự kiện đó chứng tỏ lãnh địa thời vua Trưng cũng như Văn-Lang xưa qủa tới Ngũ-lĩnh, hồ Động-đình.”

3. Cánh đồng Tương

Nhắc lại: Có hai huyền sử nói về cánh đồng Tương:

Một là Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn năm mươi con lên núi, mỗi năm tái hội nhau trên cánh đồng Tương một lần.

Hai là Quốc-tổ, Quốc-mẫu truyền các hoàng tử đi khắp bốn phương quy dân lập ấp, mỗi năm hội tại cánh đồng Tương một lần.

Tôi đoán:

Cả hai vị Quốc-tổ KinhĐương, Lạc-Long sau khi kết hôn đều đem Quốc-mẫu lên núi Tam-sơn trên hồ Ðộng-đình hưởng thanh phúc ba năm. Vậy thì cánh đồng Tương sẽ gần đâu đó trên hồ Ðộng-đình.

Phía Nam hồ Ðộng-đình là sông Tương-giang, chảy theo hướng Nam-Bắc dài 811 km, lưu vực tới 92500km2, chẻ đôi tỉnh Hồ-nam với Quảng-tâỵ Vậy cánh đồng Tương sẽ nằm trong lưu vực Tương giang.

Tôi thuê thuyền đi từ cảng Dương-lâm nơi xuất phát ra Tương-giang là hồ Động-đình, xuống Nam, qua Tương-âm, tôi dừng lại, nghiên cứu địa thế cùng thăm chùa Bạch-mã. Đây là địa phận quận Íchđương.Vô tình tôi tìm ra một nhánh sông Âu-giang và một cái hồ rất lớn, vào mùa nước lớn rộng tới 4-5 mẫu, vào mùa nước cạn chỉ còn 2-3 mẫu mà thôị Suốt lộ trình từ hồ Động-đình trở xuống, trên cửa sông Tương cũng như hai bên bờ chim Âu bay lượn khắp nơị Đặc biệt trên Âu-giang, Âu-hồ, giống chim này càng nhiều vô kể. Từ Âu-giang, tôi trở lại sông Tương, xuôi tới Trường-sa thủ phủ của Hồ-nam rồi tới các quận lỵ Tương-đàm, Chu-châu, Hànhđương, Quếđương.

Không khó nhọc tôi tìm ra:

“Cánh đồng Tương, tức là vùng trũng phía Tây-ngạn, giới hạn phía Bắc là hồ Động-đình, Nguyên-giang. Phía Nam là Linh-lăng, Hành-giang. Phía Tây là vùng Chiêuđương, Lãnh-thủỵ Nhưng nay cánh đồng Tương chỉ còn khu vực tứ giác: Tương-giang, Nguyên-giang, Liên-thủy, Thạch-khê-thủy”

Sau khi tìm ra cánh đồng Tương, Thiên-đài, cùng những đàn chim âu, tôi giải đoán như thế này:

« Quốc-tổ Lạc Long kết hôn với công chúa con Đế-Lai, hẳn công chúa cũng có tên. Nhưng vì lâu ngày người ta không nhớ được tên ngài, nên đã lấy con chim Âu, rất hiền hòa, xinh đẹp ở vùng hồ Động-đình, Tương-giang mà gọi là Âu-Cơ (Cơ là vợ vua). Vì người ta gọi Quốc-mẫu là Âu-Cơ, thì họ nghĩ ngay đến Quốc-mẫu sinh đẻ. Khi chim Âu đẻ thì phải đẻ ra trứng. Còn con số một trăm, là con số triết học Việt-Hoa dùng để chỉ tất cả. Như trăm bệnh là tất cả các bệnh, trăm họ là toàn dân. Trăm con có nghĩa là tất cả dân ttrong nước đều là con Quốc-mẫu »

Kết luận:

« Đã có cánh đồng Tương, thì chuyện Quốc-tổ, Quốc-mẫu hẹn mỗi năm hội tại đây một lần là có. Khi sự kiện có núi Ngũ-lĩnh, có Thiên-đàị Nay chứng cớ được kiểm điểm, thì lãnh địa của tộc Việt xưa quả tới hồ Động-đình ».

4. Hồ Ðộng-đình và Tam-sơn

Hồ Động-đình nằm ở phía Nam sông Trường-giang. Hồ được coi như nơi phát tích ra tộc Việt. Địa khu Bắc sông Trường-giang được gọi là tỉnh Hồ-bắc, tức đất Kinh-châu thuở xưạ Địa khu phía Nam sông Trường-giang được gọi là tỉnh Hồ-nam. Hồ Động-đình nằm trong tỉnh Hồ-nam. Hồ thông với sông Trường-giang bằng hai con sông. Cho nên người ta coi hồ như nơi chứa nước sông Trường-giang, rồi đổ vào Tương-giang. Trên Bắc-ngạn hồ có núi Tam-sơn. Tôi đã lên đây ba lần.

Tương truyền các các nữ tướng thời vua Trưng như Trưng-Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan đánh chiếm Trường-sa vào ngày đầu năm, vì vậy tôi cũng tới đây vào dịp này để thấy rõ phong cảnh, rồi tả trận đánh trong bộ Cẩm-khêđi-hận (6). Hồ rộng 3915 cây số vuông, độ sâu về mùa cạn là 38,5 mét, về mùa nước lớn là 39,20 mét. Tra trong chính sử thì quả hồ Động-đình thuộc lãnh địa Văn-Lang. Như trên đã nói, triều đại Thần-Nông Bắc đến đời vua Du-Võng thì mất vào năm 2696 trước Tây-lịch, chuyển sang thời đại Hoàng-Đế. Sử gia Trung-Quốc cho rằng Hoàng-Đế là tổ lập quốc.

Nói theo triết học Tây phương thì vua Du-Võng gốc từ Thần-Nông thuộc nông nghiệp cư trú trong vùng đồng bằng ở phương Nam lấy hỏa làm biểu hiệu nên còn gọi là Viêm-đế. Còn vua Hoàng-đế gốc ở dân du mục, săn bắn, từ phương Bắc xuống. Dân du mục nghèo, nhưng giỏi chinh chiến. Dân nông nhiệp giàu nhưng không giỏi võ bị nên bị thuạ Bộ Sử-ký của Tư-mã-Thiên, quyển 1, Ngũ-đế bản kỷ chép rằng:

«…Thời vua Hoàng-đế, họ Thần-Nông (Bắc) đã suy, chư hầu chém giết lẫn nhau, khiến trăm họ khốn khổ vô cùng. Triều Thần-Nông không đủ khả năng chinh phục. Vua Hiên-Viên Hoàng-Đế thao luyện can qua, chinh phục những chư hầu hung ác. Vì vậy các nơi theo về rất đông. Trong các chư hầu thì Suy-Vưu mạnh nhất.

Vua Du-Võng triều Thần-Nông định đem quân xâm lăng chư hầu, nhưng chư hầu chỉ tuân lệnh Hoàng-Đế. Vua Hoàng-Đế tu sửa đức độ, luyện tập binh mã, vỗ về trăm họ, giúp đỡ bốn phương, luyện tập thú dữ rồi đại chiến với vua Du-Võng ở Bản-tuyền, thành công.

Suy-Vưu làm lọan, không tuân đế hiệụ Hoàng-Đế triệu tập chư hầu cùng Suy-Vưu đại chiến ở Trác-lộc, bắt sống Suy Vưụ Chư hầu tôn ngài làm Thiên-tử thay họ Thần-Nông. Trong thiên hạ nơi nào không thuận vua Hoàng-Đế đem quân chinh phục.

Lãnh thổ của Hoàng-Đế, Đông tới biển, vùng núi Hoàn-sơn, Đại-tông. Phía Tây tới núi Không-động, Kê-đầụ Nam tới Giang, Hùng, Tương… »(7)

Sông Giang đây tức là sông Trường-giang, Hùng đây tức là Hùng-nhĩ-sơn, Tương là Tương-sơn. Bùi Nhân đời Tống lập giải Sử-ký nói rằng Tương-sơn thuộc Trường-sạ

Kết luận:

“Từ chính sử, huyền-sử đều cho biết lĩnh địa Văn-lang tới hồ Động-đình. Khi vua Hoàng-Đế dứt triều Thần-Nông Bắc, thì triều Thần-Nông Nam tức họ Hồng-bàng còn kéo dài đến 2439 năm nữạ Lãnh thổ Trung-quốc thời Hoàng-Đế cũng chỉ tới sông Trường-giang. Phía Nam bao gồm Trường-sa, hồ Động-đình vẫn thuộc Văn-lang.”

Khi chính sử ghi chép như vậy thì việc Quốc-tổ, Quốc-mẫu với hồ Ðộng-đình, núi Tam-sơn không còn là huyền thoại nữạ Vậy chuyện các ngài lên núi hưởng thanh phúc nên ghi vào chính sử.

5. Biên giới lĩnh địa tộc Việt thế kỷ 2 trước Tây lịch

Sử Hán là bộ Sử-ký của Tư-mã Thiên. Sử Việt như bộ Ðại-Việt sử ký toàn thư, Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục, đều ghi rằng vào thế kỷ thứ nhì trước Tây-lịch, thời Triệu Ðà cai trị lĩnh địa tộc Việt, biên giới vẫn còn ở vùng Trường-sa, hồ Ðộng-đình.

Sử Hán, sử Việt đều chép chi tiết giống nhau về vụ Triệu Ðà lập quốc ở lãnh thổ Lĩnh-Nam. Tần Thủy- Hoàng sai Ðồ Thư mang quân sang đánh Âu-lạc, chiếm được vùng đất phía Bắc, lập làm ba quận:

Nam-hải (Quảng-đông và một phần Phúc-kiến),

Quế-lâm (Quảng-tây, Hồ-nam và một phần Quí châu),

Tượng-quận (Vân-nam và một phần Quý-châu).

Vua An Đương sai Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung và Cao-cảnh hầu Cao Nỗ đem quân chống, giết được Ðồ Thư và tiêu diệt nữa triệu quân Tần. Tuy vậy vua AnĐương cũng không chiếm lại vùng đất đã mất.

Sau nhân thời thế loạn lạc, một viên quan Tần là Triệu Đà trấn vùng Nam-hải, đem quân chiếm vùng Tượng-quận, Quế-lâm, rồi dùng gián điệp trong vụ án Mỵ-Châu, Trọng-Thủy mà chiếm được Âu-lạc lập ra nước Nam-Việt. Lãnh thổ nước Nam-Việt bao gồm những vùng nào ? Không một sử gia nào chép rõ ràng. Nhưng cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cũng có thể biết rằng lãnh địa Nam-Việt là lãnh địa thời Văn-lang.

Trong khi Triệu Đà lập nghiệp ở phương Nam, thì cuộc nội chiến ở phương Bắc chấm dứt. Hạng Vũ, Lưu Bang diệt Tần, rồi Lưu Bang thắng Hạng Vũ lập ra nhà Hán. Lưu Bang lên ngôi vua sai Lục Giả sang phong chức tước cho Triệu Đà. Đúng ra Triệu Đà cũng không chịu thần phục nhà Hán, nhưng họ hàng thân thuộc, mồ mả của Triệu Đà đều ở vùng Chân-định. Đà sợ nhà Hán tru diệt họ hàng, cùng đào mồ cuốc mả tổ tiên lên mà phải lùi bước.

Năm 183 trước Tây-lịch, Cao-tổ nhà hán là Lưu Bang chết, Lã-hậu chuyên quuyền cấm bán hạt giống, thú vật cái, kim khí sang Nam-Việt. Triệu Đà không thần phục nhà Hán, rồi đem quân đánh Trường-sa, Nam-quận.

Kết luận:

“Trường-sa là quận biên cương của Hán. Vậy ít nhất lãnh thổ Nam-Việt, Bắc tới Trường-sạ Nam quận là quận ở phía Bắc sông Trường-giang. Mà Nam-quận là quận biên cương Hán, thì biên giới Nam-Việt ít nhất tới Nam-ngạn sông Trường-giang”

6. Lĩnh địa thời vua Trưng

6.1. Vua Bà của Trung-quốc là vua Trưng

Trong những năm 1978-1979 khi dẫn phái đoàn Ủy-ban y học Pháp-Hoa (CMFC) đi trao đổi tại các tỉnh cực Nam Trung-Quốc như Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam, Quý-châu và Tứ-xuyên… tôi thấy khắp các tỉnh này, không ít thì nhiều đều có đạo thờ vua Bà. Nhưng tôi không tìm được tiểu sử vua Bà ra saọ Ngay những cán bộ Trung-quốc ở địa phương, họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cũng chỉ biết lờ mờ vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp năm tỉnh, tôi ghi chú được hơn trăm đền, miếu thờ những tướng lĩnh thời vua Bà.

Bấy giờ tôi lại tìm thấy ở Hồ-nam, nhiều di tích về đạo thờ vua Bà hơn. Tại thư viện bảo tồn di tích cổ , tôi tìm thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn vào thế kỷ thứ tám chép sự tích nữ vương Phật Nguyệt như sau:

« Ngày xưa, Ngọc-hoàng Thượng-đế ngự trên điện Linh-tiêu, có hai công chúa đứng hầụVì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc-hoàng Thượng-đế nổi giận đầy hai công chúa xuống hạ giớị Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày thì Tiên-lại giữ sổ tiên-giới tâu rằng có 162 tiên đầu thai xuống theo hai công chúạ Ngọc-hoàng Thượng-đế sợ công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh-y đồng tử đầu thai để theo dẹp loạn. Thanh-y đồng tử sợ địch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không dám đị Ngọc-hoàng Thượng-đế truyền Nhị thập bát tú đầu thai theọ

Thanh-y đồng tử sau là vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần võ tướng đời Ðông-Hán.

Còn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao-chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, thông minh quán chúng, có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi-Sách.

Thi-Sách làm phản, bị Thái-thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung-quốc ở phía Nam sông Trường-giang: Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận, Nam-hảị Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là vua Bà.

Quang-Vũ nhà Hán sai Phục-ba tướng quân Tân-tức hầu Mã Viện. Long-nhương tướng quân Thận-hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng-đình. Mã Viện, Lưu Long bị bạịVua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bạị Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga-mi, một tay nhổ núi Thái-sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường-giang, hồ Ðộng-đình, oán khí bốc lên tới trờị

Ngọc-hoàng Thượng-đế sai thiên-binh, thiên-tướng trợ chiến cũng bị bạị Ngài phải sai thần Du Liệt sang Tây phương cầu cứu Phật Như Laị Ðức Phật sai mười tám vị Kim-cương, ba ngàn La-hán trợ chiến cũng bị bạị Cuối cùng ngài truyền Quán Thế Âm bồ tát tham chiến. Nữ vương Phật-Nguyệt với Quan-Âm đấu phép ba ngày ba đêm, bất phân thắng bạị Sau Quán Thế Âm thuyết pháp nữ vương Phật Nguyệt giác ngộ, bỏ đi tụ

Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng đôi câu đối:

Tích trù Ðộng-đình uy trấn Hán,

Phương lưu thanh sử lực phù Trưng

(Một trận Ðộng-đình uy trấn Hán

Tên còn trong sử sức phù Trưng).

Bỏ ra ngoài những huyền hoặc về Nữ-vương Phật-Nguyệt, tài liệu chứng minh: Đạo thờ vua Bà tại năm tỉnh Nam Trung-quốc là di tích của lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của tộc Việt trên lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lạị Vua Bà mà người Trung-hoa thờ như một thứ tôn giáo, chính là vua Trưng.

Kết luận:

“Khi đã có nữ tướng Phật Nguyệt đánh trận Trường-sa, hồ Động-đình. Mà có trận hồ Động-đình thì lãnh thổ thời Lĩnh-Nam, phía Bắc quả tới phía Nam sông Trường-giang.”

6.2. Quả có trận Trường-sa, hồ Ðộng-đình năm 39 sau Tây-lịch

Huyền sử (những cuốn phổ) nói rằng: Khi bà Trưng Nhị cùng các tướng Trần Năng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh Trường-sa vào đầu năm Kỷ-Hợi (39 sau Tây-lịch). Trong trận đánh này, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, được mai táng ở ghềnh sông Thẩm-giang (8). Thẩm-giang chính là đọan sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với hồ Động-đình. Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn nói rằng: Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu-Lan. Năm 1980 tôi đến đây tìm hiểụ Không khó nhọc tôi tìm ra trong cuốn địa phương chí, do sở du lịch Trường-sa cấp, một đoạn chép:

« Miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu-Lan ở đầu sông Tương. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủỵ Tượng đồng bị nấu rạ Vệ binh đỏ phá luôn cả bia đá ».

Tôi tìm tới nơi, thì miếu chỉ còn lại cái nền bằng đá ong, mộ vẫn còn.(9)

Kết luận:

“Thời Lĩnh-Nam quả có việc Trưng Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh trận Trường-sạ Trong trận, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tuẫn quốc. Khi có trận đánh này, thì lãnh địa thời Lĩnh-Nam quả gồm có hồ Trường-sa, hồ Động-đình.”

6.3. Quả có trận Bồ-lăng, năm 42 sau Tây-lịch

Huyền sử kể rằng: ba tướng họ Đào là Chiêu-Hiển, Đô Thống và Tam-Lang được vua Trưng trao cho trấn tại Tượng-quận (Vân-nam) . Nhưng vì quân ít, thế cô, ba ông không chống lại với quân Hán, do Vương Bá chỉ huỵ Ba ông đã tự tận. Hiện tại đền thờ của ba ông có đôi câu đối:

Tượng-quận dương uy nhiêu tướng lược,

Bồ-lăng tuẫn tiết tận thần trung.

Nghĩa là:

Trận Tượng-quận dương oai, rõ tài tướng giỏị

Bến Bồ-lăng tuẫn tiết, tỏ ra thần trung.

Hầu hết các sử gia đều cho rằng: Bồ-lăng tức là bến Bồ-đề, ngoại ô Thăng-long. Vả lãnh thổ Việt-Nam hồi đó đâu có rộng vậỷ

Tôi không tin lý luận nàỵ Tôi quyết có trận Tượng-quận. Vì saỏ Vì ba ngài chiến đấu tại Tượng-quận, khi Tượng-quận thất thủ, tuẫn tiết thì tuẫn tiết tại chỗ, có đâu rút từ Tượng-quận về tới Long-biên (Hà-nội) trải mấy nghìn cây số, rồi mới tự tử? Vả cái tên bến Bồ-đề mới xuất hiện vào năm 1427-1428 khi vua Lê Thái-tổ vây Đông-đô (Thăng-long).

Vì vậy, trong dịp hè năm 1982, tôi cầm đầu phái đoàn CMFC sang Vân-Nam, Trung-quốc, để nghiên cứu về một giống trà có khả năng trị tuyệt chứng Cholestérol, Triglycéride… Lợi dụng dịp nhầy, tôi quyết tìm cho ra sự thực.

Thế là phái đoàn dùng tầu đi từ Độ-khẩu theo Kim-sa-giang (Trường-giang) qua Nam-khê, Giang-tân, Trùng-khánh, tới ngã ba sông Ô-giang, Trường-giang thì gặp bến Bồ-lăng.

Tại đây tôi được sở du-lịch chỉ cho xem miếu thờ ba vị thần, tướng của vua Bà. Nhưng họ không biết tên vua Bà cùng ba vị tướng. Cả vùng này có đạo thờ vua Bà (lên đồng). Hồi trước 1949 rất thịnh. Sau cách mạng Văn-hóa (1965-1967) miếu được cấp cho dân chúng ở. Hỏi hướng dẫn viên du lịch về vua Bà, họ chỉ cho biết vua Bà là người nổi lên chống tham quan thời Hán. Tôi đến thăm miếụ Miếu khá lớn, chủ hộ ở trong miếu trước đây là cán bộ Văn-hóa Bồ-lăng.

Trước miếu có nhiều câu đối, nay chỉ còn lại có bạ Ông chủ hộ khoe rằng để bảo tồn di tích văn hóa, hằng năm ông phải mua sơn tô chữ cho khỏi mất:

Khẳng khái, phù Trưng, thời bất lợi,

Ðoạn trường, trục Ðịnh, tiết… can vân.

Nghĩa là:

Khẳng khái phù vua Trưng, ngặt thời của Ngài không lâụ

Ðuổi được Tô Ðịnh, nhưng đau lòng thay, phải tự tận, khí tiết ngút từng mâỵ

Tôi xin vào trong miếu xem, thì bệ thờ nay là nơi vợ chồng ông nằm ngủ. Hai bên bệ cũng có đôi câu đốị

Giang-thượng tam anh phù nữ chúa,

Bồ-lăng bách tộc khốc thần trung.

Nghĩa là:

Trên sông Trường-giang, ba vị anh hùng phò tá nữ chúạ

Tại bến Bồ-lăng, trăm họ khóc cho các vị thần trung thành.

Ông chủ hộ thì cho rằng bách tộc là toàn dân Trung-quốc. Tôi giảng cho ông nghe về sự tích trăm con của Quốc-tổ, Quốc-mẫụ Vì vậy chữ bách tộc đây để chỉ người Việt. Ông thích lắm. Ông chỉ vào khoảng trống của hai cái cột thuật rằng trước kia cũng có đôi câu đối, nhưng bị vạc mất. Ông đề nghị tôi làm một đôi khác thay thế. Tôi nhờ hướng dẫn viên du lịch mua giùm hai hộp sơn. Một hộp sơn đỏ loại láng và một hộp loại thiếp vàng. Ông với tôi sơn cột mầu đỏ. Chiều hôm đó sơn đỏ khô, tôi trở lại viết bằng sơn thiếp vàng đôi câu đối có sẵn tại đền thờ ba ngài ở thôn Ngọc-động, huyện Gia-lâm, Hà-nội:

Tái Bắc tức chinh trần, công cao trục Định,

Bồ-lăng dương nộ lãng, nghĩa trọng phù Trưng.

Nghĩa là:

Ải Bắc yêu gió bụi can qua, công cao đuổi Tô Định.

Bồ-lăng nổi bao đào, nghĩa nặng phù vua Trưng.

Kết luận:

Như vậy thì quả có trận Tượng-quận. Mà có trận Tượng-quận thì biên giới Lĩnh-Nam hồi ấy giáp Ba-Thục, tức Tứ-xuyên ngày naỵ

7. Nghiên cứu những khai quật

Vào những năm 1964-1965, giáo sư luật khoa Vũ Văn Mẫu đang sọan thảo tài liệu về cổ luật Việt-Nam. Người giúp giáo sư Mẫu đọc sách cổ là Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác. Cụ Giác tuy thông kinh điển, thư tịch cổ, nhưng lại không biết ngoại ngữ, cùng phương pháp phân tích, tổng hợp Tây-phương. Cụ giới thiệu tôi với giáo sư Mẫụ Tôi đã giúp giáo sư Mẫu đọc, soạn các thư tịch liên quan đến cổ luật.

Chính vì vậy tập tài liệu « Cổ-luật Việt Nam và tư pháp sử » có chương mở đầu «Liên hệ giữa nguồn gốc dân tộc và Cổ luật Việt-Nam » (10). Bấy giờ tôi còn trẻ, không đủ tài liệu khai quật của Trung-Quốc, của Bắc Việt-Nam, và bấy giờ những lý thuyết về ADN chưa có hệ thống, nên có nhiều chi tiết sai lầm. Hôm nay đây, tôi xin lỗi anh linh Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác, anh linh giáo sư Vũ Văn-Mẫụ Tôi xin lỗi các vị đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi các sinh-viên về những sai lầm đó.

Triều đại Hồng-Bàng thành lập từ năm 2879 năm trước Tây-lịch, tương đương với thời đại đồ đá mài (le néolithique), tức cuối thời đại văn-hóa Bắc-sơn (11). Trong những khai quật về thời đại này tại Bắc-Việt, Đông Vân-Nam, Quảng-Đông, Hồ-Nam, người ta đều tìm được những chiếc rìu thiết diện hình trái soan, trong khi tại Nhật, Bắc Trường-giang chỉ tìm được lọai rìu thiết diện hình chữ nhật, chứng tỏ vào thời đó có một thứ văn hóa tộc Việt giống nhaụ

Sang thời đại văn-hóa Đông-sơn (12) hay đồ đồng (âge de bronze). Trong thời gian này đã tìm được trống đồng Đông-sơn trên bờ sông Mã (Thanh hóa). Sự thật trống đồng đã tìm thấy ở toàn bộ các tỉnh Nam Trường-giang như Hồ-nam, Quý-châu,Vân-nam, Quảng-đông, Quảng-tây, Namđương, Lào (13), Bắc và Trung-Việt. Nhưng ở Namđương, Lào rất ít. Nhiều nhất ở Bắc-Việt, rồi tới Vân-nam, Lưỡng-quảng. Phân tích thành phần gần như giống nhaụ

Ðồng 53%,

Thíếc 15-16%,

Chì 17-19%,

Sắt 4%.

Một ít vàng bạc.

Khảo về y-phục, mồ mả, răng xương trong các ngôi mộ, qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất sau Tây-lịch, tôi thấy trong các vùng Nam Trường giang cho đến Trung Bắc-Việt, cùng Lào, Thái đều giống nhaụ Bây giờ dùng hệ thống ADN kiểm những bộ xương, kiểm máu người sống, chúng tôi đã biện biệt được sự khác biệt vào thời Việt, Hoa lập quốc.

Kết luận,

“Tộc Việt quả có lĩnh địa Bắc tới hồ Ðộng-đình, Tây tới Tứ-xuyên như cổ sử nói”

8. Tổng kết

Sáu vấn đề tôi nêu ra ở trên, rồi đi tìm, tất cả đều còn đầy đủ di tích.

Như vậy: Biên giới cổ của nước Việt-Nam, với các triều đại Hồng-bàng, Âu-lạc, Lĩnh-Nam phía Bắc quả tới hồ Ðộng-đình, phía Tây giáp Tứ-xuyên.

V. KẾT LUẬN

Thưa Quý-vị

Quý-vị đã cùng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoại, huyền sử, cổ sử, cùng triết học, cho tới tin học, y học để tìm về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, về biên giới cổ của tộc Việt.

Trong chính sử Trung-quốc, Việt-Nam đều ghi rõ ràng nguồn gốc tộc Việt, nhưng cái nguồn gốc đó căn cứ vào cổ thư của người Trung-hoa, nên hoàn toàn sai lạc. Bởi cổ thư cho rằng người Trung-hoa tự sinh ra, rằng người Việt chẳng qua do những người Trung-hoa di chuyển xuống lưu ngụ. Sự thực nhờ hệ thống ADN, chúng ta biết rằng chính những người ở châu Phi đến Đông Nam-á trước, rồi di chuyển lên Hoa-Nam. Tại Hoa-Nam giống người này lại hợp với giống người từ châu Phi sang châu Âu, rồi từ châu Âu vào Trung-á, hợp với người ở Hoa-Nam mà thành tộc Hán.

Nhưng ngược lại, do cổ thư Trung, Việt, hay do ADN, chúng ta cũng biết rất rõ biên cương nước Việt thời mới lập quốc.

Hồi thơ ấu, tôi sống bên cạnh những nhà Nho, chỉ đọc sách chữ Hán của người Hoa, người Việt viết. Mà những sách này đều chép rằng tộc Việt gồm có trăm họ khác nhau, mang tên Bách-Việt. Những tên Âu-Việt, Lạc-Việt, Đông-Việt, Nam-Việt, Việt-Thường đều thuộc Bách-Việt cả. Cái tên trăm họ hay trăm Việt (Bách-Việt) phát xuất từ huyền thọai vua Lạc-Long sinh ra trăm con. Trăm có nghĩa là toàn thể, tất cả, chứ không hoàn toàn là con số như ta tưởng ngày nay (14).

Các vị cổ học, học cổ sử, rồi coi lĩnh địa tộc Việt bao gồm phía Nam sông Trường-giang lấy mốc là hồ Động-đình với sông Tương, núi Ngũ-lĩnh là đương nhiên. Chính hồi nhỏ, khi học tại trường Pháp, vào thời kỳ 13-14 tuổi, tôi chỉ được học vài trang ngắn ngủi về nguồn gốc tộc Việt, trong khi đó gia đình cho tôi đọc mấy bộ sử dài hàng mấy chục nghìn trang của Hoa, của Việt (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Pháp, Anh văn số trang gấp năm sáu). Chính tôi cũng nhìn nguồn gốc tộc Việt, lĩnh thổ tộc Việt tương tự như các nhà cổ học.

Nay tôi mới chứng minh được.

Phải chờ cho đến khi tôi ra trường (1964). Bấy giờ giáo sư Vũ Văn-Mẫu thạc-sĩ luật khoa nhờ Hoàng triều tiến-sỹ Nguyễn Sỹ-Giác sưu tầm tài liệu cổ luật. Cụ Giác học theo lối cổ, không biết những phương pháp quy nạp, tổng hợp nên giới thiệu giáo sư Mẫu với tôị Ngay từ lần đầu gặp nhau, mà một già, một trẻ đã có hai cái nhìn khác biệt.

Giáo sư Mẫu trên 50 tuổi mà lại có một cái nhìn rất trẻ, tôi mới có 25 tuổi lại có cái nhìn rất già về nguồn gốc tộc Việt. Qua cuộc trao đổi sơ khởi, bấy giờ tôi mới biết có rất nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc dân tộc Việt, mà các tác giả thiếu cái học sâu xa về cổ học Hoa-Việt đưa rạ Vì vậy tôi đã sưu tầm tất cả những gì trong thư tịch cổ, giúp giáo sư Mẫu đem viết thành tài liệu giảng dạỵ Nhưng sự sưu tầm đó không đầy đủ, vì chỉ căn cứ trên thư tịch cổ.

Nay tôi mới biết có quá nhiều sai lầm, tôi xin lỗi các đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi Quý-vị.

Hồi bấy giờ tôi sống ở Sài-gòn, thuộc Việt-Nam cộng-hòa đang là nước chống Cộng, nên tôi không thể sang Trung-Quốc, cũng như về Bắc tìm kiếm thêm tài liệụ Phải chờ đến năm 1976 làm việc cho CMFC, hàng năm dẫn các đồng nghiệp sang Trung-Quốc nghiên cứu, trao đổi y học, tôi mới có dịp tìm kiếm lại di tích xưa trong thư viện, trong bảo tàng viện, trên bia đá cùng miếu mạo, đền chùa và nhất là đến tại chỗ nghiên cứụ Gần đây nhờ các đồng nghiệp dùng hệ thống ADN, tôi mới biện biệt được nguồn gốc tộc Việt, biên cương thời lập quốc của tộc Việt.

Hôm nay tôi xin kết luận với các bạn rằng:

Người Trung-hoa không phải là con trời như những văn gia cổ của họ viết, dù ngày nay họ còn nghĩ như vậỵ

Họ cũng không tự sinh ra, rồi tản đi tứ phương.

Không hề có việc người Trung-hoa trốn lạnh hay vì lý do chính trị di cư xuống vùng đất hoang, tạo thành nước Việt.

Trong lịch sử quả có một số người Trung-hoa di cư sang Việt-Nam sau những biến cố chính trị. Như ngày nay người Việt di cư đi sống khắp thế giớị

Lại càng không có việc người Việt gốc từ dòng giống Mã-lai như một vài người ngố ngếch đưa ra

Theo sự nghiên cứu bắng hệ thống ADN, từ cổ, giống người Trung-hoa, do giống người từ Ðông Nam-á di lên. Những người Ðông Nam-á lại đến từ châu Phi qua ngả Nam-á vào thời gian hơn 20.000 năm trước.

Người châu Phi đến Bắc Trung-hoa do ngả Âu-châu rồi vào Trung-á, khoảng 15.000 năm. Rồi hai giống người này tạo thành tộc Hoạ

Tộc Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường-giang, xuống mãi vịnh Thái-lan.

Biên giới nước Việt thủa lập quốc gồm từ Nam sông Trường giang đến vịnh Thái-lan, Ðông tới biển. Tây tới Tứ-xuyên của Trung-quốc ngày nay

Ðến đây tôi xin phép các vị giáo sư, quý khách, các sinh viên cho tôi ngừng lờị Xin hẹn lại quý vị đến tháng 11-92 tôi sẽ trình bày trước quý vị về nguồn gốc triết Việt.

Trân trọng kính chào quý vị.

Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ,

Giám đốc Trung-quốc sự vụ

Tài liệu nghiên cứu chính:

SÁCH CHỮ HÁN

Tư Mã-Thiên, Sử ký, Trung-hoa thư cục Thượng-hải xuất bản 1959

Ban-Cố, Tiền Hán thư, Trung-hoa thư cục xuất bản 1959

Phạm Việp, Hậu Hán thư, Trung hoa thư cục xuất bản 1959.

Hoài Nam Tử, quyển 18, Trùng Hoa thư cục Ðài Bắc xuất bản, 1959.

Cố Dã-Vương, Ðịađư chí, Cẩm-chương thư cục xuất bản 1920.

Trần Luân-Quýnh, Hải quốc kiến văn lục, cổ bản, thư viện Paris.

Lê Quý-Ðôn, Phu-biên tạp lục, cổ bản của thư viện Paris.

Lê Quý-Ðôn, Ðại-Việt thông sử, cổ bản của thư viện Paris.

Phan huy-Ích, Lịch triều biến chương loại chí, cổ bản của thư viện Paris.

Quốc-sử quán, Hoàng-Việt địa dư chí, bản của thư viện Paris.

Quốc-sử quán, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản của thư viện Paris.

Ðịa đồ xuất bản xã, Trung-hoa nhân dân cộng hòa quốc phân tỉnh địa đồ tập, Bắc-kinh 1974.

Ðại học văn khoa Hồ-nam, Hồ-nam lịch đại khảo chứng 1980.

Cùng rất nhiều tài liệu không tác giả, lưu trữ tại thư viện, bảo tàng viện Hồ-nam, Quý-châu, Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-Nam.

SÁCH CHỮ PHÁP

Léonard Aurouseaụ La première conquête chinoise des pays anamites, BEFEO XXIII

Claude Madrolle, Le Tonkin Ancien, BEFEO, XXXVIỊ

SÁCH CHỮ VIỆT

Ðào Duy-Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt-nam, Hà-nội 1946.

Chữ Thời (thời gian, thời cơ …) trong Sấm rất là mập mờ bí hiểu, các nhà tiên tri biết trước mà đều muốn giấu kín không tiết lộ, chỉ vì những thế lực đen tối nắm được chữ thời sẽ rất nguy hiểm cho nhân loại, biết được thời cơ để “tiên hạ thủ vi cường” sẽ nắm chắc phần thắng.

Tham khảo lại một số bài phân tích suy luận về chữ THỜI trong Sấm Trạng, Sấm ký của một số tác giả để tìm hiểu thêm

THÂN DẬU NIÊN LAI KIẾN THÁI BÌNH

Xuân Đấu     8/17/2006

“Thân Dậu niên lai kiến thái bình”. Câu sấm nổi tiếng của cụ Trạng Trình gây niềm hy vọng lớn lao trong lòng người Việt mỗi độ xuân về. Con Khỉ đã chuyền cành đi mất, nhường chỗ cho Gà lại. Một năm Thân vừa qua với cuộc chiến tranh do Mỹ chủ động nhằm lật đổ bạo quyền Sadam Husseine, tuy chưa giúp mang lại hòa bình cho Iraq, nhưng người dân xứ sa mạc đầy dầu hỏa này tương đối dễ thở hơn. Dù dưới áp lực nặng nề của phiến quân, Iraq vẫn kiên quyết tiến tới một cuộc bầu cử mang tính chất dân chủ hầu tạo dựng hòa bình cho xứ sở của họ. Cuộc chiến diệt trừ phiến quân vẫn còn tiếp tục. Những cảnh giết người man rợ qua hình thức chặt đầu con tin và bom tự sát (suicide bombers) của bọn phiến quân khủng bố vẫn còn tiếp diễn, nhờ vậy ứng thêm với câu sấm của ngài Trình Quốc công là Thân phải thêm Dậu nữa mới kiến thái bình, nếu câu sấm này có tính cách toàn cầu. Một năm Thân chưa đủ, phải thêm năm Dậu mới hoàn hảo, mới hy vọng hết đi nạn khủng bố. Cuối năm Thân mà Mỹ tiếp tục đổ thêm quân vào Iraq, cho thấy quyết tâm của họ trong việc dứt điểm phiến quân và xây đắp hòa bình cho Iraq. Afghanistan (A-Phú Hản) có vẽ đở hơn, cũng đang trên đường tiến tới Hòa Bình sau khi chính quyền Taliban của xứ này bị lật đổ. Arafat của Palestine qua đời, tân tổng thống Mahmoud Abbas thay thế, được thủ tướng Do Thái gọi điện thoại chúc mừng và hứa sẽ hội kiến với điều kiện Palestine chấm dứt khủng bố. Tình hình Trung Đông nhờ đó có thể lắng dịu phần nào. Việt Nam tuy vẫn còn bị đặt dưới sự cai trị độc tài của Cộng sản và vẫn bị Hoa Kỳ xem là một trong những quốc gia cần quan tâm đặc biệt vì sự đàn áp tôn giáo và chà đạp nhân quyền của đảng qua guồng máy cai trị hiện nay; nhưng có vài triệu chứng cho thấy bạo quyền này đang nới lỏng tay dần. Mặc dù mục đích của sự nới lỏng là nhằm thu hút việc đầu tư của một số quốc gia trên thế giới hầu giới chức lãnh đạo Cộng sản tiếp tục tham nhũng; nhưng nhờ vậy, người dân trong nước dể thở hơn. Hành động chen chân vào cho bằng được tổ chức ASEAN năm 1995 là một bằng chứng cụ thể. Nên biết khối ASEAN được thành lập là nhằm chống lại sự bành trướng của Cộng sản; thế mà Việt Cộng vẫn xin vào, đủ cho thấy sự biến thể của chế độ đã cận kề. Việc mua phản lực cơ của Hoa Kỳ và cho phép United Airline đáp xuống phi trường Tân sơn Nhất là những dấu hiệu cho thấy sự sụp đổ dần dần nền kinh tế hoạch định, khép kín của Cộng sản. Ngày tàn của chế độ có thể không phải là một cuộc lật đổ chính quyền mà là sự mất dần ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản lỗi thời, của xã hội chủ nghĩa cổ hủ để nhường bước cho nền kinh tế thị trường tự do mang đầy tinh thần dân chủ. Ngày xưa, trước 1975, tôi thường thăm viếng hội Hồng Môn và thường được quý tu sĩ ở đây nhắc câu sấm của Trạng Trình: “Bất chiến tự nhiên thành” như là điều tiên đoán của họ về tình trạng đất nước sau này. Biết đâu câu sấm đó đang ứng nghiệm. Sự trở lại thân thiện với Hoa Kỳ của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam cho phép tôi chủ quan thêm. Sau khi bị Mỹ cấm vận hơn hai thập niên và sau khi Cộng sản Nga tan rã, Cộng sản Việt Nam ý thức rằng nếu tiếp tục kế hoạch kinh tế nghèo đói của họ, thế nào dân cũng loạn, cho nên họ phải van xin Hoa Kỳ. Biết đã đến lúc chín mùi, Hoa Kỳ cho bải bỏ cấm vận và tái thiết lập bang giao để đưa hai thứ vũ khí: thị trường kinh tế tự do cùng tình thần dân chủ của họ vào lại Việt Nam. Một khi dân hai miền, kể cả cán bộ nghèo đói của Cộng sản, nếm được mùi vị béo bở thơm ngon của các sản phẩm Hoa Kỳ và của các nước tự do khác trên thế giới thì thế nào cũng dần dần quên lãng những lời hứa cuội của Mác Lê nin, hay nói đúng hơn, quên đi cái gọi là thiên đường cộng sản họ được hứa khả. “Chủ nghĩa cộng sản tiêu diệt tư bản như chuyện tất nhiên” theo giọng điệu Karl Marx ở đâu không thấy, chỉ thấy các quốc gia tư bản ngày càng giàu, còn quốc gia cộng sản gần nửa thế kỷ nay vẫn nghèo đói, không đủ ăn, đến độ phải ngửa tay nhận viện trợ nhân đạo từ các quốc gia kia. Nhìn vào sự tan rã của khối Cộng sản Nga, ít nhiều gì chúng ta cũng rút tỉa được một vài bài học. Sự đột biến không phải tự dưng mà có. Nó đã âm ỉ từ lâu, từ cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh của công nhân thợ thuyền Ba Lan (1955), từ cuộc khởi nghĩa của nhân dân Hung Gia Lợi (1956), từ phong trào dân chủ của hiến chương Praha (1977), và phong trào Công Đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan vào đầu thập niên 80 (1981-1982). Dù các phong trào này bị đàn áp, nhưng ý thức dân chủ trong lòng người dân càng ngày càng bùng lên và lớn mạnh, để đến năm 1992, thì biến cố xảy ra với kết quả: liên bang Xô Viết hoàn toàn tan rã. Trung Hoa cũng vậy. Vụ Thiên An Môn với cuộc đàn áp dã man của chính quyền không làm nao núng tinh thần sinh viên và dân chúng. Ngược lại, ý thức tự do, dân chủ càng ngày càng lớn mạnh trong lòng người dân mà một cuộc nổi dậy lật đổ bạo quyền, hoặc một cuộc cải cách thay đổi ý thức hệ cùng guồng máy cai trị chỉ là kết quả tất nhiên trong tương quan nhân quả: “nước chảy đá mòn” mà thôi. Tây Tạng bị Trung Hoa thống trị trong mấy thập niên qua với mưu đồ tiêu diệt Phật giáo; nhưng chưa bao giờ người ta thấy Phật giáo Tây Tạng hưng thịnh trên thế giới như vậy. Đại Hàn, một nước bị hiểm họa Cộng sản và bị chia cắt như đất nước chúng ta trước 1975; nhưng với quyết tâm chống cộng và đấu tranh chống tập đoàn quân phiệt, Nam Hàn đã thành công trong việc dân chủ hóa đất nước. Nhà độc tài Suharto tháng 5 năm 1998 cũng đã bị dân chúng Indonesia lật đổ. Sadam Husseine, như đã nhắc đến ở trên, cũng bị Hoa Kỳ bắt tại Iraq và sắp ra tòa đền tội. Tình hình thế giới trong cái nhìn thoáng qua vừa rồi, đều mang một tính cách chung là: Cộng sản và độc tài, quân phiệt sớm muộn gì rồi cũng cáo chung. Ngược lại, tinh thần dân chủ, dù bị đàn áp, vẫn tiếp tục lớn mạnh. Tuy lớn chậm, nhưng chắc chắn. Đối với Việt Nam, sự thức tỉnh của một số cán bộ Cộng sản cùng sự tranh đấu của các nhà lãnh đạo Tôn giáo và các nhà trí thức trong việc bảo vệ nhân quyền, chống độc tài, độc đảng đã làm nẩy sinh tinh thần dân chủ trong lòng mọi người. Nền kinh tế của xã hội chủ nghĩa với các hình thức hợp tác xã lỗi thời, cùng sự kiện nhà nước quản lý doanh nghiệp đang dần dà chuyển mình sang kinh tế thị trường, cho thấy dấu hiệu của một sự thay đổi đang từ từ xảy ra. Cộng sản với thiên đường mù của thế giới đại đồng vì thế sẽ không còn tồn tại nữa. Làm sao tồn tại nỗi, khi mà nền kinh tế, cùng ý thức hệ của họ đang sáp lại gần với thế giới tự do và tư bản. Sự kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc mới đây của nhà cầm quyền Cộng sản, tuy nghịch lý và thiếu thành thật, nhưng cũng hé lộ dấu hiệu của ba chữ “kiến thái bình”. Nghịch lý ở điểm thay vì họ là người phải hòa giải với chúng ta mới đúng; nhưng họ lại kêu gọi ngược lại, chúng ta phải hòa giải với họ, kèm theo mấy lời hăm he trừng phạt những Việt kiều phản động qua nghị quyết 36 vừa mới ban hành. Sự kêu gọi hòa hợp hòa giải này chỉ mang một chủ đích duy nhất là muốn chúng ta đừng chống họ nữa, để yên cho họ tiếp tục bóc lột và đày đọa dân lành còn kẹt lại trong nước. Rất tiếc, việc làm này, họ tưởng là khôn khéo, lại tạo nên dấu hiệu: “kiến thái bình”. Tại sao như vậy? Cũng dể hiểu thôi! Mưu sâu thì họa thâm. Chính sự kêu gọi của họ, tuy không thực tâm, và chỉ muốn bày tỏ với thế giới thái độ yêu chuộng hòa bình giả tạo hầu thu hút đầu tư, vô tình tạo nên trong đầu óc dân chúng cùng cán bộ cộng sản một ước vọng sống chung hòa bình. Chính cái đòn hiểm độc này của họ trở lại hại họ một ngày không xa.

Một năm Thân vừa qua mới manh nha lập thuyết: “bất chiến tự nhiên thành”, phải chờ thêm năm Dậu nữa, để gà cất tiếng gáy ó o đánh thức toàn dân Việt Nam ở trong nước cũng như hải ngoại, thì ánh nắng hòa bình mới ló dạng. Kiến là thấy, nên thấy được những tia nắng hòa bình cũng đủ đảm bảo cho một ngày mai tươi sáng đích thực. Có lẽ phải thêm hai năm kế tiếp nữa là năm Tuất và Hợi đất nước mới hoàn toàn âu ca, thịnh vượng như hai câu sấm khác của Trạng Trình:

“Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày”

Cái khó khăn của sấm Trạng Trình hay các sấm ký, giáng bút khác mà tôi sắp trình bày là sự xác định thời gian. Ngài chỉ nói: “Thân, Dậu niên lai kiến thái bình”, nhưng không nói rõ Thân Dậu nào. Nếu Ngài cộng thêm thiên Can vào, chẳng hạn như Thân, Dậu phải là Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Thân, Quý Dậu, hay Mậu Thân, Kỷ Dậu, v.v… thì dễ cho chúng ta xác định thời gian biết bao. Song làm như vậy ngoài việc lậu thiên cơ, còn dễ đánh tan niềm hy vọng của mọi người, vì nếu không ứng hợp cho cặp Thân, Dậu lần này, người ta làm sao còn tuổi sống để chờ tới 60 năm sau (Lục thập hoa giáp) chứ! Như năm nay là năm Ất Dậu, muốn có một năm Ất Dậu kế tiếp, chúng ta phải đợi tới 60 năm nữa, chứ 12 năm sau, Ất Dậu chỉ thành Đinh Dậu. Thiên Can thì có mười: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; còn Địa chi có tới 12: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Cho nên thà không thêm thiên Can vào với địa chi vẫn hay hơn, vì nếu không ứng hợp với cặp Thân, Dậu kỳ này, chúng ta chỉ cần chờ 12 năm sau để suy nghiệm lại. Có lẽ vì biết cuộc sống ngắn ngủi rất hạn định của con người, cụ Trạng thường làm một lèo tới bảy năm như mấy câu sấm:

“Long Hổ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua tứ xứ khởi đao binh

“Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình”

hoặc 8 năm như bài sấm “Rồng nằm bể cạn” cũng của cụ:

“Rồng nằm bể cạn dễ ai hay

Rắn mới hai đầu khó chịu thay

Ngựa đã gác yên không người cuỡi

Dê không ăn lộc ngảnh về tây

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh chập chùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày”

Cụ làm vậy đặng chúng ta có hụt một chu kỳ thì chỉ bốn, năm năm sau là bắt đầu suy nghiệm trở lại, đặng hy vọng trở lại. Vì lý do khó xác định thời gian nên thường thường sự kiện xảy ra rồi, người ta mới nhận rõ. Cũng có khi câu sấm lại trùng với hai biến cố cách nhau 60 năm vì tính chất thường lập lại của chúng. Chẳng hạn như biến cố dùng máy bay giật sập hai tòa nhà chọc trời tại Nữu Ước ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra mới đây làm chấn động thế giới thì năm 1941, cách đây 60 năm, Mỹ cũng bị một trận tấn công khác bằng máy bay vào Trân Châu cảng do phi đội Thần Phong của Nhật thực hiện. Điểm giống nhau của hai biến cố này là:

– Cuộc tấn công bằng máy bay

– Các phi công đều quyết tử

Một điều lạ lùng nữa là trận tấn công Trân châu cảng năm 1941 này có tên là Tora Tora và trận đánh cuối cùng coi như dữ dội nhất của Mỹ tại Afghanistan năm 2001 cũng có tên gần giống như vậy: Tora Bora, khác nhau chỉ có một chữ “B”. Thiên tai, kinh tế cũng có khuynh hướng lập lại sau 60 năm. Chẳng hạn như nền kinh tế của Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới trong tăm 1930 và 1990 có chung một đặc tính là suy thoái. Hoặc động đất lớn xảy ra tại Tân Cương năm 1906 thì năm 1966 lại xảy ra tại Hà Bắc. Tuy vậy, có khi biến cố lập lại, nhưng ý nghĩa hoặc đặc tính của biến cố lại khác nhau, chẳng hạn như Nga Sô, 60 năm trước, khi Cộng sản nắm chính quyền, sức mạnh của họ thật to lớn, đe dọa cả thế giới; nhưng 60 năm sau, Cộng sản Nga sô lại suy tàn. Hai biến cố này, nhìn vào đặc tính thì trái ngược nhau, nhưng nhìn vào tính chất biến đổi như sự biến đổi của Âm Dương trong kinh Dịch, thì giống nhau. Xem như vậy, lục thập hoa giáp (60 năm) mang một ý nghĩa thật đặc biệt trong sự lập lại của các biến cố. Từ đó suy ra mỗi 12 năm, hay một phần năm của lục thập hoa giáp cũng có nhiều biến đổi và trùng hợp hết sức quan trọng. Sự biến đổi và trùng hợp này thường ứng hợp với các câu sấm lưu truyền.

Sấm ký thật linh thiêng, nhưng sở dĩ người ta chưa suy đoán kịp những diễn biến sắp xảy ra một cách chính xác, phần là vì chúng ta chưa có một cơ sở suy luận vững chắc nào được thiết lập, phần là vì ý nghĩa khá ẩn tàng, bí mật, đôi khi còn mang nhiều cách lý giải đối nghịch nhau. Chẳng hạn như câu: “Bát Kê thử ư tử địa” với hình cây kiếm chém đứt đầu tám con gà do cụ Trạng Trình ghi trên mộ bia dựng tại vùng Cổ Am gần từ đường họ Trần ở trang ấp vua phong cho Hưng Nhược Vương Trần Quốc Tảng. Nhân đi ngang vùng này và sau khi làm lễ trong nhà từ đường họ Trần, Trình quốc công đã dựng mộ bia và lưu lại câu sấm khó hiểu kia. “Bát Kê thử ư tử địa” có nghĩa là tám con gà chết tại chỗ này, cùng hình ảnh thanh kiếm chém đứt đầu tám con gà là một bí ẩn lớn cho mọi người trong làng. Không ai hiểu nỗi ý Ngài muốn nói gì. Mấy trăm năm sau, có một chuyện xảy ra, người ta mới suy nghiệm được ý của Ngài. Số là quan toàn quyền Pasquier, người Pháp, sang cai trị Đông dương, lúc ra về, máy bay chở ông bay ngang làng Cổ Am thì bị nạn. Dân làng chạy đến chỗ xảy ra tai nạn, lôi được quan toàn quyền Pasquier ra, đặt nằm trên ngôi mộ do ngài Trình Quốc Công dựng nên vì ngôi mộ ở sát ngay chỗ phi cơ rớt. Dân làng sở dĩ đặt quan toàn quyền trên ngôi mộ là vì chỉ nơi đó, đất khô ráo và bằng phẳng. Thoạt tiên, không ai biết người rớt máy bay là quan toàn quyền. Đến khi chính quyền địa phương tới nơi, cho biết, dân chúng mới vỡ lẽ, hiểu được cách chơi chữ của Trình Quốc công trong câu sấm của Ngài. Chữ Pasquier đọc âm theo tiếng Việt là Bát Kê. Dân Việt Nam thường gọi Pasquier là Bát Kê, nên câu sấm: “Bát Kê thử ư địa” không còn nghĩa: “tám con gà chết tại chỗ này” nữa, mà trở thành: “Bát Kê chết tại chỗ này”, hay “Pasquier chết tại chỗ này”. Thật là ảo diệu! Còn có hai câu sấm khác cũng của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, xác định thêm biến cố này. Đó là:

“Giữa năm hai bảy mười ba

Lửa đâu mà đốt Tám Gà trên mây”

Năm hai bảy mười ba là năm âm lịch nhuần hai tháng Bảy thành 13 tháng. Năm đó đúng là năm Pasquier bị chết. Còn câu thứ hai mô tả chính xác chuyện máy bay chở Pasquier, tức Bát-Kê, tức tám gà, bị bốc lửa lúc còn bay trên mây.

Cái chết của Pasquier được Trình Quốc công tiên tri mấy trăm năm về trước đã là điều lạ lùng, mà nguyên nhân đưa đến cái chết của ông lại là điều khiến người ta vô cùng kinh dị. Trước khi bay về Pháp và bị tử nạn, toàn quyền Pasquier có ghé lại đền thờ Trấn Bắc đại tướng quân Hoài văn hầu Trần Quốc-Toản ở Cửa-ông, lấy trộm thanh gươm ở đó mang về. Thanh gươm này có tên là Dương-kiếm, cùng với Âm-kiếm thành một cặp tên là Âm-Dương song kiếm, do đức thánh Trần Hưng Đạo dùng quý kim đúc lúc chống giặc Mông-cổ. Tương truyền Âm-kiếm bị thượng tướng Trần Nguyên-Hãn đem trấn yểm long mạch của tổ tiên vua Lê, nên kiếm mất tích từ đó. Còn lại Dương-kiếm, Hưng Đạo Vương trao cho Hoài-văn hầu Trần Quốc-Toản và Hoài-văn hầu đã dùng kiếm đó giết chết thế tử Toa Đô trong trận Hàm-tử. Sau khi Hoài-văn hầu qui tiên, Dương-kiếm được đặt trên bàn thờ ngài tại Cửa-ông. Tương truyền Dương-kiếm rất linh thiêng, các danh tướng làm lễ mượn kiếm chống giặc đều thành công. Chẳng hạn như thượng tướng Trần Nguyên-Hãn đã mượn Dương-kiếm cắt đầu Liễu-Thăng trong trận Chi Lăng. Vua Quang Trung cũng dùng Dương-kiếm giết chết Sầm Nghi Đống và Hứa Thế-Hanh. Tướng Cờ đen Lưu-vĩnh-Phúc cũng mượn kiếm và nhờ đó lấy đầu đại úy Francis Garnier cùng đại tá Henri Rivière tại Cầu-giấy. Sau khi thành công, các danh tướng đều làm lễ trả kiếm lại đền thờ đàng hoàng nên không hề hấn gì. Quan toàn quyền, ỷ mình quyền thế nhất nước, đã ngang nhiên vào đền thờ chiếm đoạt thanh kiếm làm của riêng, khiến Hoài-văn Hầu hoặc quỷ thần bảo hộ kiếm giết chết. Dân Việt chúng ta, ở thời đó, ai cũng nghĩ vậy, nên càng kính sợ sự linh thiêng của Hoài văn-Hầu hơn. Từ đó người ta kéo về chiêm bái lễ lạy ngài rất đông. Theo Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ cho biết, sau khi toàn quyền Pasquier chết, kiếm báu vẫn được đưa về Pháp và lần lượt qua tay hơn chục người; nhưng người nào giữ kiếm cũng bị chết rất thảm khốc. Trần Đại Sỹ nghĩ rằng những người giử kiếm bị thảm tử như vậy có lẽ vì lời nguyền của Hoài văn-hầu Trần Quốc-Tuấn: “Kiếm này của giòng họ Đông-A, dùng để trấn quốc. Chỉ con cháu ta mới được giữ. Kẻ nào không phải con cháu ta, không dùng để tru diệt quốc tặc mà lưu giữ, thì sẽ tản hồn, hủy phách mà chết”. Trần Đại Sỹ còn kể thêm một chuyện xảy ra dưới thời Đệ nhị Cộng hòa (1964-1973). Viên phi công Hoa-Kỳ bị bắn hạ sau khi oanh tạc Cửa-ông, gây hư hại đến 70%. Viên phi công này bị bắt vào tù và ở trong tù ông hóa điên, rồi chết. Sau 75, Cộng sản có đến phá khuấy đền, nhưng bị quỷ thần trừng phạt, đâm ra sợ, không dám đụng tới nữa. Sự linh thiêng của Dương-kiếm và đền thờ Cửa-ông cùng sự mầu nhiệm của câu sấm Trình Quốc-công để lại đã ghi chặt trong tâm tưởng những người con dân Việt yêu nước một niềm hãnh diện về tiền nhân, và một niềm tin vững chắc vào sự phò trợ của các ngài. Đất nước chúng ta tuy bị nhiểu nhương, khổ ách bởi thực dân Pháp và Cộng sản hơn hai thế kỷ nay vì ảnh hưởng của luật nhân quả trong việc cha ông chúng ta tiêu diệt Chiêm thành cùng Thủy Chân Lạp; song chúng ta vẫn tin chắc rằng một ngày rất gần đây, khi nhân quả đã trọn, đất nước sẽ hòa bình âu ca thực sự. Các sấm ký của Trình quốc công, của Nostradamus, và các bài giáng bút của Ngài Tuệ Trung Thượng sĩ cùng công chúa Liễu Hạnh đều xác nhận điều này. Chỉ còn thời điểm là tùy thuộc vào sự suy luận thật sáng suốt của chúng ta vì dẫu sao thiên cơ cũng bất khả lậu và sấm ký chỉ nhằm trao cho người hữu duyên.

Sấm ký có rất nhiều, không phải chỉ có từ thời Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) mà trước đó đã thấy xuất hiện. Chẳng hạn như trong tác phẩm Anh-hùng Tiêu Sơn, Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ có nhắc tới bài sấm-ký Cổ-pháp, dài mười câu, mỗi câu bốn chữ, được truyền tụng từ thời vua Lê Ngọa Triều (Lê Long Đỉnh) như sau:

“Mộc căn diểu diểu,

Mộc biểu thanh thanh.

Hòa đao mộc lạc,

Thập bát tử thành.

Đông -a nhập địa,

Dị mộc tái sinh.

Chấn cung xuất nhật,

Đoài cung ẩn tinh.

Lục thất niên gian,

Thiên hạ thái bình.”

Dịch nghĩa là:

“Gốc cây kia đã cỗi

Cành cây xanh xanh

Cái đao bằng gỗ hòa rơi xuống

Mười tám người thành công

Đông-A vào đất

Cây kỳ lạ sống lại

Mặt Trời xuất từ phương Đông

Phương Tây có ngôi sao ẩn

Thời gian sáu bảy

Toàn dân thái bình”

Bài sấm-ký chỉ vỏn vẹn có bốn mươi chữ mà tiên đoán vận mệnh nước Việt Nam trong khoảng gần một ngàn năm. Tương truyền bài sấm-ký này được phát hiện trên một mảnh cây gạo ở châu Cổ-pháp khi cây này bị sét đánh nứt làm đôi. Bài sấm đã được các thiền sư Vạn Hạnh, Bố Đại, Sùng Phạm, và một thầy địa lý giải đoán rất chính xác về tình hình các triều đại Lê, Lý Trần. Các ngài chỉ kiến giải tới đó thôi, rồi dừng, cư sĩ Trần Đại Sỹ đã luận tiếp cho đến triều đại nhà Nguyễn mới hết bài sấm. Như vậy thời gian cả bài sấm là từ năm vua Lý Thái Tổ lên ngôi (1010)cho đến năm 1802, năm chúa Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn, lập quốc, lấy vương hiệu là Gia Long. Bài sấm được các thiền sư, thày địa lý và Trần Đại Sỹ luận đoán như vầy:

– Câu 1: ” Mộc căn diểu diểu” (Gốc cây kia đã cỗi)

Lê là họ Lê mà cũng là cây Lê; nên cây ở đây ám chỉ cây Lê, tức họ Lê. Đã cỗi tức là đã già, sắp chết; nên câu này có nghĩa là nhà Lê sắp hết vận.

– Câu 2: “Mộc biểu thanh thanh” (Cành cây xanh xanh)

Gốc cây chỉ vua, nên cành cây chỉ bầy tôi. Cành cây xanh xanh có nghĩa là bầy tôi được vượng; nên khi nhà Lê hết vận, chiếc ngai vàng sẽ lọt vào bầy tôi.

– Câu 3: “Hòa đao mộc lạc” (Cái đao bằng gỗ hòa rơi xuống)

Câu này được giải nghĩa bằng cách chiết tự. Chữ “hòa”, chữ “đao” và chữ “mộc” kết thành chữ “Lê”; nên nguyên câu ý nói nhà Lê đã đến hồi hết số.

– Câu 4: “Thập bát tử thành” (Mười tám người thành công)

Câu này cũng dùng chiết tự để hiểu. Chữ: “thập”, chữ: “bát” và chữ: “tử” hợp lại thành chữ: “Lý “. Lý thành công có nghĩa là nhà Lê sụp thì nhà Lý lên thay. Rõ ràng theo lịch sử thì khi Lê Long Đỉnh băng hà, Lý Công-Uẩn, lúc đó đang giữ chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ (một bầy tôi của nhà Lê) lên thay.

– Câu 5: ” Đông -a nhập địa” (Đông-A vào đất, Đông-A đạt được nguyên vị)

Vẫn theo cách chiết tự, chữ Đông và chữ A hợp lại thành chữ “Trần”. Câu này có nghĩa là khi hết nhà Lý, nhà Trần sẽ lên thay.

– Câu 6: “Dị mộc tái sinh” (Cây kỳ lạ sống lại)

Như bình giải ở câu đầu, “cây” ám chỉ nhà Lê, nên cây kỳ lạ sống lại có nghĩa là nhà hậu Lê sẽ thay nhà Trần

– Câu 7: “Chấn cung xuất nhật” (Mặt Trời xuất từ phương Đông)

Theo Tiên thiên Bát quái do Phục Hy đề ra thì “Ly” ở phương Đông, nhưng ở Hậu thiên Bát quái do Văn Vương sắp lại thì “Chấn” nằm vào chính Đông. Do đó câu này có nghĩa là nhà Mạc sẽ lên thay nhà hậu Lê.

– Câu 8: “Đoài cung ẩn tinh” (Phương Tây có ngôi sao ẩn)

Cũng Theo Tiên thiên Bát quái thì “Khảm” ở phương Tây, nhưng ở Hậu thiên Bát quái thì “Đoài” nằm vào chính Tây. Ý nói nhà Tây-sơn lại lên.

– Câu 9: “Lục thất niên gian” (Thời gian sáu bảy)

Sáu cọng với Bảy thành mười ba. Tính theo thời gian Nguyễn Ánh xuất quân vào năm 1789 cho tới năm Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây-sơn, lên ngôi vua (1802) là đúng 13 năm. Câu này ý nói sau 13 năm chiến đấu gian khổ, Nguyễn Ánh đã giành được giang sơn.

– Câu 10: “Thiên hạ thái bình” (Toàn dân thái bình)

Nguyễn Ánh lên ngôi vua rồi thì thiên hạ thái bình.

Như đã nói ở trên, ba vị thiền sư: Vạn Hạnh, Bố Đại, Sùng Phạm chỉ đoán tới lúc nhà Lê tàn, nhà Lý lên thay, và thay bởi bầy tôi, tức bốn câu đầu. Sau đó cuối đời nhà Lý có thêm một thầy địa lý đoán được nhà Lý suy vong và nhà Trần lấy thiên hạ, tức câu sấm thứ 5. Năm câu còn lại, có lẽ do chính Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ lý giải. Mặc dầu sự lý giải của cư sĩ Trần Đại Sỹ, người học rộng hiểu nhiều, rất nổi tiếng về phương diện này, rất hợp với các thời đại xảy ra trong lịch sử, song tôi cũng có một vài chỗ chưa rõ, muốn góp ý thêm hầu được sự chỉ dạy của các bậc cao nhân. Câu 6: “Dị mộc tái sinh” (Cây kỳ lạ sống lại) được cư sĩ dựa theo chữ: ” Cây” ám chỉ nhà Lê và nghĩa của sự tái sinh mà đoán là nhà Trần suy vi, được thay thế bởi nhà hậu Lê. Theo lịch sử thì Hồ Quý Ly giết vua Thuận Tông rồi xưng vương năm 1400. Cuối năm, Hồ Quý Ly truyền ngôi lại cho con là Hồ Hán Thương rồi cả hai cha con chống giặc Minh cho đến năm 1407 thì bị bắt đưa về Tàu sống cuộc đời lưu đày khổ nhục bên đó. Nhà Minh đặt ách thống trị lên nước ta chưa được bao lâu thì bị hậu duệ nhà Trần khởi binh đánh lại. Vì thế yếu và thiếu tinh thần đoàn kết, công cuộc khởi nghĩa sau đó bị dẹp tan vào năm 1413. Nước ta bị Tàu tiếp tục đô hộ cho đến năm 1418, Lê Lợi, một thường dân, với sự trợ giúp của Nguyễn Trãi phất cờ khởi nghĩa và mãi đến 10 năm sau Lê Lợi mới đuổi được giặc Minh về Tàu, lên ngôi vua năm 1428, lấy vương hiệu là Bắc Bình Vương và đặt quốc hiệu là Đại Việt. Như vậy, theo sự giải đoán của Trần Đại Sỹ thì sấm ký bỏ qua giai đoạn nhà Trần bị Hồ Quý Ly tiếm ngôi và sự tan rả của nhà hậu Trần trong công cuộc khởi nghĩa chống quân Minh sau đó, để chỉ thẳng nhà hậu Lê. Điều này nghe cũng tương đối hợp lý vì sấm ký chỉ có bốn chữ, không thể mô tả hết được. Tuy nhiên với câu 7: “Chấn cung xuất nhật” (Mặt Trời xuất từ phương Đông) mà suy giải là nhà Mạc lên thay nhà Lê, thì tôi không dám nghi vấn, nhưng còn chưa rõ. “Chấn” là một quẻ trong tám quẻ (bát quái) mà theo Hậu thiên bát quái, trấn hưóng Đông. Chấn chủ động, có nghĩa là sấm sét, còn “nhật” là mặt trời, có thể tạm hiểu như Trời, như quẻ “Càn”, mà sự kết hợp của “Càn” và “Chấn” theo kinh Dịch, tạo nên quẻ “Thiên Lôi Vô Vọng”. Theo quẻ này, thì nội quái là Chấn, nghĩa là hành động, còn ngoại quái là Càn (trời), nghĩa là hành động mà hợp với lẽ Trời thì không càn bậy, và không càn bậy thì hanh thông, có lợi. Còn hành động mà không hợp với chính đạo thì có hại. Nếu xem Mạc Đăng Dung là người cướp ngôi nhà Lê, dâng đất cho địch, và cởi trần tự trói đầu hàng địch theo cách nhìn của sử gia Trần Trọng Kim, thì có thể coi như nghịch với chính đạo. Nếu nhân cách của Mạc Đăng Dung đúng như vậy thì rất hợp với quẻ “Thiên Lôi Vô Vọng”; song các nhà khảo cứu như Lê Văn Hòe, và sử gia hiện đại như Phạm Văn Sơn, tác giả Việt sử Toàn thư, đã chứng minh ngược lại, xem Mạc Đăng Dung như một vị anh hùng, không có hành động đê hèn như cụ Trần Trọng Kim mô tả trong bộ sử: “Việt Nam Sử lược” của cụ. Nếu thế thì nhà Mạc phải lẫy lừng chứ có lý đâu lại đầu hàng nhà Minh như vậy. Tóm lại, theo tôi, câu 7 với ý nghĩa: “Mặt trời xuất từ phương Đông” cũng vẫn chưa đủ yếu tố kết luận đó là nhà Mạc, dù sự kết luận này không sai với biến cố lịch sử đã qua. Câu 8: “Đoài cung ẩn tinh” (Phương Tây có ngôi sao ẩn) cũng vậy. Chỉ với ý nghĩa của quẻ “Đoài” trấn phương Tây, chủ tịnh, mà lý giải là nhà Tây sơn dấy lên, quả thật cũng chưa thuyết phục được tôi về ý nghĩa của câu sấm đó. Lý do tôi chưa hoàn toàn hiểu thấu cách lý giải của Trần Đại Sỹ trong hai câu 7 và 8 nêu trên là vì sự kiện này. Có một số nhà sưu tầm sấm ký liệt hai câu:

“Chấn cung xuất Nhật

Đoài cung vẫn tinh”

Chứ không phải: “Đoài cung ẩn tinh” là của cụ Trạng Trình. “Vẫn” có nghĩa là sa xuống, còn “Ẩn” có nghĩa là dấu kín, không xuất hiện. Người ta luận giải hai câu này dựa theo ý nghĩa của cung Chấn trong kinh Dịch chỉ về người trên, để nói Nguyễn Nhạc, anh Nguyễn Huệ dấy nghiệp. Còn câu kế: “Đoài cung vẫn tinh” ám chỉ nhà Tây sơn xuất hiện như cách lý giải của Trần Đại Sỹ. Cách giải này nghe hợp lý hơn. Cả hai câu chỉ nhằm nói về nhà Tây Sơn, chứ không chen nhà Mạc trong đó. Ngoài ra, sấm Trạng Trình ở đoạn khác cũng có mấy câu như sau:

“Bao giờ Trúc mọc qua sông

Mặt Trời sẽ lại đỏ hồng non Tây

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn

Đầu cha lộn xuống thân con

Mười bốn năm tròn hết số thì thôi”

Mấy câu này có nhắc tới Đoài cung, Chấn cung và Mặt Trời đỏ hồng non Tây, dược lý giải đại khái như vầy: Câu đầu ứng với việc Tôn sĩ Nghị khi đến Thăng Long đã cho quân sĩ lập một chiếc cầu nối bằng tre ngang sông Hồng. Câu 2 ứng với việc Tây Sơn Nguyễn Huệ lên làm vua sau khi dẹp được quân Thanh. Câu 3 ứng với việc vua Quang Trung mất sớm, sau hai năm làm vua. Câu 4 ứng với việc Nguyễn Nhạc thổ huyết mà thác\ Cung Đoài theo kinh Dịch chỉ kẻ dưới, nên ứng cho Nguyễn Huệ, vai em; còn cung Chấn chỉ kẻ trên, ứng cho Nguyễn nhạc, vai anh, thật hợp với Chấn cung và Đoài cung của hai câu sấm Cổ Pháp. Câu thứ 5 chỉ tên vua Quang Trung và Cảnh Thịnh. Chiết tự chữ “Quang” có chữ “Tiều” ở trên và chữ “Cảnh” có chữ Tiều” ở dưới, nên sấm mới nói: đầu cha lộn xuống chân con. Còn câu 6 ứng với cơ đồ nhà Tây Sơn chỉ kéo dài được 14 năm. Tóm lại, hai câu 7 và 8 của bài sấm Cổ Pháp, hoặc bài sấm của cụ Trạng Trình với chữ “vẫn” thay cho chữ “ẩn”, ám chỉ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, nghe hợp lý với tôi hơn là nhà Mạc và nhà Tây Sơn theo như cách lý giải của Trần Đại Sỹ.

Còn câu 9: “Lục thất niên gian” (Thời gian sáu bảy), dùng cách cọng 6 với 7 lại thành 13 mà suy luận rằng Nguyễn Ánh sau 13 năm khởi binh đánh Tây sơn thành công và mang lại thái bình cho Việt Nam như ý nghĩa của câu 10: “Thiên hạ thái bình” (Toàn dân thái bình) cũng chưa rõ ràng lắm. Tuy Nguyễn Ánh cất quân đánh nhà Tây Sơn từ năm 1789 cho mãi đến năm 1802 mới hoàn toàn chiến thắng, vị chi là 13 năm; song nếu tính lúc Nguyễn Ánh từ Xiêm La về nước để khởi sự đánh Tây Sơn, thì thời gian lui lại một năm, tức năm 1788, nên con số 13 trở thành 14, không còn ứng với: “Lục thất niên gian” nữa. Theo lịch sử, quả đúng là sau nhà Lê, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, đưa đến trình trạng Trịnh Nguyễn phân tranh, kéo theo sự xuất hiện của nhà Tây sơn và cuối cùng là Nguyễn Ánh sau 13, 14 năm chiến đấu diệt được Tây sơn để lấy lại thiên hạ. Cách lý giải của Trần Đại Sỹ về câu 9 dựa theo lịch sử có thể chấp nhận được, song còn việc “Thiên hạ thái bình” sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi và suốt thời kỳ trị vì của ông, e rằng không xác đáng. Nguyễn Ánh nhờ Pháp giúp, nhưng dân chúng lại bị khổ vì bọn thực dân này tới mấy trăm năm, tiếp theo là ma Cộng sản, chứ có thấy thái bình chi đâu. Cho nên, theo cách nghĩ thô thiễn của tôi, hai câu sấm này phải ứng vào một sự việc nào khác, hay nói chung 2 câu sấm, từ câu 9 tới câu 10 ám chỉ những biến cố nào đó mà chúng ta chưa lý giải được, nên chi ba vị thiền sư cùng nhà địa lý chỉ giải tới câu 5 mà thôi. Còn câu 7 và 8 đã có cụ Trạng Trình nhuận bút lại trong sấm truyền của cụ.

Trở lại hai câu sấm Trạng Trình:

“Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dận niên lai kiến thái bình”

Chúng ta thử diễn giải xem năm Dậu này có đúng là năm Ất Dậu (2005 Dương lịch) hay không? Chữ “niên lai”, theo cách suy luận của tác giả Xuân Phượng trong bài viết dự thi: “Nước Mỹ và sấm Trạng Trình”, còn có nghĩa là “thiên niên kỷ”, cho nên năm Thân và năm Dậu trong câu sấm này được xác định là năm Giáp Thân (đã qua) và Ất Dậu (2005 Dương lịch) là hai năm của đầu niên kỷ. Để củng cố thêm cho sự suy đoán của mình, Xuân Phượng còn áp dụng lối chơi chử của cụ Trạng Trình trong chuyện quan toàn quyền Pasquier tử nạn máy bay vào câu “Mã đề Dương cước anh hùng tận” nữa. Theo tác giả, ngoài ý nghĩa bắt đầu năm Ngọ cho tới cuối năm Mùi, chữ “Anh hùng tận” còn đọc âm nghe như “Afghanistan”. Còn chữ “niên lai” và “Mã đề” đọc nghe như “Millenium”. Điều này cho phép tác giả kết luận các biến cố xảy ra ở hai câu sấm nói trên rơi vào thời điểm bắt đầu thiên niên kỷ, nên Thân Dậu nhất định là hai năm Giáp Thân (2004 Dương lịch) và Ất Dậu (2005 Dương lịch). Theo cái nhìn của cá nhân tôi qua sự nhận định về tình hình thế giới và Việt Nam như đã trình bày, hai năm Thân Dậu có thể đúng như sự xác nhận của tác giả. Thái bình ở đây vừa có thể là thái bình thế giới, mà cũng vừa ám chỉ hòa bình tại Việt Nam. Thái bình ở thế giới chỉ có thể ló dạng, khi nạn khủng bố và hiểm họa chiến tranh với khối Hồi giáo không còn nữa. Hòa bình Việt Nam chỉ có thể manh nha khi Cộng sản Việt Nam biến thể hoàn toàn. Muốn hoàn toàn thái bình có lẽ hết năm Dậu, chúng ta còn phải đợi thêm hai năm nữa là năm Bính Tuất (2006 Dương lịch) và Đinh Hợi (2007 Dương lịch) như hai câu sấm cũ cụ Trạng Trình đã dẫn ở trên:

“Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày”

Hai câu này đi sau hai câu:

“Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh chập chùng bay”

mà một số các nhà giải đoán sấm cho là năm Mậu Thân (1968) và Kỷ Dậu (1969). Nếu đúng như vậy thì năm Canh Tuất (1970) phải có thánh chúa xuất hiện; nhưng nhìn lại lịch sử Việt Nam đã qua, nước ta chưa có thánh chúa nào trong năm này, hoặc có, nhưng chỉ mới chào đời. Vì sấm là thiên cơ (hay nói đúng hơn là nói về thiên cơ), không có một qui lệ nhất định, thành ý và từ cho một biến cố nào đó có thể lập lại như những bài học lịch sử.   Thành thử bốn câu:

“Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh chập chùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày”

của bài sấm “Rồng nằm bể cạn” biết đâu lại ám chỉ cho bốn năm Thân, Dậu, Tuất, Hợi của thiên niên kỷ này không chừng. Nếu đúng thế thì “Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu” có thể ứng hợp với chiến tranh Iraq và tai nạn sóng thần (Tsunami) vừa mới xảy ra vào ngày 26 tháng 12 năm 2004.

Trước khi chấm dứt bài khảo luận này, tôi muốn nhắc tới bài “Giáng bút Kim Ô” của Bồ Tác Tuệ Trung vào năm 1944 vì có một số tiên tri liên quan đến thời điểm bây giờ. Bài giáng bút này như vầy:

“Như thị ngã văn:

Kim ô lạc địa

Tinh đáo thanh thanh

Xích xích kim tinh

Đế hệ ngũ thế

Nhị quỉ tranh phong

Mộc mã thung dung

Hoàng long dĩ trảm

Hầu ngộ thanh dương

Hắc hắc thiết vi

Bách tính nam qui

La sát nhập địa

Lục trúc cao phi

Thạc thử ký tận

Chúng sinh đa nạn

Nhị thập nhật minh

Thố ngộ thanh long

Kê Khuyển ngộ xà

Địa Tạng tru ma

Bách tính tôn phục

Tứ phương qui gia

Dịch:

Như ta nghe rằng

Quạ vàng rơi xuống

Sao đến xanh xanh

Đỏ đỏ sao vàng

Đế hệ năm đời

Hai quỉ giành thắng

Ngựa gỗ thong dong

Rồng vàng bị chém

Khỉ gặp dê xanh

Đen đen sắt vây

Trăm họ về nam

La sát vô nước

Trúc xanh bay cao

Chuột lớn tạm hết

Vạn vật nhiều nạn

Ngày thứ hai mươi

Thỏ gặp rồng xanh

Gà chó gặp Rắn

Địa Tạng diệt ma

Trăm họ quí phục

Bốn phương về nhà

Theo sự diễn đoán của một số đông nhân sĩ, ý nghĩa và sự ứng hợp được ghi nhận như sau:

– Quạ vàng rơi xuống: Ý nói quân Nhật bại trận và rút khỏi Việt Nam

– Sao đến xanh xanh: Ý nói Mỹ đến với cờ sao màu xanh.

– Đỏ đỏ sao vàng: Ý nói sự thắng thế của cờ đỏ sao vàng, tức Cộng sản

– Đế hệ năm đời: Ý nói triều Nguyễn chấm dứt ở đời thứ năm là Bảo Đại, tức Vĩnh Thụy.

– Hai quỉ giành thắng: Ý nói Cộng sản và Pháp tranh giành Việt Nam

– Ngựa gỗ thong dong: Ý nói chỉ năm Giáp Ngọ: 1954

– Rồng vàng bị chém: Ý nói nước Việt Nam bị chia đôi bởi hiệp định Geneva

– Khỉ gặp dê xanh: Ý nói ngày 20 tháng 7 năm 1954: Hiệp định Geneva được ký.

– Đen đen sắt vây: Ý nói Cộng sản cai trị bạo tàn

– Trăm họ về nam: Ý nói Di cư vào Nam

– La sát vô nước: Ý nói Liên sô vào miền Bắc

– Trúc xanh bay cao: Ý nói ông Ngô Đình Diệm chấp chánh, vì Trúc là dấu hiệu của ông.

– Chuột lớn tạm hết: Ý nói tham nhủng chấm dứt

– Vạn vật nhiều nạn: Ý nói vạn vật lầm than

– Ngày thứ hai mươi: Ý nói ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta mất nưóc

– Thỏ gặp rồng xanh: Ý nói ngày 30 tháng 4 tức 20 tháng 3 Âm lịch năm Ất mão. Tháng 3 là rồng, còn năm Mão là Thỏ.

– Gà chó gặp Rắn: Ý nói năm 2001, 2005, 2006

– Địa Tạng diệt ma: Ý nói Địa Tạng Bồ Tát diệt ma cộng sản

– Trăm họ quí phục: Ý nói bá tánh tuân phục

– Bốn phương về nhà: Ý nói người Việt hồi hương

Qua bài Giáng Bút này, tôi đặc biệt để ý đến bốn câu cuối cùng. Trong bốn câu này, thì câu thứ nhất xác định thời điểm của biến cố, câu thứ hai chỉ nhân vật chánh của biến cố, và hai câu cuối cùng nói lên kết quả của biến cố. Cũng như cụ Trạng Trình Nguyễn Bĩnh Khiêm, thời điểm Bồ Tát Tuệ Trung nhắc tới cũng không có thiên can đi cùng. Thời điểm này theo tác giả Nam Thiên trong tác phẩm: “Sấm ký và Giáng Bút với Việt Nam 1925-2025”, là năm 2001 (Tân Tỵ), 2005 (Ất Dậu), 2006 (Bính Tuất). Rồi ông dựa thêm vào ba câu cuối của bài sấm Non Đoài:

“Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu

Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

Tìm về quê cũ bắt ngựa tàu”

trong đó năm Nhâm Ngọ (2002), đoán là năm việt kiều thong thả thoải mái trở về lại Việt Nam, để xác định năm 2001 (Tân Tỵ) là năm Địa Tạng tru ma. Khi đã xác định Rắn là năm Tân Tỵ, tác giả Nam Thiên liền dùng “Gà” và “Chó” trong câu sấm để suy diễn ra ngày tháng của năm Tân Tỵ. Nếu Kê chỉ tháng thì là tháng 8 âm lịch, còn Khuyển chỉ tháng thì là tháng 9 âm lịch. Trong tháng Kê ta có hai ngày Khuyển là ngày 11 và 23; còn trong tháng Khuyển, ta có hai ngày Kê là ngày 10 và 22. Nhìn lại biến cố đã qua trong năm 2001 và 2002, chúng ta thấy sau vụ hai tòa nhà chọc trời ở Nữu ước bị máy bay khủng bố làm sập ngày 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ đã mở rộng chiến tranh chống khủng bố trên khắp thế giới mà quốc gia đầu tiên là Afghanistan. Việt Nam vào thời điểm đó chỉ có sự kiện nhà cầm quyền tiếp tục chính sách đàn áp tôn giáo và chà đạp nhân quyền, chứ chẳng có biến cố quan trọng nào khác, khả dĩ ứng nghiệm với câu sấm: “Địa Tạng tru ma”. Nếu ma đây là bọn khủng bố, thì người tru diệt họ là Hoa Kỳ, là Tổng thống Bush, không phải là ngài Địa Tạng. Cho nên, câu: “Gà chó gặp Rắn”, theo tôi, có thể có nghĩa là sau hai năm Gà (Dậu, 2005 Dương lịch), Chó (Tuất 2006 Dương lịch), Việt Nam sẽ hết nạn Cộng sản.    Công cuộc kiến thiết đất nước từ đó bắt đầu và kéo dài cho đến năm Rắn (Tỵ 2013 Dương lịch) thì hoàn mãn. Lúc đó Việt Nam vang danh bốn bể và nhân tài khắp nơi lủ lượt kéo về, ứng với hai câu:

“Trăm họ quí phục

Bốn phương về nhà”

Cách suy diễn này của tôi có lẽ hợp với lối suy diễn khác của tác giả Nam Thiên trong bài Sấm Non Đoài của cụ Trạng Trình:

“Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu

Có một đoàn xà đánh lộn nhau.

Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng,

Lợn kia làm quái phải sai đầu.

Chuột nọ lăm le mong cắn tổ,

Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu.

Hùm ở trên rừng gầm mới dậy

Tìm về quê cũ bắt ngựa tàu”

Theo lối giải đoán bài sấm này thì tác giả Nam Thiên cho rằng câu: “Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu” ứng hợp với năm 2002, và vào thời điểm này dân Việt tị nạn cộng sản sẽ thong thả thoải mái trở lại quê hương. Còn “Hùm” trong câu: “Hùm ở trên rừng gầm mới dậy”, tác giả Nam Thiên suy đoán là năm Canh Dần 2010, còn “ngựa” trong câu: “Tìm về quê cũ bắt ngựa tàu” là năm Giáp Ngọ 2014. Chữ “tàu” ở trong câu: “Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu” là tàu ngựa, chuồng ngựa; còn “tàu” trong câu: ” Tìm về quê cũ bắt ngựa tàu” là Trung cộng. Vào thời điểm đó, tức khoảng năm 2014, chẳng những Việt Nam vang danh bốn biển mà người Việt khắp nơi còn trở về định cư, và bắt Trung cộng phải trả lại những phần đất và lãnh hải Cộng sản Bắc việt đã khiếp nhược dâng cho chúng. Đó là ý nghĩa của câu “bắt ngựa tàu”. Bọn Trung cộng tuy đã được nhà nước Cộng sản Việt Nam ký hiệp định: Vịnh Bắc Bộ dâng lãnh hải cho họ với chiêu bài hợp tác đánh cá để che mắt nhân dân, vẫn chưa vừa lòng tham và ác tâm. Ngày 8 tháng 1 năm 2005 vừa qua, tàu Trung cộng đã xả súng bắn chết 9 ngư dân, làm bị thương 7, và bắt giữ 8 người, khi các ngư dân đang đánh cá trong lãnh hải của mình. Đã thế Trung cộng còn coi thường quốc tế công pháp, lật lọng vu cáo các ngư dân Việt Nam là cướp biển nữa. Sự kiện nói trên đã hun đúc trong lòng người dân Việt Nam một mối hận to lớn, và khi có cơ hội, họ sẽ đoàn kết bắt ngựa Tàu. Biến cố này chắc chắn sẽ xảy ra trong năm 2014, nếu Ngựa đây ám chỉ đúng năm Giáp Ngọ, 2014 Dương lịch.

Như vậy, theo cách suy diễn của tôi dựa theo bài Giáng bút Kim Ô của Tuệ Trung Thượng Sỹ thì năm Quý Tỵ 2013 Việt Nam sẽ vang danh bốn bể, còn theo lối suy diễn của tác giả Nam Thiên trong bài sấm Non Đoài của cụ Trạng Trình thì năm đó là năm Giáp Ngọ 2014, khác nhau một năm. Tuy nhiên, như chúng ta biết, ở các câu sấm và giáng bút, các Ngài thường cho hai năm đi chung với nhau, chẳng hạn như: “Mã đề, Dương cước anh hùng tận”, “Thân Dậu niên lai kiến Thái bình”, “Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa, ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày”, v.v.. Như vậy, thời gian anh hùng tận phải kéo dài hai năm (Ngọ Mùi), thời gian kiến thái bình cũng kéo dài hai năm (Thân. Dậu), và thời gian hòa bình thịnh vượng cũng xảy ra trong hai năm (Tuất, Hợi). Cho nên thời gian Việt Nam hoàn tất công cuộc kiến tạo đất nước và vang danh bốn bể cũng sẽ xảy ra trong hai năm (Tỵ, Ngọ). Tuy nói kéo dài trong hai năm, nhưng biết đâu nó cũng mang ý nghĩa là biến cố sẽ xảy ra trong một hoặc hai năm. Thành thử 2013 hay 2014 đều đúng cả. Tùy duyên, thời điểm có thể thay đổi đôi chút, và điều này không sai với thuyết: Nghiệp quả (Karma) của đạo Phật. Mỗi chúng sinh đều mang nghiệp, nên một quốc gia, hay một thế giới đều có nghiệp riêng. Sấm là cái nhìn thấu đáo được nghiệp, và vì nghiệp thường chịu ảnh hưởng bởi duyên, nên thời gian hoặc chi tiết của sự việc có thể sai lệch đi một chút, là chuyện bình thường. Chỉ có điều tôi còn phâ n vân chưa đoán đích xác được tại sao Bồ Tát Tuệ Trung lại gọi đích danh Bồ Tát Địa Tạng làm cái công việc diệt trừ ma Cộng sản qua câu: “Địa Tạng tru ma”. Hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng là vào tận địa ngục để cứu hết tất cả chúng sanh. Nếu còn một chúng sanh nào bị đau khổ trong địa ngục, Ngài nhất định sẽ không thành Phật. Như vậy bảo Ngài diệt ma thì thật không phù hợp với lòng từ bi rộng lớn của Ngài, ngoại trừ ma đây là ma chướng, là vô minh. Muốn hết khổ đau người ta phải chấm dứt vô minh, nên ý nghĩa “diệt ma” ở đây là chuyển hóa người Cộng sản, đưa họ ra khỏi địa ngục trần gian mà họ đang bơi trong đó, hơn là tiêu diệt ho. Tiêu diệt chủ thuyết họ đang tôn thờ thì đúng hơn. Các vị tu sĩ Phật giáo đang còn ở lại trong nước tranh đấu cho nhân quyền, cho tự do tôn giáo cũng giống như Địa Tạng vương Bồ Tát vào địa ngục cứu vớt chúng sanh. Việt Nam dưới ách thống trị của Cộng sản là một thứ địa ngục, nên việc ở lại Việt Nam để đấu tranh tức là vào địa ngục. Theo tôi nghĩ, đó là lý do tại sao Bồ Tát Tuệ Trung ví các ngài tu sĩ Phật giáo như Địa Tạng vương Bồ Tát. Nhìn vào công cuộc tranh đấu chống bạo quyền Cộng sản hiên nay của quý Tăng ni thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tiêu biểu là Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Tuệ Sĩ, v.v…, chúng ta không thể nào phủ nhận câu: “Địa Tạng tru ma” ám chỉ các Ngài. Nếu đúng như thế, chủ nghĩa Cộng sản sẽ tàn rụi không lâu và năm Ất Dậu này sẽ chớm thêm dấu hiệu: “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”.

Một bài giáng bút khác vào năm 1938, có tên là “Thiên Cơ” từ Thánh Mẫu Vân Hương, tức công chúa Liểu Hạnh, cũng có sáu câu cuối như vầy:

“Quỷ ma biến hết đi đời

Phụ nguyên trời đã định ngôi sẵn sàng

Chó mừng tân chủ rỡ ràng

Gần xa tấp nập lên đường hồi hương

Long Hoa vẫn thuở biên cương

Rồng tiên con cháu Việt thường vẻ vang”

Các câu khác trong bài sấm đều được chiêm nghiệm đúng với các biến cố xảy ra tại Việt Nam. Quỷ Tây ma Cộng sẽ bị tru diệt hoàn toàn như bài giáng bút của Tuệ Trung Thượng sĩ xác định, và một vị khai sáng kỷ nguyên mới xuất hiện mang lại hòa bình cho đất nước. Nếu ghép chữ “Phụ” và chữ “Nguyên” lại thì thành “Nguyễn”, cho nên theo cách người ta suy đoán, vị thánh nhân đó có thể là người mang họ Nguyễn. Năm Tuất (2006 Dương lịch) là năm “mừng tân chủ” để sau đó “gần xa tấp nập lên đường hồi hương. Hai chữ Long Hoa có thể chỉ hội Long Hoa xét tội định công để chỉ còn có một số nhỏ hiền nhân dưới cõi trần này trước khi tiến tới thời Thượng Ngươn Thánh Đức, mà cũng có nghĩa là thời kỳ thanh bình, âu ca. Con cháu Việt sẽ vang danh bốn bể. Sấm của Nostradamus cũng tiên đoán điều này đồng thời xác quyết một vị khai sáng kỷ nguyên sẽ ra đời, và vị này có thể là ngươi Việt Nam qua mấy câu:

“Trong số những người bị lưu đầy ra các đảo,

Có một người sinh ra tại Hai Cái Răng ở vùng Vịnh:

Họ sẽ chết đói, cây cối bị tuốt trụi lá.

Đối với họ, đây là vị vua mơí, đạo luật mới rèn luyện họ.”

Tóm lại, qua các câu sấm và các bài giáng bút, một kỷ nguyên mới sẽ được tạo dựng trên hoàn cầu, hoặc chỉ trên đất nước Việt Nam của chúng ta trong một tương lai gần đây. Vì lời Sấm và cơ bút bí hiểm, không có thiên can đi kèm với địa chi để xác định thời gian rõ ràng, nên sự chuẩn xác của các biến cố ở những thời điểm trình bày trong bài viết hoàn toàn dựa theo sự suy đoán và chiêm nghiệm của các bật thức giả Đông Tây. Cho dù kết quả như thế nào, chúng ta cũng thấy được điều này: Mọi sự việc đều vô thường (Chư hành vô thường) và mọi kết quả đều cấu thành trong tương quan nhân quả. Không có một sự vinh quang nào mà không có lúc cáo chung, cũng như không có địa ngục nào mở cửa mãi mãi. Với hạnh nguyện cao cả cứu độ tất cả chúng sinh, bồ Tát Địa Tạng nhất định sẽ là người khép lại cánh cửa địa ngục trước khi Ngài nhập Niết Bàn, thành Phật. Sấm ký, cơ bút không phải là những giáo điều cứng ngắt với những biến cố hoặc thời gian cố định vì bên cạnh Nhân quả, chúng ta còn có Nhân Duyên. Một cái nhân (như hạt giống) sẽ chóng sinh ra quả (như cây trái) nếu đầy đủ duyên (như đất, nước, phân bón), hoặc có thể chậm sinh hay tàn rụi, nếu thiếu duyên. Định luật này là định luật chung của vũ trụ (universal law), chứ không phải riêng gì của Phật giáo. Hiểu được luật đó, chúng ta mới không thất vọng khi thấy kết quả của sấm ký và cơ bút, khi chiêm nghiệm, có vài thay đổi. Chúng ta là những người đứng dưới đất phóng tầm nhìn về phía xa, không thể thấy biết hết được tất cả sự vật phần vì giới hạn của thị giác, phần vì sự che khuất của các vật chướng ngại. Các cao nhân lưu lại sấm ký hoặc giáng bút là những thánh nhân, ví như người đứng trên đỉnh núi cao, lại có thêm thị lực siêu việt nên các Ngài có thể thấy xa và cái thấy của các Ngài không bị giới hạn. Những cái thấy của các Ngài lưu lại cho chúng ta không ngoài ý nghĩa khuyến tu và tạo dựng niềm tin cùng hy vọng cho những ai muốn học hỏi. Nó không phải là dị đoan mà là nghệ thuật. Mong tất cả chúng ta nhìn nó và hiểu nó bằng cái nhìn và tâm trí mang đầy nghệ thuật. “Thân Dậu niên lai” có “kiến thái bình” hay không, cũng là câu hỏi đầy nghệ thuật mà người đóng tuồng cũng như khán giả đều góp phần và trách nhiệm.

Xuân Đấu

bài phân tích Sấm Ký của tác giả VQT

VQT     8/14/2006

Khi tôi lật lần trang “Sấm” của “Kinh-Việt” do Nam Thiên Nguyễn Đức Sách viết. Tôi chợt nhớ đến những người hành động luôn đi tìm cơ hội. Cơ hội hợp với trời, hợp với người và đúng lúc. Đôi khi chỉ là bước thang thứ nhất để con cháu kế tục. Nhưng nếu thuận tiện ta có thể đi nốt con đường trong chủ đích giúp nước cứu dân. “Cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối” như lời bà Triệu, bậc “Trinh nhất phu nhân” đã thề hứa. Tôi nghĩ đến quí vị và những lời nầy mạo muội gởi tới như là một gợi ý.

Trong bài thứ 27, “Bàn về giải Sấm,” trang 391, có bài thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người theo đạo Giáo, tay lý số Thái Ất nổi tiếng đến nỗi dòng Hoa-Hạ phải kính phục: “An Nam lý học hữu Trình Tuyền.” (Trình Tuyền tức Trình Tuyền hầu tước của cụ). Riêng đối với dân tộc ta thì lịch sử thời Trịnh Nguyễn đã minh chứng rõ rệt, không ai chẳng biết. Họ Trịnh cho sứ vào hỏi thái độ đối với vua Lê. Cụ trả lời: “Giữ Chúa được ăn oản.” Nguyễn Hoằng sai người đến vấn kế, cụ nói: “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân.” Chúng ta đã công nhận nhà Nguyễn lập công đầu trong việc mỡ mang bờ cõi về phương Nam.

Tôi vội vàng chép ngay: “Bài sấm cho hiện tại.”

Rồng nằm bề cạn dễ ai hay,

Rắn mới hai đầu khó chịu thay,

Ngựa đã gác yên không người cưỡi,

Dê không ăn lộc, ngảnh về tây.

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,

Gà kia vỗ cánh chậy chùng bay.

Chó nọ vẫy đuôi mừng Thánh Chúa.

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.

Ông Nam Thiên đã bàn nhưng chưa xảy ra. Vì sấm là lời của một người. Ai hiểu sao thì hiểu, nhưng nếu tâm tư linh mẫn; hai tư tưởng chủ khách thông đạt thì cái lý cũng chỉ đơn giản thôi. Người theo đạo Giáo cho rằng, việc trời ai ngộ được là do trời cho.

Đối với người lãnh đạo thì không quan trọng. Vì là người hành động, khi có duyên may thấy được hiện tượng gì thì họ sắp xếp để hành động và gõ cửa nhà trời. Theo thuyết “thiên nhân tương dữ” thì ý trời cũng là ý người vậy.

Đọc bài thơ trên, chúng ta nhận ra một điều là trong 12 con giáp: khởi từ một là Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi thì đã có tám con liên tục trình làng là: Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi. Để xác nhận một đơn vị Giáp tí là 60-năm hay gọi là một nguyên, ta lấy thập can (10-gốc): Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm và Quí ghép tuần tự với thập nhị chi (12-cành) tức là 12 con giáp ở trên. Bắt đầu là Giáp Tí, đến 60 là Quí Hợi ta được một nguyên.

Đây là đơn vị của một đời người. Chu kỳ vận hành của ba ngôi sao cùng bắt đầu. Theo sự nghiên cứu của các nhà khí tượng thì sao Mộc quay quanh mặt trời 1-vòng 12-năm, sao Thổ 30-năm và sao Thủy 59-năm. Cả 3-sao cùng trong khoảng 60-năm là bắt đầu. Trong 3-nguyên của Giáp Tí là 180-năm thì 9 hành-tinh lớn cùng ở về một phía của mặt trời, hội họp trên một giải hẹp hình quạt. Con người chịu ảnh hưởng của tinh tú là xạ tuyến của vũ trụ. Nên trong phong-thủy có cung Phi coi về bát-trạch.

Tôi ghi lại 3-nguyên hiện đại và mỗi nguyên chia làm 3 là 20 năm mà các nhà phong-thủy quan niệm rằng: Nếu ở trong nhà nên mở cửa hoặc cửa sổ để đến khí hạo nhiên, nơi phương vị ảnh hưởng, giúp con người bền bỉ và thông minh hơn.

Thượng Nguyên:

1. Từ năm 1864—1883——-Cung Khảm

2. Từ năm 1884—1903——-Cung Khôn

3. Từ năm 1904—1923——-Cung Chấn

Trung Nguyên:

4. Từ năm 1924—1943——-Cung Tốn

5. Từ năm 1944—1963——-Cung Giữa

6. Từ năm 1964—1983——-Cung Càn

Hạ Nguyên:

7. Từ năm 1984—2003——-Cung Đoài

8. Từ năm 2004—2023——-Cung Cấn

9. Từ năm 2024—2043——-Cung Ly

Hiện chúng ta đang ở vào nguyên cuối của tam nguyên gọi là hạ nguyên. Hạ nguyên thì phân tán nên gọi là hạ mạt. Nếu các gia đình đồng ý với họ thì của hoặc cửa sổ phía Tây, Đông Bắc và Nam của căn nhà hoặc sở làm nếu thuận tiện nên mở cửa ban ngày đón khí.

Trong ngành Thái Ất học: “Vì thời gian Thái Ất tìm về gốc quá khứ, nếu tính đến năm Canh Thìn (2000) có con toán 10.555-917. Đó là con số, “Tích tuế” tính ở điểm “thất diệu tề nguyên” nghĩa là ở thời có hiện tượng 7 vì sao cùng đứng hàng ngang với mặt trời và mặt trăng được biệt danh là “thượng cổ Giáp Tí.””

(Trích trong lời đề đáp của Nguyễn Đoàn Tuân trong Thái Ất Thần Kinh do Thái Quang Việt dịch)

Khi dõi theo tương lai quốc gia, người có tài lý số Thái Ất gọi là quyền năng “thông thần, xuất quỉ nhập thần” thường muốn đồng bào an cư lạc nghiệp, quê hương thạnh trị ở giai đoạn thời điểm nào. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) đã để lại rất nhiều bài “sấm,” sấm trạng Trình, nói về đất nước ta. Cả trong những tập thơ cũng chen vào rất nhiều bài thơ sấm đoán định tương lai đất nước.

Bức tranh tang thương trong thời ông là sự nhiễu nhương xã hội. Nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, nhà Lê trung hưng, vua Lê Chúa Trịnh, Trịnh Nguyễn đàng ngoài đàng trong phân tranh. Chắc chắn ông mang tâm trạng tìm thánh Chúa, để trăm họ an vui lâu dài. Qua trang sử kế tiếp, ngôi sao Quang Trung uy dũng đuổi quân Thanh, thống nhất đất nước quá ngắn ngủi. Nhà Nguyễn Gia Long chỉ được 50-năm là Pháp đến đô hộ. Vua Hàm Nghi bôn tẩu hạ chiếu cần vương được các sĩ phu hưởng ứng nổi lên khắp nơi. Giữa cơn phong ba bão táp đó, đất nước bị nước chủ thuyết vô thần Cộng Sản đến. Đau thương và tang tóc trải dài trong lòng dân tộc.

Nhà lý số Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ngừng lại ở hiện tượng biệt danh là “thượng cổ Giáp Tí” là “thất diệu tề nguyên,” tức là năm canh thìn 2000. Ông soi rọi mọi cách để tìm xem thánh Chúa có không.

“Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh Chúa.”

Đọc qua bài thơ trên, ta thấy 4 câu thực và luận, không đối nhau chỉnh, hay nói cách khác là rất gượng ép trong đối ý, đối lời. Vậy cụ Trạng không mời các nhà nho. Đạo Nho nghịch với đạo Giáo trong lý tưởng sống. Một bên ép mình thờ vua giúp nước, một bên thênh thang thơ túi rượu bầu. Vậy cụ gởi cho người bình dân Việt Nam. Người bình dân cần hiểu để chào đón. Khi Thánh Chúa về, Thánh Chúa xuất hiện thì trăm họ phải biết, phải muôn lòng như một, hoan hỉ chào đón. Khi Thánh Chúa xuất hiện mà dân ta không biết để bị mang tiếng là ngu sao! Tôi nói như vậy là có ý nói rằng hôm nay chưa là sự thực thì hàng lãnh đạo luôn thức tỉnh và sẵn sàng hô hào toàn dân chờ đợi đúng lúc lũ lượt tập trung hoan hỉ đón chào.

Bài thơ rất quan trọng cho kẻ sĩ, người có tâm huyết dựng xây nước nhà, góp công sức trong công cuộc bảo vệ dân tộc. Nhưng cái khó của kẽ sỉ là trằn trọc thâu đêm, suy nghĩ suốt thời bôn ba vì mất nước cũng tìm chưa ra giải đáp, tìm chưa ra minh chúa. Tìm chưa ra không có nghĩa là dừng lại hay thối lui mà rèn kiếm mỗi ngày chờ đợi. Tôi đã đọc thấy sinh khí của những kẻ sĩ Việt Nam. Đang bừng lên sức sống, đang vươn mình đứng dậy, đang xắn cao tay áo vùng lên. Đó là hiện tượng đa đầu hiện nay. Khi hiện tượng đa đầu đến tột cùng là lúc dốc tâm ủng hộ một người của một nhóm lãnh đạo, bằng tâm phục khẩu phục. Chính là lúc đoán kết thành một khối sức mạnh, là chính lúc hành động.

Chúng ta điểm lại nét lịch sử lập quốc:

Lạc Long Quân (Rồng) cưới Âu Cơ (Tiên), sinh ra 100-trứng, (được trời đất bảo bọc) nở 100 con trai (Bách Việt). (Vì hạnh phúc đến đâu cũng có lúc chia tay) Kêu vợ tới bảo: “Ta là giống rồng (dũng mãnh), nàng là giống tiên (thuần hậu) nên nàng đem 50 con lên núi (mở mang) còn ta đem 50 con xuống biển (tung hoành). (Khắng khít nhắc nhở) “khi cần thì gọi, ta về ngay.”

Đây là chủ đạo của tộc Việt. Đã trải qua 1,000 năm đô hộ giặc Tàu, 100 năm đô hộ giặc Tây, 30 năm nội chiến, 30 năm Cộng Sản nắm quyền, gia tài của mẹ chỉ là nước Việt buồn chứ chẳng bao giờ bị đồng hóa.

Và hôm nay Cộng Sản quá sợ quan thầy Trung Cộng nên bị Trung Cộng giở đủ các chiêu thức của thủ thuật manh-xảo:

•    Cho người mỗi ngày qua VN cưới vợ và ở lại làm ăn.

•    Ký nhiều lần về hiệp ước ranh giới, xê dịch qua lại nhiều lần để Cộng Sản nao núng không còn chủ động.

•    Bắn giết và giam cầm người Việt đánh cá trong hải phận mình và tri hô là cướp biển nhưng không bằng chứng.

•    Đặt một vài căn cứ quân sự ngầm trong hải địa Việt Nam.

•    Nhập hàng lậu, thao túng thị trường Việt Nam.

Bởi vậy lịch sử của ta khi lập quốc là “Động đình hồ mẹ ru con ngủ” mà ngày nay chỉ còn Thiên Ma Lãnh (danh từ H.O. gọi khi ở tù) sắp bị làm ranh rồi đó.

Đất nước mất dần như vậy, dân ta uất ức đã hô hào khẩu hiệu “Trả ta sông núi” nhưng toàn dân đang im hơi lặng tiếng chờ đợi Thánh Chúa. Khi chia tay Lạc Long Quân khắng khít dặn Âu Cơ: “Khi cần thì gọi, ta về ngay.”

Nên hôm nay sứ điệp của mẹ tiên đã gọi mỗi ngày qua báo chí, phát thanh:

Bán phụ nữ qua Campuchia làm điếm, kể cả 11 và 12 tuổi, mà cả thế giới đều hay.

Mua chỉ một người nữ về làm vợ cho cả nhà ở Đài Loan.

Cưới vợ về để làm nô tì hành hạ ở Trung Quốc.

Người Việt ở quốc nội và khắp nơi trên thế giới hôm nay đang ước nguyện Thánh Chúa về, để cứu nước yên dân. Kẻ sĩ đang sẵn sàng xông trận theo phò Thánh Chúa. Người lãnh đạo nhân hậu và minh mẫn. Nhân hậu vì “thánh nhân bất đắc dĩ dụng hình” chỉ sử phạt “đái tội lập công.” Minh mẫn để thưởng phạt phân minh, phân biệt phải quấy để yên lòng trăm họ.

Với cái mốc “thất diệu tề nguyên” tức là năm 2000, năm Canh Thìn, ta nhìn thẳng vào bài sấm cho hiện tại:

1) “Rồng nằm bể cạn dễ hay.”

Thìn là Rồng, Canh là Kim, Kim loại—kim loại ở trong đất vì do đất sinh ra. Vậy Rồng là Thủy, nằm bể cạn là đất, mà không ai hay là kim dấu trong đất tức là Canh Thìn.

2) “Rắn mới hai đầu khó chịu thay.”

Người ta vẽ con rồng là cổ con rắn mà Tân ở đây là mới vì Canh Tân. Nên rắn mới hai đầu là Tân Tị vậy.

3) “Ngựa đã gác yên không người cỡi.”

Trong tử vi, quan điểm thiên mã ở hội tức là nhâm là ngựa cùng đồ. Về sau ông Thiên Lương cho rằng là ngựa 5-con 4-cửa thì đều chạy được hết. Nên ngựa cùng đồ là ngựa cất yên không cỡi. Vậy là Nhâm Ngọ rồi.

4) “Dê không ăn lộc ngảnh về Tây.”

Trong biến tự của thập can thì nhâm là vương mà quí là trời. Xưa chỉ có vua và trời ban lộc mà thôi. Khi chăn dê nếu trời sang chiều mặt trời xế, dê sợ sói nên ngảnh mặt nhìn mặt trời đang xuống hướng tây là ý muốn về, không ăn lộc trời cho nữa. Tức là Quí Mùi vậy.

5) “Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu.”

Ta biết rằng trong bát quái, phương Đông Giáp thuộc Mộc, chủ sinh sản, nói về gia đạo. Hơn nữa Giáp đứng đầu thập can là mẹ của thập can. Đúng là Giáp Thân. Tính của khỉ khi bị bẫy vào trong lồng chúng ôm nhau khóc thiểu não tức là thân mang giáp.

6) “Gà kia vỗ cánh chập chùng bay.”

Khi gà đang ăn ngoài vườn nghe sấm sét chúng vùng lên bay vào nhà ẩn nấp. Sấm là sấm sét, quả chấn phương đông. Thuộc Ất vị. Vậy là Ất Dậu rồi.

7) “Chó nọ vẫy đuôi mừng Thánh Chúa.”

Chúng ta đồng ý rằng ban ngày chó thấy vẫy đuôi mừng. Ban đêm nghe động chó sủa bất chấp người hay ma (8). Thời điểm ngày chỉ có Bính Đinh thuộc Hỏa, có mặt trời nóng thôi. Vậy là Bính Tuất.

8) “Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày.”

Câu này làm sáng tỏ câu trên. Vì chữ ngày là Đinh Hợi vậy.

Bài sấm hàm ý năm Bính Tuất 2006, Thánh Chúa về. Năm 2007, năm Đinh Hợi mở tiệc mừng.

Việt Nam muôn đời luôn nhắc nhở chúng ta lời minh định quyết liệt của lão tướng họ Lý-Lý Thường Kiệt,

“Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư …”

Trân Trọng,

VQT

(1)      Thời là vào đúc lúc

(2)      Trình Tuyền tức Trình Tuyền hầu tước của cụ

(3)      Thập can nghĩa là 10-gốc

(4)      Thập nhị chi tức là 12-cành

(5)      Phần lập luận này được trích trong lời đề đáp của Nguyễn Đoàn Tuân trong Thái Ất thần kinh do Thái Quang Việt dịch

(6)      Trích từ sách Bách Việt

(7)      Đây là danh từ H.O. đã gọi khi ở tù

(8)      Người hay ma là để diễn tả về bóng dáng

VQT

Lời bàn:

Bây giờ thử điểm qua chữ Thời trong Sấm Trạng, Sấm ký, của các nhà Tiên tri phương Tây và qua những bài viết của một số tác giả đã luận bàn để xem thời hiện nay đang ở trong giai đoạn nào ?

Đọc qua bài phân tích của tác giả Đoàn Văn Thông, Xuân Đấu và VQT … nay trở về bài viết của tác giả Lưu Văn Vịnh, lược qua những điểm chính của thời gian sắp tới trong phần tiên tri của Tây Phương trước rồi xem lại chữ Thời trong Sấm Trạng và Sấm Ký xem có những điểm nào tương đồng về thời gian sắp tới.

Triệu Phong sưu tầm, Xuân Ất Dậu 2005

Chúng tôi xin ghi lại một số năm Dậu trong lịch sử của Việt Nam trải qua gần 1500 năm nay:

Tân Dậu (541): Lý Bôn (còn có tên là Lý Bí), người Giao Chỉ khởi binh đánh Tiêu Tư là Thứ Sử của nhà Lương, tuyên bố độc lập. Sử Việt Nam gọi ông là Lý Nam Đế (lập ra nhà Tiền Lý trong lịch sử nước ta).

Quý Dậu (973): Vua Tống sai sứ sang nước ta phong cho Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ Quận Vương và Thái tử Đinh Liễn làm Kiểm Hiệu Thái Sư Tĩnh Hải quân Tiết Độ Sứ An Nam đô hộ. Đây là lần đầu tiên nước Tàu phong cho nước ta chức “Vương”. Ngô Quyền chỉ được phong làm Tiết Độ Sứ mà thôi. Từ thời Đinh Bộ Lĩnh trở về trước cả ngàn năm, chưa có người nào ở nước ta được vua Tàu phong vương.

Ất Dậu (985): Thái Hậu nhà Đinh là Dương Vân Nga ủng hộ Lê Hoàn lên làm vua (tức Lê Đại Hành) để thay thế nhà Đinh. Năm Tân Tỵ (981). Nhà Tống đem quân qua đánh, Lê Hoàn thắng được quân Tống trên sông Bạch Đằng. Qua năm Ất Dậu (985), vua Lê Đại Hành cho sứ mang lễ vật gồm vàng, ngà voi qua nộp cống phẩm và xin cầu phong. Năm Quý Tỵ (993) nhà Tống phong cho Lê Hoàn làm Giao Chỉ Quận Vương.

Đinh Dậu (997): Vua Lê Đại Hành đích thân đem quân đánh Chiêm Thành.

Kỷ Dậu (1069): Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành bắt được vua Chiêm là Chế Củ đem về.

Ất Dậu (1105): Lý Thường Kiệt mất. Ông là một tướng tài, tinh thông thao lược, làm quan trải ba đời vua, có công “phá Tống, bình Chiêm”, là anh hùng của dân tộc chúng ta, được nhà vua cưng yêu vào bậc nhất.

Ất Dậu (1525): Mạc Đăng Dung nắm giữ quyền lực trong triều đình, bức hiếp vua. Các quan trung thành với nhà Lê bị Mạc Đăng Dung giết hại hơn 10 người. Đến năm 1527, Mạc Đăng Dung tự xưng làm vua, lập ra nhà Mạc.

Đinh Dậu (1537): Tướng nhà Minh là Mao Bá Ôn đem quân đánh Mạc Đăng Dung. Năm sau, Mạc Đăng Dung sai Nguyễn Phi Thái mang thư của vua Mạc sang nhà Minh xin hàng và dâng đất chuộc tội.

Nguyễn Kim đã lập con cháu nhà Lê lên ngôi tại Lào (đất Sầm Châu) và đánh chiếm được Thanh Hóa để chống nhà Mạc.

Tân Dậu (1561): dưới đời Lê Anh Tông (1556-1573): Vua Lê Trung Tông mất, không có con nối dòng. Trịnh Kiểm muốn tự lập làm vua, nhưng ngại lòng người còn theo nhà Lê, bèn cho người ra Hải Dương hỏi ý kiến Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Trạng Trình khuyên Trịnh Kiểm: “giữ chùa thờ Phật thì sẽ được ăn oản”. Trịnh Kiểm hiểu ý bèn về tìm được người cháu ông Lê Trừ (anh vua Lê Lợi) tên là Lê Duy Bang lập lên làm vua tức Lê Anh Tông.

Ất Dậu (1573): Vua Lê Anh Tông thấy Trịnh Tùng nắm hết mọi quyền hành nên âm mưu loại trừ Trịnh Tùng, việc thất bại, vua bỏ trốn vào Nghệ An. Trước hết, Trinh Tùng lập Hoàng tử thứ năm là Lê Duy Đàm, mới bảy tuổi, lên làm vua tức Lê Thế Tông. Sau đó cho người đi bắt vua Lê Anh Tông về giết đi. Từ đó, Trịnh Tùng nắm hết mọi quyền hành và tự phong cho mình chức “Thái Phó, Tổng Quốc Chính, Thượng Phụ, Bình An Vương”.

Từ năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa đến nay, đã có ý hùng cứ một phương nên ra sức vỗ về dân chúng, huấn luyện quân sĩ, tăng cường sức mạnh để chống lại họ Trịnh. Trịnh Tùng xin vua Lê phong cho Nguyễn Hoàng làm Thái Phó, hàng năm phải nộp 400 cân bạc và 500 tấm lụa, ra lệnh cho Nguyễn Hoàng phải tích trữ thóc lúa để phòng giữ biên giới phía Nam. Quân Mạc vào đánh Thanh Hóa, Trịnh Tùng phá được.

Đinh Dậu (1597): Trịnh Tùng diệt được nhà Mạc, đưa vua Lê Thế Tông về Thăng Long. Trước đây, sau khi giết được Mạc Mậu Hợp (1592), vua cho Đỗ Uông đem hai tượng người bằng vàng, bằng bạc và lễ vật qua nhà Minh trình bày tình hình… Phái đoàn qua đến Lạng Sơn phải chờ đợi mãi mà quan nhà Minh không cho đến Bắc Kinh. Đoàn hộ tống Đỗ Uông bị dư đảng nhà Mạc phục kích, may mà Đỗ Uông thoát được. Đinh Dậu (1597), quan nhà Minh là Vương Kiến Lập đến xem xét vùng biên giới, Hoàng Đình Ái đem 5 vạn quân hộ tống vua đến ải Nam Quan hội họp với quan nhà Minh để phân định biên giới. Sau khi trở về kinh thành, vua sai Phùng Khắc Khoan làm Chánh sứ, Nguyễn Nhân Thiệm làm Phó sứ mang cống phẩm như lệ các vua thời trước để mừng lễ vạn thọ vua nhà Minh và xin phong vương. Phùng Khắc Khoan dâng 30 bài thơ chúc mừng được vua nhà Minh khen ngợi.

Quý Dậu (1633): Người con thứ ba của chúa Nguyễn Phúc Nguyên tên là Anh làm phản, viết mật thư hẹn với Trịnh Tráng đem quân vào thì y sẽ làm nội ứng. Sau khi thành công, y sẽ được vua Lê chúa Trịnh cho trấn thủ xứ Đàng Trong và nộp thuế như thời Nguyễn Hoàng. Trịnh Tráng rước vua Lê, đem đại quân vào đến phía Bắc cửa Nhật Lệ, đợi mười ngày mà không thấy dấu hiệu gì, sinh nghi bèn rút quân. Trong lúc đó, tướng của Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật giữ cửa biên giới rất kiên cố, thừa cơ đem quân tấn công rất hăng say, quân Trịnh tan vỡ, bỏ chạy, chết quá nửa.

Đinh Dậu (1657): Được tin Trịnh Tráng mất. Trịnh Tạc được lên làm chúa ở Bắc Hà, Hiền Vương (Nguyễn Phúc Tần) liền gửi mật thư cho Phạm Hữu Lễ ở Sơn Tây đi vận động hào kiệt các nơi làm nội ứng. Chúa lại đích thân đem quân ra tới Quảng Bình. Phạm Hữu Lễ sai con là Phượng cùng bọn gián điệp của chúa Nguyễn ở Bắc là Văn Tường, Hoàng Sinh đích thân vào Quảng Bình gặp chúa Nguyễn báo cáo tình hình. Lúc bấy giờ quân Nguyễn đã chiếm được 7 huyện phía Bắc sông Lam nên danh tướng của Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật đề nghị cử đại binh đánh ra Bắc. Nhưng không hiểu sao chúa Hiền Vương lại trở về Thuận Hóa. Chúa giải thích với các tướng rằng: “Không nên nhân lúc nhà người ta có tang mà đem quân đến đánh. Vả lại, khi chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) mất thì Trịnh Tùng cũng cho người vào phúng điếu, thăm hỏi. Nay ta cũng phải đáp lễ để khỏi mang tiếng ’bất nhân’”. Sau đó, Hiền Vương cho người mang thư và lễ vật ra kinh đô Thăng Long để phân ưu với họ Trịnh và sai đắp lũy từ phía Nam sông Lam đến cửa biển để phòng ngự.

Kỷ Dậu (1669): Năm 1592, Trịnh Tùng thu phục được kinh đô Thăng Long, giết được Mạc Mậu Hợp nhưng con cháu nhà Mạc vẫn còn hoạt động và chiếm giữ một vùng ở đất Cao Bằng và nhờ nhà Thanh đã can thiệp buộc vua Lê phải cắt đất bốn châu ở Cao Bằng cho con cháu nhà Mạc.

Quý Dậu (1693): Nguyễn Hữu Cảnh (Kính), tướng của chúa Nguyễn đánh bại Chiêm Thành, bắt được Bà Tranh. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) đổi tên nước Chiêm Thành làm trấn Thuận Thành. Chúa tự xưng tôn hiệu là Quốc Chúa. Tháng 7 năm đó, Nguyễn Hữu Cảnh dẫn vua Chiêm là Bà Tranh về kinh đô Thuận Hóa trình diện chúa Nguyễn. Bà Tranh bị giam ở núi Ngọc Trản (thường gọi là Điện Hòn Chén) và cấp cho tiền gạo vải vóc đủ dùng. Tháng 8, đổi trấn Thuận Thành làm phủ Bình Thuận, cho các quan người Chiêm bị bắt (bọn Kế Bà Tử) được trở về làm quan tại địa phương và bắt mặc quần áo theo người kinh. Tại Chân Lạp, Nặc Thâm và Nặc Yêm tranh quyền. Thâm cầu viện quân Xiêm (Thái Lan), Yêm cầu viện quân Việt ở Gia Định. Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Cửu Vân đem quân giúp Nặc Yêm, đánh thắng quân Xiêm.

Quý Dậu (1753): Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh điều động tướng sĩ 5 dinh Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ sang đánh Chân Lạp (nay là Kamphuchia).

Ất Dậu (1765): chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát mất, ở ngôi 27 năm (1738-1765), Khi còn sống, Võ Vương chọn Hoàng Tử thứ 9 là Nguyễn Phúc Hiệu nối ngôi. Nhưng Hiệu mất sớm, con của Hiệu là Nguyễn Phúc Dương còn nhỏ. Hoàng Trưởng Tử là Chương cũng đã chết, nên Nguyễn Phúc Luân (cha của vua Gia Long) là con thứ hai, được chọn nối ngôi, thường được tham dự triều chính. Chúa Võ Vương cũng cho quan Nội Hữu Trương Văn Hạnh làm thầy dạy cho Nguyễn Phúc Luân. Nhưng khi Võ Vương mất thì Trương Phúc Loan tự ý thay đổi di chiếu, bắt giam Nguyễn Phúc Luân, Trương Văn Hạnh và Lê Cao Kỷ (quan thị giảng, dạy Thái Tử Luân) đều bị giết. Nguyễn Phúc Luân buồn rầu sinh bệnh, mất. Trương Phúc Loan đưa con thứ 16 của Võ Vương là Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi tức chúa Duệ Tông.

Đinh Dậu (1777): quân Trịnh chiếm Thuận Hóa từ đầu năm 1775, ra lệnh cho Lê Quý Đôn vào Thuận Hóa xét định các khoản thuế của binh và dân. Trịnh Sâm cho Nguyễn Nhạc làm Trấn Thủ Tuyên Úy Đại Sứ ở Quảng Nam. Được rảnh tay mặt Bắc, Nguyễn Nhạc lo củng cố mặt Nam, thế lực Tây Sơn càng ngày càng mạnh lên. Tướng họ Trịnh là Nguyễn Lệnh Tân mật trình cho Trịnh Sâm biết tình hình và đề nghị thay thế Phạm Ngô Cầu ở Thuận Hóa vì sợ Phạm Ngô Cầu không đủ sức đối phó với Nguyễn Nhạc, có ngày Thuận Hóa sẽ bị mất vào tay Tây Sơn. Nhưng Trịnh Sâm không nghe và cho Nguyễn Lệnh Tân về Bắc. Tháng 9 năm đó, Trịnh Sâm cho Hoàng Đình Thể vào thay Phạm Ngô Cầu ở Thuận Hóa.

Tại Gia Định, Đỗ Thanh Nhân ủng hộ chúa Nguyễn Phúc Thuần. Lý Tài ủng hộ Nguyễn Phúc Dương. Chúa Nguyễn phải đặt Nguyễn Phúc Dương lên làm Tân Chính Vương. Hai bên chống nhau. Nguyễn Phúc Ánh đứng ra giải hòa. Biết tin đó, Nguyễn Nhạc cho em là Nguyễn Huệ đem quân thủy bộ vào đánh Gia Định. Lý Tài đánh nhau với Tây Sơn bị thua, kéo về Tam Phụ, bị quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhân giết. Chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương chạy về Định Tường rồi về Vĩnh Long. Các tướng của chúa Nguyễn người thì chết, kẻ bị bắt, người thì tự tử. Tháng 8 năm Đinh Dậu (1777) Nguyễn Phúc Dương bị Nguyễn Huệ bắt và giết di. Chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy về Long Xuyên cũng bị Tây Sơn giết, ở ngôi 12 năm, thọ 24 tuổi, không có con nối dòng. Năm sau, 1778, Nguyễn Phúc Ánh được các tướng tôn lên làm Nhiếp Chính Vương để chống lại Tây Sơn.

Kỷ Dậu (1789): Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh: Nguyễn Hữu Chỉnh trốn vào Quy Nhơn theo Tây Sơn và khuyên Tây Sơn đánh lấy Phú Xuân. Nguyễn Huệ chiếm được Phú Xuân rồi thừa thắng kéo quân ra Thăng Long diệt họ Trịnh, trả ngai vàng lại cho vua Lê Hiển Tông (1740- 1786). Vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Mấy hôm sau, vua Lê Hiển Tông mất, cháu nội vua là Lê Duy Kỳ nối ngôi tức Lê Chiêu Thống. Nguyễn Nhạc liền từ Quy Nhơn ra Phú Xuân nhưng Nguyễn Huệ đã ra Bắc, Nhạc liền đuổi theo Nguyễn Huệ ra Thăng Long gặp vua Lê. Sau đó, anh em Tây Sơn bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại và bí mật rút về, đem theo 60 thuyền của cải vơ vét được từ các kho tàng của vua Lê chúa Trịnh. Vì tranh chấp quyền lực và của cải, anh em Tây Sơn bất hòa, Nguyễn Huệ đem quân vào Quy Nhơn đánh Nguyễn Nhạc.

Nguyễn Hữu Chỉnh ở Bắc, cậy công lộng quyền. Sau khi giải quyết xong vấn đề nội bộ anh em Tây Sơn, Nguyễn Huệ cho Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê Chiêu Thống trốn ra khỏi kinh thành Thăng Long, ẩn náu trong nhân gian. Mẹ vua cùng một số thân thích, cận thần chạy qua Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh. Vua Càn Long cho Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị đem quân qua nước ta, vua Lê Chiêu Thống trở về Thăng Long. Quân Thanh tha hồ cướp bóc, hà hiếp dân.

Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế tại Phú Xuân (1788) niên hiệu Quang Trung và kéo quân ra Bắc. Trận Đống Đa, ngày 5 Tết Kỷ Dậu (1789), đại thắng quân Thanh. Lê Chiêu Thống theo Tôn Sĩ Nghị chạy về Tàu, nhà Lê chấm dứt. Nguyễn Huệ cho sứ qua nhà Thanh xin phong vương.

Trong lúc Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc thì Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm lại toàn bộ đất Gia Định. Tháng 6 năm Kỷ Dậu (1789), Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh cùng Giám Mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) đi cầu viện nước Pháp, đã trở về Gia Định, mang theo một số tàu chiến, súng ống và mấy người Pháp chuyên về hàng hải như Chaigneau, Vanier, Manuel, Dayot…. để giúp chúa Nguyễn. Tất cả người và tàu bè, súng ống này là do Giám Mục Bá Đa Lộc tự mình xoay xở lấy, không phải do vua nước Pháp giúp. Chúa Nguyễn cho lập xưởng đóng chiến thuyền lớn, bọc đồng được sáu chiếc tàu lớn và 100 chiếc thuyền đi biển. Ngoài ra còn lập xưởng chế diêm, lưu huỳnh… để làm thuốc súng. Tháng 11 năm đó, vua tổ chức thao diễn chiến trận, dạy cho lính biết trận pháp để chuẩn bị đi đánh Tây Sơn.

Tân Dậu (1801): Võ Tánh bị vây trong thành Bình Định. Đông Cung Nguyễn Phúc Cảnh bị bệnh mất tại Gia Định. Trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử, quân chúa Nguyễn đáng thắng Tây Sơn tại cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn). Bị Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bao vây, hết lương thực, Võ Tánh tự tử, lính đầu hàng, thành Bình Định bị Tây Sơn chiếm. Ngày 1 tháng 5 (âm lịch) năm Tân Dậu (1801), quân Nguyễn vào cửa Tư Dung (nay là cửa Tư Hiền). Nghe tin đại binh của Nguyễn đến, vua Quang Toản của Tây Sơn đem hết quân ra cửa Eo (tức cửa Thuận An) chống giữ. Ngày 3 tháng 5 (âm lịch), quân Nguyễn tiến vào cửa Eo, chưa giao chiến mà Nguyễn Quang Toản đã bỏ chạy. Quân Tây Sơn xin hàng. Đại binh thẳng tới Phú Xuân. Quang Toản bỏ thành chạy ra Bắc. Chúa Nguyễn trở về nước cũ, cho niêm phong kho tàng, tuyên cáo cho dân biết. Từ đầu năm 1775, khi quân chúa Trịnh vào Phú Xuân, Nguyễn Phúc Ánh theo chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Gia Định đến tháng ngày 3 tháng 5 Tân Dậu (6-1801), hơn 26 năm xa cách nay Nguyễn Phúc Ánh mới trở về quê hương.

Ất Dậu (1825): Sau khi Đông Cung Nguyễn Phúc Cảnh chết, Mỹ Đường là cháu đích tôn của Vua Gia Long (con của Đông Cung), không được chọn để nối ngôi mà Hoàng Tử thứ là Nguyễn Phúc Đảm được chọn tức là vua Minh Mạng. Về sau Mỹ Đường bị vua Minh Mạng buộc tội “loạn luân” và bị giam lỏng ở trong nhà riêng. Ông thường đến thăm con ở An Hòa (gần kinh thành Huế). Có người tâu lên vua là Mỹ Đường có ý bỏ trốn. Vua bảo rằng: “Hành vi của nó hơn là chó lợn, trẫm nghĩ cái tình Anh Duệ Hoàng Thái Tử (tức Đông Cung Nguyễn Phúc Cảnh) nên không nỡ làm tội, nay lại nghe kẻ bậy bạ xui khiến, muốn làm gì chăng?” liền sai thị vệ bắt về, cho lính canh giữ, rồi lại tha. Nhân việc con cháu nhà Lê là Lê Duy Hoán, Lê Duy Lương nổi loạn ở Bắc, sau khi dẹp yên, vua ra lệnh cho tất cả trai tráng thuộc con cháu nhà Lê, đều phải đày đi nơi khác, từ Quảng Nam trở vào, mỗi huyện trên dưới 15 người…

Kỷ Dậu (1849): Dưới thời vua Tự Đức, từ năm 1848 đến năm 1851, vua đã hai lần ban hành dụ cấm đạo Thiên Chúa (thời đó gọi là đạo Gia Tô ngày nay là Công Giáo), lần sau còn nghiêm nhặt hơn lần trước: “Những người ngoại quốc vào giảng đạo thì phải tội chết, những người đạo trưởng ấy ở trong nước mà không chịu bỏ đạo, thì phải khắc chữ vào mặt, rồi phải đày đi ở chỗ nước độc. Còn những ngu dân thì các quan phải ngăn cấm, đừng để cho đi theo đạo mà bỏ sự thờ cúng cha ông, chứ đừng có giết hại v.v…”. Năm Kỷ Dậu (1849) là thời gian người theo đạo Thiên Chúa phải trốn tránh và bị đàn áp.

Sứ thần nhà Thanh là Lao Sùng Quang đến Huế phong vương cho vua Tự Đức. Thấy trong nước xảy ra nhiều thiên tai loạn lạc, các đại thần dâng sớ xin vua Tự Đức:

a. Cho con cháu của Đông Cung Nguyễn Phúc Cảnh được ghi tên vào hệ tôn thất vì trước đây Mỹ Đường là con của Đông Cung bị tội nên con cháu bị đổi họ…

b. Cho phép con cháu của các công thần bị tội là Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất được sửa sang lại phần mộ của các vị ấy. Và cất bỏ hai tấm bia đá khắc chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” và “gian thần Lê Chất phục pháp xứ “.

c. Miễn cho con cháu nhà Lê phải đày đi xa quê hương nhân vụ Lê Duy Lương nổi loạn từ thời vua Minh Mạng. Và cho sửa sang lại các miếu thờ, đồ thờ của nhà Lê, giao cho quan tỉnh Thanh Hóa chịu trách nhiệm chăm sóc. Mục đích của những việc làm này để giải oan cho những người bị tội và tránh tai họa cho dân. Vua Tự Đức đều nghe theo.

Tân Dậu (1861): Quân Pháp do Trung Tướng Charner chỉ huy, đánh chiếm Gia Định, đồn Kỳ Hòa (Chí Hòa) tại Sài Gòn thất thủ, Nguyễn Duy (em Nguyễn Tri Phương) và Tôn Thất Trĩ tử trận, Nguyễn Tri Phương bị thương. Phạm Thế Hiển (bị thương) cùng Nguyễn Tri Phương rút lui, được mấy hôm, Phạm Thế Hiển chết. Vì tội rút quân lui, Nguyễn Tri Phương và các tướng bị cách chức, cho lập công chuộc tội. Người Miên ở Nam Kỳ nghe quân Pháp đến liền nhân cơ hội đó chạy theo Pháp, quấy phá tại các địa phương để trả thù người Việt. Tháng 2, quân Pháp đến đánh chiếm tỉnh Định Tường (Mỹ Tho), hỏa lực của ta và Pháp quá chênh lệch, không chống cự nổi, phải kéo nhau chạy về Vĩnh Long. Vua Tự Đức cho Nguyễn Bá Nghi làm Khâm Mạng Đại Thần, vào Nam Kỳ để đối phó với Pháp. Thấy tình hình khó khăn nên Nguyễn Bá Nghi đề nghị gửi thư cho Pháp xin giảng hòa để làm kế hoãn binh. Trước tình hình như thế, vua Tự Đức không vận động toàn dân đoàn kết chống xâm lăng, trái lại, vua còn ra lệnh bách hại người theo đạo Thiên Chúa, triệt để áp dụng lệnh “phân tháp”… Thực Lục Chính Biên, đệ tứ kỷ, quyển XXIV, bản dịch Hà Nội, tr.227 chép: “Sức nhắc lại các địa phương phải nghiêm ngặt chia ghép bọn dân đạo. Trước đây, chia ghép các dân đạo, còn nhiều sót lậu. Đến bây giờ, nghiêm bắt phủ huyện, các địa phương; phàm những dân đạo trai gái già trẻ, không cứ đã bỏ đạo hay chưa, đều thích chữ vào mặt, chia ghé đến ở vào xã thôn không có đạo, mà phải quản thúc cho nghiêm. Những tên đầu mục hung ác vẫn nghiêm giam như cũ. Nếu người Tây dương đến nơi, thì đem bọn dân đạo ấy giết cho hết. Phủ huyện nào lại còn nhu nhơ dong kẻ gian, để đến nỗi sinh ra việc gì lo ngại, tất phải chiếu theo quân luật trị tội”.

Vua phục chức cho Nguyễn Tri Phương làm Binh Bộ Thượng Thư kiêm quân vụ Biên Hòa, trước đã ban cho kiếm báu và áo chiến, nay cấp thêm ấn quan phòng và 5 lá cờ lệnh, 5 chiếc tín bài để chỉ huy; Tôn Thất Cáp làm Binh Bộ Thị Lang sung chức Phụ tế Biên Hòa quân vụ; Nguyễn Công Nhàn làm quản cơ kiêm đốc binh cùng Nguyễn Tri Phương bàn tính kế hoạch đối phó với Pháp tại Nam Kỳ. Vua ra lệnh cho trong nước phòng thủ và kiểm soát các cửa bể nghiêm ngặt. (Qua năm sau, 1862, Thiếu Tướng Bonard đem quân chiếm Biên Hòa và Vĩnh Long, triều đình phải ký hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhường 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp, Nguyễn Tri Phương được trở về Huế rồi ra Bắc dẹp loạn).

Quý Dậu (1873): Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa) là một thương gia Pháp cho tàu thủy đi dọc sông Hồng Hà, bán súng đạn cho bọn giặc cướp Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh và chở muối qua Trung Quốc, gây rắc rối cho quan quân ta. Đại Úy Francis Garnier ra Hà Nội giải quyết vụ đó, nhưng lại tỏ thái độ che chở cho Jean Dupuis và đòi mở mang buôn bán… Quan ta không chịu và yêu cầu đợi hỏi ý kiến của triều đình đã. Ngày 01 tháng 10 năm Quý Dậu (1873), Francis Garnier bất thình lình tấn công thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương bị thương, nhịn ăn mà chết. Phò mã Nguyễn Lâm, con của Nguyễn Tri Phương tử trận. Các quan đều bỏ chạy. Thừa thắng, quân Pháp chiếm luôn Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên. Pháp đến đâu, quân ta bỏ chạy không kháng cự. Francis Garnier tự ý bổ nhiệm quan lại cai trị các nơi mới chiếm được. Triều đình cho Trần Đình Túc ra Hà Nội thương lượng với Francis Garnier. Đồng thời sai Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường vào Sài Gòn thương lượng với súy phủ Pháp về việc rắc rối ở Bắc Kỳ. Trong khi Trần Đình Túc đang nói chuyện với Francis Garnier thì nghe tin Quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đến, Francis Garnier đem quân đuổi, bị quân cờ đen phục kích giết chết ở Cầu Giấy gần Hà Nội. Triều đình cho Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường vào Sài Gòn thương lượng với Pháp. Sau đó, Việt Nam (Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường) và Pháp (Philastre) ký hòa ước Giáp Tuất (6-2-1874) công nhận chủ quyền của Pháp tại 6 tỉnh Nam Kỳ mà Pháp đã chiếm trước đây. Pháp trả lại Hà Nội và các tỉnh đã chiếm ở Bắc Kỳ cho ta.

Ất Dậu (1885): Vua Kiến Phước chết bất ngờ sau một cơn bệnh vào tuổi 16 tuổi. Ngày 02 tháng 8, 1884, hai vị Phụ Chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa người em của Kiến Phước là Ưng Lịch mới 12 tuổi lên ngôi, niên hiệu Hàm Nghi. Việc tôn phong đã được tổ chức một cách vội vàng và bí mật, không cho người Pháp biết. Trước đó, hai ông cũng đã bí mật tổ chức một chiến khu tại Tân Sở (vùng núi phía Tây tỉnh Quảng Trị) và tăng cường bố trí quân đội tại kinh thành Huế để chống Pháp. Khâm Sứ Pháp ở Huế là Rheinart phản đối và bắt phải xin phép nước Pháp trước khi lập vua mới. Nguyễn Văn Tường phải thay mặt triều đình qua gặp Rheinart để thương lượng và làm đơn xin lập vua Hàm Nghi. Nghe tin Tướng De Courcy từ Hà Nội đến với 1500 quân, Bà Từ Dũ (Thái Hoàng Thái Hậu) gởi quà tặng để chào mừng (có tính cách ngoại giao), Pháp cũng từ chối không nhận…

Do sự can thiệp của Pháp vào nội bộ triều đình Huế và trước những sự nhục nhã mà triều đình phải chịu nên vào tối 22 rạng ngày 23 tháng 5 Ất Dậu (đêm 4 qua ngày 5 tháng 7, 1885), quân ta bất thình lình tấn công quân Pháp tại đồn Mang Cá (trong thành nội Huế) và tòa Khâm Sứ Huế (phía Nam sông Hương). Lúc đầu, vì bất ngờ không kịp phòng bị nên quân Pháp có bị thiệt hại ít nhiều. Nhưng sau đó, quân Pháp phản công, gây tổn thất nhân mạng, nhà cửa cho ta rất nhiều. Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn đích thân chỉ huy đánh đồn Mang Cá thất bại, liền trở vào cung thúc giục vua và Hoàng Gia thu xếp nhanh để chạy trốn vì quân Pháp sắp tới nơi rồi. Thuyết trao cho Trần Xuân Soạn và Tôn Thất Liệt đi hộ tống vua Hàm Nghi và Hoàng Gia cùng các quan đại thần trong đó có Nguyễn Văn Tường, tất cả khoảng 1.000 người. Trong lúc đi đường, Nguyễn Văn Tường bàn với bà Từ Dũ trở về đầu thú Pháp để bảo vệ lăng miếu, cung điện khỏi bị Pháp đốt phá. Bà Từ Dũ đồng ý và ủy thác cho Nguyễn Văn Tường đi lo vụ đó. Lợi dụng lúc tình thế lộn xộn, không ai để ý, Tường chạy đến nhà thờ Kim Long, xin gặp Giám Mục Caspar, nhờ ông này làm trung gian cho Tường ra đầu thú với Pháp.

Sáng 23 tháng 5, Ất Dậu (5-07-1885) quân Pháp chiếm thành nội, tịch thu toàn bộ kho tàng, châu báu của quốc gia.

Tôn Thất Thuyết đưa vua lên Tân Sở (miền núi phía Tây Bắc, cách thị xã Quảng Trị chừng 20 cây số). Nhận thấy để vua ở lại Tân Sở không tiện, ra Bắc thì bị quân Pháp chặn đường trên quốc lộ số 1, nên Tôn Thất Thuyết đưa vua vượt sông Tchépône, qua Lào ra vùng núi Tuyên Hóa (giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh). Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi truyền hịch “Cần Vương” chủ trương “bình Tây sát Tả” (đánh giặc Pháp và giết người theo đạo Thiên Chúa), nho sĩ khắp nơi hô hào dân chúng cùng với quân lính đi đốt phá giết hại người theo đạo Công Giáo vô tội. Hàng chục ngàn người bị chết oan. Vua ở lại trong rừng với Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm còn Tôn ThấtThuyết ra Bắc, qua Trung Quốc cầu viện nhà Thanh. Sau hai tháng không tìm được vua Hàm Nghi trở về, Nguyễn Văn Tường bị Pháp đày qua đảo Tahiti và ông đã chết ở đó. Lúc đầu Pháp đưa Thọ Xuân Vương (Miên Định), chú vua Tự Đức, lên làm Giám Quốc, và đưa Nguyễn Hữu Độ, Khâm Sai Kinh Lược Bắc Kỳ vào làm Phụ Chính, thay thế Nguyễn Văn Tường. Ngày 6 tháng 8, Hoàng Tử Ưng Kỵ (Ưng Đường) con nuôi thứ hai của vua Tự Đức được rước vào cung và đã chính thức lên ngôi vào ngày 9-09 Ất Dậu (1885), niên hiệu Đồng Khánh. Nước Việt Nam hoàn toàn thuộc quyền cai trị của Pháp.

Đinh Dậu (1897): Toàn Quyền Paul Doumer tại Hà Nội bãi bỏ Nha Kinh Lược ở Bắc Kỳ vào giao quyền lại cho Quan Thống Sứ người Pháp cai trị, các quan Việt Nam trực tiếp với Thống Sứ. Paul Doumer cho xây trường học, mở đường xe lửa, khai thác mỏ than, mở các nhà máy dệt, xi măng, ấn định các thứ thuế, phát triển nông nghiệp, kỹ nghệ, thương mãi, vay vốn của ngân hàng Pháp để đầu tư v.v… để tăng ngân sách cho nhà nước thuộc địa.

Kỷ Dậu (1909): Từ năm 1908, Phong Trào kháng thuế bùng nổ lớn ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định rồi lan dần ra các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Các Nho sĩ trí thức trong nước, nhất là tại miền Trung hô hào duy tân, cắt tóc ngắn, học chữ quốc ngữ (chữ Việt ngày nay), thanh niên trốn sang Tàu, sang Nhật du học… Năm 1909 (Kỷ Dậu), Pháp đàn áp mạnh, một số bị xử tử, bị bắt giam, đày đi Côn Đảo trong đó có Phan Chu Trinh. Nhân chuyện nghĩa quân của Hoàng Hoa Thám âm mưu đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (1908) thất bại nên Pháp lùng bắt những người yêu nước, nên từ 1908 đến 1909 (Kỷ Dậu) Pháp ra tay đàn áp, bắt giam, xử tử nhiều thành phần tranh đấu chống Pháp khiến cho tình hình dân trong nước rất khốn khổ.

Tân Dậu (1921): Sau khi qua Trung Hoa, Thái Lan và các nước Âu Châu (Đức và Anh) để hoạt động, thấy tình hình tạm lắng dịu, Cường Để bèn trở lại Nhật. Năm Tân Dậu (1921) ông sống tại Nhật và vẫn liên lạc với các đồng chí của mình. Riêng Phan Bội Châu, sau khi cách mạng Tân Hợi (1911) do Tôn Dật Tiên lãnh đạo thành công tại Quảng Châu… nhờ quen biết nhiều nhân vật trong Quốc Dân Đảng Trung Hoa nên Phan Bội Châu cùng nhóm thanh niên Việt Nam trở lại Trung Quốc để hoạt động. Năm 1925, ông bị Phan Quang Ngọc phản bội, chỉ điểm cho Pháp bắt tại tô giới Pháp ở Quảng Châu và đưa về giam tại Hà Nội.

Quý Dậu (1933): Tổ chức Việt Nam Phục Quốc đã cử Trần Phúc An (Tức Trần Hy Thánh) là Ủy Viên Ngoại Vụ qua Nhật dự Đại Hội Thanh Niên Thế Giới (họp ngày 29-11-1933). Sau khi khởi nghĩa thất bại vào năm 1930 tại Yên Báy, một số đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng trốn qua Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam… Năm Quý Dậu (1933), những người này đã thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng Trung Ương Ủy Viên Hải Ngoại Biện Sự Xứ: Vi Chính Nam (tức Vi Đăng Tường) được cử làm Chủ Nhiệm. Về sau Vũ Hồng Khanh lên thay thế Vi Chính Nam để lãnh đạo tổ chức này.

Ất Dậu (1945): Năm này, nước Việt Nam có nhiều biến cố quan trọng:

Nạn đói lớn nhất tại Việt Nam, từ Quảng Bình trở ra Bắc mất mùa, hơn hai triệu người miền Bắc chết đói. Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, vua Bảo Đại tuyên bố độc lập: chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Mỹ thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagazaki của Nhật. Vua Nhật tuyên bố đầu hàng. Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội. Vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 2 tháng 9, 1945, Hồ Chí Minh ra mắt chính phủ tại Hà Nội, đọc tuyên ngôn độc lập. Theo quy định của Đồng Minh: vấn đề giải giới quân Nhật, từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc do quân Tàu và từ vĩ tuyến 16 trở vô Nam do quân Anh. Tại miền Bắc, Đại Tướng Lư Hán đem quân đến Hà Nội, lực lượng võ trang của Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) và Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc) theo chân quân Tàu về nước. Tranh chấp giữa phe Quốc Gia và Việt Minh (Cộng Sản). Hồ Chí Minh thành lập Chính Phủ Liên Hiệp, dành cho phe Quốc Gia 70 ghế trong Quốc Hội (Việt Cách: 20 và Việt Quốc: 50). Tại Miền Nam, quân Pháp đến Sài Gòn thay quân Anh và đổ bộ tái chiếm các tỉnh miền Nam và Cao Nguyên. Kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ bùng nổ. Việt Minh bắt tay với Pháp để loại trừ các đảng phái quốc gia đối lập với Cộng Sản. Quân Tàu rút về nước và Pháp thay thế. Phe Quốc Gia bị cả Pháp và Việt Minh tấn công….

Đinh Dậu (1957): Tại Miền Bắc, sau khi chiếm được một nửa nước Việt Nam, chính quyền Cộng Sản Hà Nội theo chỉ thị của Trung Cộng, thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ một cách dã man. Nhiều người có công kháng chiến chống Pháp (1945-1954) cũng bị đem ra đấu tố, bị tịch thu tài sản, bị tù tội hay bị giết. Nhiều người không phải là địa chủ, chỉ có một ít đất ruộng để sống, có thể khá hơn người khác một chút cũng bị đem ra đấu tố. Có những xã không có thành phần địa chủ nhưng cán bộ phải “đạt chỉ tiêu” do cấp trên đưa xuống, nên cũng phải đem một số người vô tội ra đấu tố, hy sinh họ để báo cáo “đã thực hiện tốt” mọi kế hoạch trên giao. Hàng trăm người chết oan, chết ức vì vụ “đấu tố” địa chủ này. Hồ Chí Minh và Lê Duẫn đi thăm Liên Xô (Nga). Hồ Chí Minh thăm Nam Tư. Phạm Văn Đồng (Thủ Tướng miền Bắc) gởi thư cho TT Ngô Đình Diệm đề nghị hiệp thương. Phong Trào Trăm Hoa Đua Nở ở miền Bắc với tập san “Nhân Văn Giai Phẩm” giăng các bài chỉ trích, phê bình Đảng CS nên các nhà văn, nhà báo, trí thức ở miền Bắc bị đàn áp, bị giam cầm, tù tội, bị thủ tiêu, không cho cầm bút viết văn. Các tên tuổi được nhắc nhỡ nhiều nhất là: Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Tuân, Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang v.v…

Tại miền Nam, sau khi ổn định tình hình, tái lập an ninh trật tự, định cư cho cả triệu đồng bào di cư tỵ nạn Cộng Sản từ Bắc vô Nam sau hiệp định Genève (20-07-1954), chính quyền Ngô Đình Diệm đã xây dựng nhà cửa, cầu cống, mở mang đường sá, kỹ nghệ, thương mãi phồn thịnh. Ngày 20-02-1957, Việt Nam Cộng Hòa xác nhận chủ quyền trên hai quần đảo Tây Sa và Hoàng Sa. Ngày 22-02, 1957, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát trong khi đến khánh thành Hội Chợ Ban Mê Thuột nhưng vô sự, chỉ có ông Đỗ Văn Công (Bộ Trưởng Cải Cách Điền Địa) bị thương. Hung thủ tên là Hà Minh Chi (tức Phạm Ngọc Phú) làm việc ở Ty Thông Tin Tây Ninh bị bắt ngay. Ngày 1-3-1957, Bộ Giáo Dục VNCH ban hành Sắc Lệnh 45/GD thành lập Viện Đại Học Huế. Bộ Quốc Phòng ban hành Nghị Định 183-QP bắt buộc thanh niên hạng tuổi 20, 21 phải thi hành quân dịch trong thời hạn 2 năm. Chính Phủ Đài Loan và Việt Nam CH ký thỏa hiệp cho những Hoa kiều sinh tại Việt Nam không nhập Việt tịch được hồi hương về Đài Loan. Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành luật cấm Hoa kiều làm 11 nghề. Bộ Giáo Dục Sài Gòn ban hành Sắc Lệnh 213/GD thành lập Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ. Bộ Nội Vụ Sài Gòn ký Nghị Định thành lập Nha Công Tác Xã Hội Miền Thượng. Chính Phủ Việt Nam CH trả lời thư của Phạm Văn Đồng: “Khi nào miền Bắc chấm dứt khủng bố, phá hoại và thực thi dân chủ tự do, khi đó mới có thể tổng tuyển cử và thống nhất đất nước”. Tòa Án Quân Sự xử 23 người trong vụ Bình Xuyên (1955): gồm các ông Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hữu Thuần, Trịnh Khánh Vàng, Nguyễn Thành Nghi, Nguyễn Văn Hớn, Nguyễn Triệu Phương, Nguyễn Văn Hiếu v.v… 8 tử hình, 3 khổ sai chung thân và 1 án khổ sai 20 năm. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đi thăm các nước Hoa Kỳ, Thái Lan, Nam Hàn, Ấn Độ.

Kỷ Dậu (1969): Sau vụ Tết Mậu Thân (1968): Cộng Sản tổng tấn công vào các thành phố và thị xã miền Nam, đặc biệt là cuộc thảm sát tại Huế, trên 5000 thường dân vô tội bị giết, quân đội Việt Nam Cộng Hòa phản công tiêu diệt Việt Cộng, số người bỏ hàng ngũ Việt Cộng về hồi chánh lên đến hàng trăm ngàn. Tổng số VC tổn thất, chết hoặc mất tích lên đến trên 100.000 người. Kế hoạch bình định nông thôn thành công, số VC nằm vùng bị phát hiện, bị bắt rất nhiều. Tình hình an ninh rất tốt. Năm Kỷ Dậu (1969), là một năm thắng lợi của VNCH.

Sau vụ thất bại Tết Mậu Thân, Hồ Chí Minh sinh bệnh nặng và chết vào ngày 2 tháng 9 năm 1969 (nhưng Hà Nội phải đợi sau ngày Lễ Quốc Khánh mới công bố nên đã thay đổi lại ngày chết của Hồ Chí Minh là 3 tháng 9 năm 1969). Hòa đàm bắt đầu giữa Mỹ và Hà Nội được tổ chức tại Paris, hai bên đang thảo luận về thủ tục. Phía Việt Nam Cộng Hòa do Đại Sứ Phạm Đăng Lâm làm Trưởng Phái Đoàn và các ông Nguyễn Xuân Phong là Phó Trưởng Phái Đoàn. Một số chuyên viên như Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cũng có mặt để trợ lực cho phái đoàn. Phó Tổng Thống Việt Nam CH, ông Nguyễn Cao Kỳ, cũng đến làm để giám sát. Phía Hà Nội do Lê Đức Thọ cầm đầu phái đoàn và Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Tân Dậu (1981): Sau khi đánh thắng miền Nam, thống nhất đất nước, Hà Nội theo Nga chống Trung Cộng. Pôn Pôt ở Kampuchia theo phe Trung Cộng, gây hấn với Việt Nam ở biên giới Tây Nam. CS Việt Nam bất đắc dĩ phải đem quân qua Kampuchia lật đổ Pôn Pôt và dựng lên một chính quyền tay sai của Việt Nam (Hun Sen). Năm 1979 Trung Cộng đem quân đánh Việt Nam, tàn phá các tỉnh ở biên giới phía Bắc Việt Nam, gây thiệt hại vô cùng to lớn không thể lường được. Năm Tân Dậu (1981) là năm Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, một mặt bị Trung Cộng đe dọa, phải đưa quân phòng thủ ở biên giới phía Bắc, một mặt phải đem quân qua bảo vệ chính quyền tay sai ở Kampuchia, một mặt phải dập tắt các phong trào chống đối ở trong nước đồng thời phải đối phó với dư luận trên thế giới đang tấn công Việc Nam về vi phạm nhân quyền. Hàng vạn sĩ quan và viên chức hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa cũng như tu sĩ và tín đồ các tôn giáo đang bị đày đọa trong các trại tập trung cải tạo với thân phận “người tù khổ sai”, đói rách, thiếu thuốc men, phải lao động đến kiệt sức, nhiều người đã ngã gục. Số người vượt biên đi tìm tự do, chết trên sông, trên biển hay trong rừng sâu… đã đánh động lương tâm nhân loại. Các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương đầy nhóc các thuyền nhân vượt biển. Các nước trên thế giới họp nhau tìm giải pháp để cứu giúp những người cùng khổ này và các chương trình định cư cho thuyền nhân đã được thực hiện.

Quý Dậu (1993): Dưới áp lực của Mỹ, Trung Cộng và thế giới, Việt Nam chịu rút quân khỏi Kampuchia và thực hiện chương trình ra đi có trật tự… Các thành phần thuộc VNCH bị tập trung cải tạo trên 3 năm được lần lượt ra đi định cư tại Hoa Kỳ (hoặc tại một nước thứ ba) để làm lại cuộc đời trong một xã hội tự do dân chủ. Sau khi Liên Xô và các nước Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, Việt Nam rất lo sợ trước sức mạnh quân sự và tham vọng bành trướng của Trung Cộng nên một mặt chạy theo Mỹ, đưa ra chủ trương “kinh tế thị trường”, bắt tay với tư bản, cho sinh viên qua Mỹ du học, nhờ Mỹ làm giảm bớt áp lực của Trung Cộng; mặt khác chuyển hướng để hòa giải với Trung Cộng, chấp nhận dâng đất, dâng biển cho kẻ thù để giữ cái ghế cho bọn lãnh đạo CSVN. (Tháng 12, 1999, Việt Nam ký với Trung Cộng hiệp ước phân định ranh giới trên đất liền để hợp thức hóa phần đất mà Trung Cộng đã chiếm vào năm 1979 khi đem quân tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam. Và hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ, tháng 12-2000).

Ất Dậu (2005): Nhớ lại hai lần Ất Dậu trước đây: 1885 và 1945, đã có nhiều biến cố lịch sử làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam chúng ta. Năm nay, 2005 cũng là năm Ất Dậu, trở lại chu kỳ lục giáp (60 năm) như năm 1945. Hai lần Ất Dậu (1885 và 1945), vua mất ngai, quan mất chức, dân mất việc, mất đất, mất nhà… Không biết Ất Dậu này (2005) lành hay dữ. Nhìn lại Thân, Dậu đã qua là những năm chiến tranh, đau khổ chứ không “kiến thái bình”. Vậy Thân, Dậu này (2004, 2005) có khác với các năm Thân, Dậu trong quá khứ hay không? Sách Kinh Dịch viết: “Cùng tắc biến; biến tắc thông” (Sự việc đi đến tột cùng thì sẽ có thay đổi; có thay đổi thì có hanh thông, may mắn). Mặt trời lên đến tột đỉnh (đúng ngọ) thì đi xuống và chuyển dần về chiều. Mùa Đông tới độ rét lạnh tối đa thì trời ấm dần và chuyển qua mùa Xuân. Những biện pháp CSVN đang áp dụng nhằm mục đích hạn chế tự do tôn giáo cũng là những giọt nước cuối cùng làm tràn một ly nước đã đầy… Chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra, chờ xem!

Lời bàn:

Chúng ta tạm thời bỏ qua những định kiến Quốc – Cộng, chỉ trung dung nhìn hoàn cảnh lịch sử Việt, sau thời Cụ Trạng mất những năm sau đó, thời Trịnh – Nguyễn liên miên chiến tranh đói kém đau khổ … rồi tới thời Pháp thuộc cả toàn dân Việt chìm trong màn nô lệ đen tối, cho tới thời thế chiến II (cũng là chữ THỜI) VN tuyên bố được độc lập, cho dù CS nắm được chính quyền (cũng là chữ THỜI), thì VN thoát khỏi vòng nô lệ đen tối mà “thăng đại minh”, cho dù mới có “Thìn Mão xuất thái bình” (câu thái bình có nhiều trong Sấm Trạng), những chưa có Thánh Chúa nên chưa hẳn là thực sự thái bình, Cụ Trạng rất chú trọng thời mà Thánh chúa xuất hiện, thời đó Cụ Trạng mới cho là thực sự thanh thái bình đến hàng trăm năm sau,và đến những năm Dậu kế tiếp vừa qua thì chưa có năm Dậu nào được “thái bình phong”, vậy câu “Thân Dậu niên lai kiến thái bình” kế câu sau là:

Chó nọ vẫy đuôi mừng Thánh chúa,

Ăn no ủn ỉn Lợn kêu ngày

Thân Dậu chỉ mới là thấy được thái bình, còn thực sự ấm no thanh bình thì phải chờ chó vẫy đuôi mừng Thánh chúa thì Lợn mới được ăn no ủn ỉn mới thực sự mới là “thái bình phong”, vậy câu nào thực sự mới là thái bình ?, có lẽ phải chờ 1 biến cố mới, như thời Thế chiến II mới có thể chuyển biến 1 cách triệt để được, tất cả rúng động toàn thể mới tạo được “chữ THỜI” để thoát vòng “thiết vi”, và phải chờ tới lúc Thánh Chúa ra đời mới thực sự đúng chữ thái bình vậy.

Lời bàn:

Trong Sấm Trạng, Sấm ký, Bạch Vân ca có những phần nói về con Gà hoặc năm Dậu như:

77 – Bở mồ hôi, Bắc giang tái mã

78 – Giữa hai xuân, bỗng phá tổ long

79 – Quốc trung kinh dụng cáo không

80 – Giữa năm giả lại kiểm hung mùa màng

81 – Gà đâu sớm gáy bên tường

82 – Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không

83 – Thủy binh cờ phất vầng hồng

84 – Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng

398 – Long vĩ xà đầu khổ (khởi) chiến tranh

399 – Can qua xứ xứ khởi đao binh

400 – Mã đề dương cước anh hùng tận

401 – Thân Dậu niên lai kiến thái bình

438 – Ký Mã xu (khu) Dương tẩu

439 – Phù Kê thăng đại minh

440 – Trư Thử giai phong khởi

441 – Thìn Mão xuất thái bình

458 – Kim kê khai lựu điệp (liệp – diệp ?}

459 – Hoàng cái xuất quí phương

460 – Nhân nghĩa thùy vi địch

461 – Ðạo đức thực dữ đương

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh trập trùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày

Ô hô thế sự tự bình bồng,

Nam Bắc hà thời thiết lộ không

Hồ ẩn sơn trung mao tân bạch

Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng

Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc

Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông

Nhược đãi ưng lai sư tử thượng

Tứ phương thiên hạ thái bình phong

Đến thời thiên hạ vô quân.

Làm vua chẳng dễ làm dân chẳng lành

Gà kêu cho khỉ dậy nhanh

Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung

Sự đời tính đã phân minh

Thanh nhàn mới kể chuyện mình trước sau

Đầu thu gà gáy xôn xao

Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long

Chó kêu ầm ỉ mùa Đông

Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi

Lợn kêu tình thế lâm nguy

Quỷ vương chết giữa đường đi trên trời

Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi

Trâu cày ngốc lại chào đời trước ta

Hùm gầm khắp nẻo gần xa

Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời

Chó mừng chúa gà bày cục tác

Lợn ăn no thả rác nằm chơi.

Đó mới kể là đời thịnh thế

Mà thiên hạ sau xẻ làm hai.

Người Đoài cũng thực ấy tài

Mà cho người Sở toan bài lập công.

Bởi Trần vương ngu không kể siết

Mới phen nầy dê lại giết dê.

Đến khi thức tận binh bì

Âm binh ở giữa dễ thì biết sao.

Và 1 số câu trong phần Phụ lục nhưng lược bớt, có thể nhận thấy một số câu nói về con Gà hay Dậu trong câu đoạn trên là nói nhiều về thời gian sự kiện, chỉ riêng câu

458 – Kim kê khai lựu điệp (liệp – diệp ?)

459 – Hoàng cái xuất quí phương

460 – Nhân nghĩa thùy vi địch

461 – Ðạo đức thực dữ đương

là đặc biệt khác với những câu nói về thời gian và sự kiện, trong 4 câu này nói về Thánh nhân, chữ Kim kê khai lựu điệp (liệp – diệp ?) con gà vàng này rất đặc biệt, nhưng chưa rõ là chữ Hán Nôm nguyên gốc nên chưa phân tích được chữ lựu và chữ điệp hay diệp, liệp.

Trở lại 4 câu:

438 – Ký Mã xu (khu) Dương tẩu

439 – Phù Kê thăng đại minh

440 – Trư Thử giai phong khởi

441 – Thìn Mão xuất thái bình

Trong 4 câu này, chữ phù kê là nói về thời gian và sự kiện hơn là nói về Thánh nhân, chữ phù 扶 là giúp đỡ, nâng đỡ, theo giúp … nhận xét trong năm Dậu 1945 như sau:

Ất Dậu (1945): Năm này, nước Việt Nam có nhiều biến cố quan trọng:

Nạn đói lớn nhất tại Việt Nam, từ Quảng Bình trở ra Bắc mất mùa, hơn hai triệu người miền Bắc chết đói. Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, vua Bảo Đại tuyên bố độc lập: chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Mỹ thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagazaki của Nhật. Vua Nhật tuyên bố đầu hàng. Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội. Vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 2 tháng 9, 1945, HCM ra mắt chính phủ tại Hà Nội, đọc tuyên ngôn độc lập. Theo quy định của Đồng Minh: vấn đề giải giới quân Nhật, từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc do quân Tàu và từ vĩ tuyến 16 trở vô Nam do quân Anh. Tại miền Bắc, Đại Tướng Lư Hán đem quân đến Hà Nội, lực lượng võ trang của Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) và Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc) theo chân quân Tàu về nước. Tranh chấp giữa phe Quốc Gia và Việt Minh (Cộng Sản). HCM thành lập Chính Phủ Liên Hiệp, dành cho phe Quốc Gia 70 ghế trong Quốc Hội (Việt Cách: 20 và Việt Quốc: 50). Tại Miền Nam, quân Pháp đến Sài Gòn thay quân Anh và đổ bộ tái chiếm các tỉnh miền Nam và Cao Nguyên. Kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ bùng nổ. Việt Minh bắt tay với Pháp để loại trừ các đảng phái quốc gia đối lập với Cộng Sản. Quân Tàu rút về nước và Pháp thay thế. Phe Quốc Gia bị cả Pháp và Việt Minh tấn công….

Trong năm Ất Dậu 1945, những biến cố trong năm Dậu này mà các chính khách nhộn nhịp về nước để thành lập nước VN độc lập, trong năm này VN thoát qua ách thống trị của gần trăm năm đen tối trong vòng nô lệ Pháp thuộc mà được “thăng đại minh”, rồi sau đó là Trư Thử giai phong khởi nổi lên các phong trào … cho đến năm Thìn Mão (tháng Thìn – 30/4 năm Mão 1975) xuất hiện được thái bình không còn chiến tranh hai miền Nam Bắc.

Mở đầu cho Sấm Trạng được cho là đích thân cụ Trạng viết và truyền lại những câu:

Liên Mậu, Kỷ, Canh, Tân

Can qua sinh sác biến

Bốc đắc Càn thuần quái

Sơ cửu thoái tiềm long

Ngã bát thế chi hậu

Binh qua khởi trùng trùng

Ngưu tinh tụ Bảo giang (Tinh tụ Bảo giang thượng)

Đại nhân cư chính trung

Dịch nghĩa :

Bói được quẻ thuần Càn

Hào sơ cửu rồng lui ẩn

Tám đời sau ta

Binh biến khởi trùng trùng

Sao Ngưu tụ Sông Quí

Đại nhân ở chính giữa

Đời người xưa chỉ trên dưới 60 “Thất thập cổ lai hi”, 8 đời là vào khoảng 500 năm chiến tranh liên tiếp, VN sau trận chiến với Miên Tầu vào khoảng năm 1980 mới thực sư được thái bình hơn 20 năm nay không còn chiến trận đau thương tuy nhiên còn rất nhiều vấn nạn đau khổ khác cho người dân Việt, nên Sấm Trạng chỉ nói là “xuất thái bình”, người dân Việt vẫn chưa được “Lợn ăn no thả rác nằm chơi hoặc Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày”. Nhìn lại lịch sử Việt cận đại thấy thực là như vậy. Chỉ khi nào tới năm có biến cố

398 – Long vĩ xà đầu khổ (khởi) chiến tranh

399 – Can qua xứ xứ khởi đao binh

400 – Mã đề dương cước anh hùng tận

401 – Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Khỉ khóc mếu vì chủ thuyết “khỉ” gà tan vỡ tổ đàn bỏ chạy bay đi, Thánh chúa ra đời toàn thể người dân Việt mới thực sự được công bằng tự do, ấm no hạnh phúc …

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh trập trùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày

Lời bàn:

Trong Sâm ngôn Sấm ký của các bậc kỳ nhân ghi lại, để tiên tri tiên đoán những sự kiên, thời gian quan trọng của nhân vật hay sự kiện biến chuyển giai đoạn của đất nước.

Quá trình sử Việt sau thời vua Hùng Vương, từ lúc chuyển qua vua Thục đã vào giai đoan suy vong cho đến nay đã mấy ngàn năm, liên miên trong chiến tranh nghèo khổ nô lệ. Vì vậy trong phần đầu Sấm Trạng có câu:

7 – Việt Nam khởi tổ xây nền

8 – Lạc Long ra trị đương quyền một phương

9 – Thịnh suy bĩ thái lẽ thường

10 – Một thời lại một nhiễu nhương nên lề

Liên miên trong khói lửa, từ thập niên 80 cho đến nay đã hơn 30 năm tạm thời không có chiến tranh, chẳng lẽ một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt cận đại này lại không có câu nào của Sấm Trạng nói đến sao?, đọc nhiều bài phân tích về Sấm Trạng của các tác giả, tôi cũng chẳng thấy nói đến ???.

Sự kiện Thánh nhân xuất cũng là 1 việc rất quan trọng trong thời gian tới, nhưng tôi chưa tìm hiểu và suy luận Thánh nhân là ai ? tuổi gì, ở đâu … mà để dành sự suy luận cho những sự kiện thời gian nào sắp và sẽ đến, “tri thiên mệnh – tận nhân lực”. Đọc Sấm Trạng không để “rơi” vào một định kiến hay tư kiến thì mới nhận thấy những gì có thể thấy.

Nếu đã chấp nhận tìm hiểu Sấm ngôn Sấm ký … một cách “phi khoa học” như các môn bói toán khác, thì cũng nên tạm gạt qua phần thực giả trong Sấm, vì có luận chúng nào để chứng minh thật hay giả đâu, mà phải nhìn xem trong Sấm có những gì đã, đang rồi sẽ xẩy ra.

Tôi cũng đã tổng hợp các bài Sấm Trạng, Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân ca cho đến những bài rải rác, rồi tách đoạn, so sánh những câu khác nhau ví dụ như:

436 – Ðịa giới sĩ (xỉ) vị bạch

437 – Thủy trầm nhĩ bất kinh

hay:

Thủy trầm nhi Bắc kinh ?

Vì là Hán tự nên rất khó nhận định câu nào đúng hay sai. câu trước 436, 2 chữ địa giới là hiểu 1 chữ sau sĩ hay xỉ ? là khác nghĩa rồi, 2 chữ vị bạch cũng có thể hiểu, nhưng đọc toàn câu khái khái là: vùng, cõi, giới hạn … vùng đát rồi sĩ hay xỉ ? chưa trắng (xóa ?). Câu sau 437 thủy trầm là chìm trong nước nhưng tại sao nhĩ 爾: là mày, hay nhĩ 耳: là tai nghe, hay nhĩ 邇: tới gần ???. Bất kinh 京 là: chẳng to, kinh 驚: chẳng sợ, kinh 經: chẳng thường???. Nếu không cho là dùng cách chiết tự thì nguyên câu thật khó hiểu, nếu lỏm bỏm dịch ra thật khó hiểu, vì hai câu trước:

434 – Nam Việt hữu Ngưu tinh

435 – Quá thất thân thủy sinh

Ngưu tinh là chủ tinh của dân Việt dòng giống của Thần Nông chủ về cầy cấy đồng ruộng nước thủy Ngưu khác với Bò là Hoàng ngưu, trong 4 câu này rất nhiều nước.

Vậy câu sau có nghĩa là gì không?:

Thủy trầm nhi Bắc kinh ?

có lẽ dễ hiểu hơn nhi bộ thủy, nhu, nhi 濡: Thấm ướt, hoặc nhi 而: mày, mà … không cho là câu nào đúng hay sai, chỉ nhận xét theo thời cuộc hiện nay xem sao ?.

Trước hết, Trung cộng hiểu rằng chiến tranh là không thể tránh được giữa Trung cộng với các quốc gia trong vùng và với cả Hoa kỳ. Vì thế Trung cộng cần phải chuẩn bị, cần phải tích lũy tài nguyên để có thể chuẩn bị đương đầu với một cuộc chiến tranh như thế. Ngoài ra vì đập Tam Khẩu chứa một khối lượng nước vô cùng lớn, do đó khi có chiến tranh, đập Tam Khẩu sẽ biến thành quả bom nguyên tử phá tan tành nước Tàu, giết chết cả hàng trăm triệu người Tàu ngay lập tức nếu đập này bị đối phương oanh tạc hay phá vỡ.

….

Bộ Quốc phòng Mỹ đã khuyến cao Đài Loan la trong vong 2 tới 4 năm nữa, Trung Cộng sẽ bất thần tấn cong Đai Loan ma Hoa kỳ khong thể ra tay cứu giup kịp thời. Trong trường hợp đo, Đai Loan nen xử dụng cac phương tiện co sẵn trong tay để ra tay trước hầu chiếm ưu thế. Khi tấn cong trước thi một trong những mục tieu quan trọng cần phải pha hủy la đập Tam khẩu nằm tren song Dương tử của Trung quốc.

Search tìm thêm về hiểm họa Trung Cộng, chiến tranh Trung cộng, hoặc bà mụ thế kỷ … sẽ nhận thấy thời sự và Sấm ký tiên tri sẽ có những tương quan lẫn nhau, ví dụ như tiên đoán của ông Notrdamus về thế chiến 3 sẽ xẩy ra từ Trung Đông … mà thời sự hiện nay đang dần hiện ra.

Thăng Long lược phong thủy kí

Thế Dũng (Theo Sưu tầm)

Gọi là long mạch được chia ra thân (can long), cành (chi long), nhánh (cước long), ngoặt (bàng long)… Lớn thì gọi là đại can long, đại chi long, nhỏ thì gọi là tiểu can long, tiểu chi long… Long mạch được tạo nên do sự vận hành của Âm Dương, Thiên Địa, Ngũ hành, Can Chi, Bát Quái… con người chỉ có thể vận dụng, không can thiệp vào được, cho dù có sử dụng hàng vạn tấn TNT hay thậm chí bom nguyên tử…

Đó chính là một bộ nhớ vĩ đại, ghi chép những chu kì lặp lại của Không – Thời gian trong tổng thể cái gọi là quá khứ, vị lai… của vũ trụ. Sách Địa giải huyền thư nêu rằng nằm trên đại can long thì có thể hình thành kinh sư (nơi đóng đô), chi long có thể lập nên thành, phủ, đô thị (tỉnh), cước long có thể lập nên trấn, xứ (huyện, xã)… Có long mạch, lại phải có ít nhất một đại can long hình thế khúc chiết, vững vàng thì mới được coi là đất đế vương. Đó là một trong những yếu tố tiên quyết để có thể lập quốc, hình thành một quốc giạ Trung Quốc rộng lớn có ba đại can long, hình thành bởi ba con sông là Trường Giang, Hoàng Hà và Áp Lục Giang. Nước ta cũng có một số đại can long. Trong đó sông Hồng chính là một trong những ranh giới giữa hai đại can long nước Việt từ xưa tới nay vậỵ

Khoa học về long mạch xem xét sự vận hành của khí tương quan với địa hình, phương vị, các chòm sao… nên xem Trời là tĩnh mà Đất thì động. Đó là một kiệt tác quan sát của người xưạ Chỉ riêng một môn này thôi, cũng đủ thấy trí tuệ phương Đông xưa vĩ đại đến nhường nàọ Long mạch tạo nên sự vận hành của “khí”. Có chỗ bế (tắc), chỗ khai (mở), có nơi phát tán, có nơi ngưng tụ, có khi hung, khi cát… biến ảo tuỳ thờị Tất cả đều không thể xem thường. Đời Nguyên có Liêu Kim Tinh vốn là người nghèo rách, tầm thường. Nhờ học được sách phong thuỷ của Ngô Cảnh Loan đời Tống mà tìm được một nơi đắc địa, có thể phất lên nhanh chóng. Song chỗ đất ấy nếu ở quá hai mươi năm mà không tu tạo thì sẽ bị tuyệt tự. Liêu Công bèn dọn nhà đến đó ở. Quả nhiên vài năm sau trở thành một phú hộ giàu có nhất vùng, tiếng tăm vang dội thiên hạ. Bấy giờ, trong nước có họ Trương là một bậc quyền thế nghe tiếng liền đón Liêu về để nhờ xem đất. Trong vòng hơn chục năm, Liêu tìm cho họ Trương được bảy mươi tư chỗ đất có kết huyệt tốt. Vậy mà họ Trương vẫn chưa thỏa lòng tham. Đến khi thấy thời hạn hai mươi năm gần hết, Liêu ngỏ ý xin về để tu tạo mồ mả thì họ Trương cố giữ lại thêm mấy năm nữạ Kết quả khi Liêu trở về nhà thì con cháu đã bị nạn chết sạch, chỉ còn bà vợ già và đứa cháu ngoạị Liêu Công từ đó đau buồn, sinh bệnh rồi mấy năm sau cũng mất nốt. Chuyện từ xưa mà buồn đến tận bây giờ.

Cách đây xấp xỉ một nghìn năm, Lý Công Uẩn, ông vua khai sáng triều Lý đã nhìn thấy ở thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (Cao Biền) nằm trên đại can long sông Hồng là một nơi có long mạch lý tưởng: “Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời…” (“Chiếu dời đô” – Lý Công Uẩn). Càng đắc địa hơn vì trước khi chảy đến đất này, sông Hồng đã bao lần ngoằn ngoèo, uốn khúc để thải bớt khí hung. Đến đây vừa đủ để lập nên một vùng cát địa, có long mạch đạt tầm cỡ thượng đô kinh sư. Thế mà trước khi chảy ra với biển, dòng sông vẫn còn muốn ngoái lại, lưu luyến như tiếc nuối điều gì… Rồi cũng từ đại can long Hồng Hà vĩ đại ấy, tỏa ra các chi long, cước long… vây bọc, tạo nên bức gấm thêu giữa một vùng trời nước.

Cũng cần phải nói rằng Thăng Long (thành Đại La cũ) là một vùng đất ngưỡng diện (ngửa mặt lên trời), sách xưa gọi là thế Dương lai Âm thụ (khí dương phủ xuống, khí âm ngẩng lên đón). Đất này nhược (mềm mỏng), khí ngưng kết ở bên trên mà tiêu tán ở bên dướị Địa huyệt kết ở nơi cao nhất, chính là khu vực có tên gọi núi Nùng ngày trước. Long mạch này không nộn (non), song cũng chưa phải lão (già), tuy “cát” đấy nhưng chưa hẳn đã hết khí “hung”.

Thăng Long ngược lại với nơi Lý Công Uẩn lên ngôi là kinh đô Hoa Lư trước đó. Nơi ấy có long mạch gọi là thế Âm lai Dương thụ. Đó là thế đất cường (cương mãnh), khí tiêu tán ở bên trên mà ngưng tụ ở bên dướị Thiên huyệt kết ở chỗ thấp nhất. Long mạch Hoa Lư lợi cho phòng thủ, chiến tranh, có thể lập nghiệp đấy nhưng phúc trạch không dàị Hai triều vua trước (Đinh, Tiền Lê), mặc dù triều nào cũng có võ công hiển hách. Nhưng không triều nào dài quá ba chục năm. Đó chính là một trong những lý do chủ yếu để Lý Thái Tổ, vị vua có tầm nhìn xa trông rộng phải tìm đến Thăng Long?

Và long mạch của chốn này quả đã không phụ lòng vị vua ấy khi mà nhà Lý dời đô thì lập tức tồn tại hơn hai trăm năm. Không những thế, các triều đại sau (Trần, Hậu Lê…), vẫn đóng đô trên đất ấy cũng được hưởng phúc, kéo dài không kém. Tuy nhiên, khác với Hoa Lư, Thăng Long là nơi trống trải bốn mặt, giặc có thể xâm lấn bất cứ chỗ nàọ Lịch sử từng chứng kiến Thăng Long bao lần bị tàn phá, vua quan phải bồng bế nhau chạy ra ngoàị Kể cả người Chiêm Thành, bao nhiêu đời bị coi là nhược tiểu, vậy mà cũng mấy phen đem quân ra cướp phá tận Kinh sư.

Long mạch để phúc trạch cho con người không phải là không có điều kiện, càng không phải thiên thụ Câu chuyện của Liêu Công trên đây là một ví dụ. Phải là người có đức mới ở được chốn đất thiêng. Đức càng kiên cố thì vận càng dài, đến khi nào đức cạn thì vận cũng tuyệt theọ Thăng Long chính là một nơi như thế.

Hình như có một “giới hạn” đã định sẵn cho những “nhà” nào ngự trên long mạch ấy. Xin mạn phép có một cuộc đại thể đối với những triều đại từng định đô ở chốn này như sau:

Hoàng Đế Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Việc đầu tiên, đáng lẽ phải lập tông miếu, xã tắc… thì Ngài lại cho dựng tám ngôi chùa tại phủ Thiên Đức (trước là châu Cổ Pháp thuộc Bắc Giang) – quê Ngàị Các nhà chép sử đời sau sở dĩ đem điều đó ra trách Ngài vì hình như không hiểu được thâm ý của Ngàị Tại sao Ngài lại dựng đúng tám ngôi chùả Có phải Ngài muốn chuẩn bị sẵn chốn về cho vong linh mình và con cháu sau nàỷ Nghĩa là Ngài đã biết trước và hiểu rõ những bí mật về long mạch của đất Kinh Sư mới mà Ngài vừa chọn? Con số tám huyền bí ấy về sau như là cái giới hạn khó vượt qua đối với tất cả những chủ nhân của long mạch ấy.

Nhà Lý do Ngài lập nên ngự trên đất Thăng Long hơn hai trăm năm (1010-1225). Tính từ Ngài (Lý Thái Tổ) đến Lý Huệ Tông, quả vừa đúng tám đời thì đức suy, cũng là lúc vận tuyệt, vạ từ trong nhà sinh ra, cơ nghiệp lọt hết vào tay người khác.

Nhà Trần giành cơ nghiệp từ tay nhà Lý, tồn tại được hơn một trăm bảy mươi năm (1226-1399). Làm chủ Thăng Long bao gồm mười hai vị vuạ Nhưng nếu tính từ đời thứ nhất là Thái Tông (Trần Cảnh) đến đời cuối cùng là Thiếu Đế (Trần An), thì thực chất cũng vừa đúng tám đờị Bởi có tới bốn vị vua là Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông và Duệ Tông đều cùng đời thứ sáu (cùng là con Trần Minh Tông), hai vị: Phế Đế (con Duệ Tông) và Thuận Tông (con Nghệ Tông) là con chú con bác, đều cùng đời thứ bảỵ Cuối cùng, Thiếu Đế (con Thuận Tông) là đời thứ tám. Để cho rõ, xin hình dung theo sơ đồ sau:

Đời thứ nhất: Trần Thái Tông

Đời thứ hai: Trần Thánh Tông

Đời thứ ba: Trần Nhân Tông

Đời thứ tư: Trần Anh Tông

Đời thứ năm: Trần Minh Tông

Đời thứ sáu:

Trần Hiến Tông – Trần Dụ Tông – Trần Nghệ Tông – Trần Duệ Tông

Đời thứ bảy: Phế Đế – Trần Thuận Tông

Đời thứ tám: Thiếu Đế

Nếu tính theo đời vua thì từ Trần Thái Tông đến Trần Nghệ Tông – đúng vị vua thứ tám thì hết phúc, bấy giờ đức đã nghiêng ngả lắm rồị Mấy đời sau thực chất chỉ còn hư danh, bởi thời vận đã đến hồi kết thúc, cơ đồ xuống dốc không phanh. Rốt cuộc vạ cũng từ trong nhà sinh ra, con cháu bị giết, cơ nghiệp về tay kẻ ngoại thích là Hồ Quý Lỵ

Hai vị vua thời Hậu Trần (Giản Định Đế và Trùng Quang Đế) chẳng qua chỉ là vớt vát, vả lại cũng đã lưu lạc ra khỏi kinh thành, không còn liên quan đến long mạch Thăng Long nữa rồị

Hồ Quý Ly cướp được ngôi nhà Trần nhưng phúc ngắn, đức mỏng, chỉ giữ được trong khoảng tám năm (1400-1407), cuối cùng cả hai cha con lẫn triều thần đều bị quân Minh bắt.

Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nên triều đại Hậu Lê (Lê Sơ). Triều Hậu Lê làm chủ nhân của Thăng Long chín mươi chín năm (1428-1527), bao gồm mười vị vuạ Song tính theo đời thì chỉ có bảy đờị Đó là một triều đại hiển hách nhưng đầu voi đuôi chuột (các vua càng về sau càng ngắn ngủi, chết non, chính sự càng ngày càng nát). Trong đó có ba vị là Túc Tông, Uy Mục Đế, Tương Dực Đế cùng đời thứ sáu, hai vị cuối cùng là Chiêu Tông và Cung Hoàng cùng đời thứ bảỵ Cả hai vị này (Chiêu Tông và Cung Hoàng) đều bị giết bởi Mạc Đăng Dung.

Tại sao trước đó, Lý Công Uẩn (triều Lý), Trần Cảnh (triều Trần) và con cháu của hai vị ấy đều được ngự trên đất này tám đời, mà đến lượt Lê Lợi (triều Lê Sơ) thì con cháu chỉ được hưởng mệnh đế vương đến đời thứ bảỷ Giật mình nhớ lại lời nguyền trước khi bị giết ở ải Cổ Lộng của Trần Cảo, vị vua do chính Lê Lợi lập nên, và có thuyết nói rằng cũng do chính Lê Lợi sai người giết. Có phải con cháu Lê Lợi đã phải trả nợ bớt một đời (đế vương) cho Trần Cảỏ

Lại nghe một cuốn gia phả có đưa ra một giả thuyết khác. Rằng Lê Lợi và con cháu không phải đã trả nợ cho Trần Cảo, mà là trả cho Lê Lai, người đã liều mình cứu Chúa (là Lê Lợi). Lê Lai về sau bị giết tại chân thành Đông Quan (Thăng Long), đơn giản vì (Lê Lợi) không thể (và không muốn) thực hiện lời hứa chia đôi thiên hạ ngày trước (?). Gia phả ấy còn chép rằng khi giết Lê Lai, chính Lê Lợi đã tự làm giảm mất một đời (là đế vương) của con cháu mình. Nếu vậy thì đời còn thiếu kia của triều Lê Sơ trên long mạch Thăng Long, phải chăng đã được tính vào Lê Lai, kẻ bị giết oan vì (trót) có công lớn (là cứu Chúa) ấỷ Tính vào chỗ nàỏ Lê Lợi có thể quên, các nhà chép sử (thời Lê) có thể quên.

Nhưng nhân dân thì không quên điều ấỵ Dân gian có câu: “Hai mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” nói về ngày giỗ của hai vị. Dù thế nào đi nữa, thì nếu không có Lê Lai, sẽ không có Lê Lợị Cho nên Lê Lai phải được hưởng cúng trước, giỗ trước, tương đương với việc xem Lê Lai là… đời trước của Lê Lợị Nghĩa là long mạch đã tính cho triều Lê Sơ phải bắt đầu từ Lê Lai (rồi mới đến Lê Lợi…). Thế là trước sau vẫn đủ… tám đờị Nếu quả như vậy thì cái long mạch kia xem ra vừa nghiêm khắc, lại vừa… công bằng. Từ đó cũng xin tạm đưa ra sơ đồ sau đối với triều Lê Sơ:

Đời thứ nhất:

Trần Cảo (hoặc Lê Lai)?

Đời thứ hai:

Lê Thái Tổ Đời thứ ba:

Lê Thái Tông Đời thứ tư:

Lê Nhân Tông Đời thứ năm:

Lê Thánh Tông Đời thứ sáu:

Lê Hiến Tông Đời thứ bảy:

Lê Túc Tông – Uy Mục Đế – Tương Dực Đế Đời thứ tám:

Lê Chiêu Tông – Cung Hoàng Đế Người viết sở dĩ không tính triều Lê Trung Hưng sau này vào đây bởi các vị vua triều Lê Trung Hưng ngự ở Thăng Long thực chất không phải con cháu của chính Lê Lợi, vả lại cũng đã xiêu giạt rất lâu mới trở lại kinh thành, mà thực ra có trở lại thì cũng chỉ làm hư vị (như sau đây sẽ nói) mà thôị

Mạc Đăng Dung tàn sát con cháu Lê Lợi, cướp cơ nghiệp nhà Lê, lập ra nhà Mạc, chiếm giữ Thăng Long sáu mươi lăm năm (1527-1592), trải năm đờị Nhưng long mạch ghê gớm này không phải nơi mà đức của họ Mạc có thể giữ được lâu dàị Mạc Đăng Dung về xây kinh đô ở Cổ Trai (gọi là Dương Kinh thuộc Hải Dương), tiếng là để làm thanh viện cho Thăng Long, song thực chất là ngại chính cái long mạch ở đó. Mà chẳng riêng gì Mạc Đăng Dung. Đời sau cũng có khối anh hùng từng ngại cái long mạch đó, phải tìm nơi khác để lập đô.

Bản thân con cháu Mạc Đăng Dung, trừ thời Mạc Đăng Doanh huy hoàng nhưng ngắn ngủi (trong khoảng mười năm), còn lại luôn luôn phải chạy giạt ra ngoài, thậm chí nhiều phen phải dựng hành cung ở ngoại thành, không dám vào ở trong nội cung. Triều Mạc rốt cuộc còn xa mới đạt tới cái giới hạn tám đời mà cách đó hơn năm trăm năm, Lý Thái Tổ trước khi dời đô đã xem xét long mạch mà tiên định trước.

Triều Lê Trung Hưng (Lê mạt) kế tiếp nhà Mạc, song thực ra chỉ có hư vị. Thăng Long nằm trong tay chủ nhân đích thực là các Chúa Trịnh. Nhà Chúa kể từ khi Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm nổi lên đã có lời “sấm”: “phi bá, phi đế, quyền khuynh thiên hạ, truyền được tám đời, trong nhà dấy vạ”. Lại đúng tám đời thì nhà Chúa phúc hết, vận tan…

Lịch sử đã đành không thiếu gì những sự trùng hợp lý thú. Song tác động ghê gớm của long mạch là một điều hoàn toàn có thật, từ xưa tới nay, không ai có thể xem thường. Đó chính là mối quan hệ nhân quả giữa quá khứ – hiện tại và tương lai… điều mà chính khoa học đang cố chứng minh và ngày càng tiến gần tới… cổ xưạ Kiến thức về long mạch của người xưa quả đã từng đạt tới những đỉnh cao kì vĩ. Tiếc rằng vì nhiều lí do, kiến thức ấy ngày nay hầu như đã bị thất truyền. Tuy nhiên, những tri thức của tiền nhân dù phong phú, kì bí đến mấy, thì tất cả đều được xây dựng trên một nền tảng là đạo lý làm ngườị Chỉ hy vọng rằng cái nền tảng ấy đừng bao giờ đổ nát, thì sự thất truyền chẳng qua chỉ là vận hạn, tạm thờị Nếu được như thế thì sẽ đến lúc, những tri thức ấy sẽ trở lại, sẽ tồn tại cùng với muôn đời con cháu chúng ta sau nàỵ

Lời bàn:

Người Việt nói chung trong hay ngoài nước có tấm lòng chân chính đều rất mong muốn ao ước có một đất nước Việt, người dân Việt giầu mạnh tiến bộ và ổn định, nhưng sự ổn định như thế nào tuỳ theo nhận thức của mỗi người, ổn định trong sáng hay ổn định trong sự tối tăm mờ ám tự lừa dối mình hay dối người …

Người dân Việt hiện nay có rất nhiều rất rất nhiều sự bức xúc, cho nên mỗi chủ đề đưa ra đều có những sự bức xúc ẩn tàng bên trong, tuy không phải chính mình là nạn nhân.

Vì vậy qua những chủ đề trong một chuyên mục nào đó, thường dẫn đến đề tài khác lạc đề đưa tới những bức xúc khó kềm chế, để rồi BĐH TVLS mạnh tay cắt bỏ cắt bài, cắt nick, bịt lại… cho nên một số thành viên nhiệt tình ra đi chỉ còn lèo tèo vài người gắn bó lâu năm với TVLS cũng chỉ đứng ngoài xem chơi.

Bài viết sau của BBC về GS sử học Trần Quốc Vượng cũng có một phần liên quan đến Sấm Trạng và được … phịa là của sấm Trạng:

Đụn Sơn phân giải,

Bò Đái thất thanh,

Thủy đáo Lam thành,

Nam Đàn sinh thánh

Và sự thật của nó là:

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/08/ 050808_trongcoi.shtml

Code:

Lời truyền miệng dân gian về ***

Một trong những nhà sử học nổi tiếng nhất của Việt Nam, ông Trần Quốc Vượng, đã qua đời, thọ 71 tuổi.

Tin từ Việt Nam cho biết giáo sư Trần Quốc Vượng đã nằm viện một tháng nay vì căn bệnh ung thư thực quản.

Ông qua đời vào lúc 2h55 sáng nay.

Tang lễ sẽ được cử hành vào sáng 12-8 ở Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, Hà Nội.

Là tác giả của hàng chục đầu sách và nhiều bài viết, từ nhiều thập niên qua, ông được xem là một trong những nhà khảo cổ học và nghiên cứu sử Việt Nam hàng đầu.

Nghe phỏng vấn với giáo sư Trần Quốc Vượng năm 2003

Một trong những bài viết gần đây của ông, ”Hà Nam quê tôi”, có thể đọc bằng cách bấm vào link bên phải.

Một bài viết khác liên quan chủ đề lịch sử khi ra đời năm 1993 đã gây ý kiến trái chiều.

Đó là “Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (kinh nghiệm điền dã)”, in trong quyển Trong Cõi (NXB Trăm Hoa, California, 1993). Đây là tập hợp một số tiểu luận của giáo sư Trần Quốc Vượng sau chuyến đi công tác ở Hoa Kỳ.

Chủ đề chính của bài là thông qua những kinh nghiệm hỏi chuyện dân gian, người ta có thể biết những điều mà sách vở không nhắc đến.

Theo tác giả, “Đây là những lời truyền miệng nhân gian, cho nên cùng lắm, chúng chỉ có thể coi là những giai thoại mà, nếu không khó tính lắm, ta cũng có thể gọi là những giai thoại lịch sử.”

“Nói theo kiểu Pháp, những điều tôi cố gắng ghi lại một cách trung thực qua công tác điền dã dưới đây là Thật mà không chắc là Thực.”

Dưới đây là trích đoạn phần cuối của tiểu luận của Trần Quốc Vượng:

Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ ***, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.

Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là “lan truyền” (de transfest folklorique) thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa … Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta sợ động chạm đến cu. Hồ. Một cái sợ vô nghĩa (insignifiant) nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn trong cuốn tiểu truyện bằng tiếng Anh “Life and Death in Shanghai, đã được phiên dịch ra tiếng Việt, ở xã hội “xã hội chủ nghĩa”, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia”.

Nhưng đây không phải là chuyện cu. Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cu. Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cu. Hồ, cu. Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.

Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của ho. Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho – cử nhân – Hồ Sĩ Tạo.

Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ ***, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thái Mai – người một thời làm Viện trưởng viện Văn Học – là Hồ Thị Toan, cũng thuộc dòng ho. Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có “phường hát ả đào”.

Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa Đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc (như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc Chinh Phụ Ngâm “hồng nhan đa truân” – gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên. Hay như Nguyễn Du than thở dùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều “chữ tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau”, “rằng hồng nhan tự thuở xưa, cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”). Vả ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy Tứ Dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng (“xướng ca vô loài”). Cô Đèn Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân. “Trai tài gái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang”, hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính…

Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai – Nguyễn Sinh Thuyết – và người con trai này cũng đã có vợ). Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này – như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ – mong ém nhém việc cô gái đã “to bụng”.

Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới, có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian xì xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra, nói vào”, lời chì chiết của nàng dâu – vợ anh Thuyết – vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.

Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc, tiếng chì” hơn trước, vì ngoài việc bố chồng “rước của tội, của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” thì nay còn nỗi lo”: người con trai này – được ông nhận làm con – lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).

Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng này đi cho “rảnh nợ”.

Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.

May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng – Hoàng Thị Loan – mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ở riêng.

Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ – làng Chùa – hơn là với làng Sơn “quê nội”, quê cha “hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành – sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi ***) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê Mẹ hay là quê “ngoại”. Khi cụ tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ (tú) Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.

Qua giỗ đầu cụ tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng “học điền”, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm – chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.

Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo – người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc – với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm Giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự “can thiệp” của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc – đổi tên là Nguyễn Sinh Huy – đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.

Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – *** ngày nay) trở thành con trai út.

Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc dùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng.

Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội – dù là quê nội danh nghĩa – tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng Hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.

Thế là buộc lòng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn – *** ngày sau – về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì “đích thực” và gắn bó với tuổi tho ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.

Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô Huế nhận chức quan (1904) ở bô. Lễ, đem theo hai con trai vào Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi tri huyện Bình Khê … Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sàigòn rồi lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa.

Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.

Người ta bảo lúc sau khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.

Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành – có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gụi với làng Sen! Hay là sau đó nữa chả nhẽ không khi nào cụ phó bảng hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích phụ thân mình?

Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – biết hay không biết chuyện này…

Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa.

Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên ***.

Sau cách mạng tháng tám 1945, khi tên tuổi *** trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam – từ trí thức đến người dân quê – lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là ***? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê-nin” năm 1969.

Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – *** – còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ – tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ – đã trở thành “huyền thoại” (myth). Huyền thoại *** được hình thành trong vô thức dân gian (popular inconscience) mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần cận cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa (mystified).

Ngay sau cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi!) về Sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp cách mạng tháng Tám. Và Sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý (arrière-pensée) không ưa gì cụ Hồ.

Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.

Trở lại với cái tên ***, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.

Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh – tỉnh Nghệ An – cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội”.

Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?

Tôi không muốn có bất cứ kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê.

Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện: “thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”.

Trần Quốc Vượng

Một số vương quốc tiêu biểu trong Bách Việt như

Ngô Việt (Ôn Châu, Triết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Nam Việt (Quãng Đông), Âu Việt (phía Tây tỉnh Quảng Đông và miền Nam tỉnh Quảng Tây, Lạc Việt (miền Bắc Việt Nam kéo dài đến Thanh Hoá) và các bộ tộc nhỏ như U Việt, Dương Việt, Đông Việt, Sơn Việt v.v…

Giống Việt, ngày xưa các vùng Giang, Chiết, Mân, Việt đều là nói của giống Việt ở gọi là Bách Việt 百越. Như giống Âu Việt 甌越 thì ở Chiết Giang 浙江, Mân Việt 閩越 thì ở Phúc Kiến 福建, Dương Việt 陽越 thì ở Giang Tây 江西, Nam Việt 南越 thì ở Quảng Đông 廣東, Lạc Việt 駱越 thì ở nước ta, đều là Bách Việt cả, có khi viết là 粵.

Ngũ bách niên gian xuất thánh quân

Thánh quân thượng 尚 vấn chân nhân xuất

Chu lưu thiên hạ hiền lương phụ

Khí vận Nam phương xuất tương thần

Thánh nhân năng hóa loạn uyên nguyên

Tạm dịch: khoảng 500 năm có vua thánh xuất hiện

Bậc chân nhân xuất hiện, vua thánh còn phải đến hỏi

Đi khắp thiên hạ có hiền lương phụ giúp

Khí vận ở phương Nam xuất hiện thần tướng

Thánh nhân có khả năng chuyển hoá loạn sâu xa

(Người tiên, nhà đạo gọi những người tu luyện đắc đạo là chân nhân 眞人)

Hầu tử mãn 满 hạp 盒 Kê đào giá – (bản khác là: hầu tử mộc 沐 bàn 盤 kê đào giá)

Khuyển phệ Trư minh thái bình niên

Văn vũ toàn tài nhất Mậu Đinh

Lưu li tán loạn giai đào dân

Tạm dịch: Con khỉ đầy hộp gà trốn chạy

Chó sủa heo kêu năm thái bình

Văn võ toàn tài nhất mậu đinh (là chữ ghép – chiết tự)

Dân chúng khắp nơi chạy trốn lưu lạc tán loạn

Câu “Con khỉ tắm gội trong cái chậu gà chạy trốn khỏi chuồng” (đem con khỉ tắm gội nó la hét rất sợ hãi vì nghĩ bị giết thịt) có lẽ đúng hơn,

Sấm Trạng:

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh chập chùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng Thánh Chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày

Trong 4 năm này 2 năm đầu loạn lạc tang thương, 2 năm sau thánh chúa ra đời thái bình thịnh trị no ấm …

Bản khác của Thiêu Bính ca:

基曰 胡人至此 亡之久矣 四大八方有文星 品物咸亨一样形 琴瑟和谐成古道 左中兴帝右中兴 五百年间出圣君 周流天下贤良辅 气运南方出将臣 圣人能化乱渊源 八面夷人进贡临 宫女勤针望夜月 乾坤有象聚黄金 北方胡掳害生灵 更会南军诛戮行 匹马单骑安外国 众君揖让留三星 上元复转气运开 大修文武圣主栽 上下三元无倒置 衣冠文物一齐来 七元无错又三元 大开文风考对联 猴子沐盘鸡逃架 犬吠猪鸣太平年 文武全才一戊丁 流离散乱皆逃民 爱民如子亲兄弟 创立新君修旧京 千言万语知虚实 留与苍生作证盟

Cơ viết: hồ nhân chí thử, vong chi cửu hĩ , tứ đại bát phương hữu văn tinh, phẩm vật hàm hanh nhất dạng hình ,cầm sắt hòa hài thành cổ đạo ,tả trung hưng đế hữu trung hưng ,ngũ bách niên gian xuất thánh quân ,chu lưu thiên hạ hiền lương phụ ,khí vận Nam phương xuất tương thần ,thánh nhân năng hóa loạn uyên nguyên ,bát diện di nhân tiến cống lâm ,cung nữ cần châm vọng dạ nguyệt ,Kiền Khôn hữu tượng tụ hoàng kim ,Bắc phương hồ lỗ hại sanh linh ,canh hội Nam quân tru lục hành ,thất mã đan kị an ngoại quốc ,chúng quân ấp nhượng lưu tam tinh ,thượng nguyên phục chuyển khí vận khai ,đại tu văn vũ thánh chủ tài ,thượng hạ tam nguyên vô đảo trí ,y quan văn vật nhất tề lai ,thất nguyên vô thác hựu tam nguyên ,đại khai văn phong khảo đối liên ,hầu tử mộc bàn kê đào giá ,khuyển phệ trư minh thái bình niên ,văn vũ toàn tài nhất mậu đinh ,lưu li tán loạn giai đào dân ,ái dân như tử thân huynh đệ ,sang lập tân quân tu cựu kinh ,thiên ngôn vạn ngữ tri hư thật ,lưu dữ thương sanh tác chứng minh

Nhận xét về Thôi Bối Đồ và Thiêu Bính Ca:

Thôi Bối Đồ do Đường triều Thái Tông hoàng đế (tức Lý Thế Dân) yêu cầu hai vị Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cương tiên đoán cho quốc vận đời Đường.

Hai vị Lý – Viên có thể có nhiều thời gian tiên đoán với tâm trạng thoải mái hơn so với Lưu Bá Ôn tiên đoán, Thiêu Bính Ca được ra đời là nhân lúc vua Minh Thái Tổ đang ăn bánh nướng, thì nội giám bẩm có Lưu Cơ vào chầu, Minh Thái Tổ muốn thử tài nên bảo Lưu Cơ đoán thử xem mình ăn cái gì, thấy đúng rồi mới nẩy sinh ý bảo Lưu Cơ tiên đoán xem thiên hạ về sau ra sao ?. Lưu Cơ phải nói khéo là tha cho tội chết thì mới dám bạo dạn đoán

Giữa 2 tâm trạng, một bên hai vị Lý -Viên có nhiều thời gian thoải mái để tiên đoán, xem trong tâm trạng say mê hứng thú:

do vu Lí Thuần Phong thôi toán đích thượng liễu ẩn, nhất phát bất khả thu,cánh thôi toán đáo Đường dĩ hậu Trung Quốc 2000 đa niên đích mệnh vận … (Lý Thuần Phong tiên đoán thì càng say mê đoán tới tới không ngừng, khiến ông đã tiên đoán từ đời nhà Đường cho đến vận mệnh nước Trung Quốc 2000 năm sau).

Còn một bên đứng hầu với tâm trạng vấn đáp giữa vua tôi, phải lựa lời mà đoán với tâm trạng vừa làm vừa lòng vua lại vừa sợ bị ghép tội phạm thượng, nghịch ngôn, khi quân …

Đế vấn viết :tiên sanh thâm minh sổ lí ,khả tri oản trung thị hà vật kiện? Cơ nãi niết chỉ luân toán, đối viết: bán tự nhật hề bán tự nguyệt,tằng bị kim long giảo nhất khuyết,thử thực vật dã. khai thị quả nhiên, đế tức vấn dĩ thiên hạ hậu thế chi sự nhược hà …

Lưu Cơ: tiết lậu thiên ky ,thần tội phi khinh, bệ hạ thứ thần vạn tử, tài cảm mạo tấu, đế tức tứ dĩ miễn tử kim bài

Vì vậy Thiêu bính ca lời đoán không rõ ràng sâu rộng như Thôi Bối Đồ, tiên đoán mà phải lựa lời úp mở nương chiều theo ý vua ,không khéo bị phạm thượng dú có đã đuợc kim bài miễn tử.

Lưu Bá Ôn sống trong thế kỷ 14, người cuối đời Nguyên đầu đời Minh (1368 – 1644) ở huyện Thanh Điền, Triết Giang, Hàng Châu, tức thuộc vùng đất Ngô Việt xưa kia .

Tôn Dật Tiên (12/11/1866 – 12/03/1925) quê ở Hàng Châu, thuộc Ngô Việt . Ông lãnh đạo cuộc Cách Mạng TÂN HỢI (1911), lật đổ nhà Thanh, chấm dứt chế độ quân chủ, lập nên Trung Hoa Dân Quốc (Republic of China), và là Tổng Thống đầu tiên của thế chế này .

Những điểm phù hợp với Thiêu Bính và Thôi Bối Đồ:

– Tính từ thời Lưu Bá Ôn đến Tôn Dật Tiên là khoảng 500 năm .

– Cách mạng 1911 – Tân Hợi ( Thiêu Bính: Khuyển phệ Trư minh thái bình niên)

– Nhà Thanh nguồn gốc từ người Mãn, phát xuất từ ĐÔNG BẮC của Trung Hoa . (Kim Thánh Thán:thử tượng chủ Đông Bắc bị di nhân sở nhiễu)

– Tôn Dật Tiên là người Ngô Việt, quê ở Hàng Châu, Quãng Đông, là tỉnh cực Nam của Trung quốc ngày nay (Kim Thánh Thán: sao Giác Kháng (hiện ra) ở phía cực Nam, sau này có vua sáng suốt (thánh quân) xuất hiện, đánh đuổi người ngoài, lập lại sự bình yên)

Tôn Dật Tiên: Khi chúng tôi còn lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học, thầy chúng tôi là một người cách mạng, người đã từng lưu lạc qua Trung-Hoa, đã kể cho chúng tôi một câu chuyện rất lý thú. Từ ngày đó cho đến nay đã gần 50 năm, không lúc nào chúng tôi quên được. Câu chuyện như sau: Khi cách mạng dân quốc của Trung-Hoa chưa thành công, lãnh tụ Tôn-Dật-Tiên qua cầu viện nước Nhật, tại đây Tôn-Dật-Tiên có gặp ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị (một chính khách Nhật cũng là một nhà mạnh thường quân của cách mạng Việt-Nam), trong câu chuyện hàn huyên, khi đề cập tới Việt-Nam, Tôn-Dật-Tiên đã bĩu môi chê dân tộc Việt-Nam, họ Tôn nói với ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị như sau:

“Dân An-Nam là một dân tộc nô lệ, trước họ nô lệ chúng tôi, nay họ nô lệ người Pháp, họ là một dân tộc có đầu óc nô lệ làm sao giúp họ độc lập được”

Ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị đã cắt lời Tôn-Dật-Tiên như sau:

“Tôi xin được phép ngắt lời ngài ở đây, ngài đã có những nhận xét không đúng về dân tộc đó(dân tộc Việt-Nam: lời người dịch), bây giờ họ thua người Pháp vì họ không có khí giới tối tân chống lại người Pháp, mai sau khi họ có khí giới tối tân họ sẽ đánh bại người Pháp (lời tiên đoán này đúng với chiến thắng Điện-Biên-Phủ sau này). Ngài nên nhớ rằng dân tộc Lạc Việt này là một chi duy nhất còn lại của Bách Việt đã chống lại sự đồng hóa của người Trung-Hoa giữ nền độc lập của tổ tiên họ trong khi các chi Việt khác như Mân Việt đã bị đồng hóa cả ngàn năm”

Khi nghe tới đây, Tôn-Dật-Tiên đỏ bừng mặt xin lỗi ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị và xin cáo lui. Tôn-Dật-Tiên xấu hổ vì Tôn-Dật-Tiên là người Quảng Đông (Mân Việt).

bỏ (chủ nghĩa của Mao – CS) thì mới có được “nhiên hữu văn minh chi tượng”, “thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt 末 thì”

Đồ hình 54 này là thời kỳ mạt của “cửu 久 hợp tất phân chi trưng 徵 dã” mà đồ hình 49 đã dự báo trước, từ 49 suy ra có lẽ là vậy, tạm dịch nghĩa đen 49 và 54:

49: Kim Thánh Thán:cửu phân tất hợp, cửu hợp tất phân, lí sổ nhiên dã, nhiên hữu văn minh chi tượng, đương bất như cát cư giả chi phân 紛 nhiễu 擾 dã

Tạm dịch: chia ra lâu ắt hẳn (có ngày) hợp lại, hợp lâu (rồi) ắt hẳn (có ngày sẽ phải) phân chia ra, lí số tự nhiên (nó là) như vậy (đấy), hiện tượng này (phân chia ra, cửu hợp tất phân …) có như thế (mới) là sự văn minh, cảnh huống (hiện nay) đang chẳng phải là tốt, cái ấy (hiện tượng ấy, cát cứ địa phương), (hiện nay) là ngổn ngang rối loạn nhũng nhiễu.

Nhận xét: Hiện tượng đồ hình 49 nói chính là thời kỳ của CS Trung Quốc khi Mao Trạch Đông chiếm trọn thống lĩnh toàn cõi Hoa Lục, thực thi chính sách CS tàn bạo khiến cả trăm triệu người chết trực tiếp hay gián tiếp, khiến cho lòng người dân khắp Hoa Lục phân tán rối loạn ngổn ngang phát sinh ra mọi tệ nạn, suy đồi đạo đức đến tột cùng ở khắp các nơi, và ở mọi nơi ở mỗi tỉnh, mỗi quận, mỗi phường, xã, thôn là một ông vua con nhũng nhiễu cát cứ tự đặt luật riêng, hàng ngàn sứ quân chứ không như thời Xuân Thu chiến Quốc Lục quốc, Tam Quốc … đúng thực trạng của các nước CS như TQ và VN hiện nay, TU ra lệnh địa phương chẳng tuân theo, ỷ dựa vào thẻ Đảng CS mà không tuân theo pháp luật, luật lệnh của TU ban ra nhưng dưới chẳng thi hành “hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc”…

Đồ hình 54 nói khá rõ về “cửu hợp tất phân”.

đệ ngũ tứ tượng: Đinh Tị Kiền hạ Đoái thượng

sấm viết: lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức, an, tuy tiếu diệc khốc

tụng viết:bất phân ngưu thử 鼠 dữ ngưu dương 羊, khứ mao 毛 tồn 悺  (cách 革 – hưởng 享 thượng ) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng

Kim Thánh Thán:thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt 末 thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc:diệc cửu hợp 久 tất phân 分 chi trưng 徵 dã

Tạm dịch:

Sấm viết: tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, trác tức 啄 息 (than thở, thở ngắn thở dài, thở từng cơn …), (thấy tưởng là) yên, tuy (là) cười (nhưng mà) lại khóc.

Tụng viết: Chẳng chia ra trâu (với) chuột (hay là) cùng trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn 悺  ? (cách 革: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng 享: hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) – thượng (?) xưng là khoẻ mạnh, trong cõi giữa tự có chân long xuất hiện, chín khúc (sông) Hoàng hà nước chẳng vàng.

Kim Thánh Thán: Tượng này có điềm báo chứng thực là bỏ danh (xưng, hiệu …) để tồn tại, hoặc là thời kỳ mạt 末 (cuối cùng) gây nên khắp nơi, hiệu lệnh trên ban ra (ở dưới)không chịu thi hành, chứng cớ là ấy (bởi vì) hợp lâu ắt hẳn (có ngày phải) phân chia ra.

Đồ hình số 57:

tụng viết:Khảm Li tương khắc kiến thiên nghê 倪, thiên 天 sử 使 tư nhân 斯人nhị 弭 sát 殺 ky 機, bất tín kì tài sản 產 Ngô Việt, trọng dương tòng thử tập 戢 binh sư

Trích một đoạn về 2 nước Ngô – Việt:

Các nước Việt nho nhỏ ở Hán Đông tan rã, nhưng lại nổi lên hai nước cùng dòng tộc Việt khác rất nổi tiếng thời Đông Châu cũng gọi là thời Xuân Thu hay Chiến Quốc, đó là nước Ngô và nước Việt.

Nước Ngô ở vào tỉnh Giang Tô ngày nay. Vua nước Ngô lúc đó là Thọ Mông. Một phản tướng của nước Sở là Khuất Vu chạy trốn qua nước Tấn nên tộc đảng bị vua Sở đem chém hết. Khuất Vu tức giận, đổi tên là Vu Thần, bày mưu cho vua nước Tấn là Tấn Cảnh Công sang giao hiếu với nước Ngô, dạy cho nước Ngô về binh pháp, chế tạo vũ khí để mượn tay nước Ngô đánh phá nước Sở. Vu Thần lại cho con là Hồ Dung sang làm quan ở nước Ngô. Từ đó nước Ngô hùng mạnh lên, chiếm các nước Việt Hán Đông của nước Sở.

Nước Ngô nổi tiếng về tài đúc kiếm. Thanh kiếm Can Tương và Mạc Gia rất nổi tiếng được sử Tàu nói đến nhiều. Vì có tài luyện kim, đúc kiếm, chế tạo vũ khí nên kho vũ khí rất dồi dào. Nước Ngô lại được phản tướng nước Sở là Ngũ Viên tự là Ngũ Tử Tư sang đầu, rèn luyện quân binh rất hùng mạnh. Nước Ngô lại được thêm Tôn Vũ là người Việt nước Ngô. Tôn Vũ là một chiến lược gia, viết bộ Binh Thư, thường được biết dưới tên “Tôn Ngô Binh Pháp” nổi tiếng cho đến ngày nay các nhà quân sự vẫn còn áp dụng. Có thể nói nước Ngô là nước mạnh nhất thời đó. Ngũ Tử Tư vì muốn báo thù vua Sở nên xúi vua Ngô đánh nước Sở. Vua Ngô là Hạp Lư đem quân đánh Sở, vào chiếm kinh đô nước Sở là Dĩnh Đô, vua Sở phải bỏ chạy. Vua Ngô Hạp Lư lập con vua Sở là công tử Thắng làm vua rồi rút quân về. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua nước Ngô, thế lực bao trùm cả các nước chư hầu nhà Châu. Ngô Phù Sai triệu tập các nước chư hầu nhà Châu để xưng Bá thay cho nước Tấn. Đây là lần đầu tiên một nước Việt tộc đã làm bá chủ các nước Hoa tộc và sau đó một nước Việt tộc khác là U Việt của Câu Tiển lên làm bá chủ thay Phù Sai.

Phía dưới nước Ngô, có nước Việt tức U Việt, nay là tỉnh Chiết Giang. Vua nước Việt là Dõan Thường chăm lo sửa sang triều chính, dùng người hiền lương, thương mến dân nên nước mỗi ngày mỗi cường thịnh. Vua nước Ngô là Dư Sái thấy thế đâm lo lắng sai tướng sang đánh nước Việt, bắt được tướng Việt là Tôn Nhân đem về chặt chân sai giữ thuyền vua. Một hôm Dư Sái ngự chơi thuyền, uống rượu say rồi ngủ quên. Tôn Nhân cởi thanh gươm của Dư Sái, đâm Dư Sái chết. Bọn nội thị xúm lại giết Tôn Nhân. Từ đó giữa nước Ngô và nước Việt có mối thù khiến hai nước cùng chung dòng giống Việt này gây chiến muốn tiêu diệt lẫn nhau.

Nước Việt cũng rất giỏi nghề luyện kim đúc kiếm, đúc đồng pha. Tương truyền vua nước Việt có 5 thanh kiếm quý do kiếm sư Âu Gia Tử luyện ra. Vua Ngô là Thọ Mông nghe tiếng muốn lấy nên vua Việt phải dâng 3 thanh kiếm, đó là các thanh Ngư Trường, Ban Dĩnh và Trạm Lư.

Tham khảo thêm về:

Việt tộc và Hoa tộc của tác giả Đông Biên, để hiểu thêm lich sử từ thời cổ Việt cho đến ngày nay, về dân Bách Việt cho tới hai nước Ngô – Việt trong đồ hình số 57 có nói tới.

Khởi nguyên của Dân tộc Việt Nam

Tác giả:Lã Sĩ Bằng

Dịch giả: Nguyễn Ðăng Thục

Rút trong “Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam”

Lời giới thiệu của dịch giả:

Ðây là dịch một chương trong Ðặc san của Viện “Ðông Nam Á nghiên cứu chuyên san” số III nhau đề: “Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam” của tác giả Lã Sĩ Bằng ở Ðại học Trung Văn Hương cảng.

Với tinh thần tôn trọng sự thật của nhà văn hóa, nhất là ngành sử học, giáo dư Lã Sĩ Bằng trong tác phẩm nói trên tỏ ra hết sức trung thực, cởi mở và xây dựng. Riêng về những nhận định về Việt Nam chúng tôi thấy rất chính xác, khách quan của nhà học giả chân chính cho nên chúng tôi có dùng làm tài liệu nghiên cứu về sự tương quan giữa văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Nay xin dịch nguyên văn một chương để độc giả thưởng thức và thẩm định sự cố gắng đáng mong đợi của “Viện Nghiên cứu Ðông Nam” ở Hương cảng.

Dân tộc Việt Nam nguyên thuộc về hệ thống dân tộc bản xứ Ðông nam Trung quốc thời cổ. Từ thượng cổ cho đến thời Tần Hán giải đất hiện tại gọi là Triết giang, Phúc kiến, Quảng đông, Quảng tây cho đến Bắc Việt, Trung việt đều là đất của người Việt ở cả.

Cuối thời Xuân thư Việt vương Câu Tiễn xưng Bá ấy là thời kỳ thịnh vượng nhất của người Việt, theo nhà Hán học người Pháp tên là E. Chavamres khảo chứng thì lãnh vực nước Việt thời ấy, phía Bắc suốt cả miền Giang tô đến tận phía Nam Sơn đông.

Năm 465tr. Kỷ nguyên dương lịch sau khi Câu Tiễn mất rồi người sau không thể thừa kế nghiệp Bá ấy nữa, nước Việt bèn suy vong. Truyền lại sáu đời đến Vô Cương, nước Sở đem quân đánh nước Việt. Vô Cương bị giết, người Sở chiếm hết đất đai. Bấy giờ vào năm 333tr. Kỷ nguyên dương lịch.

Sử ký của Tư Mã Thiên quyển 41 mục “Việt vương Câu Tiễn thế gia” có nói: “Từ đấy người Việt tản mác, con cháu các họ tranh chấp, người làm Vua, người làm Chúa ở vên biển Giang nam hàng phục vào nước Sở”.

Nhà Hán học người Pháp là L. Aurousseau căn cứ vào đoạn sử ấy mà suy luận ra cuộc di cư của người Việt như sau: “Căn cứ vào đoạn văn trên đây có thể thấy được việc di dân của người nước Việt xưa vào năm 333tr.K.n. dương lịch.

Bắt đầu họ đi xuống phương Nam tập đoàn chính dời khỏi bình nguyên phì nhiêu phía Bắc Ðại dũ lĩnh, phía Ðông vòng quanh các núi theo dọc bờ biển thiên di về phương Nam. Sử ký đã nói: “Con cháu các họ tranh lập hoặc làm Vua, hoặc làm Chúa”, thì có thể thấy rằng họ lập lên một số nước nhỏ mà không có thể thống nhất, nhân thế mà Việt tộc tản cư mới sinh ra nhiều nước nhỏ mà phổ thông gọi là Bác việt vào thế kỷ thứ 3tr. C.N. dương lịch. Tóm lại mà nói thì năm 333 sau khi nước Việt đi xuống miền Nam lập thành một số quốc gia phong kiến, trong số ấy có bốn nước trọng yếu hơn cả là:

1) Nước Việt ở giải Ôn châu tức Ðông Âu việt,

2) Nước Việt ở giải Phúc châu tức Mân việt,

3) Nước Việt ở giải Quảng châu tức Nam việt,

4) Nước Việt ở giải Quảng tây phía Nam cùng với Bắc việt tức là Lạc việt hay Tây âu hùng.

Bốn nước ấy vào thời cuối nhà Chu nghĩa là cuối thế kỷ thứ IV đầu thế kỷ thứ III tr. C.N. Tây lịch đã thành lập rồi vì sách Trang tử quyển 7 trong ấy có nói đến Nam việt mà ở thời nhà Chu cũng có danh từ Lạc việt” Ông L. Aurousseau nghiên cứu lần lượt bốn nước trọng yếu trong hàng Bách việt rồi kết luận mà đoán định rằng nước Việt nam ngày nay trực tiếp thuộc về di dân của nước Việt đã diệt vong vào năm 333 tr. C.N. Tây lịch, mà tổ tiên của họ tại 6 thế kỷ tr. C.N. tây lịch đã dựng nước ở lưu vực sông Triết ngày nay trong tỉnh Triết giang.

Thuyết của L. Aurousseau phát biểu 40 năm trước đây, bấy giờ nhân vì Khảo cổ học, Ngữ học, Dân tộc học các phương diện chưa được ấn chứng cho nên trong giới học thuật không được tiếp nhận một cách phổ biến. Và ông L. Aurousseau khảo luận về khởi nguyên của dân tộc Việt nam chuyên viết về hai chữ Âu và Việt mà Ðông âu tức người Việt đất Ôn châu, Tây âu tức người Việt đất Bắc việt đều thuộc về chi phái Việt tộc gọi là Âu, thuyết ấy luận đoán có chỗ sai lầm. Xét chữ Âu thực trỏ vào dân bản xứ đảo Hải nam, chữa Tây âu trỏ vào người Việt ở phương Tây đất Âu tức Quảng tây phía Nam và Bắc việt, mà Ðông âu trỏ vào người Việt ở phương Ðông đất Âu tức là một giải Ôn châu, mà thời kỳ thiên cư cũng không nên xác định sau năm 333 tr. K.n. Tây lịch. Tuy nhiên ngoài những khuyết điểm của ông Aurousseau suy đoán về nguồn gốc dân tộc Việt nam do từ Bách việt mà ra rất có giá trị.

Cận đại các phương diện phát hiện và nghiên cứ về Khảo cổ học, Nhân loại học, Ngôn ngữ học, Dân tộc học đủ để công nhận suy đoán của Aurousseau. Văn hóa Bắc sơn thời tiền sử Việt nam mà chủ nhân có bộ phận thuộc về chủng tộc Indonésia.

Văn hóa Ðông sơn về sau thuộc về Văn hóa Ðông cổ của Lặc việt từng tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài phần chủ yếu tự Hoa trung mà địa khu trung tâm của văn hóa Ðông sơn lại lấy Bán đảo Nam trung và Hoa nam làm chủ yếu. Nói rõ hơn thì dân tộc Việt nam thuộc về giống người tóc cứng da vàng miền Nam Mông Cổ, hình sọ và mũi về chỉ số cùng bề cao của thân thể thì đại khai giống với người dân Việt và Mân nước Tầu.

Về ngôn ngữ thì dân tộc Việt nam nói tiến độc vận đơn âm, thanh điệu phức tạp của tiếng Việt nam thuộc về Hán Thái ngữ. Ðến như đặc trưng văn hóa nguyên thủy của học đều thuộc về phạm vi văn hóa cổ Ðông nam á. Giáo sư Lăng Thuần Thanh hơn 10 năm gần đây hết sứ nghiên cứu so sánh dân tộc học của dân tộc Việt nam do nhóm Bách việt thời cổ Trung quốc ra mà bản xứ Nam dương Indonésia cũng cùng một nguồn gốc Bách việt thời cở Trung quốc.

Theo thuyết của Lăng Thuần Thanh thì khu vực địa lý phân phát nền văn hóa cổ xưa của Ðông nam á ấy không những chỉ bao quát bán đảo và Hải đảo Ðông nam á như bán đảo phía Nam Trung hoa và Nam dương quần đảo, mà về lục địa còn bao quát từ bán đảo đến phuong Nam Trung hoa ngược lên phía Bắc đến Trường giang vượt xa tới sông Hoài, Tần lĩnh phía Nam, chạy từ bờ biển phía Ðông, ngang qua miền Nam trung hoa sang phía Tây qua Ðiền (Vân nam), Miến điện cho đến Assam ở Ấn độ.

Danh từ Trung quốc trong cổ sử thường gọi là Bách việt tức là hệ thống Tây nam cũng gọi là Cức liêu cùng với dân bản xứ Indonésia ở Nam dương hiện tại là dân tộc cùng thuộc về một hệ thống văn hóa, đấy là giòng giõi thiên di về phương Nam về sau của Việt tộc.

Trong Bắc việt một chi nhánh, Lạc việt đi xuống phương Nam để trở nên một dân tộc trong nhóm Bách việt còn bảo tồn được dân tộc tính chưa bị Hán tộc đồng hóa và dung hòa nhờ sự thuận lợi của tình thế địa lý cho nên đã có thể phản khán quân Tầu khoảng 4 năm từ 221 đến 217 tr. K.n. Tây lịch.

Từ Hán Vũ đến diệt nhà Triệu (111 tr. K.n. Tây lịch ) về sau Việt nam tuy lệ thuộc vào Trung quốc hơn một ngàn năm thấm nhuần Hán hóa nhưng không bị Hán tộc đồng hóa và thu hút, kết cục vào thế kỷ thứ X kỷ nguyên Tây lịch đã thoát ly Trung quốc mà độc lập. Ðến như người Việt Ðông âu, Mân việt, Nam việt, các chi nhánh Việt tộc ấy từ thời Hán tới nay đã hướng vào trung tâm Hán tộc để bị đồng hóa đến dung hóa thành dân Trung quốc ngày nay ở các tỉnh Triết, Mân, Việt, Quế.

http://www.hoadam.net/new_quochoc2.htm

điềm dự báo trước của Thôi bối đồ số 49 là:

Tụng viết:nhất cá hoặc nhân khẩu nội đề, phân Nam phân Bắc phân Đông Tây, lục hào chiêm tẫn văn minh kiến, kì bố tinh la Nhật Nguyệt

Kim Thánh Thán:cửu phân tất hợp, cửu hợp tất phân, lí sổ nhiên dã, nhiên hữu văn minh chi tượng, đương bất như cát cư giả chi phân 紛 nhiễu dã

Rồi tới Bối đồ 54 nhắc lại:

Kim Thánh Thán:thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt 末 thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc:diệc cửu hợp 久 tất phân chi trưng dã.

Xem lại tượng hình của các Thôi bối đồ 49, 54 rồi tới 55 sẽ hiểu thêm ý. Các Thôi bối đồ này để dự báo điềm sẽ có loạn của các Sứ quân.

Sự tranh dành quyền lực giữa các ông vua, lãnh chúa trên đất TQ âm thầm nhưng quyết liệt để ngôi vị cho các hậu duệ của mình sau này, trích một đoạn của ông Michael Bristow theo dõi và bình luận:

Chỉ cần xem xét cơ quan này, người ta cũng thấy Trung Quốc là nước do các cá nhân chứ không phải luật pháp cai trị. Các mối quan hệ cá nhân vẫn quan trọng hơn cấp bậc chính thức., đọc thêm:

Các ông Hoàng nhỏ.

Chính vì vậy mà Thôi bối đồ 55 đi tới kết cục là sự phân rã nhưng chưa hình thành quốc gia chính thức, và đây cũng là thời điểm của Thế thứ chiến III bắt đầu.

đệ ngũ lục tượng: Kỷ vị Khôn hạ Khảm thượng Bỉ

Sấm viết:phi giả 者 phi điểu, tiềm 潜 giả phi ngư, chiến 战 bất tại binh, tạo hóa du hí 戏

Tụng viết:hải cương 疆 vạn lí tẫn 尽 vân 云 yên 烟, thượng hất 迄 vân tiêu hạ cập tuyền 泉, kim mẫu mộc công 公 công 工 huyễn 幻 lộng 弄, kiền (can) 干 qua 戈 vị tiếp họa liên thiên.

Kim Thánh Thán:thử tượng quân 军 dụng hỏa, tức 即 loạn bất tại binh chi ý, tụng vân, hải cương vạn lí, tắc 则 chiến tranh chi liệt 烈, bất cận tại vu 於 Trung Quốc dã.

Tạm dịch:

Sấm viết: cái đó (ấy) bay (được mà) chẳng phải (là con) chim (hoả tiễn, phi tiễn, phi cơ …), cái đó (ấy) ngầm ẩn dấu (bơi lặn được trong nước mà) chẳng phải (là con) cá (chiến tranh chẳng ở tại binh (lính), tạo hoá (trời đất) rong chơi đùa giỡn.

Tụng viết: (từ) vạn dặm bờ (cõi trên) biển hết thẩy (tất cả) đầy khói lửa mù mịt, (từ) khoảng mây cao trên trời (cho) đến (tận) dưới suối nguồn (trong rừng) (khói lửa mù mịt từ trên trời dưới biển cho đến ở sâu trong rừng), cha gỗ mẹ sắt khéo làm nên sự huyễn lộng (khoa học kỹ thuật đã đến trình độ vô cùng tối tân hiện đại, làm ra những điều tưởng giả mà lại như thật, cứ như tưởng đùa mà hoá ra là thật).

Kim Thánh Thán: hình tượng này là quân lính dùng lửa (vũ khí), ý tức là loạn (giặc giã) không ở tại binh lính (đánh nhau không dùng đến binh lính cận chiến), ca tụng rằng, vạn dặm ngoài biển (biên giới), chiến tranh thời rất ác liệt (dữ dội), chẳng ở tại Trung Quốc vậy. (chiến tranh xẩy ra bằng vũ khí hiện đại, từ nơi ở xa đánh tới, dùng phi cơ, phi tiễn, tầu ngầm tầu chiến… để đánh vào trận địa, chứ không đánh nhau như thời cổ xưa dùng cận chiến, người xưa không thể nghĩ ra được hay hình dung được, nên mới suy rằng đánh nhau ở xa chứ không đánh nhau ở trên nước TQ)..

Sau khi chấm dứt Thế chiến rồi thì TQ mới thực sự hình thành ra các nước: Thôi bối đồ 58sấm viết:đại loạn bình, tứ di phục, xưng huynh đệ, lục thất quốc.

Vô cùng thán phục người xưa !!! chỉ dùng có mấy con số trong Kinh Dịch mà đoán ra được hàng ngàn năm sau có những chuyện gì sẽ xẩy ra, tuy người xưa chẳng hình dung nổi: “phi giả 者 phi điểu, tiềm 潜 giả phi ngư” mà lại thấy được là như vậy để viết ra lời đoán.

Tứ môn sạ khai => Đột như kì lai

Bốn cửa mở toang => Thình lình mà đến

Thần kê nhất thanh => Kì đạo đại suy

Gà thần gáy một tiếng => Đạo ấy rất suy

Khổng Minh tiên đoán cho Trung Quốc trong quẻ này có ý nói là: TQ đột nhiên mở toang bốn cửa, lúc ấy là lúc gà thần kêu lên 1 tiếng thì Đạo của trời của người rất là suy vong.

Hoặc: khi mà gà thần gáy lên một tiếng, thì TQ đột nhiên mở toang 4 cửa (loạn, không có ai tự mở toang cửa cho mọi người vào nhà mình, nếu không phải là … cháy nhà hay sự việc gì trong nhà nổi loạn hay rất nguy cấp), lúc ấy Đạo đời(từ xưa tới nay) rất là suy vong, nếu vậy: việc mở toang 4 cửa của TQ sẽ là lúc làm cho Đạo rất là suy vong.

Vậy, thần kê ở đây là sự kiện, thời điểm, nguyên nhân … làm cho Đạo rất là suy vong, khi mà Đạo trời Đạo người suy vong đến cùng cực thì chỉ có

Chửng hoạn cứu nạn => Thị duy thánh nhân

Cứu vớt hoạn nạn => Ấy chỉ có thánh nhân

Dương phục nhi trị => Hối cực sanh minh

Dương (khí trở) về (mà sẽ được) trì (sửa chữa lại)

Tối (tăm mù mịt) quá (thì sẽ lại) sinh (ra) sáng (sủa trở lại)

Giải viết: đương lai chi tượng dã, tai nan đương đầu chi cực, kì thì thánh nhân xuất hiện, cứu khổ cứu nan cố.

(lược dịch: trong tương lai, TQ sẽ phải đương đầu với tai nạn cùng cực, thì lúc ấy thánh nhân sẽ xuất hiện, cứu khổ cứu nạn vậy)

Qua 2 quẻ của Khổng Minh xem cho tương lai của TQ thì không thấy có gì liên quan giữa THẦN của GÀ cho đến THÁNH của NGƯỜI.

Mỗi câu là một nhiệm màu

Anh hùng ngẫm được mới hầu giá cao

Sấm Trạng ra đời khởi đầu bằng câu :

Ngã bát thế chi hậu

Binh qua khởi trùng trùng

Quả thực nước Việt Nam binh biến loạn lạc liên miên không lúc nào được bình yên, Sấm Trạng đi theo dòng lịch sử suốt mấy trăm năm nay cho đến ngày nay, theo những gót chân những chí sĩ ẩn sĩ giang hồ đi khắp mọi miền nước Việt, cho dù người tin kẻ nghi thì Sấm Trạng vẫn theo dòng lịch sử Việt mà tồn tại và minh chứng.

Vậy mục đích nghiên cứu Sấm Trạng để làm chi ?, nếu không ngoài mục đích đó là vững niềm tin và cũng là kim chỉ nam cho dân tộc Việt trong những chặng đường, thời gian cực kì đau khổ mà vẫn giữ được lòng tin tưởng vào tương lai, để giữ được giòng giống Tiên Rồng không bị mất nước mất lương tri.

Một số người đời sau này, có những kẻ vô tri thiểu trí, không lương tâm, thiếu lương tri mới dùng Sấm Trạng vào sự tuyên truyền giải theo kiểu biến ma quỷ thành thần thánh, hoặc lấy “râu ông (tên) nọ cắm cằm bà kia” …, với dụng ý mưu tính mưu đồ riêng, nhắm mắt làm ngơ trước bao nhiều sự lầm than đau khổ của những người dân nghèo trên mọi miền đất nước Việt. Những người có tri thức chỉ cần đọc qua hiểu ngay ý đồ đen tối.

Nhiều người với mục đích tìm hiểu và nghiên cứu về Sấm Trạng, cũng không khỏi nghi ngờ về những câu Sấm bằng thể lục bát chữ quốc ngữ …, nhưng cho dù như thế nào thì Sấm Trạng vẫn hiển hiện trong mọi tầng lớp dân gian, cũng khoan đặt vấn đề hay tìm hiểu nguyên do tại sao, vì trải qua mấy trăm năm lưu lạc trong dân gian qua truyền khẩu, qua mọi miền, cách phát âm … khó còn nguyên vẹn theo bản gốc, mà chỉ nên tìm và phân tích trong những câu Sấm có ẩn ý gì trong đó của Tiền nhân để lại đã. Văn hoá Việt là nguồn gốc và sự tồn tại của dân tộc Việt nằm ở trong những câu chuyện truyền kỳ, cổ tích, phong tục, tập quán, ca dao, tục ngữ …, dân tộc nào không còn giữ được những điều trên thì sẽ đi đến ngày diệt vong.

Trích một đoạn của Tiền nhân ghi lại như sau:

NỀN TƯ TƯỞNG CỔ VIỆT    Lược luận về nền tư tưởng, cũng có nghĩa là cơ sở nguyên lý, là căn cứ tối cao, cũng là tín ngưỡng gốc cố hữu, tối cổ của dân tộc Việt.

Căn cứ ngoại sử truyền thuyết, cổ sử, với ít nhiều di tích tồn tại thì họ Hồng Bàng với 18 đời đều lấy hiệu Hùng Vương, lấy hèm Tiên Rồng làm Vật Tổ, từ đời nào chưa rõ, vì cha là Lạc Long Quân mẹ là Âu Cơ giòng Vụ Tiên, mới nói cha Rồng mẹ Tiên, kết hợp bởi hai chi Lạc Việt Âu Việt, cùng trong gốc làm biểu tượng giòng giống nòi Việt (cũng như mọi dân tộc khác dều lấy một Vật Tổ làm căn nguyên).

Biểu tượng Rồng Tiên thực ra về nội dung có chứa ngầm một triết lý minh lý, xin lược kể vài nét chính ra sau đây.

Rồng và Tiên hàm chứa ý nghĩa vật chất và tinh thần, một Âm và một Dương, trong đó có bao hàm Vũ trụ quan và Nhân sinh quan.

Đến đời Hùng Vương thứ 6 lại xuất hiện thuyết bánh dầy và bánh trưng. Đấy là vật thể, trừ hình thức lễ nghi trong câu chuyện dâng Vua cha, phần nội dung còn chứa đựng nền triết lý làm sáng tỏ thêm cho ý nghĩa Rồng Tiên.

Bánh dầy hình tròn sắc trắng, hình tròn là biểu tượng bầu trời, tượng Dương, tượng động, tức bầu trời một vòng không, trắng tinh, là tượng ánh sáng, tượng bản thể của Vũ trụ sự vật, tượng không, trắng là không màu nên dung nạp được các màu khác, bao hàm vạn hữu (tượng trưng cho Vật Tổ là TIÊN).

Bánh trưng hình vuông, ngoài màu xanh bên trong vàng, hình vuông là biểu tượng trái đất, tượng Âm, tượng tĩnh, màu xanh bên trong vàng là tượng hình thể của mọi sự vật, có màu sắc là sự vật, tượng có.

Hãy chú ý: hình tượng bánh dầy bánh trưng lại có hàm ý là trong Dương có Âm, trong Âm có Dương cho nên Tiên là Mẹ mà lại là tượng Dương, Rồng là Cha mà lại tượng Âm, Cha thì hùng dũng lên trời xuống biển, biến hoá phi thường …, Tiên thì thanh cao tao nhã, hoà vui trừng thọ … (phần này thuộc về Dịch lý).

Đến đời Hùng Vương thứ 18, đức Tản Viên Sơn Thánh, tên ngài là Nguyễn Tuấn, một trong Tứ bất tử (Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử và công chúa Liễu Hạnh) lại nêu ra thuy61 Sách Ước và Gậy Thần, Tản Viên Sơn Thánh đưa ra thuyết này để làm sáng tỏ và đầy đủ thêm cho thuyết bánh trưng bánh dầy, nêu lên rõ quan niệm và nhận thức về Vũ trụ và Nhân sinh của người Việt tối cổ.

Sách Ước – Sách Hoá: là tập sách toàn giấy trắng (cũng là biểu tượng bánh dày: TIÊN), là là biểu tượng tượng trưng Vũ trụ vô nguyên, một vòng không, không trước không sau, không hạn không lượng, nghĩa là vô biên, vô tế, vô cùng, là vô hạn duyên khởi (khởi đầu), vô hạn cứu cánh (sau cùng), hay còn nói không có khởi đầu tuyệt đối, cũng không có sau cùng tuyệt đối, mà nó là trùng trùng duyên khởi, trùng trùng cứu cánh, tức là luôn luôn bắt đầu, luôn luôn sau cùng, vì bắt đầu khởi tạo cái này lại là kết thúc của cái khác (khác với thuyết tuyệt đối là do Thượng Đế, do lý linh diệu …, và cứu cánh tuyệt đối là trở về với Thượng Đế của môn phái Duy Thần).

Mệnh danh Sách Ước đã ngụ ý ngầm bảo toàn giấy trắng là Không, nhưng ước là ước muốn, có ước muốn thì lại là Có, vậy không mà lại có, có ước là có động, có được, nghĩa là bản thể thì tĩnh, trắng không, trắng tinh, ánh sáng, trống không. Ước muốn là động, là có, có vận động kết hợp, vậy là trong không mà có, trong tĩnh lại động, trong Dương lại có Âm, do đó mà có Vũ trụ, sự vật, Sách Ước là biểu tượng cho triết lý Vũ trụ quan.

Ngày nay con người đã khám phá và chứng nhận tất cả vạn hữu, cứu cánh trở về ánh sáng, tức là trắng không (Bản thể). Từ khi Phật giáo tràn vào, trong giáo lý căn bản nhận thức về vũ trụ vạn hữu có câu “chân không diệu hữu”, có nghĩa là thật không có vi diệu hay có vi diệu ở trong chân không, hoặc trong không mà có, có mà không (vì cái có còn vi diệu ở trong không, chưa hiện hiện ra). Quan niệm nhận thức trên, có sự tương đồng nên được người Việt đón nhận nồng nhiệt.

Gậy thần: tượng trưng cụ thể bằng cây gậy trúc, một đầu sinh một đầu tử, hàm ý một Dương một Âm, Dương là sinh Âm là tử, đây là biểu tượng cho triết lý Nhân sinh “ nhân sinh nhân tử quan”, sinh và tử là hai trạng thái của một nguyên nhân (một gậy mà có hai đầu), tử bắt nguồn ở sinh, sinh bắt nguồn ở tử, có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh. Cái đang sống, đang có lại đang chết dần, mòn dần rồi tan dần để lại sinh ra cái khác, háy thẩy vạn hữu là như vậy.

Từ Vũ trụ vô nguyên chuyển hoá ra có Người (nhân sinh) và có sự vật. Vậy hai thuyết hai thuyết Sách Ước và Gậy Thần là Vũ trụ quan và Nhân sinh quan, đã làm sáng tỏ thêm biểu tượng (hèm) Tiên Rồng và thuyết Bánh trưng bánh dầy, trong đó đã bao hàm mọi lý thuyết cảu tư tưởng của loài người, do các ngành ngọn triết hệ của các hệ phái như Vô nguyên, Nhất nguyên, Nhị nguyên, Đa nguyên …

Vô nguyên: vòng không, không có bản thể cố định, động mà tĩnh, tĩnh mà động, khong mà có, có mà không, một ví dụ như: ta đang ngồi trên một chiếc xe rất êm, đi trên đường rất bằng phẳng, mở máy vô cùng nhanh, ta sẽ có cảm tưởng như đang ngồi trong một nơi yên tĩnh nhưng thực ra là đang chuyển động rất nhanh, cũng như trái đất đang quay nhanh mà ai cũng vẫn tưởng như đứng im …

Nhất nguyên: nhân loại nhất nguyên, nhất tính, một thể tính, tức là nhân tính, chưa phân rẽ (khác với nhất nguyên luận của các môn phái khác).

Nhị nguyên: từ một thể tính đã phân ra nam nữ, Âm và Dương – Rồng Tiên là đã phân, nên là Tổ phụ Tổ mẫu, nhưng cũng do nhất tính mà ra – chớ hiểu lầm cho là theo ý thức hệ Nhị nguyên.

Đa nguyên: nhiều thể tính, chủng loại, dân tộc … từ nhân loại nhất tính phân ra nhiều dân tộc khác nhau.

Tiên là biểu tượng trong sáng thanh cao tức bản thể là ánh sáng, trắng không. Cụ thể hoá là Bánh trưng bánh dầy, Sách Ước Gậy Thần để ngầm ngụ ý bảo là trong không mà lại có, có đó còn tinh thuần trong bản thể, phảng phất cái ý chỉ Không (Vô) – Một (Nhất) – và Hai (Nhị), vì không mà có, thì có ấy là một, nhưng vì có Rồng hợp với Tiên, thì đã phân mà hàm ý nhị nguyên biểu hiện, và đã có hai là sẽ chuyển hoá ra đa nguyên.

Hãy chỉ sơ lược thế, vì đi sâu vào triết vô cùng tế nhị phức tạp (Triết minh biện làm sáng tỏ Đạo).

Còn một di tích lịch sử rất đáng chú ý, đó là thành Cổ Loa hiện còn chân nền thành, đền thờ, giếng và nhiều dấu tích ở tỉnh Phúc Yên Bắc Việt. Thành xây hình xoáy trôn ốc, trong đó có hàm chứa một quan niệm với ý nghĩa gì ?, ta cần xuyên qua hình thức với những truyền thuyết thần thoại để khơi sâu vào nội dung, vào sâu thẳm trong phần tinh áo uẩn tàng để khám phá về ý niệm, lý niệm, minh lý, minh triết của Tổ Tiên. Thế kỷ trước Hegel đã khám phá ra biện chứng tiến hoá củ Vũ trụ là vòng xoáy trôn ốc, biết đây Tổ Tiên nòi Việt trước Hegel mấy ngàn năm chẳng đã khám phá thấy rồi áp dụng vào việc xây thành ?.

Tất cả những biểu tượng đã biểu hiện ra trong tâm tưởng tín ngưỡng, trong mọi hình thái sinh hoạt của xã hội Việt từ ngàn năm xưa, ngày nay tuy có nhiều thay đổi nhưng trong tư tưởng quốc dân, mỗi khi nhắc đến hãy còn rung động, khi ta trầm lắng tâm tư tạm quên hiện tại để cảm chiêu và thể nghiệm, kiểm điểm lại lịch sử trong quá trình tiến hoá sẽ thấy rằng: từ bốn, năm ngàn năm trước làm gì đã có văn tự giấy bút ngôn ngữ còn rất thô sơ, trình độ tri thức đại chúng còn rất thô thiển phác lậu, vì thế những quan niệm tư duy, phần minh lý, linh ngữ, chứa đựng cực kỳ phong phú và cao siêu, chỉ có thể mượn những vật những hình tượng để ngụ ý vào dấu ý vào, biến những vật hình tượng ấy thành thần vật, thần khí lưu truyền dài lâu tới ngày nay chính là nhờ những “mật ý” đó vậy.

Về sau con người mới chế ra chữ tượng hình, khoa đẩu … viết vào mảnh tre (trúc), tiến tới dùng lụa viết lên trong một thời gian, rồi sau mới biết chế tạo ra giấy bút mực dần dần ngày càng thêm tinh xảo. Phần tiếng nói cũng thế, đến nay cũng chưa thực sự đầy đủ tiếng, nên thường xuất hiện những từ ngữ mới, là do càng tiến hoá càng cần thêm, càng phiền toái hơn …

Cho nên những tư tưởng, ý niệm, lý niệm, minh triết, minh lý gọi là linh ngữ mật ý vô ngôn, của các Đấng siêu phàm nhập Thánh trong Tổ Tiên nòi Việt, dấu ngầm vào trong các biểu hiệu Rồng Tiên và những vật cụ thể như Bánh trưng bánh dầy, Sách ước Gậy Thần, Rùa Thần, nỏ Thần, gươm Thần …, bên trong đều hàm chứa nền triết lý rất cao siêu về nhận thức Vũ trụ và Nhân sinh. Đó chính là nền tư tưởng uyên nguyên truyền thống, là cơ sở nguyên lý, là căn cứ tối cao của nên văn lý cổ Việt, thường được gọi là nền văn minh Tiên Rồng, cũng như truyền thuyết cha Lạc Long Quân mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng nở trăm con, rồi chia đôi 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển đâu có thực sự là như vậy, cái ý nghĩa đích thực ấy là nòi giống Việt chia ra khá nhiều chi nhiều phái, nhiều bộ lạc gọi chung gồm là Bách Việt. Tổ Tiên nêu ra truyền thuyết “nhất bào bách noãn sinh bách nam, ngũ thập quy sơn ngũ thập quy hải” là di chúc để lại cho dân Bách Việt, dù chia ra hàng trăm nhưng nguồn gốc cùng là một Tổ Tiên sinh ra (nhất bào), nên lấy tình đồng bào, đồng chủng tộc huyết thống mà duy trì sống còn chung. Có lẽ Tổ Tiên cũng đã trải qua những lần bị nòi Hán lấn lướt phải Nam thiên về Ngũ hồ Ngũ lĩnh phái Nam sông Dương Tử (sông Trường Giang giưa nước  Tầu hiện nay), và nòi giống bị chia ra qúa nhiều ngành, lo về sau có bất hoà chống đối lẫn nhau nên tạo ra thuyết này để tránh cái hoạ nội tranh ngoại diệt.

Chúng ta, người Việt con cháu của Tổ Tiên rất nên tìm khám phá những bí tàng, thần tàng chứa ngầm trong đó nền Tư tưởng, những quan niệm, ý niệm, lý niệm đó là những linh ngữ, mật ý vô ngôn (được ẩn dấu trong thần thoại và truyền thuyết, có tác dụng lưu truyền tồn tại dài lâu), đó là những tinh hoa do Tổ Tiên khởi xướng phát minh, và đó chính là do động cơ, động lực trong dòng tiềm thức, tiềm lưu muôn thủa của dân tộc, mà dân tộc Đại Việt ta đã cảm ngộ đời đời, mới có thể tránh khỏi bị đồng hóa do Bắc thuộc hơn ngàn năm, và đã bao phen đánh bại địch nhân rất kỳ diệu oanh liệt. Do đó mà chúng ta người dân Việt sống trong dong máu của Tổ Tiên, cần nên cố gắng thâu thái và phát huy,  không nên sơ hốt nông nổi mà cho là chỉ có tính cách truyền kỳ, thần thoại hoang đường, hoặc như Cổ Lao thành chỉ có tính cách phòng vệ, tất cả những hình thức mặt nổi đó chỉ có tác dụng bề ngoài, nhưng cái dụng ý, tinh uẩn thâm vi dấu ngầm trong đó, người dân Việt chúng ta cần lưu tâm tìm hiểu.

.

Thần Quy cơ nỗ ở trời

Để làm thần khí ở nơi trị trường

NhapMon: Trong khi tác giả Việt Sử Siêu Linh cố gắng gạn lọc sấm giả/thật thì Phạm Hồng Đức lại ráng quơ quào hàng giả vào …

Đừng để tâm nặng lòng vào việc này và bức xúc làm chi trong thời thế hiện nay ! ,sau khi đọc kỹ thì thấy cũng chẳng có gì “lạ”, mà cũng chỉ là cắt ghép lẫn lộn thôi, có cả câu trong bài giáng bút và bài Sấm chữ Nho đã đưa lên (để làm cho mới lạ), và ông PHĐ cũng đâu có hẳn là “thiên cộng”.

•         03 bài chữ Nho trên không hiểu xuất xứ có tin tưởng không ?.

Ba bài Sấm chữ Nho này của một nhà Nho chí sĩ sinh đầu thế kỳ 20 – 1902, cùng thời với cụ Ba La và cũng là bạn thân của Cụ, thông hiểu Dịch, Y, Lý, Số … có giao tiếp rộng với mọi tầng lớp trí thức Bắc Hà, vì vậy NhapMon tin được hay không tuỳ ý.

Có gì để nhất định Sấm phải chỉ được viết một lần ?, “Mỗi câu là một nhiệm màu”  tuỳ theo tượng trời mà có những bài tiếp theo, và cũng để khẳng định lại điều tiên đoán trước …

51 – Xem tượng trời đã giơ ra trước

269 – Năm Giáp Tý vẽ khuê đã rạng

270 – Lộ ngủ tinh trinh tượng thái hanh

Bạch Hổ kim đái ấn

•            Câu Sấm chữ Nho trên đây, liên quan đến bậc Thánh nhân, là một trong những câu Sấm Nho có thể tin cậy là của TT NBK, thì không thấy ai đá động đến, hoặc phân tích. Vậy thì chúng ta nghiên cứu Sấm là nghiên cứu cái gì? Tại sao gặp Sấm lại lãng tránh để tìm kiếm Sấm khác, lấy Sấm giả để giải mã Sâm thật!

Mỗi người đều có cách “nhìn” khác nhau, không thể nói là lãng tránh hay nghiên cứu cái gì ???, trong mấy trăm câu chỉ nội tìm hiểu được từng câu cũng đã khó rồi, cần phải sự cộng tác của nhiều người, tham khảo rộng để mở tầm kiến thức, rồi quay trở về thì mới nhận thấy thêm điều mới. Nhiều khi cần phải đọc cả thật lẫn giả mới hiểu được đâu là thật đâu là giả: Đời này những quỷ cùng ma …, cho nên lại càng cần tin vào tương lai của đất nước Việt, và phân biệt đâu là người đâu là ma quỷ.

Để có thể phân biệt được Sấm Trạng, cần phải tâm trí không phân biệt thiện ác, thiên vị và bức xúc thì tâm mới tĩnh trí mới sáng mới có thể “ngộ” được lời người xưa lưu lại. Khi tâm trí đã tĩnh và sáng thì không để cho điều “gò” này xẩy ra:

•         Đa số đều muốn thấy Sấm xảy ra trong thời họ đang sống. Nên khi “luận” Sấm, họ thường có khuynh hướng “gò” cho Sấm đi theo hướng đó, cho nên các cụ cứ “luận” mãi mà Sấm cũng chưa chịu ứng!

Và cũng có thể chỉ để mua vui vài trống canh !!! trong thời đen tối nhiễu nhương cực bĩ hiện nay.

Cùng các bạn: nếu tin vào luật Nhân Quả, tái sinh, phúc đức … thì chúng ta sống nhân hậu, để có niềm tin vào tương lai, mà cho dù có:

Mười phần chết bẩy còn ba

Chết hai còn một mới ra thái bình

Để rồi có thể chúng ta:

Còn nhiều duyên nợ lo chi

Mai đây ta sẽ lại về gặp nhau

Và rồi:

Phá điền tự kiến văn minh hội

破 田 自 見 文 明 會

Tất ốc bồng môn lạc đức huy

篳 屋 蓬 门 樂 德 辉

Phá điền (破 田) tự thấy (vận) hội văn minh (mới xuất hiện)

Nhà tranh vách trúc cùng vui trong đức sáng ấy

Mỗi người đều có “lá số Tử Vi”, vậy một dân tộc, một đất nước cũng có sao chủ mệnh tinh.

Nam Việt hữu Ngưu tinh (thiên tượng)

Địa giới Xỉ 齒, Sỉ (?), Sí 熾, xí (?) vị Bạch (白, 帛) (địa tượng).

135 – Bắc phương chính khí sinh ra

136 – Có ông Bạch Sí điều hòa hôm mai

137 – Song thiên nhật rạng sáng soi

138 – Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường

261 – Có thầy Nhân Thập đi về

262 – Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh

CẢM ĐỀ

Nguyễn Bỉnh Khiêm

1- Thanh nhàn vô sự là tiên

Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi

Cơ tạo hoá

Phép đổi dời

Đầu non mây khói tỏa

Mặt nước cánh buồm trôi

Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi

Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời

Tuổi già thua kém bạn

Văn chương gửi lại đời

Dở hay nên tự lòng người cả

Nghiên bút soi hoa chép mấy lời

Bí truyền cho con cháu 2)

Dành hậu thế xem chơi

SẤM KÝ

15- Nước Nam từ họ Hồng Bàng

Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời

Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước

Đã bao lần ngôi nước đổi thay

Núi sông thiên định đặt bày

Đồ thư một quyển xem nay mới rành

21- Hoà đao mộc lạc,

Thập bát tử thành.

Đông A xuất nhập

Dị mộc tái sinh.

25- Chấn cung xuất nhật

Đoài cung vẫn tinh.

Phụ nguyên trì thống,

Phế đế vi đinh.

29- Thập niên dư chiến,

Thiên hạ cửu bình.

Lời thần trước đã ứng linh,

Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.

33- Hoà đao mộc hồi dương sống lại

Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương.

Hà thời biện lại vi vương,

Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.

37- Lê tồn, Trịnh tại,

Lê bại, Trịnh vong.

Bao giờ ngựa đá sang sông,

Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.

Hà thời thạch mã độ giang.

Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.

43- Chim bằng cất cánh về đâu?

Chết tại trên đầu hai chữ quận công.

Bao giờ trúc mọc qua sông,

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.

47- Đoài cung một sớm đổi thay,

Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.

Đầu cha lộn xuống chân con,

Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.

51- Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,

Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.

Dục lòng chim chích u mê,

Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

55- Để loại quỷ bạch Nam xâm,

Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly

Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy

Gia đình một ở ba đi dần dần.

Cho hay những gã công hầu,

Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này.

61- Kìa kìa gió thổi lá rung cây

Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây

Tan tác kiến kiều an đất nước

Xác xơ cổ thụ sạch am mây.

65- Lâm giang nổi sóng mù thao cát,

Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy.

Một ngựa một yên ai sùng bái?

Nhắn con nhà vĩnh bảo cho hay.

69- Tiền ma bạc quỷ trao tay

Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua,

Giữa năm hai bẩy mười ba,

Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

73- Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,

Rắn mới hai đầu khó chịu thay,

Ngựa đã gác yên không người cưỡi

Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây.

77- Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh chập chùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.

81- Nói cho hay khảm cung ong dậy,

Chí anh hùng biết đấy mới ngoan.

Chữ rằng lục, thất nguyệt gian

Ai mà giữ được mới nên anh tài.

85- Ra tay điều độ hộ mai

Bấy giờ mới rõ là người an dân

Lọ là phải nhọc kéo quân,

Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.

89- Phá điền than đến đàn dê

Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng

Dê đi dê lại tuồn luồn

Đàn đi nó cũng một môn phù trì

93- Thương những kẻ nam nhi chí cả

Chớ vội sang tất tả chạy rong

Học cho biết chữ cát hung

Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi

Hễ trời sinh xuống phải thì

Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.

99- Kìa những kẻ vội lòng phú quý

Xem trong mình một tí đều không

Ví dù có gặp ngư ông

Lưới dăng đâu dễ nên công mà hòng.

103- Khuyên những đấng thời trung quân tử

Lòng trung nghi nên giữ cho mình

Âm dương cơ ngẫu hộ sinh

Thái Nhâm, Thái Ất trong mình cho hay.

Chớ vật vờ quen loài ong kiến

Hư vô bàn miệng tiếng nói không.

109- Ô hô thế sự tự bình bồng

Nam Bắc hà thời thiết lộ thông

Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch

Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng.

113- Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc

Ngưu xuất lam điền nhật chính đông

Nhược đãi ưng lai sư tử thượng

Tứ phương thiên hạ thái bình phong.

117- Ngỡ may gặp hội mây rồng

Công danh rạng rỡ chép trong vân đài

Nước Nam thường có thánh tài

Sơn hà đặt vững ai hay tỏ tường?

121- So mấy lề để tàng kim quỹ

Kể sau này ngu bỉ được coi

Đôi phen đất lở, cát bồi

Đó đây ong kiến, dậy trời quỷ ma

125- Ba con đổi lấy một cha

Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền

Mão Thìn Tí Ngọ bất yên

Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.

129- Hoành Sơn nhất đái

Vạn đại dung thân

Đến thời thiên hạ vô quân

Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.

133- Gà kêu cho khỉ dậy nhanh

Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung

Thiên sinh hữu nhất anh hùng

Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.

137- Thái Nguyên cận Bắc đường xa

Ai mà tìm thấy mới là thần minh

Uy nghi dung mạo khác hình

Thác cư một góc kim tinh non đoài

141- Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi

Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân

Binh thư mấy quyển kinh luân

Thiên văn địa lý, nhân dân phép màu

145- Xem ý trời ngõ hầu khải thánh

Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai

Song thiên nhật nguyệt sáng soi

Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường

149- Thông minh kim cổ khác thường

Thuấn Nghiêu là trí, Cao Quang là tài

Đấng hiên ngang nào ai biết trước

Tài lược thao uyên bác vũ văn

Ai còn khoe trí khoe năng

Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.

155- Chưa từng thấy nay đời sự lạ

Chốc lại mòng gá vạ cho dân

Muốn bình sao chẳng lấy nhân

Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?

159- Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán

Lại đua nhau quần thán đồ lê

Chức này quyền nọ say mê

Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương

Kẻ thì phải thuở hung hoang

Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình

165- Cửu cửu càn khôn dĩ định

Thanh minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo dương đầu mã vĩ

Hồ binh bát vạn nhập Tràng An

169- Nực cười những kẻ bàng quang

Cờ tam lại muốn toan đường chống xe

Lại còn áo mũ xun xoe

Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

173- Ghê thay thau lẫn với vàng

Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng

Thánh ra tuyết tán mây tan

Bây giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.

177- Can qua, việc nước bời bời

Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân

Oai phong khấp quỷ kinh thần

Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca

181- Rừng xanh, núi đỏ bao la

Đông tàn, Tây bại sang gà mới yên

Sửu Dần thiên hạ đảo điên

Ngày nay thiên số vận niên rành rành.

185- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh

Can qua xứ xứ khổ đao binh

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân dậu niên lai kiến thái bình

189- Sự đời tính đã phân minh

Thanh nhàn mới kểchyện mình trước sau

Đầu thu gà gáy xôn xao

Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.

193- Chó kêu ầm ỉ mùa đông

Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi

Lợn kêu tình thế lâm nguy

Quỷ vương chết giữa đường đi trên giời

197- Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi

Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra

Hùm gầm khắp nẽo gần xa

Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.

201- Rồng bay năm vẻ sáng ngời

Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng

Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng

Cha con dòng họ thầy tăng hết thời

205- Chín con rồng lộn khắp nơi

Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu

Lời truyền để lại bấy nhiêu

Phương đoài giặc đã đến chiều bại vong

Hậu sinh thuộc lấy làm lòng

Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.

211- Đầu can Võ tướng ra binh

Ắt là trăm họ thái bình âu ca

Thần Kinh Thái Ất suy ra

Để dành con cháu đem ra nghiệm bàn

215- Ngày thường xem thấy quyển vàng

Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi

Bởi Thái Ất thấy lạ đời

Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân

219- Kể từ đời Lạc Long Quân

Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian

Mỗi đời có một tôi ngoan

Giúp chung nhà nước dân an thái bình

223- Phú quý hồng trần mộng

Bần cùng bạch phát sinh

Hoa thôn đa khuyển phệ

Mục giã giục nhân canh

Bắc hữu Kim thành tráng

Nam hữu Ngọc bích thành

Phân phân tùng bách khởi

Nhiễu nhiễu xuất đông chinh

Bảo giang thiên tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

233- Rồi ra mới biết thánh minh

Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò

Nhị Hà một dải quanh co

Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào

Khắp hoà thiên hạ nao nao

Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?

239- Nói đến độ thầy tăng mở nước

Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu

Bấy lâu những cậy phép màu

Bây giờ phép ấy để lâu không hào

243- Cũng có kẻ non trèo biển lội

Lánh mình vào ở nội Ngô Tề

Có thầy Nhân Thập đi về

Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh

247- Những người phụ giúp thánh minh

Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai

Phùng thời nay hội thái lai

Can qua chiến trận để người thưởng công

251- Trẻ già được biết sự lòng

Ghi làm một bản để hòng giở xem

Đời này những thánh cùng tiên

Sinh những người hiền trị nước an dân

255- Này những lúc thánh nhân chưa lại

Chó còn nằm đầu khải cuối thu

Khuyên ai sớm biết khuông phù

Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngỏ hầu.

259- Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,

Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.

Thấy sấm từ đây chép vào

Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: